Bác Tôn với phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam

Hoàng Ngọc Thanh
18:58, ngày 19-08-2008

Xuất thân từ công nhân, Bác Tôn đã trở thành người chiến sĩ cách mạng trung kiên, vị lãnh tụ của giai cấp công nhân và của nhân dân Việt Nam, một tấm gương mẫu mực về tinh thần yêu nước, đức tính cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Sinh ra và lớn lên khi thực dân Pháp đã đặt ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam, chứng kiến cảnh “nước mất nhà tan”, xã hội đầy dẫy bất công, nhân dân bị bóc lột cùng cực, Bác Tôn đã sớm có tinh thần yêu nước và khát vọng đấu tranh chống áp bức, bóc lột giành độc lập. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất, giai cấp công nhân ra đời, đánh dấu bước chuyển mới trong cơ cấu xã hội Việt Nam. Khi đó, Bác Tôn học xong tiểu học, đến Sài Gòn học nghề tại Trường Kỹ nghệ Viễn Đông. Năm 1909, Bác Tôn vào làm ở xưởng đóng tàu Ba Son, trở thành một trong những người thợ giỏi, Bác Tôn còn tích cực vận động anh em học sinh lính thủy bỏ học để chống lại chính sách hà khắc của thực dân Pháp, tổ chức các cuộc đấu tranh của công nhân chống đánh đập, cúp phạt, đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc.

Năm 1916, Bác Tôn bị động viên vào làm thợ máy cho hải quân Pháp. Thời kỳ này, các nước đế quốc bao vây nước Nga hòng bóp chết chính quyền Xô-viết non trẻ. Chiến hạm của Pháp ngang nhiên tiến công Biển Đen và bắn phá cảng Xê-va-xtô-pôn. Với tinh thần quốc tế vô sản cao cả, không muốn những người công nhân, lao động Nga phải chết chóc, đau thương, không muốn nước Nga Xô-viết non trẻ của công nông bị giày xéo, Bác Tôn đã dũng cảm, cùng anh em binh lính trong hạm đội Pháp, đứng lên phản chiến. Bác Tôn đã kéo lá cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ nước Nga, nhà nước Xô-viết đầu tiên trong lịch sử loài người. Trong những năm tháng sống ở Pháp và tham gia phong trào đấu tranh của thủy thủ Pháp, Bác Tôn đã ý thức được sức mạnh của giai cấp công nhân. Từ những kinh nghiệm tích lũy được khi tham gia trong tổ chức và hoạt động công đoàn ở thành phố Tu-lông, miền Nam nước Pháp, năm 1920 khi trở về Sài Gòn, Bác Tôn đã sớm nhận thấy cần phải tổ chức ra Công hội ở nước ta nhằm tập hợp, tuyên truyền, giác ngộ, vận động công nhân để đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đòi độc lập dân tộc.

Theo Bác Tôn, Công hội ra đời ở Việt Nam không chỉ nhằm tập hợp công nhân đấu tranh đòi quyền lợi về kinh tế, mà còn phải đòi hỏi cả quyền lợi về chính trị, do vậy, Công hội phải hoạt động bí mật. Bác Tôn đã cùng với một số anh em lập xưởng sửa chữa xe hơi ở Phú Nhuận để làm nơi gặp gỡ, tuyên truyền, vận động, tập hợp anh em công nhân thành lập Công hội bí mật và giải quyết công ăn việc làm cho một số anh em, đồng thời, lấy tiền cho tổ chức Công hội bí mật hoạt động. Bác Tôn đã cùng với một số công nhân vận động, tổ chức thành lập những cơ sở Công hội bí mật đầu tiên ở Nam Bộ và thành lập nhóm lãnh đạo, trong đó có Trần Trương (Sáu Trương), Đặng Văn Sửu (Nhuận), Trần Văn Hòa (Ba Hòe), Trần Ngọc Giải (Thuận Hòa), Bùi Văn Tảo (Đình). Sự ra đời của tổ chức Công hội bí mật do Bác Tôn thành lập trong hoàn cảnh chưa có đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, nên chưa có đường lối và điều lệ rõ ràng, phạm vi hoạt động chỉ ở Sài Gòn - Chợ Lớn, chưa phải ở phạm vi quốc gia, tuy mục đích của nó đã được xác định rõ là: đoàn kết, tương trợ, bênh vực quyền lợi giai cấp công nhân, đấu tranh chống áp bức bóc lột của đế quốc và tay sai.

Sự ra đời của Công hội bí mật vào những năm 1920 - 1925 tại Sài Gòn, trung tâm công nghiệp của cả nước lúc bấy giờ, có ý nghĩa chính trị vô cùng quan trọng. Nó đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, thời kỳ giai cấp công nhân Việt Nam bắt đầu ý thức về sức mạnh của giai cấp mình. Tuy phải hoạt động bí mật nhưng Công hội đã góp phần từng bước đưa giai cấp công nhân Việt Nam lên vũ đài chính trị và dần dần trở thành lực lượng chính trị độc lập, mở đầu cho một giai đoạn mới - giai đoạn đấu tranh có tổ chức, từ tự phát lên tự giác. Với hoạt động tích cực và lãnh đạo sáng tạo của nhóm trung kiên, đứng đầu là đồng chí Tôn Đức Thắng, Công hội bí mật đã phát triển và có cơ sở ở khắp Sài Gòn - Gia Định. Đến năm 1925, số hội viên lên đến 300 người.

Trong quá trình lãnh đạo Công hội bí mật, Bác Tôn đã chủ động bắt liên lạc với một số đồng chí trong tổ chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên; tự nguyện gia nhập và giới thiệu các đồng chí trong nhóm trung kiên cùng gia nhập tổ chức này. Bác Tôn đã trực tiếp bồi dưỡng, phát hiện, giới thiệu và đưa nhiều thanh niên công nhân có tâm huyết sang Quảng Châu học tập, sau đó trở về hoạt động trong phong trào công nhân, tiêu biểu như: Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Dung, Ngô Văn Năm, Lê Văn Lưỡng… Những cán bộ này đều được Bác Tôn lựa chọn từ phong trào công nhân của nhà máy Ba Son và đã trở thành những cán bộ đầu tiên của phong trào công nhân và hoạt động công đoàn, mà tên tuổi, sự nghiệp của họ gắn liền với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam.

Từ khi có Công hội bí mật, phong trào đấu tranh của công nhân thợ thuyền Sài Gòn, Chợ Lớn đã liên tục nổ ra và phát triển theo một xu thế mới. Các cuộc bãi công của công nhân đã dần dần trở thành bãi công của những người thợ ý thức được sức mạnh đoàn kết của giai cấp trong một ngành, một vùng. Trong đó, tiêu biểu nhất là cuộc bãi công của thợ nhuộm Chợ Lớn, diễn ra vào tháng 11-1922, với khoảng 600 thợ tham gia và là cuộc bãi công đầu tiên mang tính chất ngành nghề trong phạm vi Sài Gòn - Chợ Lớn. Tháng 8-1925, nổ ra cuộc bãi công của hơn 1000 công nhân Ba Son đòi tăng lương 20% và giữ chế độ nghỉ nửa giờ trong ngày lĩnh lương hằng tháng. Cuộc bãi công của công nhân Ba Son là cuộc bãi công đầu tiên của công nhân có sự lãnh đạo và tổ chức của Công hội, với quy mô lớn, dài ngày. Tuy là bãi công của công nhân đòi các yêu sách kinh tế, song nó đã mang tính chất chính trị rõ rệt và biểu hiện tinh thần quốc tế vô sản cao cả của giai cấp công nhân Việt Nam, một giai cấp còn rất non trẻ. Sau 9 ngày bãi công, thắng lợi đã thuộc về công nhân: chủ xưởng buộc phải tăng lương 10%, trả lương cho công nhân cả những ngày bãi công và không sa thải những người bãi công. Tiến hành cuộc bãi công trên, công nhân Ba Son còn thực hiện được ý đồ kéo dài thời gian sửa chữa chiến hạm Mi-so-lê của Pháp nhằm ngăn chặn không cho thực dân Pháp chở lính sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Cuộc bãi công của công nhân Ba Son đã tạo nên tiếng vang lớn trên diễn đàn quốc tế và tác động tích cực đến phong trào công nhân trong cả nước, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định. Kế thừa những thành công và kinh nghiệm bãi công của công nhân Ba Son, năm 1926, phong trào đấu tranh của công nhân đã có xu hướng phát triển mạnh mẽ khắp Sài Gòn - Chợ Lớn và các vùng phụ cận, như: ngày 11-4-1926, công nhân Trung ương ấn Quán bãi công chống chủ Xin-đa-tơ-ri trả lương trễ 4 ngày; ngày 22-4-1926, diễn ra cuộc bãi công của công nhân Đê-pô xe lửa và Ga Sài Gòn; ngày 3-5-1926, công nhân, viên chức Nhà máy Cao su Sài Gòn bãi công; ngày 5-5-1926, toàn thể công nhân đóng tàu ở Ba Son bãi công, học sinh Trường Thợ máy Sài Gòn bãi khóa…

Bác Tôn đã sớm nhận thức rõ tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức chính trị cho hội viên Công hội bí mật. Bởi vậy, Bác Tôn đã tổ chức Công hội liên lạc chặt chẽ với công nhân, thủy thủ tàu biển để nhận báo chí tiến bộ từ Pháp, Trung Quốc gửi về như báo Nhân đạo, Người cùng khổ, Việt Nam hồn và những bài báo của Nguyễn Ái Quốc viết về Đông Dương.

Bác Tôn luôn ý thức được sức mạnh của tổ chức công hội, của giai cấp công nhân; nó không chỉ phục thuộc vào bản thân tổ chức công hội và giai cấp công nhân, mà còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của các giai cấp, tầng lớp và các tổ chức khác trong xã hội. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo Công hội bí mật hoạt động, Bác Tôn rất chú trọng mở rộng quan hệ của Công hội với các tầng lớp tiến bộ khác, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của họ. Đối với nông dân, Bác Tôn thườngcùng các anh em công nhân về các tỉnh để tuyên truyền tinh thần yêu nước trong bà con chòm xóm, tạo nên mối quan hệ gắn bó với những người yêu nước ở các vùng quê. Đối với phong trào yêu nước của tầng lớp trí thức tiểu tư sản, Công hội của Bác Tôn ủng hộ, tham gia tất cả các cuộc mít tinh, biểu tình công khai, nhưng vẫn giữ riêng tổ chức bí mật của mình. Do vậy, các phong trào đấu tranh của Công hội bí mật đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn về vật chất và tinh thần của nhiều lực lượng ở Sài Gòn - Gia Định như: thợ thuyền, dân cày và tiếng nói đồng tình của báo chí. Đầu năm 1927, Bác Tôn bắt liên lạc và giới thiệu các đồng chí trong nhóm trung kiên cùng gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; giới thiệu đưa thanh niên có tâm huyết sang Quảng Châu học tập. Từ đây, Công hội của Bác Tôn trở thành một cơ sở quan trọng cho sự phát triển của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Công hội bí mật của Bác Tôn tại Sài Gòn - Chợ Lớn tồn tại chưa được mười năm, song cả cuộc đời thanh xuân của Bác Tôn đã giành trọn vẹn cho việc tìm đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chuẩn bị miếng đất tốt cho Nguyễn Ái Quốc “gieo trồng hạt giống đỏ” vào phong trào công nhân Việt Nam.

Bác Tôn đã từng sống, hoạt động với tư cách là người công nhân, người đoàn viên và cán bộ công đoàn, là một trong những lãnh tụ đầu tiên của phong trào công nhân, công đoàn Việt Nam. Những cống hiến đó của Bác Tôn đã góp phần vào sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam, một trong những cơ sở quan trọng hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam và tạo nền tảng, định hướng cho hoạt động công đoàn Việt Nam. Sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, do yêu cầu của cách mạng, Bác Tôn vẫn giành sự quan tâm đặc biệt đến giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam; giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam cũng luôn gắn bó chặt chẽ với cuộc đời và sự nghiệp của Bác Tôn. Tại Đại hội lần thứ III Công đoàn Việt Nam, diễn ra từ ngày 11 đến ngày 14-2-1974, Bác Tôn đã được bầu là Chủ tịch danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã để lại cho giai cấp công nhân Việt Nam những bài học kinh nghiệm quý báu và có ý nghĩa to lớn. Trước hết, đó là tính tổ chức, tính nguyên tắc. Dù làm việc gì cũng phải tuân thủ quyết định của tổ chức, của tập thể. Bác Tôn cho rằng sức mạnh là ở tổ chức; toàn Đảng chỉ có một ý chí, đó là sự đoàn kết, nhất trí trên cơ sở đường lối chính trị và nguyên tắc tổ chức của Đảng. Kỷ cương tổ chức phải tuân thủ chặt chẽ; điều đó không chỉ xuất phát từ tính nguyên tắc mà còn ở ý thức tự giác của con người. Suốt cuộc đời hoạt động của mình, Bác Tôn thường xuyên chăm lo đoàn kết đồng chí, đồng bào, đoàn kết cả nước để đấu tranh cho hòa bình, thống nhất và xây dựng đất nước giàu đẹp. Tại Hội nghị Cán bộ dân vận Trung ương ngày 15-2-1949, Bác Tôn khẳng định: “Có đoàn kết nội bộ thì việc thi hành phương châm, chính sách mới thống nhất nhịp nhàng. Kinh nghiệm cho ta biết, sở dĩ có những thành tích vẻ vang nhất là nhờ sự đoàn kết nội bộ chặt chẽ, mà đoàn kết nội bộ ở đây không phải là chỉ thống nhất hành động, thống nhất tư tưởng trong việc thực hiện chính sách của Đảng, mà còn phải gây tính luyến ái mật thiết giữa người này, người khác, biết giúp đỡ, yêu mến quý trọng nhau, lo toan cho nhau nữa. Phải tạo cho chúng ta thành một gia đình cộng sản tốt đẹp kiểu mẫu hơn cả gia đình chúng ta ở nhà”. Bác Tôn còn cho rằng phương pháp duy nhất giúp chúng ta đồng tâm nhất trí là tự chỉ trích và thân ái chỉ trích bạn mình.

Trong mọi hoạt động, Bác Tôn luôn kiên quyết chống những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân. Khiêm tốn, giản dị, gần gũi nhân dân là đức tính, phong cách công nhân chân thành, trong sáng của Bác Tôn. Khi đã là người lãnh đạo, Bác Tôn vẫn giữ được đức tính quý báu đó: ăn những món ăn quê nhà, mặc như những người bình thường, ghét sự xa hoa, ham lao động, cái gì mình làm được thì không muốn phiền người khác. Trong những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, khi tuổi đã cao, thỉnh thoảng Bác Tôn lại bảo cho Bác đi xe U-oát, loại xe con trang bị cho quân đội, từ Hà Nội theo các tuyến đường 1, đường 5. Bác yêu cầu tài xế đi chậm và đi chừng 30 cây số là quay về. Trên đường đi, Bác quan sát đồng ruộng và bà con nông dân lao động. Cũng có lúc Bác xuống hỏi chuyện bà con; có người nhận ra Bác, có người cho là cụ già ở Hà Nội trên đường về quê… Văn phòng Trung ương Đảng nhiều lần định bố trí Bác Tôn đi về thăm các tỉnh và cơ sở, nhưng Bác bảo: “Về thăm nơi nào là phải có mục đích và giải quyết được những điều thiết thực, có ích cho địa phương, nếu cứ về rồi nói chung chung thì thôi; đỡ mất thì giờ đón tiếp của cán bộ và nhân dân…”. Đức tính, phong cách công nhân giản dị, chân thành, trong sáng đã làm nên phẩm chất của Bác Tôn, một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng. Chính tấm gương đạo đức trong sáng của Bác Tôn đã dẫn dắt nhiều đồng chí vững vàng vượt qua những thử thách phức tạp của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Ghi nhớ công lao xây dựng tổ chức công đoàn của Bác Tôn, Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Trường Bán công Tôn Đức Thắng, vừa được Chính phủ quyết định chuyển thành Trường Đại học Tôn Đức Thắng, thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Ngày nay, Công đoàn Việt Nam hoạt động trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cán bộ, đoàn viên công đoàn và công nhân, viên chức, lao động Việt Nam nguyện noi theo tấm gương của Bác Tôn, phấn đấu trở thành công dân tốt, những cán bộ tận tụy, gương mẫu, hết lòng vì dân, vì sự nghiệp cách mạng do Bác Hồ và Bác Tôn đã đặt nền móng gây dựng.

Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác Tôn, thêm một lần nữa cán bộ, đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động cả nước khẳng định công lao to lớn của Bác Tôn đối với giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam. Trong các hoạt động của mình, các cấp công đoàn cần quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo các quan điểm, tư tưởng của Bác Tôn vào thực tiễn phong trào công nhân, tổ chức hoạt động công đoàn trong tình hình mới:

- Phải không ngừng tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân, công đoàn nhằm nâng cao nhận thức chính trị, giác ngộ giai cấp cho đoàn viên, hội viên; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và những kinh nghiệm của phong trào công nhân, công đoàn các nước trên thế giới vào điều kiện cụ thể của phong trào công nhân, hoạt động công đoàn Việt Nam để phong trào công nhân, công đoàn nước ta hoạt động ngày càng có hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Các cấp Công đoàn phải kiên trì vận động, thuyết phục quần chúng và có những hình thức tổ chức đa dạng, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; phải quan tâm xây dựng khối đoàn kết, thống nhất và tinh thần tương thân, tương ái để tạo động lực thu hút đông đảo công nhân, lao động vào tổ chức mình. Công đoàn cần quan tâm xây dựng, củng cố khối đoàn kết, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ, vững chắc.

- Đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động công đoàn cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể, nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo công nhân, lao động và nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn. Hoạt động công đoàn phải gắn chặt mục tiêu kinh tế với mục tiêu chính trị; giải quyết hài hòa giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, giữa quyền, lợi ích của cá nhân với quyền, lợi ích của tập thể, của giai cấp và của dân tộc, để tạo động lực thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của Đảng “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

- Giai cấp công nhân phải thể hiện tinh thần quốc tế vô sản cao cả, tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế với giai cấp công nhân, tổ chức công đoàn và các tầng lớp yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhằm tập hợp, đoàn kết rộng rãi các lực lượng, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ về vật chất, tinh thần của các giai cấp và mọi lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới để giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình.

Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác Tôn đã góp phần tạo nền tảng tổ chức và định hướng cho hoạt động công đoàn Việt Nam. Các thế hệ cán bộ, đoàn viên công đoàn nguyện ghi nhớ công lao to lớn đó và phát huy những quan điểm, tư tưởng cách mạng của Bác Tôn, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh, xứng đáng là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.