Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số phục vụ phát triển bền vững tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
TCCS - Quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững của tỉnh Phú Thọ đòi hỏi sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tỉnh cần tận dụng cơ hội hợp nhất để cơ cấu lại theo hướng kinh tế xanh, nâng cao chất lượng sống và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia, ứng phó biến đổi khí hậu. Để thành công, Phú Thọ cần quyết tâm chính trị, chính sách phù hợp và sự đồng lòng của người dân, hướng tới trở thành hình mẫu về chuyển đổi xanh ở vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Thực trạng kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
Về kinh tế: Tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập (sáp nhập từ 3 tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình và Vĩnh Phúc), thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, có vị trí chiến lược gần Hà Nội với các định hướng kinh tế khác nhau. Vĩnh Phúc là đầu tàu công nghiệp, Phú Thọ ở mức trung bình và đang tăng trưởng tích cực, còn Hòa Bình tập trung vào phát triển du lịch và nông nghiệp. Giai đoạn 2020 - 2024, cả ba tỉnh đều đạt tăng trưởng ấn tượng. Phú Thọ đạt mức tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân 7,85%/năm (năm 2024 đạt 9,53%), Vĩnh Phúc 6,0%/năm (7,52% năm 2024) và Hòa Bình 6,8%/năm (cao nhất 9% năm 2024). Quy mô GRDP năm 2024 của Phú Thọ đạt 109,2 nghìn tỷ đồng, Vĩnh Phúc 173,1 nghìn tỷ đồng, và Hòa Bình 72,5 nghìn tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người năm 2024 của Phú Thọ là 70,7 triệu đồng, Vĩnh Phúc 141,3 triệu đồng (cao hơn trung bình cả nước 1,24 lần) và Hòa Bình khoảng 81 triệu đồng. Thu ngân sách nhà nước và tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đều tăng mạnh ở cả ba tỉnh(1) Sau sáp nhập, tỉnh Phú Thọ có quy mô dân số trên 4 triệu người và diện tích trên 9.400km2, kết hợp thế mạnh công nghiệp của Vĩnh Phúc, vị trí địa lý và tiềm năng văn hóa của Phú Thọ, cùng tiềm năng du lịch và nông nghiệp của Hòa Bình. Điều này hứa hẹn tạo thành một “siêu vùng kinh tế - du lịch chiến lược phía Tây Hà Nội”, nhưng cũng đặt ra thách thức trong việc cân bằng phát triển giữa vùng đồng bằng và miền núi.
Về môi trường và tài nguyên: Tỉnh Phú Thọ (mới) có sự đa dạng về địa hình và cảnh quan, từ đồi núi trung du đến núi cao hùng vĩ, thung lũng. Điều này tạo nên các hệ sinh thái phong phú, bao gồm rừng tự nhiên và đất phù sa màu mỡ ven sông. Tỉnh có nguồn nước dồi dào, tiềm năng thủy điện lớn với các sông lớn, như sông Hồng, sông Đà, sông Lô, đặc biệt Nhà máy Thủy điện Hòa Bình (1.920 MW) đóng vai trò chiến lược trong an ninh năng lượng quốc gia. Tài nguyên đất phong phú, gồm đất phù sa màu mỡ phù hợp cho cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày và đất feralit trên đồi núi cho cây công nghiệp dài ngày và lâm nghiệp. Khoáng sản đa dạng, phục vụ xây dựng và công nghiệp địa phương, như đất sét, đá vôi, quặng pyrit, cao lanh. Tỉnh có tiềm năng du lịch lớn với du lịch tâm linh - lịch sử (Đền Hùng) và du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng (Tam Đảo, hồ Hòa Bình, Mai Châu, Kim Bôi), tạo thành một quần thể du lịch đa dạng, liên kết.
Về phát thải các-bon và năng lượng: Phú Thọ có mức phát thải khí nhà kính trung bình thấp hơn so với các tỉnh đồng bằng, chủ yếu từ năng lượng hóa thạch trong công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp và xử lý chất thải rắn. Tỉnh Phú Thọ chủ yếu tiêu thụ điện lưới quốc gia, không có nhà máy nhiệt điện lớn. Tiềm năng năng lượng tái tạo của tỉnh hạn chế đối với điện mặt trời quy mô lớn và điện gió, nhưng có một số dự án thủy điện nhỏ. Sau hợp nhất, Nhà máy Thủy điện Hòa Bình sẽ là lợi thế lớn để tỉnh tăng tỷ trọng điện sạch và hướng tới cân bằng phát thải các-bon. Thách thức đặt ra là giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch và tăng hiệu quả năng lượng. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu quốc gia về cân bằng phát thải (Net Zero) năm 2050, tỉnh cần những bước đột phá hơn nữa trong chuyển đổi năng lượng, như phát triển điện mặt trời áp mái, điện sinh khối (tận dụng phụ phẩm nông nghiệp) và xây dựng lộ trình giảm phát thải cụ thể cho các ngành.
Về giao thông vận tải: Hạ tầng giao thông tỉnh Phú Thọ phát triển ở mức cơ bản, đóng vai trò đầu mối kết nối vùng Tây Bắc với Hà Nội thông qua Quốc lộ 2 và cao tốc Nội Bài - Lào Cai. Tuy nhiên, sự gia tăng phương tiện cơ giới đường bộ cá nhân đang gây ô nhiễm khí thải (CO₂, bụi PM2.5) và tiếng ồn tại các đô thị như Việt Trì, Phú Thọ. Giao thông công cộng còn hạn chế, chủ yếu là xe buýt quy mô nhỏ, chưa có hệ thống vận tải khối lượng lớn. Các phương tiện chủ yếu chạy bằng xăng/diesel, xe điện mới xuất hiện nhưng hạ tầng trạm sạc chưa phổ biến. Điểm tích cực là vận tải thủy nội địa trên sông Hồng, sông Lô (như cảng Việt Trì) là phương thức giao thông phát thải thấp cần được khuyến khích. Tỉnh cũng đang cải thiện hạ tầng giao thông theo hướng bền vững bằng cách mở rộng đường, xây cầu mới và trồng cây xanh. Sau sáp nhập, mạng lưới giao thông liên tỉnh sẽ mở rộng, đòi hỏi quy hoạch đồng bộ để vừa phát triển giao thông liên kết vùng, vừa giảm tác động môi trường thông qua phương tiện công cộng sạch, khuyến khích xe điện, kiểm soát khí thải và quy hoạch giao thông thông minh.
Về công nghiệp: Tỉnh Phú Thọ hiện có 4 khu công nghiệp (KCN) và 27 cụm công nghiệp (CCN) hoạt động, với các ngành chủ lực, như sản xuất giấy, phân bón hóa chất, chế biến khoáng sản, cơ khí, dệt may và chế biến nông, lâm sản. Phát triển công nghiệp thúc đẩy tăng trưởng GRDP nhưng cũng gây ô nhiễm, đặc biệt là nước thải, khí thải và chất thải rắn từ các KCN. Nguồn ô nhiễm không khí chủ yếu là khí thải lò hơi đốt than/dầu FO và khí thải hóa chất. Chính quyền tỉnh đã yêu cầu các KCN hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ hiện đại để giảm tác động môi trường. Một số làng nghề thủ công cũng gây ô nhiễm cục bộ do xử lý chất thải sơ sài. Tỉnh có các KCN lớn ở Vĩnh Phúc và các CCN ở Hòa Bình. Điều này đòi hỏi chính sách quản lý thống nhất để vừa thu hút công nghiệp công nghệ cao, vừa bảo đảm tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt. Phát triển “khu công nghiệp sinh thái” là hướng đi phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và hạn chế ô nhiễm (2).
Về nông nghiệp: Nông nghiệp tỉnh Phú Thọ phát triển đa dạng nhờ địa hình kết hợp đồng bằng và đồi núi trung du, với các sản phẩm chính, gồm lúa gạo, hoa màu, chè, cây lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ngành nông nghiệp chiếm 20 - 25% cơ cấu kinh tế tỉnh và là sinh kế chính cho phần lớn dân cư nông thôn. Tuy nhiên, thâm canh nông nghiệp gây ra vấn đề ô nhiễm đất, nước do sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, cùng với chất thải chăn nuôi chưa được xử lý triệt để. Để phát triển nông nghiệp bền vững, tỉnh Phú Thọ khuyến khích mô hình hữu cơ và tuần hoàn, như hầm biogas, mô hình vườn - ao - chuồng (VAC), chú trọng môi trường nông thôn (tỷ lệ thu gom rác thải đạt 80%, các cơ sở chăn nuôi lớn phải có hệ thống xử lý chất thải). Việc sáp nhập mở ra cơ hội phát triển chuỗi nông sản hàng hóa sinh thái, hữu cơ. Thách thức lớn là nâng cao năng lực chống chịu biến đổi khí hậu cho sản xuất nông nghiệp toàn vùng, đối phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan. Phú Thọ cần đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật để bảo đảm sản xuất ổn định và bền vững.
Phân tích thế mạnh và cơ hội chiến lược của tỉnh Phú Thọ
Về thế mạnh và cơ hội chiến lược
Tỉnh Phú Thọ sẽ trở thành một đơn vị hành chính và kinh tế với nhiều thế mạnh chiến lược. Tỉnh Vĩnh Phúc khi sáp nhập vào tỉnh Phú Thọ mang đến vai trò đầu tàu công nghiệp, thu hút nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ và có GRDP bình quân đầu người cao. Tỉnh Phú Thọ cũ là trung tâm văn hóa, lịch sử với Đền Hùng và tiềm năng phát triển công nghiệp, dịch vụ. Tỉnh Hòa Bình bổ sung thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, thủy điện lớn, du lịch sinh thái và nông nghiệp chất lượng cao. Sự kết hợp này mở ra các cơ hội chiến lược, như phát triển công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao, tạo chuỗi du lịch đa dạng (tâm linh, lịch sử, nghỉ dưỡng, sinh thái), xây dựng nền tảng năng lượng vững chắc, thu hút công nghiệp và phát triển năng lượng tái tạo, cùng với phát triển nông nghiệp công nghệ cao và logistics nhờ vị trí cửa ngõ Tây Bắc và hạ tầng giao thông. Bối cảnh chính sách quốc gia (cam kết Net Zero 2050, Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia 2021 - 2030)(3) và quốc tế (xu hướng ESG, phát triển bền vững, dòng vốn FDI xanh) tạo điều kiện thuận lợi và nguồn tài trợ ưu đãi. Sự phát triển công nghệ (IoT, AI trong nông nghiệp, chi phí năng lượng tái tạo giảm) cũng giúp tỉnh Phú Thọ ứng dụng công nghệ tiên tiến với chi phí hợp lý.
Về thách thức và cách khắc phục
Bên cạnh cơ hội thì tỉnh Phú Thọ đang đối mặt với không ít thách thức. Mức GRDP bình quân đầu người còn thấp, phản ánh năng suất và chất lượng tăng trưởng hạn chế. Sự chênh lệch phát triển lớn giữa ba vùng (Vĩnh Phúc công nghiệp mạnh, Phú Thọ dịch vụ/sản xuất, Hòa Bình nông lâm nghiệp) đặt ra thách thức lớn trong quản lý và điều phối đồng bộ. Hạ tầng môi trường còn nhiều hạn chế, như thiếu nhà máy xử lý nước thải tập trung, ô nhiễm từ KCN cũ (Nam Việt Trì, Supe phốt phát Lâm Thao và làng nghề truyền thống) cùng với chất thải nông nghiệp chưa được xử lý triệt để. Hệ thống quan trắc môi trường chưa đồng bộ và thiếu trang thiết bị hiện đại.
Về thích ứng với biến đổi khí hậu, tỉnh Phú Thọ chịu tác động của thời tiết cực đoan, như lũ quét, sạt lở, ngập úng và nắng nóng. Tỉnh cần rà soát bản đồ rủi ro thiên tai, đầu tư công trình phòng, chống thiên tai (củng cố đê điều, kè chống sạt lở), khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm. Đối với đô thị, cần thúc đẩy giải pháp thoát nước thích ứng (nâng cấp cống, xây hồ điều hòa) và tích hợp kịch bản mực nước dâng vào quy hoạch. Ngoài ra, cần chú trọng bảo hiểm rủi ro thiên tai và tăng cường năng lực y tế cộng đồng ứng phó dịch bệnh.
Về mặt thể chế, hiện tại chưa có chính sách tổng thể và cơ chế phối hợp hiệu quả cho toàn tỉnh sau sáp nhập, năng lực quản lý liên vùng còn hạn chế, chưa có hệ thống báo cáo, đo lường và xác minh (MRV) phát thải các-bon cụ thể.
Để đạt mục tiêu Net Zero 2050, tỉnh Phú Thọ cần thực hiện: Về phát thải carbon, tỉnh chưa có dữ liệu cụ thể về lượng khí nhà kính, đòi hỏi khẩn cấp xây dựng hệ thống kiểm kê toàn diện và lộ trình giảm phát thải cụ thể cho từng ngành, địa phương. Trong lĩnh vực năng lượng, tỉnh Phú Thọ phụ thuộc nhiều vào điện lưới quốc gia với tỷ trọng điện than cao, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 47% năng lượng sơ cấp từ nguồn tái tạo. Tỉnh cần đầu tư mạnh vào điện mặt trời áp mái, điện sinh khối và nghiên cứu điện gió nổi. Về nông nghiệp xanh, dù 80% rác thải nông thôn đã được thu gom, nhưng mục tiêu 2030 đòi hỏi 80% sản phẩm nông nghiệp chủ lực có truy xuất nguồn gốc và đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học. Điều này đòi hỏi tỉnh phải đầu tư vào chuyển đổi số, đào tạo nông dân về sản xuất hữu cơ và hệ thống chứng nhận chất lượng. Khoảng cách về năng lực thể chế cũng rất lớn, khi tỉnh chưa có Ban Chỉ đạo chuyển đổi xanh, quỹ phát triển xanh chuyên biệt hay khung pháp lý địa phương về phát triển bền vững. Cần thiết lập các cơ chế, thể chế mạnh mẽ, huy động nguồn lực tài chính lớn (ít nhất 10.000 tỷ đồng giai đoạn 2025 - 2030) và xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực. Việc khắc phục những khoảng cách này đòi hỏi sự thay đổi tư duy phát triển sang mô hình bền vững tích hợp.
Chuyển đổi xanh mang lại cơ hội phát triển kinh tế mới cho tỉnh Phú Thọ. Tỉnh nên ưu tiên thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, ít phát thải và nâng cấp các KCN hiện hữu theo hướng sinh thái để tăng lợi thế cạnh tranh và thu hút FDI chất lượng cao. Tỉnh Phú Thọ cũng có tiềm năng phát triển dịch vụ và du lịch xanh, xây dựng sản phẩm du lịch bền vững, thân thiện môi trường từ các di sản văn hóa (Đền Hùng) và điểm du lịch sinh thái (Vườn quốc gia Xuân Sơn, hồ Thủy điện Hòa Bình, suối khoáng Thanh Thủy). Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi mô hình kinh doanh xanh, tập huấn về tiêu chuẩn sản phẩm xanh và cấp nhãn sinh thái cho sản phẩm truyền thống là cần thiết. Chuyển đổi xanh phải gắn liền với phát triển bao trùm, bảo đảm người lao động và cộng đồng hưởng lợi. Tỉnh nên có chương trình đào tạo nghề xanh, hỗ trợ sinh kế bền vững cho nông dân (trồng rừng, nuôi trồng hữu cơ), khuyến khích các mô hình hợp tác xã nông nghiệp xanh, du lịch cộng đồng. Ngoài ra, việc thiết lập Quỹ phát triển xanh để tài trợ sáng kiến khởi nghiệp xanh và dự án giảm phát thải quy mô nhỏ tại cộng đồng cũng nên được tính đến. Với cách tiếp cận đồng bộ này, chuyển đổi xanh sẽ là động lực giúp tỉnh Phú Thọ phát triển thịnh vượng và bảo vệ môi trường.
Định hướng chiến lược và khung chính sách thúc đẩy chuyển đổi xanh bền vững cho tỉnh Phú Thọ
Tỉnh Phú Thọ có thể lựa chọn ba kịch bản phát triển để đạt mục tiêu Net Zero 2050 gồm kịch bản phát triển thông thường, kịch bản chuyển đổi xanh từng bước và kịch bản chuyển đổi xanh nhanh. Kịch bản thông thường ưu tiên tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nhưng có nguy cơ gia tăng ô nhiễm môi trường và không đạt được cam kết Net Zero. Kịch bản chuyển đổi xanh từng bước cho phép doanh nghiệp và người dân thích ứng, giảm thiểu sốc kinh tế, nhưng có thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư xanh. Kịch bản chuyển đổi xanh nhanh đòi hỏi đầu tư lớn vào công nghệ xanh để trở thành tỉnh các-bon trung tính vào năm 2040, sớm hơn 10 năm so với cam kết quốc gia, mang lại lợi thế cạnh tranh bền vững trong dài hạn.
Chiến lược phát triển bền vững của tỉnh Phú Thọ được xây dựng trên bốn trụ cột cốt lõi. Thứ nhất, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ thâm dụng sang tối ưu hóa, thông qua giảm cường độ phát thải các-bon và ứng dụng công nghệ. Thứ hai, thích ứng chủ động và linh hoạt với biến đổi khí hậu bằng cách phát triển hệ thống cảnh báo sớm và cơ sở hạ tầng chống chịu thiên tai. Thứ ba, bảo tồn và phát huy tài sản sinh thái như rừng và tài nguyên nước để phát triển du lịch sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái. Thứ tư, xây dựng nền kinh tế tuần hoàn tích hợp, biến chất thải thành tài nguyên để giải quyết vấn đề ô nhiễm và tạo chuỗi giá trị mới.
Tỉnh cũng hướng tới mô hình phát triển liên vùng tích hợp. Mô hình đô thị đa cực xanh sẽ được triển khai với Việt Trì là “Đô thị thông minh điều phối”, Vĩnh Yên là “Đô thị công nghiệp sinh thái” và Hòa Bình là “Đô thị du lịch - năng lượng xanh”. Hệ thống kết nối xanh và Hội đồng chiến lược phát triển bền vững cấp tỉnh sẽ được thiết lập để bảo đảm chuyển đổi xanh hiệu quả.
Về khung chính sách
Về khung chính sách để hiện thực hóa chiến lược chuyển đổi xanh, tỉnh Phú Thọ cần xây dựng một khung chính sách đồng bộ, dựa trên nguyên lý “người gây ô nhiễm phải trả”, “người bảo vệ môi trường được hưởng lợi”, kết hợp với “công bằng chuyển đổi” để bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Chính sách được thiết kế theo nguyên lý “tích hợp đa chiều”, kết hợp hài hòa các công cụ thể chế, tài chính, công nghệ và xã hội.
Khung chính sách này bao gồm bốn trụ cột chính:
+ Thể chế: Kiến tạo hệ thống quản trị xanh với việc thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi xanh cấp tỉnh do Bí thư Tỉnh ủy làm trưởng ban, và xây dựng nghị quyết về Phát triển bền vững cấp tỉnh làm khung pháp lý địa phương, quy định tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt và cơ chế đột phá như thuế các-bon địa phương, cơ chế thanh toán dịch vụ môi trường mở rộng.
+ Tài chính: Tạo động lực kinh tế xanh mạnh mẽ bằng cách thành lập quỹ phát triển xanh tỉnh Phú Thọ với nguồn vốn lớn (ban đầu 1.000 tỷ đồng), áp dụng cơ chế thuế các-bon tiên phong cấp địa phương (tăng dần từ 200.000 đồng/tấn CO₂), triển khai hệ thống tín dụng xanh cách mạng (lãi suất 0% cho dự án NetZero), phát hành trái phiếu xanh địa phương (mục tiêu 5.000 tỷ đồng) và mở rộng cơ chế chia sẻ lợi ích từ tài sản sinh thái.
+ Công nghệ: Khơi dậy đổi mới sáng tạo xanh thông qua chương trình nông nghiệp thông minh (ứng dụng internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhận tạo (AI), công nghệ chuỗi khối (blockchain)), thành lập trung tâm đổi mới sáng tạo xanh tại Việt Trì, phát triển mạng lưới IoT nông nghiệp toàn tỉnh và xây dựng hệ thống năng lượng thông minh tích hợp (kết nối năng lượng tái tạo và blockchain).
+ Xã hội: Bảo đảm chuyển đổi công bằng và bao trùm bằng chương trình đào tạo kỹ năng xanh toàn dân (đào tạo 100.000 lao động), chính sách hỗ trợ chuyển đổi sinh kế công bằng, hệ thống giáo dục môi trường tích hợp từ tiểu học đến trung học phổ thông, và chương trình cộng đồng xanh tự quản, trao quyền cho cộng đồng địa phương quản lý tài nguyên và môi trường.
Đề xuất các mục tiêu, tầm nhìn và giải pháp cụ thể cho tỉnh Phú Thọ
Mục tiêu tổng quát: Để đạt được mục tiêu Net Zero, tỉnh Phú Thọ cần đề ra các giải pháp chuyển đổi xanh và chuyển đổi số cho nông nghiệp sinh thái, bền vững, giảm phát thải đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050. Mục tiêu tổng quát là xây dựng nền nông nghiệp sinh thái thông minh, phát thải thấp, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ tài nguyên. Đồng thời, hình thành các chuỗi giá trị nông sản bền vững, có khả năng truy xuất nguồn gốc, minh bạch và đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhằm nâng cao thu nhập và đời sống nông dân, phát triển nông thôn mới văn minh, sinh thái, thông minh.
Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2030, 80% sản phẩm nông nghiệp chủ lực có truy xuất nguồn gốc và đạt các tiêu chuẩn an toàn sinh học hoặc phát thải thấp; 100% hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng chuyển đổi xanh trong ít nhất một công đoạn; phát triển ít nhất 3 vùng sinh thái nông nghiệp thông minh - phát thải thấp ở mỗi tỉnh cũ; và ít nhất 30% diện tích đất nông nghiệp sử dụng công nghệ số - IoT - cảm biến môi trường để theo dõi và điều khiển sản xuất.
Tầm nhìn đến năm 2050: Tỉnh Phú Thọ trở thành trung tâm hàng đầu về nông nghiệp sinh thái - thông minh - phát thải thấp của vùng trung du miền núi phía Bắc, dẫn đầu trong ứng dụng công nghệ số, AI, IoT vào chuỗi giá trị nông sản và là hình mẫu về sản xuất xanh - tiêu dùng xanh - kinh tế tuần hoàn - thích ứng biến đổi khí hậu.
Các phương hướng phát triển, bao gồm cấu trúc lại ngành nông nghiệp theo hướng xanh - bền vững - thông minh, ưu tiên phát triển các ngành hàng chủ lực, gắn nông nghiệp với du lịch sinh thái - văn hóa - cộng đồng, và thực hiện quy hoạch không gian sản xuất - bảo tồn - sinh thái - đô thị thông minh.
Các giải pháp trọng tâm tập trung vào bốn nhóm:
Thứ nhất, chuyển đổi xanh. Khuyến khích nông nghiệp hữu cơ, canh tác tuần hoàn, nông nghiệp tái sinh; hỗ trợ nông dân tiếp cận tín dụng xanh, công nghệ sạch; áp dụng các chỉ số đo lường phát thải carbon; và phục hồi, bảo vệ rừng đầu nguồn, hành lang đa dạng sinh học.
Thứ hai, chuyển đổi số. Phát triển hạ tầng số nông thôn; ứng dụng AI, big đata, blockchain trong truy xuất nguồn gốc, cảnh báo thời tiết, sâu bệnh, quản lý chất lượng sản phẩm; xây dựng nền tảng số quản trị vùng nguyên liệu - hợp tác xã - chuỗi giá trị - tiêu thụ; và đào tạo kỹ năng số cho nông dân, cán bộ hợp tác xã.
Thứ ba, hoàn thiện thể chế, chính sách. Xây dựng và thực thi Chiến lược nông nghiệp xanh, chuyển đổi số cấp tỉnh liên vùng; hình thành Hội đồng chuyển đổi xanh - số trong nông nghiệp cấp tỉnh; ban hành chính sách ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp công nghệ, nông nghiệp tuần hoàn; và tích hợp các chương trình OCOP, nông thôn mới, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo tồn văn hóa dân tộc trong chính sách phát triển vùng.
Thứ tư, hợp tác - khoa học - thị trường. Hợp tác với các viện, trường, doanh nghiệp công nghệ - logistics - thương mại điện tử; liên kết 3 tỉnh cũ trong vùng sáp nhập để tạo quy mô vùng nguyên liệu lớn, đồng bộ tiêu chuẩn và logistics; và tham gia mạng lưới nông nghiệp xanh ASEAN, FAO, COP để cập nhật tri thức, xu hướng quốc tế./.
----------------------------
* Vũ Thị Tâm, Mai Quang Vinh, Ngô Thị Minh Hương - Học viện Chính sách và Phát triển, Liên hiệp Hợp tác xã kinh tế số Việt Nam, Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI)
1. Xem: Như Thảo, Tổng Bí thư Tô Lâm: Hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình là bước ngoặt chiến lược, Cổng thông tin điện tử Văn phòng Quốc hội, ngày 10-6-2025, https://quochoi.vn/vanphongquochoi/cocautochuc/Pages/trang-chu.aspx/?ItemID=94499
2. Xem: Kết quả dự án triển khai Khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam - Tổ chức UNIDO và Bộ Kế hoạch & Đầu tư, ngày 29/2/2024, https://downloads.unido.org/ot/36/64/36647229/EvalRep_170222_GLO_TE-2023.pdf
3. Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, ban hành theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg, ngày 01-10-2021, của Thủ tướng Chính phủ
Xây dựng nền tảng chuyển đổi số, góp phần phát triển “kinh tế bạc” ở nước ta trong bối cảnh mới  (25/06/2026)
Chuyển đổi số trong xuất bản sách khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và định hướng triển khai theo tinh thần Chỉ thị số 04-CT/TW  (22/06/2026)
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- Xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại, tạo động lực tăng trưởng vùng trong bối cảnh mới
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống trong phát triển nhân cách quân nhân -
Kinh tế
Công nghiệp hóa bền vững để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam