TCCSĐT - Qua chất vấn, trả lời chất vấn của các bộ trưởng thành viên Chính phủ, hầu hết cử tri đều bày tỏ sự vui mừng và tin tưởng khi các bộ trưởng thể hiện được vai trò, trách nhiệm, bản lĩnh, giải trình về những vấn đề bức xúc, nóng bỏng của thực tiễn đời sống xã hội do đại biểu Quốc hội và cử tri đặt ra.

Trong gần hai giờ đăng đàn tại phiên chất vấn chiều 24-11, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ đã phần nào giải tỏa được những bức xúc của cử tri khi thẳng thắn trả lời vào ba nhóm vấn đề nổi bật gồm: Điều hành giá xăng dầu, điện; quản lý tài chính công, nợ công, chống thất thu thuế và hỗ trợ doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Bộ trưởng khẳng định: Minh bạch là giải pháp căn cơ của mọi giải pháp để giải quyết các vấn đề tồn tại hiện nay.

Giá điện năm 2012 sẽ chỉ tăng khoảng 4,6%


Trả lời một loạt câu hỏi của các đại biểu: Đặng Thế Vinh (Long An), Nguyễn Thu Anh (Lâm Đồng), Phùng Văn Hùng (Cao Bằng), Lê Thị Thu Nga (Hà Nội)…xoay quanh công tác điều hành, quản lý, giám sát giá điện, than, Bộ trưởng Vương Đình Huệ đã nhắc lại nguyên tắc quản lý điều hành giá điện, xăng dầu, than, dịch vụ công và các mặt hàng thiết yếu khác là theo thị trường và có sự quản lý Nhà nước. Nguyên tắc thị trường là tôn trọng quyền định giá của doanh nghiệp, tôn trọng việc hạch toán đầy đủ các khoản chi phí hợp lý trong giá thành, bảo đảm cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế có mức lãi phù hợp; thu hút được đầu tư trong và ngoài nước vào các ngành sản xuất như điện. Nguyên tắc thị trường cũng không cho phép bao cấp tràn lan hoặc bù chéo nhau.


Nhà nước hiện điều hành giá trên cơ sở ban hành các quyết định, chính sách nhằm quản lý các mặt hàng này. Trong trường hợp cần bình ổn giá một số mặt hàng thiết yếu thì đây cũng là các biện pháp nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.


Tuy nhiên, giá thành điện hiện nay vẫn chưa được tính đúng, tính đủ do có sự bù chéo và bao cấp. Hiện, giá than cho điện mới được tính bằng 57-63% giá tiêu thụ của than - thấp hơn rất nhiều so với giá bán cho các hộ khác. Giá điện hiện vẫn bao cấp với sản xuất thép và xi măng. Theo kết quả của Kiểm toán Nhà nước năm 2010, sản lượng điện cho thép và xi măng chiếm trên 11% tổng sản lượng điện chung với giá bán bình quân 914 đồng/kWh. Theo đó, riêng năm 2010, ngành điện đã bao cấp cho thép 2.547 tỉ đồng. Đây là một vấn đề cần lưu ý trong điều hành giá điện thời gian tới.


Giải đáp câu hỏi của đại biểu quốc hội về khoản lỗ, lãi của Tập đoàn Điện lực Việt Nam ( EVN), Bộ trưởng cho biết: Theo kết quả kiểm toán năm 2010, EVN lỗ 8.040 tỉ đồng do mua điện giá cao của các doanh nghiệp ngoài ngành bán và 15.463 tỉ đồng do chênh lệch tỷ giá nâng tổng số lỗ lên 23.503 tỉ đồng. Trong đó, khoản lỗ 8.040 tỉ đồng không liên quan đến đầu tư ra ngoài ngành của EVN. Do đó, không có chuyện phân bổ lỗ do đầu tư ra ngoài ngành của EVN vào trong cơ cấu giá điện.


Bộ trưởng nhấn mạnh: Giá điện sẽ tiếp tục được điều chỉnh dần theo thị trường để bảo đảm bù đắp chi phí cho nhà đầu tư và kêu gọi đầu tư cho các dự án trong Tổng sơ đồ điện 6 và 7, bảo đảm điện cho sản xuất kinh doanh và đời sống. Theo đó, giá điện năm 2012 sẽ là giá thành sản xuất điện của năm 2011 cộng thêm các chi phí và tỷ giá lấy theo mốc 15-9-2011 và không tính các khoản lãi của EVN từ khâu truyền tải, sản xuất, phân phối, bán lẻ. Với phương án này, giá điện bình quân năm 2012 sẽ ở mức 1.242 đồng/kWh, tăng 4,6% so với giá bán điện hiện nay. Giá này đã gồm tất cả các khoản EVN phải giảm trừ theo kết quả kiểm toán. EVN cần đẩy nhanh việc thoái vốn tại các đơn vị ngoài ngành để tập trung tài chính đầu tư, nâng cấp lưới điện hạ áp, truyền tải, giảm tổn thất điện năng, giảm chi phí và hạ giá thành sản xuất điện. Ngoài ra, Chính phủ, Quốc hội cũng đề nghị EVN giảm chi phí quản lý, giảm chi thường xuyên từ 5-10%/năm nhằm giúp giảm giá thành sản xuất điện.

Giá xăng dầu theo thị trường thế giới


Trả lời câu hỏi của các đại biểu về tình hình kinh doanh xăng, dầu và minh bạch giá xăng, dầu, Bộ trưởng thông tin: Trước 2008, kinh doanh xăng, dầu chỉ có lỗ do mục tiêu điều hành giá xăng, dầu phục vụ sản xuất. Từ 2008 trở đi, việc điều hành giá xăng, dầu đã theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước.


Kết quả kiểm toán quốc tế do Công ty Deloitte tiến hành tại Petrolimex đã ghi nhận: Năm 2008, Petrolimex lãi 913,7 tỉ đồng; trong đó kinh doanh xăng dầu lãi 642 tỉ đồng. Năm 2009, lãi 3.217 tỉ đồng; trong đó lãi từ xăng dầu là 2.660 tỉ đồng. Năm 2010, lãi tổng thể từ kinh doanh xăng, dầu vẫn đạt 314 tỉ đồng. Năm 2011, Tổng Công ty Xăng dầu Petrolimex báo cáo lỗ 1.800 tỉ đồng đến hết tháng 6 đối với lĩnh vực kinh doanh xăng ,dầu; trong đó, lỗ từ chênh lệch tỷ giá đã là 1.400 tỉ đồng. Bên cạnh đó, tỷ lệ hao hụt về xăng, dầu năm 2011 dự kiến trên 800 tỉ đồng.


Theo Bộ trưởng Vương Đình Huệ, tình hình lãi, lỗ của Petrolimex sẽ được làm rõ hơn sau khi có kết quả kiểm tra xăng dầu tại các doanh nghiệp đầu mối do Bộ Tài chính đang tiến hành. Theo đó, nếu không có sự điều chỉnh tỷ giá vào các tháng đầu năm và nếu các đầu mối xăng dầu thực hiện đúng định mức bán hàng 600 đồng/lít xăng dầu thì các doanh nghiệp kinh doanh đầu mối không thể lỗ.


Trả lời các câu hỏi về nguyên tắc điều hành giá xăng dầu, Bộ trưởng đã chỉ ra kịch bản vẫn là kiên trì thực hiện nguyên tắc thị trường, phù hợp với giá xăng, dầu quốc tế do Việt Nam vẫn phải nhập khẩu tới 70%. Đặc biệt, ngay cả khi thị trường đã có xăng dầu Dung Quất nhưng giá bán xăng, dầu Dung Quất cũng theo giá quốc tế. Vì vậy, trên thực tế, giá xăng, dầu vẫn được tính như giá xăng, dầu nhập khẩu 100%.


Hiện giá xăng, dầu bán ra trên thị trường là giá thành phẩm, không phải giá dầu thô. Theo đó, giá xăng dầu được điều hành bám sát Nghị định số 84 của Chính phủ. Trước mắt, thuế nhập khẩu xăng dầu vẫn bằng 0%; madut và diezen là 5% nên sẽ khôi phục lại giá cơ sở. Sau đó, nếu giá giảm tiếp, giá xăng dầu trong nước sẽ có điều kiện giảm tiếp. Còn nếu giá tăng, Bộ sẽ xem xét điều chỉnh với mức tăng theo yêu cầu của quản lý vĩ mô và kiềm chế về lạm phát.


Bộ trưởng cho rằng, về lâu dài, thị trường xăng, dầu cần cơ cấu lại bằng cách tăng cường năng lực sản xuất, kinh doanh của các đầu mối khác như Petro Sài Gòn, Xăng dầu quân đội, Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV Oil)... Bản thân Petrolimex cũng phải tính toán tái cấu trúc lại để bảo đảm tính cạnh tranh và sòng phẳng trong kinh doanh.

Trả lời câu hỏi của đại biểu Châu Thị Thu Nga (Hà Nội) về tính minh bạch và sự cần thiết của Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, Bộ trưởng Huệ cho biết: Quỹ được thành lập 2009 đã trích một phần sử dụng vào mục tiêu quỹ bình ổn giá. Tính đến cuối năm 2011, quỹ còn dư 2.500 tỉ đồng làm nguồn dự phòng khá lớn. Trước đây, quỹ này đặt tại doanh nghiệp để thuận tiện sử dụng và tránh cho cơ chế xin cho. Tuy nhiên, để minh bạch hơn, việc quản lý Quỹ sẽ trích lập và nộp tập trung vào Kho bạc Nhà nước nhưng cho phép doanh nghiệp tự động kê khai và thanh toán khoản này, cuối năm sẽ tiến hành hậu kiểm.


Nợ công vẫn ở ngưỡng an toàn


Trả lời câu hỏi của các đại biểu về tình hình nợ công hiện nay của Việt Nam cũng như chiến lược quản lý nợ công thời gian tới, Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ khẳng định: Nợ công của Việt Nam đang ở mức an toàn do cơ cấu nợ công khác thế giới. Việt Nam chủ yếu vay ODA và vay ưu đãi lớn. Năm 2011, nợ Chính phủ là 43,6%, nợ quốc gia là 41,5% và nợ công là 54,6%.


Hiện cơ cấu nợ công của Việt Nam có khoảng 79% vay ODA, chỉ có 7% vay thương mại và khoảng 19% vay có ưu đãi. Trong ODA, vay của Ngân hàng Thế giới (WB) kỳ hạn 40 năm, 10 năm ân hạn nên sau 10 năm nữa mới phải trả và lãi suất rất thấp là 0,75%. Vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng là 30 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất khoảng 1%. Vay của Nhật Bản cũng 30 năm, thời gian ân hạn 10 năm, lãi suất từ 1- 2%.


Như vậy, tổng chi phí để trả nợ gốc và lãi khoảng 15% trong tổng thu ngân sách và ngưỡng của thế giới khoảng 30%. Trong 15% chi trả cho nợ công hằng năm, ngân sách chỉ trả 13,5%; còn 1,5% là các dự án và các nhà đầu tư phải trả. Nợ công Việt Nam rất khác với các nước là Nhà nước vừa là chủ nợ, nhưng vừa là khách nợ.


Về chiến lược nợ công, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đã tính toán hết các khoản vay lớn và cũng tính toán hết các dòng tiền ra vào. Theo đó, ngưỡng nợ công khoảng 65% tới năm 2015 có thể chịu đựng được. Còn sau năm 2015, vấn đề trả nợ có thể tương đương với vay hoặc thấp hơn, do đó không vượt quá 65% sau năm 2015 thì cũng đã có tính toán hết.


Theo đó, ba giải pháp được Bộ Tài chính đề xuất với Quốc hội, Chính phủ để tăng cường quản lý nợ công gồm: Thứ nhất, xây dựng kịch bản và lộ trình để giảm bội chi một cách rất nghiêm túc do bội chi là một nguyên nhân khiến Việt Nam phải vay nợ nhiều. Thứ hai, tăng cường năng lực và hiệu lực của công tác quản lý nợ công với việc đã thành lập Cục Quản lý nợ thuộc Bộ Tài chính, tăng cường năng lực phân tích dự báo nợ và các kỹ năng để đàm phán. Thứ ba là phải tăng cường quản lý rủi ro theo danh mục nợ, trong đó có cả quản lý rủi ro về tỷ giá, rủi ro về lãi suất. Ngoài ra, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ là giải pháp để quản lý nợ công tốt. Nếu chỉ số GDP, ngoại tệ, ngoại hối, nhập siêu ở trạng thái tích cực, việc giảm nợ công sẽ tốt hơn.


Cũng trong phiên chất vấn, Bộ trưởng đã trả lời các đại biểu về các giải pháp giảm bội chi ngân sách, chống chuyển giá ở các doanh nghiệp FDI nhằm tăng thu. Theo đó, tăng thu không theo cách tăng tỷ lệ động viên doanh nghiệp mà tăng thu bằng cách chống thất thu ở các khâu và tăng cường cưỡng chế các việc nợ thuế đối với hải quan cũng như đối với thuế nội địa.

Tái cấu trúc ngân hàng không phải vì hệ thống yếu kém

Trong phiên trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình khẳng định, tái cấu trúc ngân hàng không phải vì hệ thống yếu kém. Cùng với đề tài tái cơ cấu, việc bảo đảm nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh cũng là chủ đề được các đại biểu quan tâm.

Mặc dù còn chưa đến một tiếng đồng hồ của phiên làm việc buổi chiều ngày 24-11 nhưng Thống đốc NHNN đã tiếp nhận tới 16 lượt ý kiến xung quanh các vấn đề về giải pháp tái cơ cấu và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng; công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra các ngân hàng và biện pháp xử lý các tổ chức tín dụng, cán bộ, nhân viên ngân hàng vi phạm. Đặc biệt, giải pháp đbảo đảm vốn cho sản xuất, kinh doanh tiếp tục phát triển với mức lãi suất hợp lý cũng là tiêu điểm thu hút sự quan tâm của các đại biểu.

Tại phiên chất vấn, nhiều đại biểu yêu cầu Thống đốc trình bày cụ thể phương án tái cấu trúc ngân hàng cũng như cụ thể lộ trình thực hiện. Các đại biểu cũng phản ánh, lãi suất cho vay vẫn còn cao so với hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp nhưng việc tiếp cận vẫn khó khăn. Đại biểu Minh Thắm (Lâm Đồng) phản ánh việc vay vốn giữa doanh nghiệp và nông dân có sự chênh lệch. Doanh nghiệp dễ tiếp cận nguồn vốn hơn và được giải quyết nhanh hơn. Trong khi đó, nhiều hộ dân thực sự đang rất cần vốn để sản xuất thì chưa được đáp ứng kịp thời.


Đại biểu Đặng Thị Hoàng Yến (Long An) nêu vấn đề từ cuối năm 2009 đến nay, NHNN đã xếp loại phát triển hạ tầng và xây dựng nhà xưởng các khu công nghiệp vào nhóm phi sản xuất. Trong khi đó, năm 2010 các khu công nghiệp đã đóng góp tới 25 tỉ USD - tương đương 25% sản lượng công nghiệp của cả nước và tạo hàng triệu công ăn việc làm cho người lao động. Như vậy, nếu không được hưởng lãi suất ưu đãi và vẫn bị xếp chung vào nhóm phải hạn chế cho vay thì sẽ thiệt thòi cho các doanh nghiệp tham gia phát triển khu công nghiệp.


Thời gian gần đây, NHNN đã có những chính sách quyết liệt tham gia điều hành thị trường tiền tệ và quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Đây là những động thái khá tích cực đối với thị trường. Tuy nhiên, đại biểu Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) e ngại những chính sách này chỉ tạo thuận lợi cho nhóm lợi ích nhất định; cụ thể là siết trần lãi suất huy động 14% có lợi cho ngân hàng lớn, khổ cho ngân hàng nhỏ.... Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn phải vay với mức cao thì chỉ có ngân hàng được hưởng lợi nhiều.


Ngoài ra, các đại biểu đã đưa ra nhiều câu hỏi xung quanh chủ trương chống đô la hoá và vàng hoá; xử phạt nếu vi phạm trần lãi suất; căn cứ trần lãi suất.

Quán triệt chủ trương, quan điểm của Đảng và Chính phủ, NHNN coi việc cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách trong những năm tới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống các TCTD an toàn, hiệu quả; từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh.


Thống đốc phân tích: Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là chuyện bình thường. Trước đây, suốt chặng đường đổi mới, Việt Nam phát triển chủ yếu theo chiều rộng, theo hướng khơi dậy tiềm năng của đất nước, khuyến khích mọi tầng lớp tham gia xây dựng phát triển xã hội. Hệ thống ngân hàng bám sát quá trình phát triển đó của đất nước. Tuy nhiên, nền kinh tế phát triển theo chiều rộng tốn rất nhiều vốn và hiệu quả không cao. Tuy nhiên, khi đạt đến mức độ phát triển nhất định, cần phải xem xét phát triển theo chiều sâu để nâng cao hiệu quả chứ không phải hệ thống ngân hàng yếu kém mà phải chuyển dịch.


Trên thực tế, Việt Nam đã lần lượt vượt qua và đứng vững trước nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế. Trong khi hệ thống ngân hàng tại nhiều quốc gia trên thế giới chao đảo thì các ngân hàng Việt Nam vẫn đứng vững. Minh chứng mới nhất là cách đây một tuần, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam-Vietcombank vẫn phát hành cổ phiếu ra thế giới và đạt mức giá rất cao. Cùng đó, Ngân hàng Công Thương Việt Nam-Viettinbank cũng đang chào bán cổ phiếu và đã có ngân hàng tại Canada muốn mua cổ phần. Điều này càng khẳng định, nhu cầu tái cấu trúc xuất phát từ thực tế phát triển nền kinh tế của đất nước.


Nếu chỉ tính riêng hệ thống ngân hàng thì Việt Nam có 37 ngân hàng cổ phần và 8 trong số đó rất lành mạnh, có thể làm trụ cột cho cả hệ thống. Cùng đó là 7 ngân hàng hoạt động ở mức trung bình, 8 ngân hàng có quy mô nhỏ hoạt động lành mạnh và 8 ngân hàng có quy mô nhỏ nhưng hoạt động chưa lành mạnh... Như vậy, số ngân hàng hoạt động yếu kém chỉ ở mức không quá 5% tổng số ngân hàng.


Trong 5 năm sắp tới, Việt Nam phấn đấu có hai ngân hàng đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng trong khu vực và từ 10 đến 15 ngân hàng đủ lớn để làm trụ cột cho cả hệ thống ngân hàng Việt Nam.


Thống đốc Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh: Theo quy định của các nước trong OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế), với một nước được coi là có dịch vụ ngân hàng đạt mức đạt chuẩn là làm sao cứ 1.000 người dân có một điểm giao dịch ngân hàng. Hiện nay, Việt Nam có gần 9.000 điểm giao dịch của hệ thống ngân hàng; trong đó có khoảng 2.500 chi nhánh và khoảng 5.500 điểm giao dịch của tất cả các tổ chức tín dụng dưới mọi loại hình. Như vậy, so với 87 triệu dân, tỷ lệ này là quá thấp. Mục tiêu phía trước là làm cho hệ thống ngân hàng lành mạnh nhưng cũng phải bảo đảm cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho người dân.


Bảo đảm ổn định, an toàn cho hệ thống


Tại phiên chất vấn Thống đốc NHNN, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhận định: ngân hàng - tiền tệ là vấn đề cấp bách, mang tính chất căn cơ, lâu dài và có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của nhân dân. Vì vậy, tái cơ cấu ngân hàng phải bảo đảm an toàn hệ thống để các tổ chức tín dụng (TCTD) vẫn góp phần bảo đảm giá trị đồng tiền và bình ổn thị trường. Đây là vấn đề cấp bách, thiết thực cho cả năm nay và thời gian tới.


Theo Thống đốc Nguyễn Văn Bình, hiện NHNN đã chuẩn bị xong đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và sẽ trình Chính phủ tại kỳ họp cuối tháng này. Mục tiêu của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nhằm tạo ra một hệ thống ngân hàng lành mạnh, hiệu quả, hoạt động ngày càng phù hợp hơn với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế đầy biến động. Người dân được tiếp cận sâu, rộng với mọi loại hình dịch vụ ngân hàng với chất lượng ngày càng cao. Đồng thời, tạo ra một hệ thống ngân hàng đa dạng về loại hình, quan hệ sở hữu; đa dạng về quy mô gồm: các ngân hàng đủ mạnh để có thể cạnh tranh trong khu vực và quốc tế; các ngân hàng làm trụ cột cho cả hệ thống ngân hàng trong nước; các ngân hàng có quy mô vừa và nhỏ hoạt động trong những phân khúc thị trường khác nhau.


"Đặc biệt, trong quá trình tái cơ cấu lại không để xảy ra đổ vỡ ngân hàng, rối loạn tài chính và mất an toàn hoạt động ngân hàng, nằm ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ và NHNN, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất tổn thất, chi phí xử lý những vấn đề của hệ thống các tổ chức tín dụng", Thống đốc Nguyễn Văn Bình khẳng định.


Thống đốc cho biết, NHNN đang tập trung giám sát chặt chẽ hoạt động của các ngân hàng yếu kém và xây dựng phương án xử lý đối với từng ngân hàng này, cũng như chỉ đạo các NHTM nhà nước và NHTM cổ phần lớn hỗ trợ các ngân hàng này trong việc bảo đảm thanh khoản và xây dựng phương án tái cấu trúc. Những bước đi đầu tiên của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đang được ngành Ngân hàng triển khai thận trọng.


Sáng mai, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình tiếp tục giải đáp các câu hỏi của đại biểu Quốc hội./.