Hướng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đến giảm nghèo bền vững
TCCS - Nước ta được thế giới công nhận thoát nghèo, với mức thu nhập GDP đầu người trên 1.000 USD/năm. Song sự phân hóa giàu – nghèo giữa các vùng – miền vẫn còn chênh lệch lớn. Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng sâu, vùng xa còn cao. Để rút ngắn khoảng chênh lệch này, đòi hỏi cần có những chính sách phát triển tổng thể của Nhà nước phù hợp tập quán địa phương và bản thân người dân.
Tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam thấp? Và, vì sao xóa nghèo chưa vững chắc?
Năm 2010 là năm cuối của nhiệm kỳ 5 năm và cũng là năm kết thúc các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010, trong đó có nhiều chương trình mục tiêu quốc gia trực tiếp hoặc tác động gián tiếp đến mục tiêu giảm nghèo. Bên cạnh nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt và vượt kế hoạch đề ra, Báo cáo Tình hình kinh tế, xã hội và Nhiệm vụ năm 2011 của Chính phủ tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XII chỉ rõ: "Còn một số chỉ tiêu môi trường chưa đạt", trên lĩnh vực xã hội "kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo và tái nghèo còn cao...". Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân như: giá thuốc tân dược, sữa; vệ sinh an toàn thực phẩm; thiên tai lũ lụt; ô nhiễm môi trường; tình trạng thiếu điện và nước cho sinh hoạt, sản xuất; nạn bạo lực gia đình, học đường... vẫn là những lo lắng, bức xúc trong xã hội. Khoảng cách thu nhập và mức sống giữa các nhóm dân cư, vùng miền, giữa nông thôn và thành thị ngày càng chênh lệch. Cuộc sống của một bộ phận nhân dân, nhất là nông dân ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, dân tộc thiểu số chưa được cải thiện đáng kể.
Đánh giá về tỷ lệ đói nghèo ở nước ta nhận thấy hộ nghèo, cận nghèo chủ yếu nằm ở khu vực nông thôn (chiếm 90% số hộ nghèo của cả nước, trong đó miền núi, vùng dân tộc thiểu số có trên 50% tổng số hộ nghèo). ở một số vùng tỷ lệ hộ nghèo cao như: Tây Bắc là 32,36%, Đông Bắc là 23,44%, Tây Nguyên là 21,34% và đồng bằng sông Cửu Long là 12,58%. Cả nước còn 62 huyện nghèo (chủ yếu là các huyện miền núi) có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%(1)
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác xóa đói, giảm nghèo. Cùng với các chương trình đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo với 9 hợp phần được triển khai, có sự lồng ghép với Chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn, Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm... làm cho công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đạt được những thành tựu đáng khích lệ.
Gần hai thập niên qua, Việt Nam được coi là "Điểm sáng" về công tác xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, năm 1993 có 58,1% số hộ nghèo, năm 2002 còn khoảng 28,4%, năm 2008 theo chuẩn mới tỷ lệ hộ nghèo của cả nước là 14,5% và đến năm 2010 tỷ lệ chỉ còn 9,5%(2) Song, tỷ lệ trên vẫn còn cao và chưa vững chắc, nhất là ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng thường xuyên bị thiên tai, lũ lụt, mất mùa. Qua thực tiễn ở tỉnh Đăk Nông, một địa phương miền núi có trên 30% đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo còn rất cao so với cả nước, chiếm 13,28%, trong đó, hộ nghèo người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ là 35%.
Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nước ta dù đã “thoát khỏi quốc gia nghèo” nhưng vẫn còn nhiều khó khăn và thực sự nan giải. Nguyên nhân do cơ chế, chính sách xóa đói giảm nghèo thiếu đồng bộ; tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập; tính chủ động, tự lực vươn lên thoát nghèo của người dân chưa được phát huy; tư tưởng bao cấp, thụ động, ỷ lại vẫn còn khá phổ biến. Ngoài ra, các điều kiện để giảm nghèo như đất đai, vốn, sức lao động, trình độ tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật còn thấp. Điều đáng nói, sản xuất nông nghiệp - nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, năng suất thấp, chất lượng kém, chưa tạo được thị trường để trao đổi hàng hóa, kích thích sản xuất. Tập quán và thói quen tiêu dùng thiếu tính toán, "làm đồng nào, xào đồng ấy" vẫn phổ biến trong cộng đồng người dân tộc thiểu số.
Để giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số bền vững
Giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngoài việc tiến hành bằng những giải pháp căn cơ, phù hợp với tập quán, trình độ sản xuất và điều kiện kinh tế - xã hội của từng dân tộc, vùng, miền... còn đòi hỏi sự đồng thuận từ hai phía. Người nghèo phải có ý thức tự lực vươn lên muốn thoát nghèo và nỗ lực thoát nghèo, chính quyền cần hướng dẫn tổ chức lại sản xuất cho đồng bào một cách kiên trì, thiết thực và cụ thể :
Một là, khẩn trương giải quyết đủ đất sản xuất cho đồng bào. Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng hàng đầu đối với người nông dân, không có hay không đủ đất sản xuất thì sớm muộn họ rơi vào nghèo đói.
Đối với những người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đất đai, rừng núi là không gian sinh tồn, vốn đã gắn bó máu thịt với buôn làng, với cuộc sống của họ. Những tác động của các chính sách kinh tế - xã hội, áp lực gia tăng dân số cơ học đều đi liền với nhu cầu về đất đai, trong khi tình hình đất đai, rừng núi ở Tây Nguyên luôn có sự biến động rất lớn, Cho đến nay, sau khi thực hiện Chương trình 132, 134 giải quyết đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên, vẫn còn khoảng 11.000 hộ thiếu đất sản xuất. Do đó, giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên là nhiệm vụ tập trung hàng đầu của chính quyền các cấp. Những tranh chấp đất đai đã xẩy ra ở quy mô, mức độ khác nhau tại các tỉnh Tây Nguyên thời gian qua, đòi hỏi cần phải giải quyết ngay để giải tỏa áp lực mâu thuẫn giữa người dân bản địa với các nhóm dân cư khác. Chính quyền các cấp cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa yêu cầu phát triển, mở rộng diện tích trồng cao-su, cà-phê và các loại cây công nghiệp khác, giữa yêu cầu phát triển các dự án thủy điện, thủy lợi, giao thông, khu công nghiệp, đô thị... với việc quy hoạch bảo đảm đủ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Rà soát tình hình quản lý, sử dụng đất đai, rừng của các tổ chức, cá nhân được nhà nước giao và cho thuê để điều chỉnh thu hồi lại số đất sử dụng không hiệu quả, hoặc sử dụng sai mục đích, thậm chí bao chiếm quá nhiều đất, để tạo quỹ đất phục vụ cho nhu cầu đất đai hiện tại, cũng như tương lai của cộng đồng dân tộc thiểu số.
Đặc biệt, cần đẩy nhanh tiến độ giao đất, rừng cho cộng đồng buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực tế hiện nay cho thấy quỹ đất canh tác nông nghiệp ở nhiều tỉnh Tây Nguyên đã cạn kiệt. Đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên vốn có nhiều kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng (nhiều mô hình giao rừng cho cộng đồng quản lý ở xã Đăk Rtih thuộc huyện Tuy Đức, buôn Pi Nao thuộc huyện Đăr Lấp... đã chứng minh rất hiệu quả). Giao đất, rừng cho cộng đồng buôn làng với cơ chế hưởng lợi hợp lý, thỏa đáng sẽ là giải pháp hữu hiệu để giảm áp lực về đất sản xuất cho đồng bào, từng bước xã hội hóa nghề rừng, ngăn chặn hiệu quả tình trạng phá rừng hiện nay, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, hóa giải những mâu thuẫn đã và đang phát sinh từ quá trình quản lý đất đai, rừng núi ở Tây Nguyên.
Hai là, xây dựng chính sách chuyên sâu nhằm tổ chức lại sản xuất cho các buôn làng vùng dân tộc thiểu số. Nhìn lại các Chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã khó khăn.... đều thấy rõ sự thiếu tập trung, nguồn lực ít nhưng phân tán trong nhiều chương trình và nhiều đầu mối quản lý. Vì vậy, cần rút ra những bài học kinh nghiệm về cách xây dựng, tổ chức, triển khai các Chương trình mục tiêu tiêu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010, để đề xuất chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 cho sát hợp.
Cần có chính sách thiết thực, đồng bộ cho việc tổ chức lại sản xuất, bằng những cơ chế đặc thù, để hộ sản xuất là đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận với nguồn vốn vay tín dụng phát triển sản xuất ở mức cao nhất. Tạo cầu nối giữa người dân với thị trường nhằm từng bước đưa sản xuất nhỏ, manh mún của các hộ hòa nhập với thị trường hàng hóa nông sản. Hướng dẫn người dân chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật thông qua hướng dẫn của đội ngũ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm tại các buôn làng. Thiết lập mạng lưới cung tiêu để bảo đảm sản phẩm của đồng bào được bán ra thị trường đem lại thu nhập ổn định, tránh tình trạng tư thương ép giá, hoặc phải bán "lúa non" như hiện nay. Phát triển hệ thống dịch vụ tổ chức cung ứng vật tư nông nghiệp, mở rộng hệ thống đại lý vật tư nông nghiệp ở vùng sâu, vùng xa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế.
Ba là, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng việc làm phi nông nghiệp bằng cách phát triển các ngành nghề truyền thống gắn với khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số phục vụ cho hoạt động du lịch, dịch vụ như dệt thổ cẩm, hàng thủ công mỹ nghệ, chế tác các nhạc cụ... Chú trọng đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số, tạo điều kiện để họ tiếp cận nhiều hơn với thị trường lao động, cung ứng lao động cho các dự án đang triển khai trên quê hương mình.
Bốn là, phát huy vai trò của các đơn vị kinh tế quốc phòng, các doanh nghiệp để tạo việc làm, nâng cao dân trí, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh tổ chức liên kết kinh doanh trên cơ sở đất đai và lao động của đồng bào với vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm của các doanh nghiệp trên cơ sở hài hòa lợi ích nhằm thúc đẩy sản xuất ở các buôn làng. Đối với những công trình, dự án nhất thiết phải thu hồi đất của dân, nên thực hiện cổ phần hóa, chuyển giá trị đền bù đối với đất thành cổ phần để người dân có thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống lâu dài.
Năm là, tập trung giải quyết dứt điểm những vướng mắc trong các dự án, hậu các dự án di dân tái định cư liên quan trực tiếp đến cuộc sống của hàng ngàn lượt hộ đồng bào các dân tộc thiểu số. Chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích mà nhiều công trình, dự án thủy điện mang lại, nhưng cũng không thể xem thường những tác động tiêu cực của các dự án đến với người dân như chậm bố trí đất sản xuất, không hướng dẫn, đào tạo nghề, thiếu sinh kế ổn định đời sống lâu dài cho nhân dân.
(1) GS.TS. Phùng Hữu Phú (2009) Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng và Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan làm việc tại các tỉnh nhân đầu Xuân mới  (12/02/2011)
Tăng cường chia sẻ, hiểu biết giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào  (12/02/2011)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong xây dựng chính quyền số - Kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu và gợi mở cho Việt Nam
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm