TCCS - Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 8-2010, cả nước có hơn 500.000 doanh nghiệp (DN) đăng ký thành lập và đang hoạt động (chưa tính 3,7 triệu hộ kinh doanh), với tổng vốn đăng ký gần 2.514 tỉ đồng (khoảng 130 tỉ USD). Trong đó, số doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm 97%, thu hút trên 50,1% tổng số lao động và đóng góp trên 40% GDP hằng năm của cả nước.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ - vai trò và bước phát triển

Ngay từ những năm đầu đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, cộng đồng DN thuộc các thành phần kinh tế của nước ta cũng bắt đầu ra đời và phát triển nhanh chóng. Nếu như trong chặng đường ngắn 10 năm đầu khởi động (1989 - 1999), cả nước mới có gần 50.000 DN lớn, nhỏ thuộc các thành phần kinh tế đăng ký thành lập, hoạt động, thì trong 10 năm tiếp theo (2000 - 2010) đã có hơn 500.000 DN, trong đó 5 tháng đầu năm 2010 đã thành lập mới gần 34.000 DN, còn riêng tháng 8 được 9.300 DN.

Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, DNVVN là những cơ sở kinh doanh theo quy định của pháp luật và được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm. Cụ thể, ở các khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và xây dựng, DN siêu nhỏ là DN chỉ có 10 lao động trở xuống; DN nhỏ có từ 10 đến 200 lao động và vốn hoạt động dưới 20 tỉ đồng; tương tự, DN vừa có từ 200 đến 300 lao động và vốn từ 20 đến 100 tỉ đồng. Trong lĩnh vực kinh doanh thương mại và du lịch, các tiêu chí đó thứ tự là dưới 10 lao động; từ 10 đến 50 lao động và vốn dưới 10 tỉ đồng; từ 50 đến 100 lao động và vốn từ 10 đến 50 tỉ đồng.

Nhằm tạo môi trường pháp lý hoàn thiện cho các DN hoạt động, năm 2000 Nhà nước ban hành Luật Doanh nghiệp, tiếp theo đó năm 2001 ban hành Nghị định số 90 (hiện nay được thay thế bằng Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày 30-6-2009) về tiếp tục thực hiện các chính sách trợ giúp phát triển DNVVN. Đây là một chủ trương đúng đắn, kịp thời không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn cả về mặt xã hội, nhân văn. Bởi lẽ, trong thực tế, DNVVN giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội; là nơi thu hút lao động nhiều nhất, huy động các nguồn lực, tiềm năng trên mọi lĩnh vực, địa bàn để làm ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, đóng góp lớn vào ngân sách quốc gia. Và, cũng chính từ những kết quả đóng góp này, cộng đồng DNVVN càng tạo nhiều cơ hội lớn, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế trong xu thế hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Nói cách khác, cơ chế, chính sách và giải pháp cụ thể để khuyến khích, động viên, hỗ trợ DNVVN phát triển ổn định, đúng hướng chính là chiếc chìa khóa thành công của tất cả các DN, tập đoàn, tổng công ty trong cả nước trong đó có 97% số DNVVN.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng DNVVN của nước ta hiện chiếm 97% tổng số DN, nhưng vẫn thấp hơn so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Cụ thể, ở Mỹ hiện có khoảng 27 triệu DNVVN, chiếm 99,7% tổng số DN, 53% lực lượng lao động, hằng năm tạo ra gần 20 triệu việc làm, đóng góp gần 50% GDP và 55% các sáng tạo kỹ thuật. Ở Hàn Quốc, số DNVVN chiếm tới 99,9%, 88,4% lao động, 48,8% giá trị sản xuất, còn ở Ma-lai-xi-a là 99,2%, 56,4% và 32% GDP; Nhật Bản là 99,4% về số lượng DN và 52% GDP. Tương tự, Thái Lan là 99,5% và gần 50%... Từ thực tế so sánh này, nhiều chuyên gia kinh tế bình luận Việt Nam cần sớm có các giải pháp tăng số lượng DNVVN nhiều hơn nữa, phân bố phát triển đồng bộ ở khắp các vùng, miền và thu hút đào tạo nhiều lao động tại chỗ, có tay nghề cao để đủ sức khai thác các lợi thế làm giàu đất nước.

Động lực phát triển từ các chính sách hỗ trợ

Trong thực tế, các khó khăn, hạn chế chung của các DNVVN là thiếu vốn tự có, khó tiếp cận với nguồn vốn của các tổ chức tín dụng do không có tài sản thế chấp, độ tin cậy về hiệu quả dự án và chương trình sử dụng vốn chưa đủ sức thuyết phục cán bộ tín dụng ngân hàng; mặt bằng sản xuất, kinh doanh chật hẹp (thậm chí là không có); kỹ thuật lạc hậu; quản trị DN nói chung còn yếu kém; đối tác làm ăn chưa nhiều; thị trường nhỏ hẹp; mối liên kết với các DN, Tập đoàn lớn trong nước, trong cùng lĩnh vực kinh doanh còn ít, lại chưa chặt chẽ thường xuyên. Về khách quan, hệ thống văn bản, pháp luật áp dụng cho cộng đồng DNVVN tuy đã được xây dựng nhưng chưa thực sự hoàn thiện, đầy đủ, thậm chí còn chồng chéo, đang dần chỉnh sửa, bổ sung, nên trong nhiều trường hợp vừa mới áp dụng lại phải điều chỉnh, giảm tốc độ, cơ cấu, quy mô...

Từ thực tế nêu trên, ngày 30-6-2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và gần đây nhất là Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 5-5-2010 "về các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV" với 8 nội dung lớn. Đó là, trợ giúp tài chính; mặt bằng sản xuất; đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ; xúc tiến mở rộng thị trường; mua sắm, cung ứng dịch vụ công; phát triển nguồn nhân lực; tư vấn - thông tin và vườn ươm DN. Các đầu mối về trợ giúp năng lực tài chính cho các DN là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Phát triển và Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam. Các đối tượng được vay vốn ưu đãi lãi suất thấp hoặc lãi suất bằng không là các tổ chức, cá nhân thực hiện các dự án nhỏ nhằm tạo công ăn việc làm cho người lao động, các dự án đầu tư tại vùng khó khăn, thương nhân ở vùng sâu, vùng xa chưa có hoặc đã có nhưng còn quá ít số cơ sở quốc doanh hoạt động. Các Bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan liên quan cùng bàn bạc để sớm thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ phát triển DNVVN, từ đó làm tốt chức năng hậu thuẫn, trợ giúp cho DN vượt qua thử thách, tăng năng lực tài chính nhằm đa dạng hóa sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ đáp ứng nhu cầu xã hội.

Hàng trăm sản phẩm, nhóm sản phẩm của các DN được sản xuất và xuất khẩu liên tục trong nhiều năm là một minh chứng sống, đầy tin tưởng và tự hào về hiệu quả thực thi các chính sách hỗ trợ cộng đồng DNVVN của Đảng và Nhà nước.

Ở các nước công nghiệp phát triển, trụ sở của DN nhỏ thường đóng ngay tại nhà ở của mình. Tuy nhiên, với nước ta điều kiện đó rất khó thực hiện vì nhà ở còn quá chật hẹp, nên mặt bằng sản xuất, văn phòng giao dịch, quản lý hành chính phải thuê ngoài, khó lòng làm ăn lớn. Khắc phục tình trạng này, Nghị quyết số 22 của Chính phủ đã nêu rõ UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc phải dành quỹ đất xây dựng các khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch tạo điều kiện cho các DNVVN có mặt bằng kinh doanh; thống kê và thu hồi đất hoang hóa hoặc sử dụng không đúng mục đích để tạo quỹ đất cho DNVVN thuê. Theo định hướng chung, từ năm 2010 trở đi, các DN sản xuất những mặt hàng cần thiết cho cuộc sống sẽ không còn tình trạng thiếu hoặc không có mặt bằng xây dựng trụ sở, nhà xưởng, lắp đặt thiết bị sản xuất, kể cả các làng nghề, sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp truyền thống.

Tỉnh Lâm Đồng là một trong những địa phương hỗ trợ tốt cho các DNVVN. Đến nay tỉnh đã quy hoạch, xây dựng xong 2 khu công nghiệp (KCN), 15 cụm công nghiệp (CCN) và một số khu quy hoạch chuyên đề khác nhau. Hằng năm, tỉnh trích lập 1% giá trị GDP công nghiệp đưa vào quỹ khuyến công (khoảng 3 - 4 tỉ đồng), 20% (khoảng 2 tỉ đồng) từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ để hỗ trợ kinh phí đào tạo nguồn nhân lực, nâng cấp, đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất tại địa phương.

Tính phổ biến, đồng thời cũng là điểm yếu hiện nay của cộng đồng DNVVN ở nước ta còn là quy mô nhỏ, vốn tự có ít, trình độ lao động thấp, năng suất lao động chưa cao, chi phí quản lý tương đối lớn, ít có thương hiệu mạnh, sức cạnh tranh yếu... Tất cả điều đó đều do sự bất cập về vốn và yếu tố con người, cả về năng lực quản trị, điều hành và khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế. Chính vì vậy, sau các yếu tố về vốn và mặt bằng sản xuất, Đảng và Nhà nước rất ưu tiên chú trọng về kinh phí và chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho các DNVVN trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, trước hết đối với các DN sản xuất những sản phẩm mà trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, sử dụng nguyên liệu nội địa, hay để xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu... Từ các Chương trình và Quỹ Phát triển khoa học công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn kinh phí hỗ trợ các DNVVN đăng ký bảo hộ việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quốc tế khác. Ngoài ra, liên tục trong nhiều năm, các cơ quan quản lý nhà nước đã kết hợp với các ngành, địa phương tổ chức thành công nhiều đợt xúc tiến thương mại và chủ động mở các Hội chợ ở hầu hết các địa phương trong những dịp lễ, ngày nghỉ ở quy mô quốc gia hoặc khu vực để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, đồng thời lắng nghe ý kiến người tiêu dùng. Nhiều DNVVN đã vinh dự được tháp tùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đi làm việc, tham quan, đối thoại với các DN nước ngoài, tham gia vào các hội chợ quốc tế, qua đó giới thiệu sản phẩm của DN mình và tìm thêm đối tác tin cậy cùng hợp tác làm ăn lâu dài, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan thì sự khởi sắc của DNVVN vẫn chưa đồng đều giữa các vùng. Nhiều khó khăn, cản trở, phân biệt đối xử, không khách quan, bình đẳng đối với các DNVVN ở một số ngành, địa phương vẫn còn diễn ra, gây không ít "thua thiệt" cho sự phát triển của các DN. Đây là những vấn đề lớn đang tiếp tục đặt ra, cần được cân nhắc, xem xét xử lý đồng bộ, dứt điểm, bảo đảm công bằng để cộng đồng DNVVN bứt phá nhanh hơn, góp phần nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế chung của đất nước./.