Xây dựng nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ
TCCSĐT - Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Năm 1943, đang trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh để giành chính quyền, Đảng ta đã ra Đề cương Văn hóa Việt Nam, như một tuyên ngôn đầu tiên của Đảng về văn hóa.
Hơn nửa thế kỷ sau, trước yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đòi hỏi Đảng ta phải tăng cường và nâng tầm lãnh đạo trên lĩnh vực văn hóa; nhận thức về vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, xây dựng xã hội mới, ngày 16-7-1998, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ra đời.
Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự kế thừa và phát triển đường lối, quan điểm của Đảng ta về văn hóa trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đây là Nghị quyết hết sức sâu sắc, thể hiện tầm nhìn sâu, rộng, chứa đựng các giá trị tư tưởng, nhân văn và khoa học, hợp lòng dân và sớm đi vào cuộc sống. Sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực.
Nhận thức về văn hóa của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp và nhân dân được nâng cao. Vai trò của văn hóa ngày càng thể hiện rõ, có tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội và xây dựng con người Việt Nam. Văn hóa được quan tâm, chăm lo hơn cả về chủ trương, chính sách, nguồn lực và ngày càng có sự gắn kết với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở.
Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được kế thừa và phát triển; nhiều chuẩn mực đạo đức mới đã hình thành, từng bước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; toàn xã hội quan tâm hơn đến sự nghiệp văn hóa; đội ngũ những người sáng tác phát triển cả về số lượng và chất lượng, sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng; xuất hiện nhiều tác phẩm, công trình có giá trị phản ánh lịch sử dân tộc, đặc biệt là hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách được bổ sung, tạo hành lang pháp lý thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa; quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng; tư duy lý luận về văn hóa có bước phát triển; sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ được quan tâm, có sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng; công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng, có bước phát triển mạnh mẽ, không ngừng hiện đại hóa, rút ngắn khoảng cách so với thế giới.
Môi trường văn hóa được cải thiện với một số mặt tiến bộ; nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực, nhất là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… được phát huy; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của nhân dân được bảo vệ và bảo đảm trên thực tế; nội lực tinh thần được tăng cường, năng lực, phẩm chất, giá trị mới của con người Việt Nam được hình thành và phát triển.
Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng mở rộng, khai thác tốt hơn các nguồn lực để phát triển văn hóa; các thiết chế văn hóa được xây dựng từ nhiều nguồn vốn khác nhau, đa dạng về sở hữu, góp phần nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân; nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được thế giới tôn vinh; nhiều phong tục, tập quán văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của cộng đồng các dân tộc, xúc tiến quảng bá du lịch, góp phần giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Nền văn hóa từng bước thích ứng dần với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật được quan tâm và có nhiều khởi sắc; đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến trong xây dựng và phát triển văn hóa.
Những kết quả đạt được nêu trên là rất quan trọng, phản ánh sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về văn hóa. Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế, yếu kém, bất cập. Kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, điều kiện, chưa đáp ứng yêu cầu và chưa vững chắc; chưa có sự gắn bó chặt chẽ giữa văn hóa với kinh tế, chính trị và chưa thực sự tác động có hiệu quả đối với việc xây dựng con người. Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân chưa nghiêm; tình trạng suy thoái về đạo đức xã hội có chiều hướng lan rộng; sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, cùng với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí của một số cán bộ có chức, có quyền đã gây tổn hại đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đời sống văn hóa nhiều nơi còn nghèo nàn, chậm được cải thiện; khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái thuần phong mỹ tục, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội, tội phạm… có chiều hướng gia tăng. Còn ít những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; hoạt động lý luận, phê bình văn hóa, văn nghệ chưa theo kịp thực tiễn sáng tác; việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, còn có sai phạm, gây bức xúc dư luận; có nguy cơ biến mất một số loại hình văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa thực sự là quốc sách hàng đầu, còn nhiều yếu kém, tụt hậu, chưa trở thành động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế - xã hội, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện con người Việt Nam. Năng lực dự báo, định hướng chiến lược còn nhiều hạn chế, lúng túng, chạy theo sự vụ. Hệ thống thông tin đại chúng tuy phát triển về số lượng nhưng thiếu quy hoạch một cách khoa học, gây lãng phí nguồn lực; một số cơ quan báo chí xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu tầm thường.
Công tác quản lý văn hóa ở các cấp thiếu tính chuyên nghiệp, chưa theo kịp thực tiễn phát triển; xử lý chậm và thiếu kiên quyết trước những sai phạm trong hoạt động văn hóa; còn lúng túng trong quản lý, ngăn chặn thông tin, sản phẩm độc hại xâm nhập vào nội bộ. Việc đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng, còn bình quân, dàn trải và gián đoạn; chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới nảy sinh về văn hóa, như công nghiệp văn hóa, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn hóa mạng, văn hóa cho giới trẻ… để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chậm xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp. Hoạt động hợp tác, giao lưu văn hóa với nước ngoài còn hạn chế cả chiều rộng lẫn chiều sâu, thiếu tính chuyên nghiệp và chưa được đầu tư thỏa đáng; tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa bên ngoài, tác động tiêu cực đến văn hóa trong nước.
Đảng ta xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của đất nước. Xây dựng và phát triển văn hóa luôn có mối liên quan mật thiết với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Vấn đề cốt lõi của văn hóa mà Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII chỉ ra là tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa. Nhận thức sâu sắc và thực hiện được những giá trị cao cả đó là những vấn đề hết sức quan trọng, trong thời gian tới cần tập trung lưu ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, phấn đấu để đạt được những tiến bộ mới, rõ nét trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất mà đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ. Văn hóa là lĩnh vực rộng lớn, phong phú và phức tạp, do vậy, phải giữ vững định hướng tư tưởng chính trị; thường xuyên đánh giá, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, đổi mới tư duy, khắc phục tình trạng vừa buông lỏng, hữu khuynh, vừa can thiệp thô bạo, mất dân chủ, chạy theo sức ép của kinh tế mà không quan tâm đúng mức đến các giá trị văn hóa. Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước trong quá trình đổi mới. Khẩn trương và quyết liệt ngăn chặn tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực văn hóa; xây dựng văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý trong hệ thống chính trị. Xây dựng môi trường văn hóa, kết hợp giữa “xây” và “chống” một cách hiệu quả. Gắn nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14-5-2011, của Bộ Chính trị, về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Nêu cao vai trò gương mẫu, tiên phong của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp và vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống và trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển văn hóa. Khắc phục tình trạng hành chính - quan liêu, tham nhũng trong các tổ chức văn hóa.
Thứ ba, xây dựng và phát triển văn hóa là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò quản lý nhà nước cần được đề cao. Đẩy nhanh việc thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa, xử lý hài hòa mối quan hệ phát triển kinh tế, xây dựng Đảng với phát triển văn hóa. Xây dựng chính sách xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của người dân. Có chế tài đủ mạnh, ngăn ngừa, răn đe và xử lý những vi phạm trong hoạt động văn hóa ảnh hưởng đến việc xây dựng con người và sự phát triển của đất nước. Triển khai các biện pháp đồng bộ, chủ động đấu tranh phòng, chống sản phẩm độc hại, chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến” trên lĩnh vực văn hóa. Quản lý tốt việc sử dụng dịch vụ in-tơ-nét và thông tin điện tử trên in-tơ-nét. Ngăn chặn có hiệu quả một bộ phận báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ hoạt động sai tôn chỉ, mục đích, thông tin, sản phẩm lệch lạc, độc hại. Tích cực, chủ động đấu tranh với những biểu hiện lai căng, phản văn hóa, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và tính thống nhất mà đa dạng của văn hóa Việt Nam. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức, đoàn thể và công dân, nhất là giới trí thức, văn nghệ sĩ đối với chính quyền các cấp trong việc tổ chức và quản lý hoạt động văn hóa.
Thứ tư, hướng các hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực và quan hệ con người. Gắn xây dựng đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền công dân. Xây dựng các giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đưa giáo dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào mọi hoạt động giáo dục của xã hội. Đề cao trách nhiệm của cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội. Đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái lạc hậu và bảo vệ, khuyến khích, nhân rộng cái đúng, cái tốt, cái đẹp; bảo vệ các giá trị nhân văn trong đời sống xã hội; chống các quan điểm sai trái ảnh hưởng xấu đến việc phát triển văn hóa và ổn định xã hội.
Thứ năm, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy các giá trị truyền thống, đạo lý của dân tộc. Thực hiện Chiến lược quốc gia về gia đình Việt Nam. Xây dựng mỗi trường học là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, trường học, cơ quan, đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh; thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở; phát huy tính tích cực của cá nhân, cộng đồng, xã hội trong sinh hoạt văn hóa. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng nếp sống văn minh, việc cưới, việc tang, lễ hội. Nâng cao chất lượng các phong trào văn hóa; tiếp tục đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả. Chăm lo xây dựng văn hóa chính trị và văn hóa kinh tế. Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện cho sự tìm tòi sáng tạo của văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; tạo cơ chế huy động các nguồn lực cho việc tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích. Phát triển công nghiệp văn hóa và hệ thống thông tin đại chúng đáp ứng yêu cầu xây dựng con người, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Tập trung phát triển một số lĩnh vực nghệ thuật trọng yếu của quốc gia. Xây dựng, bổ sung chính sách văn hóa đối với tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy các nhân tố tích cực trong đạo đức, giá trị văn hóa tôn giáo; khuyến khích các hoạt động tôn giáo nhân văn, tiến bộ, “tốt đời, đẹp đạo”; ngăn chặn hiện tượng mê tín dị đoan. Chủ động giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa; tiếp thu tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm tổ chức, quản lý văn hóa của các nước trên thế giới.
Thứ sáu, xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa. Việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ văn hóa phải được thực hiện đồng bộ, mang tính chiến lược lâu dài. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực cho quản lý và hoạt động văn hóa theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế. Xây dựng và thực hiện chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ và tôn vinh tài năng văn hóa. Coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành để không bị hụt hẫng khi chuyển giao thế hệ. Đào tạo đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, phường, thôn, bản, nâng hiểu biết, kỹ năng và có biện pháp hiệu quả giữ gìn di sản văn hóa. Xây dựng đội ngũ trí thức trong các dân tộc thiểu số, có chính sách ưu đãi để họ trở về công tác tại địa phương; phát hiện, bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, quảng bá, sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số./.
Chủ tịch Quốc hội chúc Tết cán bộ, công chức Văn phòng  (28/01/2014)
Siết chặt quản lý kinh doanh và môi trường ở lễ hội Chùa Hương  (28/01/2014)
Chủ tịch nước đến thăm, chúc Tết Bộ đội phòng không  (28/01/2014)
Hà Nội: Chủ động giảm ùn ứ tại các nút giao thông  (28/01/2014)
Văn phòng trung ương Đảng nâng chất lượng tham mưu  (28/01/2014)
Mang mùa Xuân đến các chiến sỹ radar vùng 4 Hải quân  (27/01/2014)
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức ở nước ta hiện nay
- Danh sách các tác phẩm đoạt Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng - Giải Búa liềm vàng lần thứ X
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm