Tiếp cận lý luận về quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
11:14, ngày 01-05-2026
TCCS - Bối cảnh chuyển đổi số đang cấu trúc lại sâu sắc đời sống kinh tế, chính trị và xã hội trên phạm vi toàn cầu, đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại cách thức quản trị phát triển xã hội trong điều kiện xã hội số. Nếu trước đây quản lý xã hội chủ yếu dựa trên thiết chế hành chính và công cụ điều tiết truyền thống thì ngày nay quá trình phát triển xã hội ngày càng được trung gian hóa bởi dữ liệu, thuật toán và nền tảng kết nối đa thực thể, đa lĩnh vực, không còn giới hạn ở nhóm dân cư hay lĩnh vực xã hội truyền thống, mà mở rộng sang cấu trúc số, cơ chế tương tác trên nền tảng, cũng như hệ sinh thái dữ liệu và thuật toán đang tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số không chỉ là sự ứng dụng công nghệ vào quản lý xã hội, mà là sự chuyển dịch về mô hình quản trị từ quản lý theo chiều dọc sang quản trị mạng lưới dựa trên dữ liệu, kết nối và hợp tác đa tác nhân.
Tổng Bí thư Tô Lâm trò chuyện với người dân khi đi tàu Metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên - tuyến được áp dụng hệ thống thu phí tự động hiện đại và số hoá nhiều công đoạn để mang lại tiện ích cho người dân
Chuyển đổi số trong bối cảnh hiện nay
Trong bối cảnh phát triển đương đại trên phạm vi toàn cầu, công nghệ số không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước, mà còn tạo ra biến đổi sâu sắc trong cách thức tổ chức và vận hành của đời sống xã hội. Các nền tảng số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ kết nối đang mở ra khả năng mới cho việc huy động nguồn lực, kết nối các thực thể xã hội và giải quyết vấn đề xã hội theo phương thức linh hoạt, minh bạch và hiệu quả hơn. Trong bối cảnh đó, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số ngày càng được quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản trị xã hội, hướng tới mục tiêu phát triển con người, phát triển xã hội.
Ở Việt Nam, chuyển đổi số được xác định là một trong những động lực quan trọng của phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, qua đó tạo nền tảng cho đổi mới trong quản trị quốc gia và quản trị phát triển xã hội. Trong lĩnh vực phát triển xã hội, việc ứng dụng công nghệ số, đẩy mạnh chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội không chỉ giúp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công, mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực phát triển, mà còn tạo điều kiện để tăng cường sự kết nối đa thực thể xã hội, như doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng, người dân... trong quá trình giải quyết vấn đề xã hội. Điều này cho thấy, quản trị phát triển xã hội trong thời đại số không còn là hoạt động quản lý mang tính hành chính đơn thuần, mà ngày càng trở thành một quá trình hợp tác đa thực thể, dựa trên sự kết nối và chia sẻ thông tin thông qua nền tảng số.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của nền tảng số cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được làm rõ. Trước hết, cần xác định bản chất của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, tức là làm rõ nó khác gì so với mô hình quản lý xã hội truyền thống và đặc điểm nào tạo nên tính đặc thù của nó trong bối cảnh xã hội số. Bên cạnh đó, cần nhận diện rõ thực thể tham gia quản trị, như Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng, cá nhân... trong môi trường số. Đồng thời, đối tượng của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cũng cần được xác định cụ thể.
Cùng với đó, sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị phát triển xã hội, từ mô hình quản lý theo chiều dọc, tập trung vào bộ máy hành chính, sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, kết nối mạng lưới và sự tham gia rộng rãi của các thực thể xã hội. Thay đổi này cũng đòi hỏi xác lập những nguyên tắc cơ bản của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số.
Bản chất của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số
Phát triển xã hội là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia. Từ tinh thần Tuyên bố Copenhagen về phát triển xã hội, đây là quá trình chuyển đổi có chủ đích, hướng tới các nhóm mục tiêu cơ bản, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Thứ nhất, là nâng cao sức khỏe, sự thịnh vượng và hạnh phúc của con người, song phải được thực hiện trong giới hạn tự nhiên của hành tinh. Thứ hai, là thúc đẩy giá trị công bằng, dân chủ và công lý trong đời sống xã hội. Thứ ba, là bảo đảm điều kiện thiết yếu cho một cuộc sống tốt, trong đó nhấn mạnh vai trò của giáo dục tốt, sức khỏe tốt, cũng như khả năng tiếp cận công bằng đối với nguồn lực, tài nguyên, hàng hóa và dịch vụ xã hội cơ bản(1).
Như vậy, phát triển xã hội không chỉ đơn thuần là sự cải thiện về mức sống vật chất, mà còn là quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống con người trong mối quan hệ hài hòa với giới hạn sinh thái của hành tinh. Việc đặt ba nhóm mục tiêu - nâng cao phúc lợi và hạnh phúc của con người, thúc đẩy giá trị công bằng, dân chủ và công lý và bảo đảm điều kiện thiết yếu cho một cuộc sống tốt - trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau đã phản ánh rõ tính đa chiều của phát triển xã hội. Cách tiếp cận này cũng nhấn mạnh vai trò của các chính sách và thiết chế xã hội trong việc tạo lập điều kiện bảo đảm cho mọi cá nhân có cơ hội tiếp cận với nguồn lực phát triển, qua đó hướng tới một xã hội bao trùm, công bằng và bền vững.
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của công nghệ hiện nay, một trong những yêu cầu quan trọng để đạt được các mục tiêu của phát triển xã hội là quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số. Xét một cách tổng thể, quản trị phát triển xã hội có thể được xem là quá trình hợp tác giữa chính phủ, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng, khu dân cư, cá nhân... để cùng tham gia điều chỉnh, quản lý xã hội trong bối cảnh xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp(2). Như vậy, quản trị phát triển xã hội không chỉ là vấn đề tổ chức hay kỹ thuật quản lý, mà là một quá trình đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển.
Về nền tảng số, nhiều nghiên cứu đi trước chỉ ra rằng nền tảng số không thể hiểu thuần túy như một công cụ công nghệ, mà cần được đặt trong mối quan hệ với cấu trúc kinh tế, xã hội và thể chế mà nó tham gia tổ chức và định hình. Trong cách tiếp cận ban đầu, nền tảng số chủ yếu được xem như một hạ tầng phần mềm có khả năng mở rộng, cung cấp chức năng cốt lõi và cho phép phát triển sản phẩm, công nghệ hoặc dịch vụ bổ trợ(3). Nhiều nghiên cứu tiếp theo mở rộng cách tiếp cận về nền tảng số theo hướng trung gian và đa hướng, nhấn mạnh vai trò của nền tảng trong việc kết nối nhiều nhóm tác nhân khác nhau và tạo ra giá trị thông qua việc giảm chi phí giao dịch, chi phí tìm kiếm và chi phí điều phối(4). Tuy nhiên, cùng với sự lan tỏa của nền tảng số vào các lĩnh vực, như dịch vụ công, an sinh xã hội, giáo dục, y tế và quản trị đô thị, ngày càng nhiều nghiên cứu cho rằng nền tảng số cần được tiếp cận như một thiết chế số mới(5). Thông qua dữ liệu và thuật toán, nền tảng số không chỉ kết nối các tác nhân, mà còn định hình cách thức tham gia, hợp tác, phân bổ nguồn lực và thực thi trách nhiệm giữa các thực thể liên quan. Do đó, nền tảng số có khả năng cấu trúc lại quan hệ xã hội, phân bổ lại quyền lực và ảnh hưởng đến giá trị công trong xã hội. Từ lập luận trên, chúng ta có thể đi đến quan niệm: Nền tảng số (digital platform) trong bối cảnh quản trị phát triển xã hội là một hạ tầng - môi trường số, được xây dựng trên cơ sở phần mềm, dữ liệu và thuật toán, có chức năng kết nối, điều phối và tổ chức tương tác đa phía giữa các thực thể tham gia quản trị, như Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng, khu dân cư, cá nhân...
Từ sự kết nối giữa phát triển xã hội, quản trị phát triển xã hội và nền tảng số được đề cập đến ở trên, có thể đi đến quan niệm về quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, như sau: Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số là quá trình hợp tác dựa trên nền tảng số giữa các thực thể, như Nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng, khu dân cư, cá nhân... để giải quyết vấn đề xã hội, hướng đến mục tiêu nâng cao sức khỏe, thịnh vượng, hạnh phúc của con người trong giới hạn của tự nhiên, trên cơ sở công bằng, dân chủ, công lý để mỗi cá nhân có giáo dục tốt, sức khỏe tốt và cơ hội tiếp cận tài nguyên, hàng hóa, dịch vụ bảo đảm cuộc sống tốt.
Cách tiếp cận này thể hiện khá rõ tinh thần tiếp cận liên ngành và hiện đại đối với quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số. Trước hết, cách tiếp cận này nhấn mạnh đúng tính chất đa thực thể của quản trị phát triển xã hội khi đặt Nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng, khu dân cư, cá nhân... trong quan hệ hợp tác, thay vì chỉ nhắc đến vai trò của Nhà nước. Đồng thời, việc nhấn mạnh nền tảng số như một môi trường và công cụ kết nối cho thấy sự phù hợp với xu hướng quản trị hiện nay, nơi công nghệ số giúp tăng cường khả năng phối hợp, minh bạch thông tin và mở rộng sự tham gia của xã hội vào quá trình giải quyết vấn đề xã hội. Bên cạnh đó, cách tiếp cận này cũng gắn quản trị phát triển xã hội với các mục tiêu của phát triển, như sức khỏe, thịnh vượng, hạnh phúc của con người, công bằng, dân chủ và công lý, đồng thời đặt các mục tiêu này trong giới hạn của tự nhiên, điều này phản ánh cách tiếp cận phát triển lấy con người làm trung tâm và chú ý tới tính bền vững sinh thái.
Thực thể, tác nhân tham gia quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số
Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, xét về thực thể và tác nhân tham gia, trước hết cần được đặt trong bối cảnh nền tảng số vừa là lõi kỹ thuật, vừa là cơ chế trung gian đa hướng kết nối nhiều nhóm người dùng, đồng thời là một không gian nơi các giá trị công và quan hệ quyền lực được tổ chức lại. Từ đó, thực thể và tác nhân tham gia quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số không thể chỉ gói trong Nhà nước, mà mở ra một mạng lưới đa tác nhân gắn với kiến trúc nền tảng và hệ sinh thái bổ trợ quanh nó.
Trước hết, Nhà nước vẫn là chủ thể trung tâm theo nghĩa “định hướng và bảo đảm giá trị công”, nhưng vai trò được thực thi theo hai lớp. Lớp thứ nhất là vai trò thể chế - xây dựng khung pháp lý, chuẩn mực về công bằng, dân chủ, công lý; bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền công dân; giảm thiểu rủi ro loại trừ số và bất bình đẳng tiếp cận dịch vụ xã hội. Lớp thứ hai là vai trò kiến tạo - điều phối hạ tầng số: tham gia thiết kế, đặt tiêu chuẩn dữ liệu/giao diện, giám sát vận hành nền tảng. Từ góc nhìn “xã hội nền tảng”, điều quan trọng là cần có khuôn khổ pháp lý và khung điều tiết để chính phủ xác định trách nhiệm của doanh nghiệp công nghệ đối với dịch vụ của họ. Vì thế, Nhà nước không chỉ “quản” hệ quả xã hội, mà còn phải “quản” chính cơ chế nền tảng và điều kiện hạ tầng tạo ra hệ quả ấy.
Thứ hai là chủ sở hữu/nhà vận hành nền tảng và doanh nghiệp công nghệ là tác nhân có quyền lực cấu trúc vì họ kiểm soát hạ tầng, dữ liệu và cơ chế lựa chọn/đề xuất, xếp hạng, điều khoản truy cập - tức “luật chơi” của tương tác xã hội. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nền tảng giúp giảm đáng kể chi phí giao dịch (phân phối, tìm kiếm, ký kết, giám sát...), qua đó trở thành mô hình tổ chức hấp dẫn cho nhiều lĩnh vực(6). Tuy nhiên, điều quan trọng là nền tảng cần được vận hành theo cách bảo đảm trách nhiệm giải trình, công bằng và dân chủ.
Thứ ba là tác nhân bổ trợ và nhà cung ứng dịch vụ, bao gồm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xã hội, nhà phát triển ứng dụng, tổ chức nghề nghiệp, đơn vị trung gian - tạo nên hệ sinh thái mở rộng chức năng nền tảng. Điểm quan trọng ở đây là mức độ mở/đóng của quản trị nền tảng và đánh đổi mà chủ nền tảng phải đối mặt khi kiểm soát hệ sinh thái. Trong quản trị phát triển xã hội, nhóm tác nhân này vừa là đối tác đồng triển khai chính sách - dịch vụ (ví dụ tích hợp thanh toán, định danh, hồ sơ sức khỏe, giáo dục), vừa là nơi phát sinh rủi ro về chất lượng dịch vụ, bảo vệ dữ liệu và công bằng tiếp cận. Điều này đòi hỏi Nhà nước thiết kế cơ chế cấp phép, tiêu chuẩn liên thông, kiểm định, trách nhiệm giải trình.
Thứ tư là tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng và các thiết chế trung gian (hội đoàn, tổ chức phi chính phủ (NGO), nhóm vận động, cơ sở nghiên cứu, truyền thông) giữ vai trò đại diện lợi ích xã hội, phản biện chính sách, và đặc biệt là giám sát giá trị công trong không gian nền tảng. Điểm quan trọng là giá trị công, như an toàn, riêng tư, minh bạch... cần được thiết chế công và công dân quan tâm, bảo vệ. Nói cách khác, tổ chức xã hội và cộng đồng không chỉ là người tham gia, mà còn là tác nhân bảo vệ, giúp hạn chế nguy cơ nền tảng ưu tiên lợi ích thương mại hơn lợi ích công.
Thứ năm là cộng đồng và cá nhân vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là tác nhân đồng sản xuất (co-producers): họ tạo dữ liệu, phản hồi dịch vụ, tham gia giám sát, huy động tương trợ xã hội, góp phần tạo hiệu ứng mạng lưới. Họ cũng đứng trước bất cân xứng thông tin và ảnh hưởng, tác động do cơ chế nền tảng tạo ra. Điểm quan trọng là nền tảng thường thể hiện “trao quyền từ dưới lên” và phi tập trung, nhưng lại vận hành bằng cấu trúc tập trung và thiếu minh bạch đối với người dùng(7). Vì vậy, trong quản trị phát triển xã hội, việc nâng cao “năng lực số”, bảo đảm quyền dữ liệu, cơ chế thu thập, phân tích, đánh giá, phản hồi trong quyết định thuật toán trở thành một phần của bảo đảm xã hội trong kỷ nguyên số.
Thứ sáu là các tác nhân ở cấp độ quản trị vượt ra ngoài quốc gia (khu vực/quốc tế, tổ chức đa phương) cũng ngày càng quan trọng, bởi nền tảng và dòng dữ liệu thường xuyên biên giới. Từ góc nhìn xã hội nền tảng, thế giới kết nối đòi hỏi phải tư duy lại sâu sắc về hệ sinh thái trực tuyến và hạ tầng chính trị - pháp lý. Điều này hàm ý quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số phải tính đến tương thích chuẩn mực và cơ chế hợp tác liên quốc gia trong bảo vệ giá trị công.
Tổng hợp lại, chủ thể và tác nhân trong quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số tạo thành một mạng lưới nhiều tầng: Nhà nước (định hướng - bảo vệ giá trị công), doanh nghiệp nền tảng (tạo dựng hạ tầng - thuật toán - dữ liệu), nhà cung ứng/bổ trợ (mở rộng dịch vụ - đồng triển khai), tổ chức xã hội và trung gian (giám sát - phản biện - đại diện), cộng đồng/cá nhân (đồng sản xuất - thụ hưởng - giám sát), thiết chế quốc tế (đồng thiết lập chuẩn mực chung trong phối hợp, hợp tác quốc tế)... Chính cấu trúc đa tác nhân này khiến quản trị phát triển xã hội trong kỷ nguyên số vừa có tiềm năng tăng hiệu quả phối hợp và giảm chi phí giao dịch, vừa đặt ra yêu cầu quản trị mới về trách nhiệm giải trình, minh bạch thuật toán và bảo vệ giá trị công.
Đối tượng quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số
Đối với quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, việc xác định đối tượng quản trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nó không chỉ xác lập phạm vi can thiệp của chủ thể quản trị, mà còn định hình công cụ điều tiết, phương thức can thiệp và các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản trị. Khác với quản lý xã hội truyền thống - nơi đối tượng quản lý chủ yếu được hiểu là nhóm dân cư, lĩnh vực xã hội hoặc vấn đề xã hội cụ thể - quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số mở rộng đáng kể phạm vi này, bao gồm cả cấu trúc số, quá trình tương tác và cơ chế trung gian được hình thành và vận hành trong môi trường nền tảng. Nền tảng số không chỉ phản ánh quan hệ xã hội hiện hữu, mà còn chủ động tổ chức, điều phối và cấu trúc lại quan hệ đó thông qua cấu trúc kỹ thuật, dữ liệu và thuật toán.
Thứ nhất, cá nhân và nhóm xã hội.
Đối tượng trung tâm của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số trước hết vẫn là cá nhân và nhóm xã hội, đặc biệt là mức độ tiếp cận, thụ hưởng và tham gia của họ vào quá trình phát triển xã hội. Tuy nhiên, trong môi trường số, con người không chỉ được nhìn nhận như đối tượng thụ hưởng thụ động của chính sách, mà ngày càng trở thành tác nhân tương tác, đồng thời là người tạo ra dữ liệu, phản hồi và nội dung trên nền tảng. Vai trò “đồng sản xuất” (co-production) của công dân ngày càng rõ nét trong cung ứng dịch vụ xã hội và dịch vụ công(8). Do đó, đối tượng quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số còn là điều kiện tham gia của con người vào không gian nền tảng: khả năng tiếp cận hạ tầng số, kỹ năng số, năng lực sử dụng dịch vụ trực tuyến và quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân. Nếu không được quản trị phù hợp, nền tảng số có thể làm trầm trọng thêm bất bình đẳng số và loại trừ xã hội, đặc biệt đối với người nghèo, người cao tuổi, lao động phi chính thức và cư dân vùng sâu, vùng xa(9). Vì vậy, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần coi bình đẳng tiếp cận và năng lực số là một đối tượng quản trị cốt lõi.
Thứ hai, vấn đề xã hội được trung gian hóa bởi nền tảng.
Một đối tượng quan trọng khác là vấn đề xã hội nảy sinh và được cấu trúc lại trong môi trường nền tảng số. Nền tảng số không chỉ phản ánh các vấn đề xã hội truyền thống, như nghèo đói, bất bình đẳng, thất nghiệp hay loại trừ xã hội, mà còn làm biến đổi hình thức, phạm vi và cường độ của các vấn đề này. Chẳng hạn, nghiên cứu về kinh tế nền tảng (platform economy) và kinh tế chia sẻ (gig economy) cho thấy nền tảng số vừa tạo ra cơ hội việc làm linh hoạt, vừa có thể làm xói mòn cơ chế bảo vệ lao động truyền thống, đặt ra thách thức mới đối với an sinh xã hội, bảo hiểm và ổn định sinh kế. Tương tự, trong lĩnh vực giáo dục và y tế, nền tảng số có thể mở rộng tiếp cận dịch vụ, giảm chi phí và tăng hiệu quả, nhưng cũng có nguy cơ làm gia tăng khoảng cách giữa các nhóm có và không có năng lực số, hoặc giữa khu vực phát triển và khu vực kém phát triển(10). Do đó, đối tượng quản trị ở đây không chỉ là vấn đề xã hội ở trạng thái “đầu ra”, mà là quá trình xã hội được trung gian hóa bởi nền tảng, nơi vấn đề xã hội được hình thành, chuyển hóa hoặc đặt ra thách thức cần giải quyết.
Thứ ba, quan hệ xã hội và cơ chế tương tác trên nền tảng.
Nền tảng hoạt động như một “kiến trúc số” tổ chức tương tác kinh tế, xã hội và chính trị. Thông qua cơ chế thiết kế, thuật toán và tiêu chuẩn kỹ thuật, nền tảng xác định ai được tham gia, tương tác nào được ưu tiên, chuẩn mực nào được mã hóa vào quá trình tương tác. Do đó, quan hệ xã hội và cơ chế tương tác do nền tảng tổ chức trở thành một đối tượng quản trị quan trọng. Từ góc độ quản trị phát triển xã hội, điều này hàm ý rằng quản trị không thể chỉ tập trung vào kết quả cuối cùng (ví dụ, giảm nghèo hay mở rộng tiếp cận dịch vụ), mà cần quan tâm đến cách thức tương tác xã hội được thiết kế và điều phối. Quyền lực trong xã hội nền tảng số thường được thực thi một cách gián tiếp thông qua thiết kế thuật toán và quy tắc nền tảng, thay vì mệnh lệnh hành chính trực tiếp(11). Vì vậy, điều này đặt ra yêu cầu chú trọng đến quy tắc tương tác xã hội được “nhúng” trong nền tảng số.
Thứ tư, dữ liệu và thuật toán.
Trong xã hội nền tảng, dữ liệu và thuật toán trở thành một nhóm đối tượng quản trị đặc biệt quan trọng. Dữ liệu không chỉ là nguồn lực kinh tế, mà còn là cơ sở để ra quyết định chính sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả phát triển xã hội. Thuật toán - thông qua các cơ chế xếp hạng, phân loại, đề xuất và tự động hóa - có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội, việc làm, thông tin và phúc lợi của cá nhân. Điểm đáng chú ý ở đây là nguy cơ thiên lệch thuật toán, thiếu minh bạch và suy giảm trách nhiệm giải trình trong hệ thống ra quyết định dựa trên dữ liệu, đặc biệt là trong lĩnh vực liên quan đến phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và quản lý dân cư. Do đó, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần coi cách thức thu thập, xử lý, sử dụng và chia sẻ dữ liệu, cũng như tính chính xác, minh bạch của thuật toán, là đối tượng quản trị cốt lõi gắn chặt với giá trị công bằng, dân chủ và công lý.
Thứ năm, thiết chế và hệ sinh thái nền tảng số.
Thiết chế và hệ sinh thái nền tảng số cũng là đối tượng quản trị quan trọng. Nền tảng số không tồn tại độc lập, mà gắn với một hệ sinh thái bao gồm doanh nghiệp công nghệ, nhà cung ứng dịch vụ, tổ chức xã hội, cơ quan công quyền và người dùng. Các mối quan hệ hợp tác, phụ thuộc và cạnh tranh trong hệ sinh thái này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội(12). Vì vậy, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần hướng tới việc điều phối hệ sinh thái theo hướng phục vụ lợi ích công, hạn chế sự tập trung quyền lực quá mức của chủ sở hữu nền tảng và bảo đảm sự tham gia thực chất của các thực thể xã hội khác nhau.
Tóm lại, đối tượng quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số mang tính đa tầng, động và liên kết chặt chẽ, bao gồm: 1- Cá nhân và nhóm xã hội; 2- Vấn đề xã hội được cấu trúc lại trong môi trường số; 3- Quan hệ và cơ chế tương tác xã hội do nền tảng tổ chức; 4- Dữ liệu, thuật toán và các cơ chế kỹ thuật; 5- Thiết chế, hệ sinh thái nền tảng. Việc mở rộng đối tượng, phương thức quản trị theo hướng này cho phép tiếp cận quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số không chỉ như sự “số hóa” quản lý xã hội truyền thống, mà như một phương thức quản trị mới, gắn liền với những biến đổi căn bản của cấu trúc xã hội trong kỷ nguyên số.
Người dân khám, chữa bệnh tại trạm y tế chuyển đổi số toàn diện (phường Bồ Đề và phường Long Biên, thành phố Hà Nội) _Ảnh: vov2.vov.vn
Phương thức quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số
Phương thức quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số có thể hiểu là tổng hòa cách thức phối hợp, điều phối, thiết kế thể chế, vận hành hạ tầng số và bảo đảm trách nhiệm giải trình để các thực thể (Nhà nước - doanh nghiệp - tổ chức xã hội - cộng đồng - cá nhân) cùng tham gia giải quyết vấn đề xã hội trong môi trường số. Do nền tảng số vừa là hạ tầng kỹ thuật, vừa là thiết chế xã hội tổ chức tương tác, phương thức quản trị không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính, mà cần kết hợp nhiều cơ chế: hợp tác đa thực thể, điều tiết dựa trên luật lệ/tiêu chuẩn, quản trị dữ liệu - thuật toán và quản trị hạ tầng số công theo định hướng giá trị công.
Phương thức quản trị đầu tiên là quản trị hợp tác (collaborative governance), tức cơ quan công quyền trực tiếp huy động và tham gia cùng các bên liên quan ngoài nhà nước trong một quá trình ra quyết định và triển khai chính sách dựa trên đồng thuận, chia sẻ trách nhiệm và cam kết dài hạn. Đây là một cách thức quản trị phù hợp khi vấn đề công phức tạp, nguồn lực phân tán và cần phối hợp liên ngành, liên khu vực(13). Trong bối cảnh nền tảng số, hợp tác đa thực thể không chỉ là tham vấn, mà còn là đồng thiết kế dịch vụ số, đồng vận hành quy trình dữ liệu và đồng giám sát chất lượng cung ứng. Cách tiếp cận này cũng tương thích với khung chính phủ số, trong đó nhấn mạnh chuyển từ số hóa thủ tục sang thiết kế lại chính sách - dịch vụ theo hướng lấy người dùng làm trung tâm và thúc đẩy phối hợp giữa cơ quan, tổ chức cũng như hệ sinh thái đối tác bên ngoài để tạo giá trị công.
Phương thức thứ hai là quản trị dựa trên hạ tầng số công (digital public infrastructure - DPI), coi các thành phần, như định danh số, thanh toán số, chia sẻ dữ liệu, nền tảng tích hợp dịch vụ... là “xương sống” để mở rộng tiếp cận dịch vụ xã hội và nâng cao hiệu quả quản trị. Nhiều tổ chức quốc tế, như OECD gần đây nhấn mạnh vai trò DPI đối với chính phủ số, đặc biệt là các nguyên tắc liên thông, chuẩn mở, quản trị dữ liệu và an toàn, tin cậy(14). Nếu DPI được vận hành đúng hướng sẽ giúp giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian tiếp cận dịch vụ, hỗ trợ “một lần khai báo - nhiều lần sử dụng”; đồng thời, đòi hỏi quản trị rủi ro loại trừ số, bảo vệ dữ liệu cá nhân, cơ chế khắc phục khi người dân không thể/khó sử dụng định danh số.
Phương thức thứ ba là quản trị quy tắc và cơ chế tương tác do nền tảng tổ chức. Nền tảng số hình thành các lớp quan hệ quản trị (giữa doanh nghiệp nền tảng - người dùng - nhà quảng cáo - Nhà nước - tác nhân chính trị - xã hội) và quyền lực, ảnh hưởng được thực thi không chỉ bằng luật, mà còn bằng thiết kế hệ thống và điều khoản sử dụng. Do đó, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần chuyển từ tư duy “quản lý kết quả” sang tư duy “quản trị cơ chế”, cụ thể là ai được tham gia, điều kiện tham gia ra sao, tương tác nào được ưu tiên, tiêu chuẩn nội dung/dịch vụ thế nào, cơ chế thu thập, phân tích, đánh giá, phản hồi, phục hồi quyền lợi gắn với thực thể liên quan ra sao. Cách nhìn “nền tảng như thiết chế xã hội” cũng được nhấn mạnh trong các nền tảng can thiệp vào thị trường, lao động,... từ đó đặt vấn đề bảo vệ giá trị công trong một “thế giới kết nối”. Điều này gợi ý rằng nền tảng phục vụ dịch vụ công, giáo dục, y tế,... cần có “thiết kế thể chế” rõ ràng trên cơ sở giá trị công: bao trùm, công bằng, minh bạch, bảo vệ nhóm yếu thế và trách nhiệm giải trình.
Phương thức thứ tư là quản trị dữ liệu - thuật toán như những đối tượng trung tâm của quản trị xã hội trong kỷ nguyên số. Kitchin (2017) nhấn mạnh cần nghiên cứu và giám sát thuật toán một cách phê phán vì thuật toán không trung tính: thuật toán mã hóa giả định, ưu tiên và logic phân loại có thể tạo bất công hoặc loại trừ(15). Diakopoulos (2016) đề xuất hướng “trách nhiệm giải trình thuật toán” thông qua cơ chế minh bạch, kiểm toán, thiết kế cơ chế giám sát/khắc phục để hạn chế rủi ro thiên lệch và lạm quyền trong ra quyết định tự động(16). Do đó, phương thức quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần bao gồm các cơ chế, như nguyên tắc quản trị dữ liệu dựa trên quyền con người; minh bạch thuật toán ở mức phù hợp; kiểm toán và đánh giá tác động xã hội của hệ thống số; cơ chế đánh giá, phản hồi, sửa sai đối với quyết định số. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là yêu cầu thể chế gắn với bảo vệ công bằng, dân chủ và công lý trong quản trị xã hội.
Phương thức thứ năm là điều phối hệ sinh thái nền tảng theo hướng phục vụ lợi ích công. Trên thực tế, quan hệ hợp tác, phụ thuộc và cạnh tranh giữa các tác nhân trong hệ sinh thái có ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức tạo và phân phối giá trị(17). Trong bối cảnh phát triển xã hội, nếu thiếu điều tiết, quyền lực có thể tập trung quá mức vào chủ sở hữu nền tảng, làm suy giảm vai trò của chủ thể xã hội khác. Vì vậy, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần hướng tới việc cân bằng quyền lực, tạo không gian tham gia thực chất cho tổ chức xã hội, cộng đồng, người dân..., đồng thời bảo đảm rằng nền tảng phục vụ xã hội không bị chi phối hoàn toàn bởi logic lợi nhuận hay kỹ thuật.
Nguyên tắc quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số
Thứ nhất, nguyên tắc lấy con người làm trung tâm và hướng đến phát triển con người. Nguyên tắc nền tảng của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số là lấy con người làm trung tâm, coi công nghệ và nền tảng số là phương tiện nhằm mở rộng năng lực, cơ hội và lựa chọn của con người, chứ không phải là mục tiêu tự thân. Cách tiếp cận này kế thừa trực tiếp truyền thống phát triển con người và phát triển xã hội, trong đó nhấn mạnh rằng tăng trưởng kinh tế hay tiến bộ công nghệ chỉ có ý nghĩa khi góp phần nâng cao sức khỏe, thịnh vượng và hạnh phúc của con người(18). Trong bối cảnh chuyển đổi số, mô hình quản trị số hiệu quả là mô hình đặt nhu cầu, trải nghiệm và quyền lợi của người dân làm trung tâm của thiết kế chính sách và dịch vụ công, thay vì ưu tiên tối đa hóa hiệu quả kỹ thuật hay tiết kiệm chi phí hành chính(19). Do đó, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần được đánh giá không chỉ bằng chỉ số số hóa hay mức độ tự động hóa, mà bằng tác động xã hội đối với con người và cộng đồng, đặc biệt là khả năng mở rộng tiếp cận dịch vụ xã hội thiết yếu.
Thứ hai, bảo đảm công bằng và bao trùm xã hội trong toàn bộ quá trình quản trị trên nền tảng số. Trên thực tế, nền tảng số có thể đồng thời tạo ra cơ hội tiếp cận mới, nhưng cũng có nguy cơ làm gia tăng khoảng cách giữa nhóm xã hội khác nhau nếu thiếu cơ chế điều tiết phù hợp. Trong các lĩnh vực, như giáo dục, y tế và an sinh xã hội, nền tảng số vừa có thể mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ và giảm chi phí, vừa có thể làm sâu sắc thêm bất bình đẳng giữa nhóm có và không có năng lực số. Vì vậy, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần tuân thủ nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau”, gắn chuyển đổi số với chính sách tăng cường năng lực số, hỗ trợ tiếp cận và kết hợp linh hoạt giữa kênh số và phi số, đặc biệt đối với nhóm dễ bị tổn thương.
Thứ ba, nguyên tắc quản trị đa thực thể và tham gia thực chất. Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số là một quá trình đa thực thể, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng, cá nhân... cùng tham gia vào việc định hình, vận hành và giám sát nền tảng. Vì vậy, vấn đề công phức tạp chỉ có thể được giải quyết hiệu quả thông qua sự phối hợp giữa thực thể nhà nước và phi nhà nước(20). Trong bối cảnh số hóa, quản trị số hiệu quả đòi hỏi sự tham gia thực chất của nhiều tác nhân trong hệ sinh thái, thay vì cách tiếp cận quản lý tập trung, khép kín theo mô hình hành chính truyền thống. Do đó, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần tạo ra cơ chế để tổ chức xã hội, cộng đồng, người dân... không chỉ là người sử dụng, mà còn là người có khả năng tác động thực sự đến quyết định liên quan đến thiết kế và vận hành nền tảng.
Thứ tư, nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình và giám sát xã hội. Trong môi trường nền tảng số, nơi quyết định ngày càng được trung gian hóa bởi dữ liệu và thuật toán, minh bạch và trách nhiệm giải trình trở thành nguyên tắc đặc biệt quan trọng. Nghiên cứu về quản trị thuật toán chỉ ra rằng thuật toán không trung tính, mà phản ánh giả định, ưu tiên và quan hệ quyền lực, tác động, ảnh hưởng của chủ thể thiết kế và vận hành hệ thống. Nền tảng số cần được coi là thiết chế xã hội có ảnh hưởng đáng kể, do đó phải gắn với yêu cầu về trách nhiệm giải trình tương tự như thiết chế công. Vì vậy, điều quan trọng là cần xây dựng cơ chế minh bạch thuật toán, kiểm toán hệ thống số và tạo điều kiện cho giám sát xã hội nhằm hạn chế rủi ro thiên lệch, lạm quyền và bất công trong quản trị số.
Thứ năm, bảo vệ quyền con người trong môi trường số, đặc biệt là quyền riêng tư và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nhiều tài liệu của Liên hợp quốc và các cơ quan chức năng của Liên hợp quốc đã nhiều lần nhấn mạnh rằng quyền con người được thừa nhận trong không gian vật lý cũng phải được bảo vệ đầy đủ trong không gian số. Trong xã hội nền tảng, dữ liệu trở thành tài nguyên cốt lõi cho quản trị và phát triển xã hội, đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ giám sát, lạm dụng và xâm phạm quyền cá nhân nếu thiếu chuẩn mực và thể chế phù hợp.
Thứ sáu, nguyên tắc định hướng giá trị công và hạn chế logic thuần túy thị trường. Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần được dẫn dắt bởi định hướng giá trị công, thay vì bị chi phối hoàn toàn bởi logic lợi nhuận hay hiệu quả kỹ thuật. Nếu để nền tảng số vận hành chủ yếu theo động cơ thị trường, giá trị công, như công bằng, bao trùm và đoàn kết xã hội có nguy cơ bị suy giảm. Do đó, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần bảo đảm rằng nền tảng phục vụ xã hội được thiết kế và vận hành theo chuẩn mực giá trị công, với vai trò kiến tạo và điều tiết rõ ràng của Nhà nước.
Thứ bảy, nguyên tắc thích ứng, học hỏi và phát triển bền vững. Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số không thể được thiết kế như một mô hình tĩnh, đóng kín, mà cần được xây dựng trên cơ sở thích ứng và học hỏi liên tục. Trong bối cảnh công nghệ số, dữ liệu lớn và nền tảng tương tác xã hội thay đổi nhanh chóng cả về hình thức lẫn quy mô tác động, mô hình quản trị cứng nhắc, dựa chủ yếu vào quy trình hành chính truyền thống, thường khó theo kịp thực tiễn và dễ rơi vào tình trạng lạc hậu hoặc kém hiệu quả. Do đó, quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số đòi hỏi một tư duy linh hoạt, coi chính sách và thể chế là các cấu trúc có khả năng điều chỉnh, cập nhật và hoàn thiện thông qua quá trình triển khai và phản hồi từ xã hội. Theo OECD, quản trị hiệu quả trong môi trường phức tạp và nhiều bất định cần dựa trên cách tiếp cận hệ thống, trong đó nhấn mạnh việc thử nghiệm chính sách, đánh giá tác động thường xuyên và điều chỉnh linh hoạt dựa trên phản hồi của thực thể liên quan, đặc biệt là người dân và cộng đồng thụ hưởng. Đồng thời, nguyên tắc thích ứng và học hỏi cũng gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm rằng nền tảng số và sáng kiến chuyển đổi số không chỉ tạo ra lợi ích ngắn hạn về hiệu quả hay chi phí, mà còn góp phần củng cố năng lực xã hội, tăng cường tính bao trùm và nâng cao sức chống chịu của thiết chế trong dài hạn(21). Điều này cho thấy sáng kiến chuyển đổi số không nên chỉ được đánh giá dựa trên hiệu quả kỹ thuật hay lợi ích kinh tế trong ngắn hạn, mà cần được đặt trong tầm nhìn dài hạn của phát triển bền vững.
Trong bối cảnh mới, việc gắn kết chuyển đổi số với năng lực thích ứng của xã hội giúp nền tảng số không chỉ trở thành công cụ quản lý hay cung cấp dịch vụ, mà còn góp phần củng cố năng lực thể chế, mở rộng tính bao trùm xã hội, tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên nền tảng số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, khả năng chống chịu của hệ thống xã hội trước biến động trong tương lai./.
--------------------------
(1) United Nations - Department of Economic and Social Affairs: “Copenhagen Declaration on Social Development” (Tạm dịch: Tuyên bố Copenhagen về phát triển xã hội), 1995
(2) Liu Jinfa: “From social management to social governance: social conflict mediation in China” (Tạm dịch: Từ quản lý xã hội đến quản trị xã hội: hòa giải xung đột xã hội ở Trung Quốc), Journal of Public Affairs, 14(2), tr. 93 – 104
(3) Spagnoletti, Paolo, Andrea Resca and Gwanhoo Lee: “A Design Theory for Digital Platforms Supporting Online Communities: A Multiple Case Study” (Tạm dịch: Lý thuyết thiết kế nền tảng số hỗ trợ cộng đồng trực tuyến: Nghiên cứu đa trường hợp), Journal of Information Technology, 2015, tr. 364 - 380
(4) Tan, Barney, Shan L Pan, Xianghua Lu, and Lihua Huang: “The Role of IS Capabilities in the Development of Multi-Sided Platforms: The Digital Ecosystem Strategy of Alibaba.com” (Tạm dịch: Vai trò của năng lực hệ thống thông tin trong phát triển nền tảng đa phía: chiến lược hệ sinh thái số của Alibaba.com), Journal of the Association for Information Systems, 16(4), 2015, tr. 248 - 280
(5) José Van Dijck, Thomas Poell, Martijn de Waal: “The Platform Society: Public Values in a Connective World” (Tạm dịch: Xã hội nền tảng: Các giá trị công trong một thế giới kết nối), Oxford University Press, Oxford, 2018
(6) Ahmad Asadullah, Isam Faik, Atreyi Kankanhalli: “Digital Platforms: A Review and Future Directions” (Tạm dịch: Nền tảng số: Tổng quan và định hướng nghiên cứu trong tương lai), PACIS 2018 Proceedings, 2018, tr. 248
(7) José Van Dijck, Thomas Poell, Martijn de Waal: “The Platform Society” (Tạm dịch: Xã hội nền tảng), Oxford University Press, Oxford, 2018, tr. 30 - 45
(8) OECD: “The OECD Digital Government Policy Framework: Six dimensions of a Digital Government” (Tạm dịch: Khung chính sách chính phủ số của OECD: Sáu trụ cột của chính phủ số), OECD Public Governance Policy Papers, No. 2, OECD Publishing, Paris, 2020
(9) Robert Gorwa: “What is platform governance?” (Tạm dịch: Quản trị nền tảng là gì?), Information, Communication & Society, 22(6), 2019, tr. 854 - 871
(10) Neil Selwyn: “Is Technology Good for Education?” (Tạm dịch: Công nghệ có thực sự tốt cho giáo dục?), Polity Press, Cambridge, 2016
(11) Robert Gorwa: “What is platform governance?” (Tạm dịch: Quản trị nền tảng là gì?), Tlđd
(12) Annabelle Gawer: “Digital platforms and ecosystems: remarks on the dominant organizational forms of the digital age” (Tạm dịch: Nền tảng số và hệ sinh thái: nhận xét về các hình thức tổ chức chủ đạo của thời đại số), Innovation, 24(1), 2022, tr. 110 - 124
(13) Chris Ansell, Gash Alison: “Collaborative Governance in Theory and Practice” (Tạm dịch: Lý thuyết và thực tiễn trong quản trị hợp tác), Journal of Public Administration Research and Theory, 18(4), 2007, tr. 543 – 571
(14) OECD: “Digital public infrastructure for digital governments” (Tạm dịch: Hạ tầng công cộng số cho chính phủ số), OECD Public Governance Policy Papers, No. 68, OECD Publishing, Paris, 2024
(15) Rob Kitchin: “Thinking critically about and researching algorithms” (Tạm dịch: Tư duy phê phán và nghiên cứu về các thuật toán), Information, Communication & Society, 20(1), 2017, tr. 14 - 29
(16) Nicholas Diakopoulos: “Accountability in algorithmic decision making” (Tạm dịch: Trách nhiệm giải trình trong quá trình ra quyết định bằng thuật toán), Communications of the ACM, 59(2), 2016, tr. 56 - 62
(17) Annabelle Gawer: “Digital platforms and ecosystems: remarks on the dominant organizational forms of the digital age” (Tạm dịch: Nền tảng số và hệ sinh thái: nhận xét về các hình thức tổ chức chủ đạo của thời đại số), Tlđd
(18) UNDP (United Nations Development Programme): “Human Development Report 2020” (Tạm dịch: Báo cáo Phát triển Con người năm 2020), UNDP, New York, 2020
(19) Benjamin Welby: “The impact of digital government on citizen well-being” (Tạm dịch: Tác động của chính phủ số đối với phúc lợi và chất lượng sống của người dân), OECD Working Papers on Public Governance, No. 32, OECD Publishing, Paris, 2019
(20) Chris Ansell, Alison Gash: “Collaborative Governance in Theory and Practice” (Tạm dịch: Lý thuyết và thực tiễn trong quản trị hợp tác), Tlđd
(21) UNDP: “Human Development Report 2023/24: Breaking the gridlock: Reimagining cooperation in a polarized world” (Tạm dịch: Báo cáo Phát triển Con người 2023/24: Phá vỡ thế bế tắc - Tái hình dung hợp tác trong một thế giới phân cực), New York, 2023, https://hdr.undp.org/system/files/documents/global-report-document/hdr2023-24reporten.pdf.