Quân đội nhân dân Lào: 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành

Ths. Lê Văn Phong, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
15:45, ngày 18-01-2014
TCCSĐT - Ngày 20-01-1949, Quân đội nhân dân Lào được thành lập. Trải qua chặng đường 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, trong bất luận hoàn cảnh lịch sử nào, Quân đội nhân dân Lào luôn là lực lượng trung thành tuyệt đối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp lao động sáng tạo của nhân dân.
Cùng nhân dân các bộ tộc Lào đánh thắng thực dân Pháp xâm lược

Sau cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, ngày 12-10-1945, nước Lào tuyên bố độc lập, nhân dân các bộ tộc Lào từ thân phận nô lệ đã đứng lên làm chủ cuộc sống và vận mệnh dân tộc. Tuy nhiên, niềm vui độc lập ấy không được bao lâu, khi thực dân Pháp nhanh chóng tiến hành xâm lược Lào, sau khi trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Trải qua những năm đầu kháng chiến gian khổ, dù kẻ thù có thế mạnh vượt trội về lực lượng và trang bị vũ khí, nhưng các đơn vị vũ trang nhỏ bé của Lào vẫn kiên cường bám đất, bám dân, vừa tiến hành chiến tranh du kích, vừa xây dựng cơ sở chính trị quần chúng. Trong những năm 1947 và 1948, trên cơ sở lực lượng chính trị được củng cố, phát triển, những đơn vị vũ trang địa phương ở Thượng, Trung và Hạ Lào lần lượt ra đời, tiến hành chiến tranh du kích, phối hợp chiến đấu với bộ đội Việt Nam giành nhiều thắng lợi quan trọng.

Ngày 20-01-1949, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, tại Đại hội Dân tộc ở khu căn cứ Xiềng Khọ, tỉnh Hủa-phăn, Quân đội Lào Ít-xa-la được thành lập, đánh dấu thời kỳ phát triển mới của các lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Cũng từ đây, ngày 20-01-1949 trở thành ngày thành lập Quân đội cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào. Tháng 8-1950, Mặt trận Dân tộc thống nhất (Neo Lào Ít-xa-la) và Chính phủ kháng chiến Lào cũng được thành lập, mở ra một trang sử mới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Lào.

Từ năm 1951, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân các bộ tộc Lào mặc dù có những thuận lợi mới nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Việc đế quốc Mỹ viện trợ trực tiếp cho thực dân Pháp xâm lược Lào và các nước Đông Dương đã đặt ra những yêu cầu mới đối với quân đội và nhân dân Lào. Trong bối cảnh ấy, được sự giúp đỡ của Quân đội nhân dân Việt Nam, trực tiếp là quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1), Quân đội Lào Ít-xa-la tiếp tục được củng cố, từng bước tạo lập thế trận chiến tranh nhân dân đánh địch.

Năm 1953, nhằm nâng cao khả năng tác chiến và sẵn sàng chiến đấu cho Quân đội Lào Ít-xa-la, Chính phủ kháng chiến Lào quyết định sử dụng phần lớn lực lượng Quân đội Lào Ít-xa-la phối hợp chiến đấu hiệu quả với quân tình nguyện và bộ đội chủ lực Việt Nam giành thắng lợi quyết định trong các chiến dịch Thượng Lào, giải phóng Sầm Nưa (năm 1953), Trung - Hạ Lào (năm 1953 - 1954) và Thượng Lào, phá vỡ phòng tuyến sông Nậm U của địch (đầu năm 1954).

Những thắng lợi trên không chỉ phản ánh sự lớn mạnh vượt bậc của cách mạng Lào, của Quân đội Lào Ít-xa-la, mà còn góp phần hỗ trợ đắc lực cho quân dân Việt Nam tiến lên giành thắng lợi cuối cùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ (ngày 07-5-1954). Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Đông Dương kết thúc thắng lợi. Thành tích và những kinh nghiệm đạt được trong cuộc kháng chiến chống Pháp là cơ sở và tiền đề quan trọng để Quân đội Lào Ít-xa-la tiếp tục phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ


Thực dân Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhưng đế quốc Mỹ lại nhanh chóng thế chân Pháp, biến miền Nam Việt Nam và Lào thành thuộc địa kiểu mới, nhằm ngăn chặn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở Đông Dương, Đông Nam Á và trên thế giới.

Trước âm mưu của đế quốc Mỹ đối với cách mạng Lào, Chính phủ kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào xác định quyết tâm: “Bất kể tình huống nào, việc đẩy mạnh xây dựng Quân đội Lào Ít-xa-la là một nhiệm vụ hết sức cần thiết, là công tác trung tâm thứ nhất, phải tập trung lực lượng kiên trì thực hiện cho kỳ được” (2). Dự kiến kế hoạch phát triển Quân đội Lào Ít-xa-la đến năm 1955 phải đạt trên dưới 10.000 quân, xây dựng thành 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh và một số đơn vị phối thuộc.

Theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ, Quân đội Lào Ít-xa-la tiến hành tập kết về hai tỉnh Hủa-phăn và Phông-xa-lỳ. Phong trào thanh niên tòng quân theo Quân đội Lào Ít-xa-la diễn ra sôi nổi ở khắp các vùng miền bộ đội đi qua. Qua đó, trên đường trở về khu tập kết, số lượng bộ đội của Quân đội Lào Ít-xa-la đã lên đến hơn 9.000 người.

Tháng 7-1954, theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng Lào, đồng thời quán triệt quan điểm đoàn kết quốc tế của Đảng và phương châm chiến lược “giúp bạn là mình tự giúp mình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn cố vấn quân sự Việt Nam (Đoàn 100) được thành lập, nhằm thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào, nhanh chóng cùng Quân đội Lào Ít-xa-la xây dựng lực lượng theo kịp sự phát triển của cách mạng.

Với điểm tựa vững chắc là sự phát triển của Quân đội Lào Ít-xa-la và phong trào cách mạng nhiệt huyết trong cả nước, sau một thời gian chuẩn bị, ngày 22-3-1955, Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào được triệu tập. Đại hội đã thông qua báo cáo về xây dựng Đảng, nhất trí lấy tên là Đảng Nhân dân Lào; thông qua các chính sách cơ bản, Cương lĩnh chính trị trước mắt và Điều lệ Đảng; bầu Ban Chỉ đạo Trung ương Đảng Nhân dân Lào (có tính chất như một Ban Chấp hành Trung ương). Đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản được bầu làm Bí thư Ban Chỉ đạo Trung ương Đảng.

Tiếp đó, tháng 4-1955, Ban Chỉ đạo Trung ương Đảng Nhân dân Lào quyết định thành lập Đảng ủy Quân sự Trung ương và cử đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản làm Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào. Sự ra đời của Đảng Nhân dân Lào và Đảng ủy Quân sự Trung ương Lào đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh của cách mạng Lào. Đó cũng là sự chuyển biến tất yếu cho bước phát triển nhảy vọt của cách mạng và Quân đội Pa-thét Lào (3) trong những giai đoạn tiếp theo. Nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội Pa-thét Lào, từ ngày 20-7 đến ngày 30-7-1967, Hội nghị cán bộ quân chính toàn quân được triệu tập tại Sầm Nưa, quyết định đổi tên Quân đội Pa-thét Lào thành Quân đội giải phóng nhân dân Lào. Đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon được cử làm Tư lệnh tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Lào.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao, Quân đội giải phóng nhân dân Lào không ngừng phát triển, đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, tranh thủ tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, phối hợp chiến đấu giành thắng lợi trong các chiến dịch Nặm Bạc (năm 1968), Cánh đồng Chum (năm 1969 - 1970), Mường Xủi (năm 1969), đường 9 - Nam Lào (năm 1971), chiến dịch phòng ngự Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (năm 1972)…, qua đó góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường”, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Viêng-chăn (tháng 02-1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Lào.

Cùng với việc đẩy mạnh chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, công tác xây dựng Đảng trong lực lượng vũ trang luôn được Quân đội giải phóng nhân dân Lào chú trọng, coi đó là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của quân đội. Bên cạnh đó, việc củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội giải phóng nhân dân Lào đã tạo ra xung lực mới cho cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.

Ngày 02-12-1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời. Quân đội giải phóng nhân dân Lào kết thúc một chặng đường đấu tranh đầy hy sinh gian khổ, bước vào một thời kỳ mới, cùng cả nước khắc phục hậu quả chiến tranh, chống sự phá hoại của các thế lực phản động, thù địch, tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng thành công một nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng.

Giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước Lào


Tuy nhiên, sự phá hoại và âm mưu lật đổ chính quyền của các lực lượng thù địch đã đặt nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào non trẻ sớm phải đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Do vậy, cùng với việc lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, xã hội, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Chính phủ Lào luôn chú trọng chăm lo, củng cố, xây dựng và phát triển quốc phòng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang.

Về nhiệm vụ của Quân đội giải phóng nhân dân Lào giai đoạn mới, Hội nghị Quân ủy Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, tháng 6-1978, xác định: “Hai nhiệm vụ chiến lược bảo vệ và xây dựng đất nước phải gắn chặt với nhau, trong khi thường xuyên nâng cao sẵn sàng chiến đấu ở mọi cấp, toàn quân phải ra sức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, chú trọng xây dựng cả 3 thứ quân một cách cân đối, có cơ cấu thích hợp, có chất lượng cao” (4).

Thực hiện kế hoạch xây dựng lực lượng, ngày 06-10-1981, Bộ Quốc phòng Lào quyết định thành lập Sư đoàn 2, sư đoàn đầu tiên của Quân đội giải phóng nhân dân Lào. Tiếp đó, Sư đoàn 3, Sư đoàn 1 cũng lần lượt ra đời. Cùng với việc coi trọng xây dựng và phát triển lực lượng bộ đội chủ lực, Bộ Quốc phòng Lào quan tâm đến việc xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích; đồng thời gấp rút củng cố và triển khai hệ thống nhà trường, các trung tâm tập huấn nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội.

Đặc biệt, để phát huy bản chất tốt đẹp của Quân đội giải phóng nhân dân Lào trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, xây dựng quân đội trở thành quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại, ngày 16-7-1982, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã ký Sắc lệnh số 75/CTN, đổi tên Quân đội giải phóng nhân dân Lào thành Quân đội nhân dân Lào. Đây là một sự kiện quan trọng của Quân đội nhân dân Lào trên chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ vươn lên thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, xứng đáng với danh hiệu “Quân đội nhân dân”.

Từ năm 1988, trước tình hình thế giới, trong nước có nhiều chuyển biến mới, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (tháng 3-1991) Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Bộ Quốc phòng Lào đã chấn chỉnh, kiện toàn lực lượng thường trực theo hướng gọn nhẹ, có chất lượng cao, phù hợp với tình hình và khả năng của đất nước. Năm 1994, Bộ Quốc phòng Lào đồng loạt tổ chức thống nhất trong toàn quân cấp sư đoàn bộ binh. Năm 1995, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ký sắc lệnh ban hành Luật Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Những quyết định quan trọng này đã góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Lào thời kỳ mới.

Nhằm tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của Quân đội nhân dân Lào trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Nhân dân cách mạng Lào (tháng 3-1996) xác định: “Để làm nòng cốt cho sự nghiệp quốc phòng toàn dân, phải chú trọng xây dựng và củng cố Quân đội nhân dân về mọi mặt, lấy chất lượng làm chính, xây dựng thành quân đội cách mạng, chính quy và từng bước hiện đại, đồng thời ra sức xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích, coi trọng hơn nữa việc xây dựng thế trận quốc phòng nhân dân ở cơ sở, gắn với việc phát triển nông thôn toàn diện, kết hợp chặt chẽ công tác quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, xã hội” (5).

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng VI và Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng tiếp sau, đến nay Quân đội nhân dân Lào được xây dựng và trưởng thành nhanh chóng, giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Lào tự hào với truyền thống vẻ vang và những thành tích đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc dựng xây, phát triển đất nước ngày nay. Thực tiễn đó để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, cụ thể là:

Thứ nhất,
trong bất luận hoàn cảnh lịch sử nào, Quân đội nhân dân Lào luôn là lực lượng trung thành tuyệt đối về mọi mặt của Đảng nhân dân Cách mạng Lào, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng.

Thứ hai,
Quân đội nhân dân Lào từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, giữ mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn chiến đấu và chiến thắng vì lợi ích dân tộc, vì cuộc sống hòa bình, no ấm của nhân dân.

Thứ ba,
khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân các bộ tộc Lào giao phó; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý chí quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập tự do của dân tộc Lào.

Thứ tư,
nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, đặc biệt là tình đoàn kết chiến đấu với Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm tạo sức mạnh tổng hợp cho Quân đội nhân dân Lào chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, góp phần vào công cuộc xây dựng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thịnh vượng và phồn vinh./.

-------------------------

(1) Từ ngày 30-10-1949, các lực lượng vũ trang Việt Nam hoạt động tại Lào mang danh nghĩa là “Quân tình nguyện”

(2) Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào: Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Nxb. Quân đội nhân dân, Viêng-chăn, 1996, tr. 106

(3) Sau Đại hội thành lập Đảng nhân dân Lào, Quân đội Lào Ít-xa-la được đổi tên thành Quân đội Pa-thét Lào; Bộ Quốc phòng được đổi tên thành Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào

(4) Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào: Lịch sử Quân đội Nhân dân Lào, Nxb. Quân đội nhân dân, Viêng-chăn, 1996, tr. 256

(5) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Nhân dân cách mạng Lào (tháng 3-1996), lưu Bộ Quốc phòng Lào, tr. 8