Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực, cống hiến trọn đời cho cách mạng, cho dân tộc; người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam.
 
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn, gian khổ đến mấy, Chủ tịch Tôn Đức Thắng luôn tỏ rõ rất mực trung thành, tận tụy đối với Đảng, nhân dân, luôn nêu cao tinh thần anh dũng, bất khuất, phẩm chất đạo đức: cần, kiệm liêm chính, chí công, vô tư(1).

 Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 trong một gia đình nông dân nghèo tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Năm 1910, sau khi tốt nghiệp Trường Bách nghệ Sài Gòn với điểm tối ưu (20/20), Bác gia nhập hàng ngũ giai cấp công nhân Việt Nam và làm việc tại xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son của thực dân Pháp tại Sài Gòn.

Truyền thống yêu nước, quật cường của quê hương, đất nước và cuộc sống của giai cấp công nhân đã sớm thức tỉnh tinh thần yêu nước của Bác. Năm 1912, khi mới 24 tuổi, Bác đã tổ chức và lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son, mở đầu cho cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian lao nhưng cũng rất vinh quang của mình. Bị thực dân Pháp lùng bắt, cuối năm 1912, Bác lánh sang Pháp và làm thủy thủ trên các tàu viễn dương. Năm 1919, khi mới hơn 30 tuổi, Bác đã tham gia cuộc binh biến của hải quân Pháp ở Hắc Hải chống cuộc chiến can thiệp của đề quốc Pháp tại Biển Đen, góp phần bảo vệ Nhà nước Xô-viết, Nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới(2). Sau cuộc binh biến đó, Bác phải rời Pháp. Trở về Sài Gòn, Bác cùng với các bạn chiến đấu xây dựng những cơ sở công hội bí mật đầu tiên tại Sài Gòn- Chợ lớn nhằm tập hợp đoàn kết, bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân và người lao động làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống sự áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và bè lũ tay sai. Năm 1926, Bác tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Cuối năm 1929, do hoạt động cách mạng, Bác Tôn bị Thực dân Pháp bắt giam tại Khám lớn Sài Gòn, sau đó bị đày ra Côn Đảo suốt 17 năm và trở thành người tù có thâm niên lâu nhất ở đây.
 
Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác được chính quyền cách mạng đón về đất liền và tham gia ngay vào cuộc chiến đấu mới chống thực dân Pháp xâm lược. Giữa năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đón Bác ra Hà Nội. Từ đó, Bác Tôn và Bác Hồ luôn luôn sát cánh bên nhau - một hình ảnh tiêu biểu cho đoàn kết Bắc - Nam, để cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lo việc nước. Với uy tín lớn trong Đảng, trong nhân dân và phẩm chất cách mạng, đạo đức trong sáng, Bác Tôn đã được giao nhiều trọng trách: Tổng thanh tra của Chính phủ, quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban thi đua ái quốc Trung ương, Chủ tịch danh dự Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban Liên Việt toàn quốc (từ 7-3-1951 đến 10-9-1955), Hội trưởng Hội hữu nghị Việt Nam - Liên Xô... liên tục là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa II đến lúc ra đi.
 
20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng là 20 năm Bác liên tục được đại diện các tầng lớp nhân dân suy tôn làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (từ 10-9-1955 đến 2-1977) và Chủ tịch danh dự Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày qua đời. Cũng trong thời gian đó, Bác còn đảm nhiệm nhiều trọng trách: Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng hòa bình thế giới. Ngày 15-7-1960, Bác được Quốc hội thay mặt nhân dân ta bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Năm 1969 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Bác được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước, đồng thời kiêm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để cùng các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận lãnh đạo, tổ chức động viên nhân dân ta kiên cường chiến đấu, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến toàn thắng, thống nhất nước nhà.

Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng đầy gian lao và nguy hiểm, trong đó có 27 năm liên tục làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và hơn 10 năm làm Chủ tịch nước, Bác Tôn đã để lại cho Đảng ta, Nhà nước ta nhiều bài học sâu sắc, cho nhân dân ta một tấm gương sáng về chuẩn mực sống của một công dân yêu nước. Với cương vị là người lãnh đạo cao nhất và lâu năm nhất của Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bác đã hoạt động hết mình vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Năm 1946, Bác Tôn được cử làm Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (tức Liên Việt)- một tổ chức nhằm tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước. Là người miền Nam lần đầu tiên sống trên đất Bắc với khí hậu thay đổi thất thường bệnh tật hậu quả những tháng bị tù đầy, tra tấn, song Bác vẫn kiên trì thực hiện khẩu hiệu “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Bác đã không quản ngại khó khăn vượt đèo, lội suối, gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều nhân sĩ, trí thức, đại diện lãnh đạo các đảng phái, chức sắc, các tôn giáo nhằm làm cho mọi người nhận thức rõ thời cuộc, chính sách của Chính phủ kháng chiến và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc chống thực dân xâm lược. Bác thường nhắc nhở các thành viên trong Hội Liên Việt tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đời sống mới, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, bảo trợ người già yếu, tàn tật, phụ nữ và trẻ em; phát triển nền văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc văn hóa phương Đông và phương Tây để bổ sung cho nền văn hóa nước nhà. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, với tư cách là đại biểu chính thức của Đại hội, Bác đã có những đóng góp quan trọng vào việc xác định vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

Được Đoàn Chủ tịch Đại hội phân công chuẩn bị và đọc diễn văn bế mạc Đại hội, Bác nhấn mạnh: "Chính sách Mặt trận của chúng ta là chính sách liên minh giai cấp để kháng chiến. Không phải liên minh giai cấp suông, mà liên minh giai cấp để kháng chiến. Đã là liên minh giai cấp để kháng chiến thì những mâu thuẫn quyền lợi giữa giai cấp phải được điều giải hợp lý. Nhưng bao giờ chúng ta cũng đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của quần chúng cần lao và đông đảo, vì họ là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất và là lực lượng chủ yếu của kháng chiến"(3). Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Bác được phân công chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt. Với kinh nghiệm công tác Mặt trận nhiều năm và với uy tín lớn trong Đảng, trong dân, Bác đã góp phần quan trọng tổ chức Đại hội thành công tốt đẹp. Việt Minh và Liên Việt thống nhất thành một Mặt trận chung mang tên Mặt trận Liên Việt và Bác Hồ được cử làm Chủ tịch danh dự, Bác Tôn được cử làm Chủ tịch. Thành công của Đại hội là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta về chính trị. Đúng như Bác Hồ đã nhận xét: "Hôm nay trông thấy rừng cây đại đoàn kết đã nở hoa, kết quả và gốc rễ nó đang ăn sâu, lan rộng khắp toàn dân và nó có một tương lai "trường xuân bất lão".

Tháng 9 năm 1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất đã khai mạc tại Hà Nội và quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tại Đại hội này, Bác được cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong diễn văn đọc tại đại hội, Bác đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoàn thành Cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, hướng đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Bác kêu gọi đồng bào cả nước: “Chúng ta cùng chung một Tổ quốc, cùng có chung hàng nghìn năm lịch sử, đau khổ có nhau, vinh quang có nhau. Điều đó đã gắn liền đồng bào toàn quốc, gắn liền đại biểu chúng ta làm một khối”(4) . Bác đã động viên cả nước ra sức thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Thành công, thành công, đại thành công!”.

Do những công lao to lớn của Bác đối với cách mạng và sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, tháng 8 năm 1958 nhân dịp tròn 70 tuổi, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định tặng Bác Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, Nhà nước trao tặng huân chương cho Bác và phát biểu: “Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng huân chương Sao Vàng là huân chương cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng huân chương ấy”(5).

Với cương vị là người lãnh đạo của Đảng, người đứng đầu Nhà nước, Công đoàn và Mặt trận, Bác cùng với Bác Hồ là hình ảnh tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết Bắc, Nam. Nét nổi bật ở Bác mà mọi người dễ nhận thấy là đức tính khiêm nhường, lối sống giản dị, lòng bao dung và tài cảm hoá mọi người. Chính phẩm chất cao quý ấy cùng với lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất trước kẻ thù của dân tộc đã in đậm trong trái tim mỗi người Việt Nam yêu nước sự ngưỡng mộ và kính phục.

Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác (20-8-1888- 20-8-2008) giữa lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, nhất là Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về dân tộc, tôn giáo, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu "dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên các đoàn thể nhân dân, những người công nhân lao động chúng ta càng tự hào về Người Chủ tịch Mặt trận kính mến của mình, càng phải ra sức rèn luyện, học tập đạo đức Cách mạng "Cần kiệm, liêm chính - chí công, vô tư" của Người; càng phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, vì sự nghiệp đổi mới phải hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó. Hãy phấn đấu hết sức mình để góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng nở hoa, kết trái.

Trước mắt, phát huy kết quả của 60 năm phấn đấu thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả chúng ta và các tổ chức thành viên Mặt trận cần động viên nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua lao động, sản xuất, học tập, công tác và hoạt động xã hội; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, sát cách cùng Đảng, Nhà nước thực hiện có hiệu quả các chủ trương, giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, thực hiện thắng lợi kế hoạch kinh tế-xã hội Nhà nước năm 2008; tập trung chỉ đạo thành công đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc lần thứ VII; tất cả mọi hoạt động phải tập trung, đầu tư cho cơ sở và các khu dân cư để phấn đấu sớm hoàn thành mục tiêu xoá đói, giảm nghèo; xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa tiên tiến; tổ chức thật tốt "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" 18-11 ở các khu dân cư, tạo điều kiện để mọi cán bộ, đảng viên và lãnh đạo các cấp đều về sinh hoạt, dự "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" cùng nhân dân ở khu dân cư của mình./.
 

(1) Tháng 8-2003, nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của chủ tịch Tôn Đức Thắng, khi trả lời phỏng vấn đài BBC giáo sư Crits-tốp-phơ Ghi-ben (Christoph Giebel)- (dạy tại khoa Sử đại học Oa-sinh-tơn, Hoa Kỳ và là một chuyên gia nghiên cứu về ông Tôn Đức Thắng), có nói: ...ông Tôn, một người rất khiêm tốn, giản dị, sống thật với bản chất và lý tưởng của mình. Ông ấy được mô tả như một nhà cách mạng kiểu mẫu. Một bài viết về ông Tôn có tựa đề “Một người bình thường, vĩ đại” và tôi nghĩ cái hình ảnh “một người bình thường, vĩ đại” là cách mà ông Tôn được nhìn nhận ở góc độ cá nhân.
 
(2) Về sau để ghi nhận vai trò của ông trong sự kiện này, tên ông được đặt cho một đường phố ở thành phố Odessa-U-crai-na (tham khảo cuốn “Người thủy thủ phản chiến ở Biển đen" Nhà xuất bản Thông tin lý luận, 1988)..
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội 2001, tr 488.
(4) Đồng chí Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr32
(5) Sđd tr35.