Định hình mô hình phát triển tiên phong của tỉnh Quảng Ninh từ góc nhìn khoa học liên ngành
TCCS - Trong tiến trình hiện thực hóa các nghị quyết của Đảng về phát triển nhanh và bền vững, tỉnh Quảng Ninh đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, từ khai thác tài nguyên sang phát huy giá trị tri thức và sáng tạo. Trong bối cảnh đó, khoa học liên ngành không chỉ là công cụ nghiên cứu, mà trở thành nền tảng tư duy chiến lược, tích hợp các nguồn lực, nhận diện đúng dư địa phát triển và kiến tạo những trụ cột bứt phá, định hình mô hình phát triển tiên phong, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn văn hóa và sinh thái.
Nhận diện dư địa phát triển và những thách thức đặt ra
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, tỉnh Quảng Ninh nổi lên như một địa phương có vị thế chiến lược đặc biệt, hội tụ nhiều lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh hiếm có. Tuy nhiên, cũng chính ở điểm hội tụ ấy, những yêu cầu phát triển mới với độ phức tạp cao hơn đang đòi hỏi phải nhận diện lại một cách toàn diện dư địa phát triển của tỉnh, đồng thời chỉ ra những thách thức mang tính cấu trúc, từ đó xác lập tư duy chiến lược phù hợp.
Trước hết, về vị trí địa kinh tế - địa chính trị, tỉnh Quảng Ninh là một trong số ít địa phương của cả nước đồng thời sở hữu cả ba chiều không gian chiến lược: biên giới đất liền, biển đảo và cửa ngõ giao thương quốc tế. Với đường biên giới dài hơn 118 km tiếp giáp Trung Quốc và bờ biển dài trên 250km hướng ra vịnh Bắc Bộ, tỉnh Quảng Ninh giữ vai trò “cầu nối” giữa Việt Nam với thị trường Trung Quốc và khu vực Đông Bắc Á. Đặc biệt, trong cấu trúc hợp tác kinh tế “Hai hành lang, một vành đai”, tỉnh nằm ở điểm giao cắt quan trọng, kết nối trực tiếp với hai hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng và Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, đồng thời mở ra không gian phát triển rộng lớn hướng ra biển. Điều này tạo cho tỉnh Quảng Ninh lợi thế vượt trội trong phát triển logistics, thương mại quốc tế, công nghiệp cảng biển và dịch vụ trung chuyển.
Tỉnh Quảng Ninh còn được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống tài nguyên đa dạng, phong phú và có giá trị đặc biệt. Toàn tỉnh hiện có trên 640 di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng được xếp hạng, trong đó có 8 di tích quốc gia đặc biệt, 56 di tích cấp quốc gia cùng hàng trăm di tích cấp tỉnh được kiểm kê. Nổi bật nhất là Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long - biểu tượng toàn cầu của Việt Nam, được UNESCO hai lần vinh danh, không chỉ mang giá trị cảnh quan mà còn là hệ sinh thái biển, đảo có ý nghĩa khoa học to lớn. Bên cạnh đó, các không gian văn hóa - lịch sử như Yên Tử, Bạch Đằng, hệ thống đình, chùa, lễ hội và làng nghề truyền thống đã tạo nên một cấu trúc di sản vừa có chiều sâu lịch sử, vừa có khả năng kết nối với phát triển hiện đại. Có thể khẳng định, tỉnh Quảng Ninh là một trong số ít địa phương hội tụ đầy đủ cả di sản tự nhiên và di sản văn hóa ở quy mô lớn, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa.
Trên phương diện kinh tế, tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương năng động, có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong nhiều năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) 5 năm 2021 - 2025 của tỉnh ước tăng 10,4%/năm, cao gấp 1,7 lần so với mức bình quân chung cả nước. Tốc độ này đã đưa quy mô nền kinh tế của Quảng Ninh tăng nhanh, năm 2025 ước đạt 395.000 tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với năm 2020(1). Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng khai thác tài nguyên, tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ, du lịch và công nghiệp chế biến. Đặc biệt, du lịch đã vươn lên trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, năm 2024, Quảng Ninh hoàn thành chỉ tiêu đón 19 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt hơn 3,5 triệu lượt. Tổng thu du lịch ước đạt 46.460 tỷ đồng(2). Hệ thống hạ tầng giao thông hiện đại - bao gồm các tuyến cao tốc, sân bay quốc tế Vân Đồn và hệ thống cảng biển, đã tạo ra bước đột phá về kết nối, mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.
Tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương tiên phong trong chuyển đổi mô hình phát triển từ “nâu” sang “xanh”. Sự chuyển dịch này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, đặt yếu tố bền vững, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân làm trung tâm. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp sạch, năng lượng tái tạo, dịch vụ và du lịch chất lượng cao đã góp phần từng bước giảm phụ thuộc vào khai thác than - ngành từng giữ vai trò chủ đạo trong nhiều thập kỷ của tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và dư địa phát triển to lớn, tỉnh Quảng Ninh đang phải đối mặt với thách thức, đòi hỏi cách tiếp cận mới.
Thứ nhất, mô hình tăng trưởng hiện tại đang tiệm cận giới hạn. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là than, đã kéo dài hơn một thế kỷ, để lại những hệ lụy không nhỏ về môi trường và cảnh quan. Đồng thời, du lịch - dù tăng trưởng nhanh - vẫn chủ yếu dựa vào mô hình đại chúng, giá trị gia tăng thấp, thời gian lưu trú ngắn và chưa khai thác hết chiều sâu của tài nguyên di sản. Nếu không có sự chuyển đổi mạnh mẽ, nguy cơ “bão hòa” và suy giảm sức hấp dẫn là điều khó tránh khỏi.
Thứ hai, áp lực môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương chịu tác động trực tiếp của nước biển dâng, xói lở bờ biển và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Bên cạnh đó, di sản của quá trình khai thác than, sự phát triển nhanh của đô thị hóa và du lịch đã tạo áp lực lớn lên hệ sinh thái, đặc biệt là khu vực ven biển và vịnh Hạ Long. Việc cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, giữa khai thác và bảo tồn, đang trở thành một bài toán mang tính sống còn.
Thứ ba, thách thức về quy hoạch và tổ chức không gian phát triển. Sự phát triển nhanh của công nghiệp, đô thị và dịch vụ trong những năm qua đã làm gia tăng nguy cơ phát triển thiếu đồng bộ, phân tán nguồn lực và xung đột không gian. Việc thiếu một mô hình quy hoạch tích hợp đa ngành có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa các khu vực, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài nguyên và chất lượng sống của người dân. Yêu cầu đặt ra là phải tổ chức lại không gian lãnh thổ theo hướng tích hợp, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa và sinh thái.
Thứ tư, vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao. Mặc dù tỉnh Quảng Ninh đã tập trung nguồn lực cho giáo dục và đào tạo, song cơ cấu nguồn nhân lực vẫn còn nặng về các ngành truyền thống, chưa đáp ứng yêu cầu của các lĩnh vực mới như công nghiệp văn hóa, công nghệ số, đổi mới sáng tạo và quản trị liên ngành. Sự thiếu hụt lực lượng lao động có tư duy tích hợp, có khả năng kết nối tri thức và sáng tạo giá trị mới đang trở thành “điểm nghẽn” đối với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển.
Thứ năm, thách thức về nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế. Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng cao, song phần lớn giá trị kinh tế hiện nay vẫn dựa trên khai thác tài nguyên, dịch vụ du lịch và công nghiệp gia công, chưa hình thành được các chuỗi giá trị có hàm lượng tri thức và sáng tạo cao. Điều này khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các biến động bên ngoài và khó duy trì tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Như vậy, có thể thấy, dư địa phát triển của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn tới không nằm ở việc mở rộng quy mô khai thác tài nguyên hay gia tăng số lượng du khách, mà nằm ở khả năng chuyển hóa các nguồn lực hiện có thành giá trị gia tăng cao hơn thông qua tri thức, công nghệ và sáng tạo. Nói cách khác, vấn đề cốt lõi không còn là “có gì để khai thác”, mà là “khai thác như thế nào để bền vững và hiệu quả hơn”.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là phải hình thành một mô hình phát triển mới dựa trên nền tảng khoa học liên ngành, cho phép tích hợp các nguồn lực, giải quyết đồng thời các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường. Đây không chỉ là lựa chọn mang tính kỹ thuật, mà là sự chuyển đổi về tư duy phát triển - từ tư duy tuyến tính sang tư duy hệ thống, từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ khai thác sang sáng tạo.
Chính sự đan xen giữa tiềm năng lớn và thách thức phức tạp đã tạo nên “điểm tới hạn” cho tỉnh Quảng Ninh - nơi mà mọi quyết định chiến lược trong giai đoạn tới sẽ có ý nghĩa định hình quỹ đạo phát triển dài hạn của địa phương. Nếu lựa chọn đúng hướng đi, tận dụng tốt cơ hội, tỉnh Quảng Ninh có thể trở thành mô hình phát triển tiên phong của cả nước, nơi hội tụ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường và phát triển con người. Ngược lại, nếu chậm trễ trong đổi mới tư duy và cách tiếp cận, những lợi thế có thể suy giảm dần, thậm chí trở thành rào cản đối với phát triển.
Khoa học liên ngành: Nền tảng của tư duy chiến lược mới
Trong bối cảnh phát triển mới, khi các vấn đề kinh tế - xã hội ngày càng mang tính phức hợp, liên thông và đa chiều, cách tiếp cận đơn ngành truyền thống bộc lộ rõ giới hạn. Đối với một địa phương có cấu trúc phát triển đa dạng và độ mở cao như tỉnh Quảng Ninh, yêu cầu đổi mới tư duy không chỉ dừng lại ở điều chỉnh chính sách, mà phải bắt đầu từ tái cấu trúc nền tảng tri thức phục vụ hoạch định chiến lược. Trong đó, khoa học liên ngành nổi lên như một phương thức tiếp cận tất yếu, đóng vai trò nền tảng cho việc hình thành tư duy chiến lược mới - tư duy tích hợp, hệ thống và hướng tới phát triển bền vững.
Về mặt lý luận, nghiên cứu liên ngành được hình thành từ nhu cầu giải quyết những vấn đề vượt ra ngoài phạm vi của một ngành khoa học đơn lẻ. Khác với cách tiếp cận đa ngành (multidisciplinary) - nơi các ngành cùng tham gia nhưng vẫn giữ nguyên ranh giới riêng biệt, liên ngành (interdisciplinary) hướng tới sự tích hợp thực chất, tạo ra tri thức mới có tính tổng hợp. Ba trụ cột cơ bản của tiếp cận này gồm, tích hợp (integration), hợp tác (collaboration) và trao đổi (communication), trong đó tích hợp được xem là mục tiêu cốt lõi, quyết định chất lượng quá trình nghiên cứu.
Trong thực tiễn phát triển, các vấn đề đặt ra đối với tỉnh Quảng Ninh hiện nay - từ quản trị di sản, phát triển du lịch bền vững, bảo vệ môi trường biển, quy hoạch đô thị đến chuyển đổi mô hình kinh tế đều mang tính liên ngành rõ nét. Mỗi vấn đề không chỉ liên quan đến một lĩnh vực riêng biệt mà là sự giao thoa giữa nhiều lĩnh vực: kinh tế với văn hóa, môi trường với công nghệ, xã hội với quản trị... Nếu tiếp cận theo cách truyền thống, xử lý từng phần riêng lẻ, khó tạo ra những giải pháp đồng bộ, thậm chí có thể dẫn đến xung đột chính sách hoặc hiệu ứng ngược. Chính vì vậy, khoa học liên ngành không chỉ là sự lựa chọn phương pháp, mà là yêu cầu tất yếu để bảo đảm tính hiệu quả và bền vững của các quyết sách phát triển.
Nhìn rộng ra thế giới, sự chuyển dịch sang tư duy liên ngành đã trở thành xu thế chủ đạo trong hoạch định chiến lược phát triển ở nhiều quốc gia và địa phương. Thực tiễn cho thấy, những mô hình chuyển đổi thành công trong giai đoạn hậu công nghiệp đều gắn với việc áp dụng cách tiếp cận tích hợp, huy động đồng thời nhiều nguồn lực tri thức.
Trường hợp thành phố Busan (Hàn Quốc) là một minh chứng điển hình. Từ một trung tâm công nghiệp nặng và cảng biển truyền thống, Busan đã đối mặt với khủng hoảng khi các ngành công nghiệp cũ suy giảm. Trên cơ sở chương trình nghiên cứu tổng thể, tích hợp các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, quy hoạch và xã hội, thành phố đã tái định vị chiến lược phát triển theo hướng kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa. Các khu bến cảng cũ được chuyển đổi thành không gian sáng tạo, các sự kiện văn hóa quốc tế như Liên hoan phim Busan được xây dựng thành thương hiệu toàn cầu. Kết quả là một hệ sinh thái sáng tạo được hình thành, tạo ra hàng loạt việc làm mới, đồng thời thay đổi căn bản diện mạo và cấu trúc kinh tế đô thị.
Tương tự, Bilbao (Tây Ban Nha) - từng là trung tâm công nghiệp nặng với tình trạng suy thoái nghiêm trọng - đã thực hiện một chiến lược chuyển đổi toàn diện dựa trên kinh tế tri thức và văn hóa. Thông qua việc tích hợp quy hoạch đô thị, phát triển hạ tầng văn hóa, đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu, thành phố đã tạo ra một “hiệu ứng Bilbao” nổi tiếng, trở thành hình mẫu toàn cầu về phục hưng đô thị. Từ một đô thị công nghiệp ô nhiễm, Bilbao đã vươn lên thành trung tâm văn hóa - sáng tạo, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm và tạo ra giá trị kinh tế - xã hội bền vững.
Những kinh nghiệm này cho thấy một điểm chung mang tính quy luật: chuyển đổi mô hình phát triển thành công không thể dựa vào những giải pháp đơn lẻ, mà phải được thiết kế trên nền tảng tư duy liên ngành, với sự tích hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực và sự phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể.
Quyết định số 569/QĐ-TTg, ngày 11-5-2022, của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, thúc đẩy liên kết giữa nhà nước - viện, trường - doanh nghiệp - cộng đồng. Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021, của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 khẳng định vai trò của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là động lực nội sinh cho phát triển kinh tế. Đặc biệt, Quyết định số 1755/QĐ-TTg, ngày 8-9-2016, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định rõ mối quan hệ giữa sáng tạo, di sản và tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Đối với tỉnh Quảng Ninh, việc vận dụng các định hướng này đòi hỏi không chỉ dừng ở việc triển khai chính sách, mà phải thiết lập một hệ thống nghiên cứu và hoạch định chiến lược mang tính liên ngành thực chất, bao gồm xây dựng thể chế, tổ chức và cơ chế vận hành phù hợp.
Một là, chuyển từ mô hình tổ chức khoa học theo chuyên ngành sang mô hình tích hợp, trong đó các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và nhân văn được kết nối trong một không gian nghiên cứu chung. Việc hình thành các trung tâm nghiên cứu liên ngành, các chương trình hợp tác giữa trường đại học, viện nghiên cứu và địa phương sẽ tạo ra nền tảng cho những nghiên cứu dài hạn, có chiều sâu và gắn với thực tiễn.
Hai là, thiết lập cơ chế, chính sách tài chính, khuyến khích nghiên cứu liên ngành. Khác với các đề tài đơn ngành, nghiên cứu liên ngành thường có thời gian dài hơn, yêu cầu nguồn lực lớn hơn và khó đánh giá theo các tiêu chí truyền thống. Do đó, cần có cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo nhiệm vụ chiến lược (mission-driven) gắn trực tiếp với nhu cầu phát triển của địa phương.
Ba là, triển khai mô hình “phòng thí nghiệm sống” (living lab) tại địa phương. Đây là mô hình cho phép thử nghiệm các giải pháp trong điều kiện thực tiễn với sự tham gia của nhiều bên liên quan, từ chính quyền, doanh nghiệp, nhà khoa học đến cộng đồng. Đối với tỉnh Quảng Ninh, các lĩnh vực như quản trị di sản, phát triển du lịch bền vững, kinh tế biển xanh hay đô thị thông minh đều có thể trở thành “không gian thí nghiệm” cho các mô hình liên ngành.
Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao tri thức. Việc phát triển nguồn nhân lực liên ngành không thể tách rời khỏi quá trình nghiên cứu và ứng dụng. Cần hình thành lực lượng “trung gian tri thức” (knowledge brokers) có khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành chính sách và thực tiễn quản lý.
Năm là, xây dựng hệ thống đánh giá tác động đa chiều, không chỉ dựa trên các chỉ tiêu kinh tế mà còn bao gồm các yếu tố môi trường, văn hóa và xã hội. Đây là điều kiện để bảo đảm các quyết sách phát triển hướng tới mục tiêu bền vững, hài hòa giữa các lợi ích.
Đối với tỉnh Quảng Ninh, việc chuyển sang tiếp cận này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc vượt qua những giới hạn của mô hình phát triển hiện tại, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn lực mới. Trong giai đoạn tới, nếu xây dựng được một hệ sinh thái nghiên cứu liên ngành gắn với nhu cầu thực tiễn, tỉnh Quảng Ninh không chỉ có thể giải quyết hiệu quả các vấn đề phát triển của mình, mà còn có thể trở thành “phòng thí nghiệm chiến lược” của cả nước - nơi thử nghiệm và lan tỏa những mô hình phát triển mới trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và chuyển đổi số.
Các trụ cột bứt phá cho mô hình phát triển bền vững
Thứ nhất, phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế di sản - động lực nội sinh mới của tăng trưởng
Tỉnh Quảng Ninh sở hữu một hệ thống di sản tự nhiên và văn hóa đặc biệt phong phú, tạo nền tảng hiếm có để phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế di sản. Tuy nhiên, điểm mấu chốt không nằm ở việc “có di sản”, mà ở khả năng chuyển hóa di sản thành giá trị kinh tế - xã hội thông qua các chuỗi giá trị sáng tạo.
Thực tiễn cho thấy, giá trị của Vịnh Hạ Long hay quần thể di sản Yên Tử, Bạch Đằng hiện vẫn chủ yếu được khai thác dưới dạng du lịch trực tiếp. Nếu tiếp cận theo hướng lượng giá toàn diện, tích hợp các yếu tố thương hiệu, sức mạnh mềm văn hóa và lan tỏa xã hội, giá trị này có thể gia tăng nhiều lần. Đây chính là dư địa quan trọng để chuyển từ “kinh tế du lịch” sang “kinh tế di sản”. Trong bối cảnh đó, tỉnh Quảng Ninh cần kiến tạo một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa tích hợp bao gồm: du lịch di sản chất lượng cao; nghệ thuật biểu diễn; bảo tàng số; thiết kế sáng tạo; thủ công mỹ nghệ; công nghiệp nội dung số và các không gian sáng tạo gắn với cộng đồng. Việc ứng dụng công nghệ số như thực tế ảo (VR/AR), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu mở… sẽ cho phép tái hiện, quản lý và phân phối giá trị di sản theo quy mô toàn cầu, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Đồng thời, chuyển từ mô hình du lịch đại chúng sang mô hình du lịch trải nghiệm, sáng tạo và có chiều sâu văn hóa, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách. Các sự kiện văn hóa - nghệ thuật quy mô quốc tế, các liên hoan sáng tạo, không gian nghệ thuật công cộng,… cần được tổ chức bài bản, thường niên, tạo dấu ấn thương hiệu riêng cho địa phương.
Thứ hai, phát triển kinh tế biển xanh và quản trị hệ sinh thái - bảo đảm nền tảng sinh thái cho phát triển bền vững
Tỉnh Quảng Ninh có điều kiện để phát triển kinh tế biển trở thành trụ cột chiến lược. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và áp lực môi trường ngày càng gia tăng, phát triển kinh tế biển không thể tiếp tục theo mô hình khai thác truyền thống, mà phải chuyển sang mô hình kinh tế biển xanh, bền vững và có trách nhiệm.
Trọng tâm của trụ cột này là xây dựng một hệ thống quản trị hệ sinh thái dựa trên cơ sở khoa học liên ngành. Việc đánh giá sức tải môi trường của Vịnh Hạ Long, khả năng phục hồi của các hệ sinh thái rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô,… sẽ cung cấp căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách, tránh tình trạng khai thác vượt quá ngưỡng chịu tải. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quan trắc và quản lý môi trường. Các hệ thống GIS, viễn thám, quan trắc sinh học,… cho phép theo dõi liên tục các biến động môi trường, cảnh báo sớm các nguy cơ ô nhiễm và thiên tai. Nếu được tích hợp thành hệ thống dữ liệu liên ngành, đây sẽ là công cụ quan trọng để nâng cao năng lực quản trị môi trường của địa phương. Một hướng đi có ý nghĩa chiến lược là phát triển kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực biển, bao gồm: giảm thiểu rác thải nhựa đại dương; tái sử dụng phụ phẩm thủy sản; phát triển năng lượng tái tạo như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời nổi và thúc đẩy các mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững. Việc kết hợp giữa khoa học biển, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ giúp hình thành các chuỗi giá trị xanh, vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao thu nhập cho cộng đồng ven biển.
Thứ ba, tổ chức không gian phát triển tích hợp - kiến tạo cấu trúc lãnh thổ hiện đại, hiệu quả
Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề tổ chức không gian lãnh thổ trở thành một yêu cầu mang tính quyết định đối với phát triển. Tỉnh Quảng Ninh cần chuyển từ tư duy quy hoạch phân ngành sang quy hoạch tích hợp đa ngành, coi không gian lãnh thổ là một chỉnh thể thống nhất, nơi các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa được kết nối hài hòa.
Một định hướng quan trọng là hình thành các cực phát triển động lực, có khả năng dẫn dắt và lan tỏa. Theo đó, Hạ Long có thể tiếp tục được định vị là trung tâm dịch vụ - du lịch quốc tế; Cẩm Phả - Vân Đồn là trung tâm công nghiệp biển, năng lượng và logistics; Móng Cái là trung tâm thương mại biên giới và cửa ngõ giao thương quốc tế. Việc phân vùng chức năng rõ ràng không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực, mà còn tạo ra các “động cơ tăng trưởng” có tính chuyên môn hóa cao.
Xây dựng mô hình “đô thị xanh - thông minh - sáng tạo”, trong đó các yếu tố sinh thái, công nghệ và văn hóa được tích hợp trong quy hoạch và quản trị. Các đô thị không chỉ là nơi tập trung dân cư và hoạt động kinh tế, mà còn là không gian sáng tạo, nơi hình thành các giá trị mới. Đặc biệt, với lợi thế di sản, tỉnh Quảng Ninh có thể phát triển mô hình đô thị gắn với di sản - văn hóa - du lịch, tạo nên bản sắc riêng biệt.
Ở cấp độ liên vùng, việc tăng cường kết nối với thành phố Hải Phòng, tỉnh Lạng Sơn và Trung Quốc là yếu tố then chốt để mở rộng không gian phát triển. Hành lang kinh tế ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng - Hưng Yên, nếu được tổ chức tốt, có thể trở thành trung tâm công nghiệp và logistics quan trọng của miền Bắc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực sáng tạo - yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn
Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và chuyển đổi số, nguồn nhân lực không chỉ là yếu tố sản xuất, mà là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi địa phương. Đối với tỉnh Quảng Ninh, việc phát triển nguồn nhân lực sáng tạo mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là điều kiện để hiện thực hóa các trụ cột phát triển đã nêu.
Nguồn nhân lực trong giai đoạn mới phải là lực lượng có tư duy liên ngành, có khả năng tích hợp tri thức và sáng tạo giá trị mới. Điều này đòi hỏi một sự đổi mới căn bản trong hệ thống đào tạo, từ nội dung chương trình đến phương thức tổ chức. Các ngành đào tạo cần gắn với nhu cầu thực tiễn của địa phương như quản trị di sản, công nghiệp văn hóa, kinh tế biển, quản trị đô thị, công nghệ số… Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại địa phương. Trong hệ sinh thái này, tỉnh Quảng Ninh không chỉ là nơi tiếp nhận tri thức, mà còn là nơi sản sinh và thử nghiệm các ý tưởng mới, tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Đồng thời, việc thu hút và giữ chân nhân tài cũng cần được coi là một ưu tiên chiến lược, thông qua các chế độ, chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Đây chính là nền tảng để hình thành lực lượng lao động chất lượng cao, có khả năng dẫn dắt quá trình chuyển đổi mô hình phát triển./.
----------------
(1) Xem: Nguyễn Chiến, “Cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp, đúng hướng”, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, https://www.quangninh.gov.vn/chuyen-de/diemden/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=157969
(2) Xem: Hoàng Quỳnh, “Quảng Ninh hoàn thành chỉ tiêu đón 19 triệu lượt khách năm 2024”, Báo Quảng Ninh điện tử, ngày 14-12-2024, https://baoquangninh.vn/quang-ninh-hoan-thanh-chi-tieu-don-19-trieu-luot-khach-nam-2024-3334629.html
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực chính cho mô hình tăng trưởng mới nâng tầm bứt phá của tỉnh Quảng Ninh  (21/07/2026)
Xác lập mô hình tăng trưởng mới tỉnh Quảng Ninh dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo  (02/07/2026)
Huyện Bình Liêu: Tích cực bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc  (03/01/2026)
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- An ninh phi truyền thống trong bối cảnh toàn cầu: Thách thức và định hướng chính sách của Việt Nam hiện nay
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống trong phát triển nhân cách quân nhân -
Kinh tế
Công nghiệp hóa bền vững để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam