Một nền tảng, một con đường, một thời điểm và hai ngã rẽ

Lê Đức Thịnh Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng
00:13, ngày 18-03-2015
TCCSĐT - Năm 2014, trong 151 quốc gia được đánh giá, Việt Nam có chỉ số Hành tinh Hạnh phúc (HPI) đứng thứ hai, xếp sau Cô-xta Ri-ca. Đáng chú ý là không một nước công nghiệp phát triển nào có mặt trong danh sách mười nước đứng đầu. Việc này một lần nữa ghi nhận những thành tựu to lớn trong 30 năm Đảng ta lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.

Nhìn lại thời điểm đánh dấu sự nghiệp 30 năm Đảng ta lãnh đạo công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, khi ấy, với cùng một nền tảng, một con đường nhưng lịch sử đã rẽ theo hai ngả khác nhau. Cho tới nay, điều đó không thể bác bỏ, mà ngược lại còn làm sâu sắc hơn bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời khẳng định một Đảng nắm vững, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức mới đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra, bảo đảm cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân.

1. Chủ nghĩa Mác là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động phong trào cộng sản quốc tế, đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là con đường duy nhất đúng đắn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Những thập niên đầu thế kỷ XIX, phong trào công nhân các nước châu Âu phát triển rất nhanh, tuy vậy chưa hình thành một khối thống nhất, chưa có sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng. Giai cấp vô sản chưa hiểu rõ lý thuyết khoa học về bản chất của chủ nghĩa tư bản, về nguồn gốc bị bóc lột, về sứ mệnh lịch sử và về con đường tự giải phóng cho mình. C. Mác và Ph. Ăng-ghen xuất hiện đã loại bỏ các hệ thống chủ nghĩa xã hội không tưởng đủ mọi màu sắc, nâng người công nhân đứng dậy, đoàn kết, trang bị vũ khí lý luận và hướng họ theo con đường cách mạng vô sản, đập tan sự thống trị của chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng xã hội xã hội cộng sản chủ nghĩa của tự do, dân chủ, bình đẳng, công bằng và vì con người.

Năm 1848, đánh dấu thời khắc lịch sử: Quốc tế I ra đời với “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” cùng khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” - do C. Mác và Ph. Ăng-ghen đề xuất và khởi thảo. Trong “Tuyên Ngôn Đảng cộng sản” những cơ sở của chủ nghĩa Mác lần đầu tiên được trình bày dưới một dạng hoàn chỉnh và có hệ thống, chứng minh tính tất yếu diệt vong của chế độ tư bản, cũng như tính tất yếu thắng lợi của chế độ cộng sản chủ nghĩa. Từ đây, Chủ nghĩa Mác trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Như V.I. Lê-nin đã viết: “tinh thần của nó, đến bây giờ, vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh”, “toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh cho đến nay đã sống và tiến lên theo tinh thần cuốn sách đó”(1).

2. Kiên định bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trên thực tiễn mới, V.I. Lê-nin cùng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga với Cách mạng Tháng Mười (năm 1917) mở ra thời đại mới.

Quốc tế II, sau khi Ph. Ăng-ghen qua đời bị phân liệt mạnh mẽ, chủ trương thỏa hiệp lan tràn và hơn thế chủ nghĩa Mác bị tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo, làm phong trào cộng sản quốc tế lung lay từ gốc, phát triển lệch lạc nghiêm trọng. V.I. Lê-nin xuất hiện, đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác một cách toàn diện ghi dấu bằng Cách mạng Tháng Mười, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Chủ nghĩa Mác từ “một bóng ma đang ám ảnh châu Âu” đã trở thành hiện thực. Không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới đối với nước Nga mà còn mang ý nghĩa lịch sử toàn thế giới - kỷ nguyên giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa được giải phóng, thoát khỏi mọi gông xiềng nô lệ, đứng lên làm chủ đất nước và vận mệnh của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(2).

Trong chiến tranh thế giới II chống chủ nghĩa phát xít, ngoài những tổn thất về con người, về cơ sở vật chất, phong trào cộng sản quốc tế còn chịu tổn thất vô cùng nặng nề. Năm 1943, quốc tế cộng sản III tự giải tán mà sau này không thể tự khôi phục được. Thêm vào đó, các đảng cộng sản ở các nước ngày càng lớn mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, đồng thời các tổ chức chính trị khác được lập ra hay khôi phục lại tổ chức của mình làm cho phong trào cộng sản quốc tế nhanh chóng bị phân liệt không còn cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cuối những năm 70 tới đầu những năm 90 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản quốc tế bị tổn thất nghiêm trọng: cách mạng vô sản ở Liên Xô và Đông Âu đã rẽ sang một hướng khác kéo phong trào cộng sản lâm vào thoái trào, mà cho tới ngày nay tuy đã có những bước phát triển nhưng còn gặp rất nhiều khó khăn.

3. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam viết nên những trang chói lọi trong sử vàng dân tộc, trở thành biểu tượng cho khát vọng tự do, độc lập của các dân tộc bị áp bức.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam cùng đường lối cách mạng dân chủ nhân dân xuất hiện đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước, cứu dân. Thực tế, chỉ sau 15 năm ra đời với 5.000 đảng viên Đảng ta đã lãnh đạo thành công Cách mạng tháng Tám, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Với bản lĩnh và trí tuệ của một đảng tiên phong, đảng cách mạng, một đảng gắn chặt với lợi ích của nhân dân, Đảng ta đã cùng với nhân dân làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; một đại thắng mùa xuân năm 1975, thu non sông về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, mở ra một trang sử mới cho dân tộc.

Những thương tích của hai cuộc chiến tranh ác liệt nhất trong lịch sử nhân loại với 30 năm chìm trong bom đạn; cùng những rạn nứt, chia rẽ trong nội bộ phong trào cộng sản quốc tế, đặc biệt là những biến động lớn ở Liên Xô và Đông Âu đã tác động mạnh đối với cách mạng Việt Nam. Nhưng cũng chính những tác động ấy đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam nhanh chóng rút kinh nghiệm kiên quyết, kịp thời đổi mới với quan điểm nhất quán: “Phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”(3). Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự hồi sinh, khởi sắc, vững vàng tiến bước lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam trước muôn vàn khó khăn, thử thách, những biến cố của thời cuộc, trước sự bao vây, cấm vận, chống phá của kẻ thù, cùng sự trì trệ yếu kém của nền sản xuất nhỏ lẻ trong nước là ngã rẽ thứ hai trong cùng một thời khắc lịch sử.

4. Cùng một nền tảng, cùng một con đường, một thời điểm nhưng kết quả lại dẫn tới hai ngã rẽ khác nhau.

Vậy đâu là nguyên nhân cốt yếu? Phải chăng là sự chống phá của các thế lực thù địch; là sự sụp đổ của một học thuyết đã “lỗi thời”. Hoàn toàn không, không thể vì sự đổ vỡ của một hiện thực mà cho rằng học thuyết là ảo tưởng. Không thể vì sự sụp đổ của một mô hình cụ thể mà đồng nhất với sự sụp đổ của học thuyết. Mà đó thực sự là do đã hiểu sai, vận dụng sai, làm sai và cả sự phản động của Ban lãnh đạo ở các nước đó trong quá trình cải tổ, cải cách. Cùng một nền tảng, cùng một con đường vào cùng một thời điểm lịch sử ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam với bản lĩnh và trí tuệ kiên quyết “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, quyết tâm đổi mới. Kết quả là, hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu - thành trì của phong trào cộng sản quốc tế, đã sụp đổ; Việt Nam có đủ cơ sở để khẳng định rằng đổi mới là sự lựa chọn đúng đắn, đã đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát triển mới về chất, phù hợp với xu thế của thời đại và với ý nguyện của nhân dân. Những kết quả to lớn và toàn diện mà đổi mới mang lại là những bằng chứng hiển nhiên, thuyết phục về tính tất yếu lịch sử của quá trình đổi mới ở Việt Nam.

Hiện nay, Đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã và đang diễn ra vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu và nhiệm vụ được xác định trong nghị quyết Đại hội XI của Đảng; trải qua gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 5 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 - 2020), 2 năm thực hiện Hiến pháp năm 2013. Chúng ta đều thấy rõ thành tựu vô cùng quan trọng và những hạn chế chưa được khắc phục hiệu quả. Nhưng trên hết là quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân, hào khí Việt Nam một lần nữa trỗi dậy vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách đưa cách mạng Việt Nam vững bước tiến lên. Đặc biệt, nhiệm kỳ Đại hội XI nếu không có quyết tâm chính trị với trách nhiệm nặng nề trước nhân dân và sự đoàn kết nhất trí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thì không thể vừa tái cơ cấu nền kinh tế, vừa xây dựng văn hóa, vừa đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong lúc kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, bất ổn trên Biển Đông trực tiếp đe dọa chủ quyền lãnh thổ và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch.

Tiếp tục quán triệt sâu sắc bài học sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã được sáng tỏ trong suốt 85 năm qua. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên. Trong suốt quá trình cách mạng đã chứng minh: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gương mẫu đi đầu, “nói đi đôi với làm”, nói ít làm nhiều, có hiệu quả cụ thể thì dân mới tin; cán bộ tốt, tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức lối sống trong sạch mới có thể thành công./.

-------------------------------------

Chú thích:

(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2005, t. 2, tr. 10

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t. 12, tr. 300

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, H, 1991, tr. 54