TCCS - Trên cương vị người đứng đầu Nhà nước liên tục gần 1/4 thế kỷ(1), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo kiến tạo nền móng cho thể chế thúc đẩy phát triển khoa học, kỹ thuật trong tiến trình vận động của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Quan điểm lý luận, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Người, cùng thực tiễn cách mạng phong phú, để lại nhiều chỉ dẫn quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế với tư cách là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”(2).

Tổng bí thư Tô Lâm và Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng tra cứu cơ sở dữ liệu 10.000 liệt sĩ ngành Bưu chính Viễn thông và Khoa học Công nghệ tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Bưu chính Viễn thông, 66 năm ngành Khoa học và Công nghệ, ngày 29-9-2025_Ảnh: vnexpress.net

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người kiến tạo nền móng thể chế để thúc đẩy phát triển khoa học, kỹ thuật

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người kiến tạo thể chế của chế độ mới - thành quả thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, của cách mạng Việt Nam: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ... quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(3). Đó là tôn chỉ chung của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó có thể chế để thúc đẩy phát triển khoa học, kỹ thuật.

Hệ thống quy định, nguyên tắc, tổ chức bộ máy liên quan đến khoa học, kỹ thuật được ban hành và thiết lập gắn liền với hoạt động lãnh đạo, quản lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hơn hai mươi năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1969), nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng văn bản và ký ban hành nhiều văn bản quản lý về khoa học, kỹ thuật; đồng thời, lãnh đạo Nhà nước xây dựng các cơ quan, đơn vị quản lý và nghiên cứu, giáo dục - đào tạo khoa học, kỹ thuật cho đất nước.

Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp năm 1946. Lần đầu tiên, Hiến pháp hiến định các quyền cơ bản của công dân Việt Nam, trong đó Lời nói đầu, các Điều thứ 7, Điều thứ 10, Điều thứ 13, Điều thứ 15 đã đặt nền tảng pháp lý cho quyền học tập, cho việc phát triển tri thức, giáo dục - đào tạo. Đây là nội dung gắn liền với phát triển khoa học - kỹ thuật sau này.

Trong bối cảnh miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp mới. Với Hiến pháp năm 1959, thuật ngữ “khoa học”, “kỹ thuật” lần đầu tiên được đề cập với tư cách là đặc trưng của chế độ kinh tế và xã hội của đất nước. Điều 9 Hiến pháp năm 1959 ghi rõ: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến. Mục đích cơ bản của chính sách kinh tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là không ngừng phát triển sức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Hiến pháp tỏ rõ tinh thần khuyến khích tính sáng tạo, khuyến khích phát triển khoa học, kỹ thuật trong hoạt động của đời sống xã hội - thể hiện ở Điều 9, Điều 14, Điều 21,... Học tập khoa học, kỹ thuật là một nội dung trong quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 1959 xác lập trong Điều 33, Điều 34. So với Hiến pháp năm 1946 thì Hiến pháp năm 1959 đã đề cập nhiều hơn, cụ thể hơn, trực tiếp hơn về khoa học, kỹ thuật ở các khía cạnh: quyền học tập, được khuyến khích và bảo vệ, là đặc trưng, mục tiêu hướng đến của chế độ,...

Trên nền tảng của Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng khung thể chế và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước liên quan đến khoa học, kỹ thuật. Hiến pháp năm 1946, cụ thể hơn là Hiến pháp năm 1959, đều xác định nhiệm vụ của Nhà nước, trực tiếp là Chính phủ, trong quản lý, bảo vệ quyền tự do nghiên cứu khoa học của công dân; “khuyến khích và giúp đỡ tính sáng tạo của những công dân theo đuổi sự nghiệp khoa học...”(4); khuyến khích phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học, kỹ thuật; khuyến khích, giúp đỡ cải tiến khoa học, kỹ thuật trong lao động, sản xuất. Để thực hiện nhiệm vụ này, nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Nhà nước đã được thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp ký các sắc lệnh liên quan, như Sắc lệnh số 44/SL, ngày 10-10-1945, về việc thành lập Hội đồng cố vấn học chính; Sắc lệnh số 02/SL, ngày 1-2-1949, thành lập trường Cao đẳng Kỹ thuật; Sắc lệnh số 166/SL, ngày 17-11-1950, về việc tách Nha kỹ nghệ thuộc Bộ Kinh tế thành hai Nha: Nha công nghệ và Nha tiểu công nghệ, mỗi Nha do một Giám đốc và một Phó Giám đốc điều khiển;...

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 3-10-1963, Quyết định số 173-NV của Bộ Nội vụ được ban hành, cho phép Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam được thành lập và hoạt động trong phạm vi luật lệ hiện hành và điều lệ của Hội (được duyệt ngày 1-10-1963). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam năm 1963 đã nhất trí lấy ngày 18-5-1963 là ngày thành lập Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Phát biểu tại Đại hội lần thứ nhất của Hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích sâu sắc chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác khoa học, kỹ thuật; vạch ra đặc điểm, phương hướng, nhiệm vụ của công tác khoa học, kỹ thuật ở nước ta. Người xác định Hội là một thiết chế xã hội đoàn kết, tập hợp, huy động tầng lớp trí thức, các chuyên gia, nhà khoa học, người làm việc trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật; khẳng định: “Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật có nhiệm vụ rất lớn trong việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”(5). Nhiệm vụ của Hội là “đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền bá rộng rãi trong nhân dân lao động, để nhân dân đẩy mạnh thi đua sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Có như vậy nước mới giàu, dân mới mạnh và đời sống của nhân dân mới được cải thiện về mọi mặt. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các cô, các chú”(6). Quán triệt Văn kiện Đại hội lần thứ III của Đảng về khoa học, kỹ thuật, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Ra sức đào tạo cán bộ khoa học và xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học cần thiết, kết hợp với việc phổ biến rộng rãi những hiểu biết khoa học và kỹ thuật trong đông đảo quần chúng, thúc đẩy phong trào thi đua cải tiến kỹ thuật, sáng chế phát minh. Mở rộng sự hợp tác với các nước anh em trong việc nghiên cứu khoa học, kỹ thuật”(7). Người yêu cầu các cấp đảng và chính quyền tăng cường lãnh đạo và giúp đỡ Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật làm tròn nhiệm vụ vẻ vang.

Trong giai đoạn 1945 - 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo xây dựng nhiều nghị quyết của Đảng, trong đó bao gồm nội dung đề cập đến phát triển khoa học, kỹ thuật; đồng thời, Người cũng trực tiếp phổ biến, quán triệt đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển khoa học - kỹ thuật phải được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nguyên tắc được Người nhất quán trong mọi giai đoạn và mọi lĩnh vực. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lê-nin là với tư cách là “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản”(8).

Để lãnh đạo phát triển khoa học, kỹ thuật, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng phải tiên phong, gương mẫu trong nắm bắt khoa học, kỹ thuật: “Đảng ta là Đảng lãnh đạo. Muốn lãnh đạo được phải hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, phải hiểu khoa học kỹ thuật, muốn hiểu biết những cái đó phải nghiên cứu, phải xem xét, phải học tập, phải ghi chép, như thế là phải biết chữ. Bác giao cho các đồng chí, cho tỉnh ủy hết năm nay phải có cách làm cho số đồng chí đảng viên còn mù chữ biết chữ”(9). Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên không chỉ vững vàng về chính trị, khéo về kỹ năng, mà còn giỏi về chuyên môn khoa học, để đảm đương được nhiệm vụ tổ chức hoạt động phát triển khoa học - kỹ thuật: “Ngày nay, Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị, mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung. Lại phải biết đoàn kết với những người ngoài Đảng, phải biết dựa vào quần chúng, phát huy sức sáng tạo của quần chúng lao động, học tập kinh nghiệm của quần chúng, phải tạo mọi điều kiện cho nhân dân lao động có thể nắm được những hiểu biết khoa học, kỹ thuật; ra sức đào tạo thật nhiều cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý cần thiết cho sản xuất phát triển. Chỉ có như thế, chúng ta mới xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội”(10).

Sự ra đời của Ủy ban khoa học Nhà nước thuộc Chính phủ với quyền hạn, trách nhiệm ngang một bộ đánh dấu bước phát triển về tổ chức bộ máy phát triển khoa học, kỹ thuật. Tổ chức khoa học được khẳng định là đơn vị trực tiếp phát triển khoa học, kỹ thuật. Bên cạnh lực lượng nòng cốt đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiều tổ chức, đơn vị, lực lượng khác có trách nhiệm tham gia phát triển khoa học, kỹ thuật theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể.

Nhà trường là thiết chế đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển khoa học, kỹ thuật thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dục - đào tạo tùy theo cấp học. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Theo kế hoạch của Bộ Giáo dục, thì mấy tháng sắp tới, thôn nào cũng sẽ có trường tiểu học. Hương (như liên xã ta) nào cũng có trường sơ trung và trường trung học nông nghiệp. Các trường tiểu học sẽ dạy thêm khóa thủ công nghiệp và nông nghiệp. Các trường trung học dạy thêm những kỹ thuật căn bản về các ngành sản xuất”(11). Nhà trường phổ thông thì phổ biến kiến thức cơ bản về khoa học, kỹ thuật thông qua hoạt động giáo dục. Người nhấn mạnh: “Đẩy mạnh hơn nữa việc giáo dục lao động trong nhà trường là một khâu chủ yếu trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa... nhằm đào tạo thế hệ trẻ đã có những kiến thức khoa học... lại có những kiến thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, những thói quen lao động, sẵn sàng bước vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa”(12). Nhà trường đại học, cao đẳng và trung cấp thì nghiên cứu khoa học chuyên sâu và đào tạo cán bộ, chuyên gia trình độ khoa học - kỹ thuật cao. Trên cương vị Chủ tịch nước, Người đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng văn bản và ký ban hành nhiều sắc lệnh để hình thành và phát triển hệ thống nhà trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Bám sát chỉ dẫn của Người, Báo cáo kế hoạch nhà nước năm 1957 tại Hội nghị Trung ương lần thứ 12 mở rộng (tháng 3-1957) chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng việc đào tạo cán bộ kỹ thuật ở các trường đại học và trung cấp kỹ thuật. Có kế hoạch phát triển việc đào tạo và cán bộ công nhân bằng các lớp ngắn hạn và tại chức. Tăng cường các công tác thăm dò, thiết kế để chuẩn bị cho những năm sau”(13).

Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, “là một trường học để thực hiện cải tiến dần dần lên chủ nghĩa xã hội”. Mục đích chính của phát triển khoa học, kỹ thuật là phục vụ phát triển sản xuất, góp vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cải tiến kỹ thuật trong lao động, sản xuất nên nhiều lần nhắc đến tổ chức Công đoàn như là một thiết chế đoàn thể tham gia phát triển khoa học, kỹ thuật. Trách nhiệm của Công đoàn là hỗ trợ, giúp đỡ người lao động trí óc phát triển khoa học, kỹ thuật: “Đối với anh em lao động trí óc và cán bộ khoa học, kỹ thuật, công đoàn phải có kế hoạch giúp đỡ họ không ngừng tiến bộ, và thực hiện đoàn kết chặt chẽ giữa lao động trí óc và lao động chân tay”(14). Đồng thời, Công đoàn tham gia đưa khoa học - kỹ thuật vào người lao động chân tay (công nhân): “Công đoàn phải có biện pháp thiết thực để nâng cao trình độ văn hóa và kỹ thuật của công nhân...”(15). Người nhắc nhở cán bộ Công đoàn phải xem đó là “trách nhiệm trước nhân dân, trước xã hội và đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”(16).

Để phát triển khoa học, kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến hợp tác xã, tổ đổi công như là thiết chế trực tiếp ở cơ sở. Người luôn nhắc nhở nhiệm vụ tham gia thực hiện cải tiến kỹ thuật sản xuất nông nghiệp của hợp tác xã, tổ đổi công: “Đa số nông dân làm ăn riêng rẽ. Muốn sản xuất tốt, phải xây dựng tổ đổi công cho tốt. Cần tăng cường số lượng và nhất là củng cố chất lượng tổ đổi công. Tổ đổi công là một hình thức để tiến dần lên xã hội chủ nghĩa. Các tổ ấy sẽ giúp cán bộ trong công tác hướng dẫn sản xuất và cải tiến kỹ thuật”(17); “Người đông thì sức mạnh và ý kiến dồi dào. Nhờ có hợp tác xã mà phong trào cải tiến kỹ thuật được thực hiện dần dần, do đó mà sản xuất được nâng cao. Như các hợp tác xã “Quyết Thắng”, “Sông Hồng”, “Cộng Lực”, v.v., đã tăng năng suất gần 300%””(18).

Mặt trận Dân tộc thống nhất là ngôi nhà chung của khối đại đoàn kết dân tộc. Trong bối cảnh đất nước thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ ở hai miền, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định Mặt trận là thiết chế quan trọng tham gia phát triển khoa học, kỹ thuật. Nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặt trận ngày 31-8-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cương lĩnh của Mặt trận là nhằm xây dựng miền Bắc vững mạnh, dần dần nâng cao đời sống của nhân dân, bằng cách phát triển công nghiệp, nông nghiệp, văn hóa, khoa học. Nó nhằm đoàn kết toàn dân, một lòng một dạ, kề vai sát cánh, cùng nhau phấn đấu thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”(19).

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đến tiêu chuẩn hóa lao động, sản xuất về nhiều mặt, bao gồm tiêu chuẩn kỹ thuật. Người tuyên dương cá nhân, tập thể thực hiện tốt tiêu chuẩn: “Theo báo cáo thì trong năm 1958, công nhân có hơn 6 vạn sáng kiến. Chỉ trong tháng 2 năm nay, công nhân nhiều xí nghiệp, như Nhà máy Gia Lâm, Nhà máy Trần Hưng Đạo, v.v. có những sáng kiến tăng năng suất từ gấp đôi đến gấp 15 lần; Nhà máy cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng) có những sáng kiến vượt 225 tiêu chuẩn tiên tiến, v.v..”(20). Đồng thời, Người chỉ ra hạn chế: “Trong năm qua, nhà máy còn có một số khuyết điểm về các mặt như sử dụng vật liệu, dụng cụ không đúng tiêu chuẩn, thường vượt quá mức đã định, một số bộ phận máy móc làm ra chất lượng còn kém, chưa đúng quy cách; tỉ lệ người gián tiếp sản xuất còn quá cao. Như vậy là còn lãng phí rất nhiều”(21). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những nguyên nhân là do quản lý kỹ thuật chưa tốt, chưa theo đúng tiêu chuẩn. Do đó, Người nhấn mạnh tầm quan trọng của xây dựng hệ thống tiêu chuẩn khoa học - kỹ thuật trong lao động, sản xuất: “Chúng ta thi đua làm nhiều, làm nhanh là cốt tăng nhanh mức sống của nhân dân lao động và tăng nhanh tích luỹ để xây dựng công nghiệp, mở mang kinh tế. Cho nên NHIỀU, NHANH phải đi đôi với TỐT, RẺ. Nếu chỉ vì nhiều, nhanh mà không nghĩ đến tốt, rẻ, thì kết quả cuối cùng vẫn là không nhiều, không nhanh. Ví dụ: Một nhà máy, nếu xây dựng đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, có thể dùng được 50 năm. Nhưng nếu xây dựng không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, thì chỉ vài chục năm sau, nhà máy sẽ không chịu nổi sức rung chuyển của máy, và sản xuất sẽ không an toàn. Như vậy khác nào bỏ vốn xây dựng một nhà máy mà chỉ được một nửa nhà máy!”(22).

Bám sát chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã lãnh đạo, điều hành các đơn vị từng bước xây dựng bộ tiêu chuẩn theo từng lĩnh vực cụ thể. Mặc dù có khó khăn do xuất phát điểm thấp và điều kiện chiến tranh, nhưng các bộ tiêu chuẩn đã dần dần hình thành.

Ý nghĩa đối với hoàn thiện thể chế để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ hiện nay

Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ, trong kỷ nguyên mới, ưu tiên hàng đầu “là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao;...”(23). Để đạt được các mục tiêu chính yếu này, nhiều nhiệm vụ giải pháp được đề ra với 4 vấn đề chính cần tập trung làm tốt để tạo đột phá: 1- Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; 2- Hội nhập quốc tế trong tình hình mới; 3- Xây dựng và thi hành pháp luật; 4- Phát triển kinh tế tư nhân.

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được khẳng định là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để đạt được các mục tiêu chiến lược. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW), khẳng định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc”.

Nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thể chế về khoa học, công nghệ được chú trọng đổi mới, hoàn thiện và phát triển đồng bộ góp phần làm nổi bật vai trò đóng góp của khoa học, công nghệ trong thành tựu đất nước gặt hái được sau bốn thập niên đổi mới. Tuy nhiên, khoa học, công nghệ vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và sự kỳ vọng; tốc độ và sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm nên chưa trở thành động lực chính cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước. Thực trạng này có nguyên nhân do “Cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn một số nút thắt, điểm nghẽn”(24).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là mốc son đánh dấu đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: “Khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao”(25). Hoàn thiện thể chế được xác định là “là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước” để phát triển khoa học, công nghệ. Yêu cầu đó phải được thực hiện “khẩn trương, quyết liệt” để tháo gỡ những rào cản, biến thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ.

Từ thực tiễn nhiều năm qua và trước yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới đã thôi thúc hoàn thiện thể chế để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ với ý nghĩa là nội dung trọng tâm, cốt lõi, tiên quyết, cấp thiết. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội XIV đều nhấn mạnh nội dung này và đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp để định hướng triển khai. Quan điểm, chủ trương đều được hoạch định trên cơ sở vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Quan điểm lý luận và thực tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo kiến tạo thể chế để thúc đẩy phát triển khoa học, kỹ thuật của nước Việt Nam hiện đại để lại những chỉ dẫn phương pháp luận sâu sắc, định hướng việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về khoa học, công nghệ và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống:

Giải quyết mối quan hệ giữa tính chuyên môn khoa học với tính định hướng chính trị trong toàn bộ quá trình phát triển khoa học, kỹ thuật.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ quan điểm toàn bộ nhận thức và hoạt động của tổ chức bộ máy phát triển khoa học, kỹ thuật phải phục vụ cho sự nghiệp cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam không có khoa học, kỹ thuật phi chính trị. Nền khoa học, kỹ thuật phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện còn rất nhiều khó khăn thiếu thốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh tôn trọng và tạo mọi điều kiện để chuyên gia, nhà nghiên cứu, tổ chức khoa học được phát triển sở trường chuyên môn, nhưng luôn giác ngộ lý tưởng cách mạng phụng sự cho Tổ quốc, phục vụ cho nhân dân. Bám sát chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh: “Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng”; “Thống nhất, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”; khoa học, công nghệ phục vụ trực tiếp cho mục tiêu đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

Sinh viên Trường Đại học Phenikaa thực hành sử dụng cánh tay robot_Ảnh: TTXVN

Xây dựng khung pháp quy quản lý phát triển khoa học, công nghệ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán xây dựng nền pháp quyền của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nguyên tắc quản lý bằng hiến pháp và pháp luật. Trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp lãnh đạo xây dựng và ký ban hành nhiều văn bản, từ đó hình thành hệ thống khung pháp quy quản lý, khuyến khích phát triển khoa học, kỹ thuật trong chế độ mới. Từ văn bản pháp lý nền tảng quan trọng nhất là hiến pháp đến sắc lệnh, văn bản quản lý khác; từ văn bản trực tiếp tham gia xây dựng đến văn bản lãnh đạo tổ chức, cá nhân khác xây dựng và ban hành. Với khung pháp quy này, hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác phát triển khoa học, kỹ thuật được hình thành và vận hành thông suốt; nền khoa học, kỹ thuật non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được pháp quy hóa để phát triển lâu dài. Tiếp nối tinh thần pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, khung pháp quy quản lý sự phát triển khoa học, công nghệ luôn được chú trọng xây dựng, đổi mới, hoàn thiện. Trước yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ trong kỷ nguyên mới, năm 2025, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được ban hành, quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; chính sách, biện pháp bảo đảm phát triển khoa học, công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho thể chế để thúc đẩy phát triển khoa học, kỹ thuật của Việt Nam. Trên nền móng này, thể chế để thúc đẩy phát triển khoa học, kỹ thuật tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện trong các giai đoạn sau, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng thời kỳ. Bước vào kỷ nguyên mới, hoàn thiện thể chế là nội dung trung tâm, “điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước” để khoa học, công nghệ là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh. Bối cảnh mới, trước yêu cầu càng to lớn, càng phải thấm nhuần bốn kiên định theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, thấm nhuần quy luật thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh./.

----------------

(1) Ngày 16 đến 17-8-1945 diễn ra Đại hội đại biểu quốc dân (nay gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào) thành lập thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ra mắt Chính phủ lâm thời do Người làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Ngày 1-1-1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Ngày 6-1-1946, Tổng tuyển cử diễn ra trong cả nước. Sau khi Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khóa I, tại Kỳ họp thứ nhất ngày 2-3-1946, Quốc hội đã Công nhận danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Tháng 11-1946, Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ tháng 11-1946 đến tháng 9-1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (từ tháng 11-1946 đến 1947). Từ năm 1946 đến 1969, Hồ Chí Minh liên tục được Quốc hội các khóa bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(2) “Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 6, tr. 232
(4) Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật Trung ương: Toàn văn Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959, https://vbpl.moj.gov.vn/TW/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=889&Keyword=hi%E1%BA%BFn%20ph%C3%A1p%201959
(5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 98, 97, 96
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 96
(9), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 76, 69
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 447
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 203
(13) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 18, tr. 140
(14), (15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 434, 53
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 679
(17)  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 319
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 578
(19), (20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 452, 53
(21), (22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 460, 512
(23)  GS. TS. Tô Lâm: “Một số nhận thức cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 1050, tháng 11-2024, tr. 3
(24), (25) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 66, 104