Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và văn học nghệ thuật trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nguyễn Hồng Vinh PGS,TS, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương
17:21, ngày 05-04-2012
TCCS- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua là một văn kiện đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong lộ trình phát triển đất nước và mang tầm thời đại của cách mạng nước ta. Cương lĩnh nêu lên 8 mối quan hệ cơ bản cần giải quyết tốt trong  phát triển, trong đó có mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020.
Về mặt lý luận, theo C. Mác, kinh tế thuộc cơ sở hạ tầng; chính trị và văn hóa, văn học, nghệ thuật thuộc kiến trúc thượng tầng. Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, nhưng không phải lúc nào cũng song hành, tương thích. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, trong đó có văn hóa, văn học, nghệ thuật. Song, thực tiễn cho thấy, có những lúc cơ sở hạ tầng đã thay đổi, nhưng một số nhân tố trong kiến trúc thượng tầng còn duy trì một thời gian dài; hoặc ngược lại. Trong lịch sử, có thời kỳ kinh tế còn lạc hậu, nhưng đã xuất hiện những công trình văn hóa, nghệ thuật đồ sộ và nền văn hóa rực rỡ, kết tinh trí tuệ và sức sáng tạo của con người, như Kim tự tháp (Ai-cập), Vạn lý trường thành (Trung Quốc), Công trình kiến trúc Ăng-co Vat, Ăng-co Thom (Cam-pu-chia), vườn treo Ba-by-lon (I-rắc) v.v..

C. Mác, Ph. Ăng-ghen cũng đã lưu ý mục đích quan trọng của sự phát triển sản xuất là vì con người, cho con người. C. Mác chỉ rõ:  Sản xuất chẳng qua chỉ là sự phát triển lực lượng sản xuất của loài người, tức là phát triển sự phong phú bản chất con người, coi như là mục đích tự thân. Điều đó có thể hiểu là, mục đích của phát triển kinh tế không chỉ là làm giàu thêm của cải vật chất, mà còn làm cho đời sống văn hóa - tinh thần ngày càng thêm phong phú. Nếu đi ngược mục đích đó sẽ làm cho sự phát triển kinh tế - xã hội trì trệ, khó khăn và thiếu bền vững. Như vậy, để một xã hội phát triển, ngày càng thỏa mãn tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người thì phải phát triển đồng thời các nhân tố kinh tế và xã hội cũng như các giá trị đạo đức và văn hóa; con người phải được coi là mục đích, là chủ thể của sự phát triển.

Cần nhấn mạnh một nhận thức, tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với phát triển, càng không thể quyết định sự phát triển bền vững của một quốc gia, dân tộc. Khái niệm phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Phát triển bền vững bao gồm 4 yếu tố cơ bản: bền vững  kinh tế, bền vững môi trường, bền vững xã hội, bền vững văn hóa. Xét về lâu dài, bền vững văn hóa là nhân tố quyết định vì trong thực tế, có những nước kinh tế khá phát triển, nhưng đời sống văn hóa lại phát triển không tương xứng, thậm chí đã gây ra rối loạn xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào việc giải quyết thành công mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa. Người chỉ rõ, phải coi trọng đồng thời kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và nhấn mạnh:“Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”. Năm 1946, khi đề cập vai trò quan trọng của văn hóa, Người cho rằng “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Năm 1962, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Nhân đạo (Pháp): - “Nhân tố nào sau hòa bình, đất nước Ngài có sự biến đổi”? Người trả lời: -“Có lẽ là cần phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa”.

Quán triệt quan điểm của C.Mác, V.I.Lê-nin, Hồ Chí Minh, trong nhiều thập niên qua, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa, văn học, nghệ thuật đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII (năm 1998) về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” đến các văn kiện Đại hội IX; đặc biệt là Đại hội XI, trong Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước (Bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng ta chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh của sự phát triển”. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng một lần nữa lại nhấn mạnh: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”. “Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội”. Điều đặc biệt là, trong nhiệm kỳ khóa X, Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết chuyên đề về văn học, nghệ thuật, trong đó xác định rõ vị trí, vai trò của văn học, nghệ thuật “là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam”.

Về thực tiễn, lịch sử phát triển của thế giới trong mấy thập niên gần đây ngày càng khẳng định rõ mối quan hệ mật thiết giữa kinh tế và văn hóa; văn hóa đã và đang giữ vai trò điều tiết xã hội. Các nước phát triển, như Pháp, Đức, I-ta-li-a, Thụy Điển, Hàn Quốc... đều xây dựng một hệ thống chính sách về phát triển văn hóa và đã dành một khoản đáng kể ngân sách nhà nước hằng năm cho hoạt động đối ngoại văn hóa nhằm quảng bá hình ảnh đất nước và nền văn hóa của mình ra thế giới. Nhật Bản từ năm 1985 đưa ra chiến lược quốc gia chuyển từ kinh tế dựng nước sang văn hóa dựng nước. Trung Quốc coi văn hóa là “sức mạnh mềm” và hình thành luận thuyết: “Xây dựng xã hội hài hòa về văn minh vật chất và văn minh tinh thần”. Thực tiễn sinh động ấy ở nhiều nước đã giúp ông Mây-ơ, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO đưa ra một tổng kết khá sâu sắc: “Kinh nghiệm của hai thập niên qua cho thấy, trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau (…). Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều. Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng. Vì vậy phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hóa (…). Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển, và ngược lại, phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội…”

Ở nước ta, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII nhấn mạnh văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Theo đó, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng hàng loạt cơ chế, chính sách, chế tài để thực hiện Nghị quyết quan trọng này.

Trong quá trình vận hành quyết liệt nhằm tạo ra một sự đổi mới thật sự và toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vai trò, chức năng, vị trí của văn hóa đã không ngừng được Đảng ta nhận thức và đặt vào vị trí rất quan trọng. Vì vậy, nhiều giải pháp lớn, đặc biệt là những giải pháp mang tính đột phá luôn luôn được bổ sung, hoàn chỉnh. Nhận thức lý luận được hoàn thiện trên cơ sở tổng kết thực tiễn để tiếp tục hoạch định chủ trương, cơ chế, chính sách phù hợp, góp sức thúc đẩy kinh tế, văn hóa, văn học, nghệ thuật cùng phát triển.

Về thực trạng, trong hơn 25 năm qua, những thành tựu nổi bật trong quá trình đổi mới đất nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho những biến đổi có ý nghĩa về văn hóa, văn học, nghệ thuật như sau:

- Chính trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng cao liên tục, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Do vậy, đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện, đã thiết thực góp phần làm tăng thêm những nhu cầu về văn hóa, tinh thần; đồng thời tạo ra những điều kiện tốt hơn cho việc đáp ứng những nhu cầu đó. Điều đáng mừng là, chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta năm 2008 là 0,733 xếp thứ 105 trong tổng số 177 nước và có xu hướng liên tục tăng bậc. Năm 2007, Liên hợp quốc công nhận Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo đến năm 2015, trước 10 năm.

- Chủ trương xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc được sự đồng tình và hưởng ứng rộng rãi trong Đảng và trong nhân dân, trong giới những người làm văn hóa, văn học, nghệ thuật cũng như trong toàn xã hội.

- Văn hóa tiếp tục được phát triển đúng hướng và đa dạng, từng bước hình thành những giá trị mới tốt đẹp trong lối sống và nhân cách con người Việt Nam.

- Công tác bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa, trong đó có văn hóa các dân tộc thiểu số, được quan tâm nhiều hơn.

- Giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế được chú trọng, mở rộng (mỗi năm ta cử ra ngoài cũng như đón vào nước ta hơn 100 đoàn văn hóa - nghệ thuật) góp phần nâng cao dân trí và đời sống tinh thần của nhân dân.

- Trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, các hoạt động sáng tạo có bước phát triển mới (văn học, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, văn nghệ dân gian, múa, sân khấu, nhiếp ảnh... đã mở rộng biên độ phản ánh; đời sống nội tâm của con người được chú ý đi sâu; cách thức tiếp cận và thể hiện có những biểu hiện mới...). Nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống được giữ gìn. Có thêm nhiều tác phẩm về các đề tài lịch sử, cách mạng, kháng chiến và đổi mới. Hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật đạt những kết quả tích cực bước đầu.

- Về mặt quản lý, Nhà nước đã có nhiều chủ trương và giải pháp tích cực để thể chế hóa quan điểm gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Ngân sách nhà nước dành cho các hoạt động trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội từng bước được nâng lên, mặc dù chưa tương xứng. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, Nghị quyết Trung ương 10, khóa IX chỉ rõ “tăng đầu tư cho văn hóa, phấn đấu đến năm 2010 ít nhất đạt 1,8% tổng chi ngân sách nhà nước; tiếp tục bảo đảm kinh phí cho các chương trình, mục tiêu phát triển văn hóa”. Theo hướng đó, chi thường xuyên cho lĩnh vực văn hóa đã tăng gấp 4 lần quy mô chi thường xuyên cho lĩnh vực này trong năm 2001 và gấp 2 lần năm 2005. Sang giai đoạn 2006 - 2010, mặc dù bị tác động của suy giảm kinh tế, Nhà nước vẫn bảo đảm chi 1,9%, có năm đạt trên 2,1% ngân sách cho lĩnh vực văn hóa.

Nhận thức sâu hơn ý nghĩa, nội dung của mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, văn học, nghệ thuật, nhiều ngành, nhiều địa phương đã vận dụng giải quyết tốt mối quan hệ này trong thực tiễn đời sống. Chẳng hạn, kinh nghiệm của thành phố Hà Nội về xây dựng con người thủ đô thanh lịch, hiện đại; của Thành phố Hồ Chí Minh về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật; của thành phố Đà Nẵng về phong trào thực hiện “5 có”, “3 không”; của Phú Thọ, Đồng Tháp về tăng cường đầu tư chiều sâu cho văn học, nghệ thuật; của Hải Phòng, Thừa Thiên - Huế về mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế qua du lịch và lễ hội; kinh nghiệm xây dựng văn hóa doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp gồm 8 chữ “T”, nhấn mạnh chữ Tâm Tầm ở Tổng Công ty ô-tô Trường Hải, v.v..

Tuy nhiên, cùng với những cố gắng và thành tựu đó, đã và đang tồn tại những hạn chế nổi bật sau đây: (1) Tăng trưởng kinh tế chưa đồng đều, chưa bền vững; (2) Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế; (3) Tư duy văn hóa chậm đổi mới so với tư duy kinh tế; (4) Các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa xã hội, môi trường sinh thái còn nhiều hạn chế, yếu kém, gây bức xúc xã hội; (5) Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc ta; (6) Các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại...

Nguyên nhân chủ yếu của những khuyết điểm, yếu kém

1 - Quan điểm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và văn học, nghệ thuật chưa thật sự được quán triệt sâu sắc do chưa thấy hết vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế. Mặt khác, do sức ép về tăng trưởng kinh tế, nhiều ngành, nhiều địa phương ít quan tâm đến phát triển văn hóa.

2 - Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển rộng, nhưng còn thiếu chiều sâu. Việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa được các cấp, các ngành coi trọng và chỉ đạo thường xuyên, nhất là trong sinh hoạt lễ hội (đến nay cả nước có hơn 8.000 lễ hội, trong đó có một số lễ hội biến tướng, xuất hiện nhiều tiêu cực). Trong giao tiếp công cộng, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa giao thông, văn hóa công sở,... bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập, gây bất bình trong dư luận xã hội.

3 - Trong quản lý nhà nước về văn hóa, văn học, nghệ thuật, tuy đã có những cố gắng tiến bộ mới, nhưng nhìn chung những khuyết điểm, yếu kém cơ bản từ lâu vẫn chậm được khắc phục. Đầu tư cho phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật chưa tương xứng và ít hiệu quả. Một số cơ chế, chính sách, chế tài chưa phù hợp thực tiễn, chậm được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.

4 - Hoạt động giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật với quốc tế chưa được quan tâm chỉ đạo đúng mức, chưa phục vụ đắc lực mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Chưa xây dựng một cách bài bản, hệ thống các cơ chế chính sách trong việc giới thiệu, quảng bá những tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có nội dung tư tưởng và nghệ thuật tốt ra thế giới; việc quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa, con người Việt Nam với bè bạn quốc tế chưa thật rộng và chưa có chiều sâu.

Cuộc sống không ngừng biến đổi, mau lẹ và phong phú; đa dạng và đa chiều; có cả mặt thuận, mặt chưa thuận cả về chủ quan và khách quan, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức về nó một cách sâu sắc, thường xuyên để thấu suốt bức tranh khá toàn diện và sinh động ấy; vận dụng để giải quyết tốt nhất hàng loạt vấn đề đang đặt ra trong mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, văn học, nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu bức xúc hiện nay của toàn xã hội, góp sức tìm ra lời giải  tối ưu đang đặt ra trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho văn hóa, văn học, nghệ thuật gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ ra.

Rõ ràng, về nguyên lý, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa là mối quan hệ nội tại, mang tính bản chất. Nó phải được giải quyết một cách đúng đắn, hài hòa, sao cho tăng trưởng kinh tế thật sự là tiền đề và điều kiện để phát triển văn hóa; phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật thực sự là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế, thậm chí có thể coi “Văn hóa phải là tiêu chí và là bộ lọc cho sự lựa chọn và điều chỉnh xã hội phát triển theo hướng tiến bộ”.

Vì vậy, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật phải đặt trong tổng thể các mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị và văn hóa. “Phải bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; coi sự phát triển đồng bộ giữa ba lĩnh vực này là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10, khóa X đã nêu.

Muốn bảo đảm được sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, cần xây dựng một hệ thống chính sách toàn diện, trong đó, có sự thống nhất giữa các chính sách kinh tế trong văn hóa và chính sách văn hóa trong kinh tế. Những yêu cầu về phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật, về tiến bộ và công bằng xã hội không phải chờ đến khi có kinh tế phát triển cao mới đáp ứng, mà phải được thực hiện ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển.    

Một số giải pháp chủ yếu, cấp bách

Hiện nay một số đặc điểm diễn biến cơ bản của tình hình quốc tế và trong nước đã và đang tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa, văn học, nghệ thuật, vậy nên chúng ta cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu và cấp bách sau đây:

1 - Tiếp tục giáo dục, quán triệt sâu sắc trong cán bộ, đảng viên, nhân dân về vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa, văn học, nghệ thuật trong quá trình đổi mới, phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Theo tinh thần đó, cần đặt lên hàng đầu nhiệm vụ quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ “Văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”; “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”;  Từ đó phải hết sức coi trọng xây dựng lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong các tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng, các đơn vị, cộng đồng xã hội... nhằm thực hiện tốt mấy mục tiêu quan trọng hàng đầu là:

a - “Làm cho văn hóa thấm sâu trong tâm lý quốc dân” (Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh), thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại.

b - Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị - xã hội và sinh hoạt của nhân dân.

c - Khẩn trương xây dựng, bổ sung các tiêu chí về văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa kinh doanh, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ,...; trong đó cần đặc biệt coi trọng đề cao văn hóa lãnh đạo và quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong nhân cách của thanh niên, thiếu niên, chống những hiện tượng phản văn hóa, phi văn hóa.

2 - Đi đôi với triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, đặc biệt là quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, cần rà soát chặt chẽ quy hoạch, kế hoạch phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật ở cả Trung ương và từng địa phương. Nói cách khác, cần xây dựng, bổ sung, hoàn thiện Chiến lược phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam đến năm 2020 phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Trong đó, cần tập trung sức giải quyết tốt mấy vấn đề cơ bản sau đây:

a - Thực hiện những biện pháp quyết liệt để biến giáo dục - đào tạo thật sự là quốc sách hàng đầu vì đây là nền tảng sức mạnh quốc gia. Cần nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ đổi mới toàn diệncăn bản nền giáo dục - đào tạo như yêu cầu ghi trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

b - Coi đầu tư cho văn hóa, văn học, nghệ thuật là đầu tư cho phát triển; xác định rõ những trọng tâm, trọng điểm cần ưu tiên đầu tư; khắc phục nhanh hiện tượng đầu tư dàn trải, manh mún. Cùng với đầu tư bằng ngân sách nhà nước là mở rộng xã hội hóa các hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật.

3 - Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trong hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật

a - Trước hết, có biện pháp khắc phục nhanh một thiếu sót cơ bản nêu trong Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị là “một số cấp ủy, cơ quan chưa coi trọng và thiếu hiểu biết đầy đủ vai trò, tính chất đặc thù của văn học, nghệ thuật, chậm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng”. Do đó, yêu cầu hàng đầu hiện nay cả ở Trung ương và địa phương là khẩn trương cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành các chương trình, đề án, xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, cách thức tổ chức, lộ trình thực hiện, thời gian hoàn thành (nhất là các đề án, chương trình thực hiện Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị về văn học, nghệ thuật).

b - Về quản lý, khẩn trương rà soát, bổ sung và xây dựng mới các chế độ, chính sách, như chế độ lương, nhuận bút, đãi ngộ tài năng, bồi dưỡng lao động nghề nghiệp đặc thù, chế độ hưu, v.v.. Phối hợp chặt chẽ với các hội văn học, nghệ thuật trong việc công bố, giới thiệu, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật có chất lượng tốt, định hướng thẩm mỹ cho công chúng. Đi liền đó là xây dựng chế tài ngăn chặn, xử lý các hoạt động sáng tác, truyền bá những sản phẩm có nội dung tư tưởng, nghệ thuật thấp, ảnh hưởng xấu tới xã hội.

4 - Gắn kết chặt chẽ hơn nữa phong trào văn hóa, văn học, nghệ thuật với các phong trào thi đua yêu nước trong toàn xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững.

Nâng cao chất lượng “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; rà soát, chấn chỉnh các lễ hội không lành mạnh; đề cao trách nhiệm bảo tồn các di sản văn hóa, nhất là các di sản quốc gia, các di sản thế giới đã được UNESCO công nhận; gắn chặt với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá những tấm gương làm theo đạo đức Hồ Chí Minh.

5 - Mở rộng và hết sức coi trọng nâng cao chất lượng đối ngoại trong lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Trong giao lưu, hội nhập văn hóa, văn học, nghệ thuật cần đề cao tính dân tộc, trong đó có tiếng dân tộc. Lẽ đương nhiên văn hóa của dân tộc được hình thành trên cơ sở truyền thống tâm lý, tư duy, thị hiếu thẩm mỹ qua nhiều thời đại, cần được đổi mới bổ sung, nhưng phải giữ cái nền, cái cốt, cái hồn của dân tộc Việt Nam; đa dạng hóa, nâng sức hấp dẫn các sản phẩm văn hóa - văn nghệ, tạo nên những thương hiệu mang bản sắc dân tộc, in dấu ấn đẹp trong tâm trí khách quốc tế; tổ chức lực lượng dịch thuật các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có chất lượng tốt để quảng bá ra bên ngoài; đồng thời chọn lọc giới thiệu tinh hoa văn hóa nhân loại, các trào lưu tư tưởng, nghệ thuật đang được công chúng Việt Nam quan tâm; coi trọng việc nghiên cứu, trao đổi, học hỏi các kinh nghiệm tốt của một số nước trong tổ chức, quản lý phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật để tiếp thu, vận dụng có hiệu quả vào nước ta.

6 - Khơi dậy lòng tự hào, ý thức sáng tạo của đội ngũ làm văn hóa, văn học, nghệ thuật; đề cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội và trách nhiệm nghệ sĩ - chiến sĩ. Tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn nữa cơ sở quan trọng của sự sáng tạo các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn và sự gắn bó với dân tộc, với đất nước. Đây là dòng chủ lưu của mọi hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật ở nước ta. Trên cơ sở đó, khắc phục nhanh hạn chế của một số văn nghệ sĩ trong tiếp cận và nhận thức những vấn đề mới của cuộc sống, có biểu hiện xa lánh những vấn đề lớn lao của đất nước, chạy theo các đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, hạ thấp chức năng giáo dục, chỉ tô đậm mặt tiêu cực của cuộc sống hiện tại... Văn nghệ sĩ phải là những người đi trước để phân định, đánh giá những suy nghĩ, mong muốn của nhân dân, của dân tộc sát hợp với thực tiễn đất nước; từ đó có nhiệm vụ gợi mở, dẫn dắt, bồi đắp những quan điểm đúng đắn về nghề, nhân lên niềm say mê, óc sáng tạo, ý thức, trách nhiệm của những cây bút trẻ đối với đất nước, dân tộc hôm nay và ngày mai...

7 -  Xây dựng chương trình quốc gia nhằm thực hiện nhiệm vụ lớn được ghi trong Nghị quyết Đại hội XI, là từng bước xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam. Muốn vậy, cần làm tốt 4 yêu cầu quan trọng sau đây:

- Huy động trí tuệ của toàn xã hội, đặc biệt là các học giả ở các viện nghiên cứu khoa học, các trường đại học lớn, các nhà hoạt động thực tiễn trong cả nước...

- Phối hợp chặt chẽ với các hội chuyên ngành ở Trung ương và địa phương; với Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cùng các bộ, ban,  ngành liên quan.

- Khảo sát, nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm tốt của các nước tiên tiến trong lĩnh vực này.

- Xác định rõ mục tiêu, lộ trình, bước đi thích hợp với điều kiện đất nước trong từng thời kỳ cụ thể để triển khai có hiệu quả và bảo đảm chất lượng chương trình quan trọng này./.