Phát triển dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất quan trọng, góp phần thực hiện  thành công cuộc cách mạng chuyển đổi số, đưa đất nước  bước vào kỷ nguyên mới thịnh vượng

TS Nguyễn Ngọc Cương
Thiếu tướng, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia

16:24, ngày 25-05-2026

TCCS - Ngày nay, dữ liệu được ví như một nguồn tài nguyên chiến lược. Các quốc gia không chỉ khai thác dữ liệu để phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn coi việc kiểm soát và bảo vệ dữ liệu là vấn đề an ninh quốc gia. Do đó, phát triển dữ liệu thành tư liệu sản xuất quan trọng, đóng góp vào cuộc cách mạng chuyển đổi số quốc gia, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới là nhiệm vụ chiến lược cần thực hiện nhằm bảo vệ và nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.

1. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa và phát triển những giá trị của lịch sử tư tưởng nhân loại, là thế giới quan và phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học(1). Dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất then chốt trong nền kinh tế, tác động tới lực lượng sản xuất, kết hợp với các công cụ sản xuất ngày càng hiện đại, làm thay đổi quan hệ sản xuất, trở thành động lực cho sự tiến bộ của xã hội loài người. Theo quan điểm Mác - Lê-nin, quan hệ sản xuất được quyết định bởi quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất. Hiện nay, dữ liệu dân cư, dữ liệu đất đai, dữ liệu y tế… đã trở thành tư liệu sản xuất mới. Việc nhà nước xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia chính là cách khẳng định quyền sở hữu tập thể, phục vụ lợi ích chung. Lực lượng sản xuất theo Mác - Lê-nin bao gồm người lao động và công cụ sản xuất. Trong kỷ nguyên số, công cụ sản xuất không chỉ là máy móc, mà còn là trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây, chip bán dẫn… Các chuyên gia kết hợp với dữ liệu và công nghệ hiện đại tạo ra năng suất vượt trội, thay đổi cơ cấu xã hội, giống như công nghiệp hóa từng thay đổi xã hội nông nghiệp. Quan hệ sản xuất trước kia xoay quanh sở hữu hàng hóa vật chất. Ngày nay, quan hệ sản xuất còn chuyển sang sở hữu và khai thác dữ liệu giao dịch, dữ liệu người dùng. Điều này làm xuất hiện hình thái kinh tế mới - kinh tế dữ liệu, nơi giá trị được tạo ra từ thông tin, phù hợp với quy luật biện chứng: lực lượng sản xuất mới tất yếu làm thay đổi quan hệ sản xuất. Sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những đột phá trong trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và tự động hóa mở ra cơ hội lớn(2) đã làm thay đổi thế giới, cần nắm bắt để phát triển bứt phá. Sự cạnh tranh giữa các quốc gia, dân tộc không còn dựa vào những tiền đề tích lũy tư bản như trước, mà chủ yếu dựa vào mức độ làm chủ, tự chủ về tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất.

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm, làm việc tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 (Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội) _. Ảnh: TTXVN

Ngày nay, khoa học - công nghệ phát triển đã chuyển hóa hình thức khai thác thuộc địa từ môi trường thực sang môi trường số. Dữ liệu trở thành mục tiêu chiếm lĩnh và khai thác tài nguyên toàn cầu. Với việc đầu tư hạ tầng công nghệ trải khắp thế giới, nắm giữ các thuật toán xử lý, mã nguồn hệ điều hành, công nghệ lõi đã tăng cường quyền lực của một số quốc gia thông qua dữ liệu thu được, khai thác lợi ích mà các quốc gia khác ít có thể tác động. Đặc biệt là với sự gắn kết chặt chẽ giữa các tập đoàn công nghệ và vị thế của quốc gia sở hữu(3), dữ liệu thu được giúp các công ty chi phối quảng cáo trực tuyến, thương mại điện tử, đồng thời giúp các quốc gia sở hữu nguồn dữ liệu có thể tăng cường năng lực quốc phòng, an ninh, kinh tế, và vị thế quốc gia.

Thực tiễn cho thấy, chuyển đổi số đã làm thay đổi các thành tố của hình thái kinh tế - xã hội, thay đổi thế và lực của quốc gia, tác động tới quan hệ quốc tế và cán cân quyền lực toàn cầu. Cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc không dừng lại ở vốn đầu tư, mà còn ở khả năng làm chủ thuật toán AI, siêu máy tính và hạ tầng dữ liệu. Quốc gia nào kiểm soát được nền tảng AI và dữ liệu sẽ có lợi thế vượt trội trong kinh tế, an ninh, quốc phòng và xã hội. Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ, Hàn Quốc và Trung Quốc tập trung vào việc làm chủ chuỗi sản xuất chip - “tư liệu sản xuất” của thời đại số, quyết định sức mạnh của mọi ngành từ điện thoại, ô tô đến vũ khí. Cuộc cạnh tranh càng quyết liệt, càng thúc đẩy nhanh hình thái kinh tế dữ liệu, lấy dữ liệu làm trung tâm, lấy chuyển đổi số làm nền tảng. Các doanh nghiệp công nghệ thường đi tiên phong trong lĩnh vực này, như: Facebook, Google, Tiktok… xây dựng mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu hành vi, sở thích, mạng lưới xã hội. Một số quốc gia như Israel, Hà Lan sử dụng dữ liệu cảm biến, vệ tinh để quản lý tưới tiêu, phân bón, dự báo mùa vụ. Như vậy, giá trị cốt lõi không phải là vốn vật chất, mà là khả năng phân tích và khai thác dữ liệu để tạo ra lợi nhuận.

Chuyển đổi số quốc gia thúc đẩy quá trình tạo lập và tích lũy dữ liệu vượt xa các chuẩn mực về tư liệu sản xuất từng có trong lịch sử. Dữ liệu tăng cấp số nhân trong khoảng thời gian ngày càng ngắn lại. Công nghệ dữ liệu như AI, IoT, big data, điện toán đám mây, bán dẫn, chuỗi khối, lượng tử, điện toán biên, sinh trắc học, 5G, 6G... đã vượt tầm suy nghĩ của đại bộ phận con người, là ví dụ minh họa cho sự khổng lồ của dữ liệu. Có thể nhận thấy AI - ChatGPT, Gemini, Copilot… có thể “sáng tạo” và “tư duy” gần giống con người trong các hoạt động viết văn bản, sáng tác nhạc, vẽ tranh, lập trình, thậm chí chẩn đoán bệnh. Máy tính lượng tử của Google, IBM có thể giải những bài toán mà siêu máy tính truyền thống mất hàng nghìn năm, khả năng này vượt xa suy nghĩ thông thường về tốc độ tính toán. Chuỗi khối (Blockchain) - Bitcoin, NFT tạo ra tiền kỹ thuật số và tài sản số không cần ngân hàng hay tổ chức trung gian, là bước ngoặt vượt ngoài tưởng tượng về cách lưu trữ và trao đổi giá trị.

Tuy nhân loại chỉ mới đang ở giai đoạn bình minh của kỷ nguyên dữ liệu, nhưng dữ liệu đã tạo nên một lãnh thổ mới vượt ra khỏi lãnh thổ truyền thống. Các bộ phận cấu thành của dữ liệu khai phá gồm dữ liệu con người, dữ liệu vị trí, dữ liệu hoạt động, dữ liệu vật phẩm đã phản ánh bản chất của nhu cầu và trở thành đối tượng thu thập. Trước đây, đất đai là tài nguyên của kỷ nguyên nông nghiệp, quặng sắt là tài nguyên của kỷ nguyên công nghiệp, dầu mỏ là tài nguyên của kỷ nguyên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì nay, dữ liệu trở thành tài nguyên, tư liệu sản xuất bất tận trong kỷ nguyên số. Dữ liệu giúp tư liệu sản xuất tạo ra sản phẩm chất lượng hơn và giá trị cao hơn. Nếu dữ liệu là điều kiện cần của quá trình sản xuất vật chất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định sự phát triển của sản xuất. Dữ liệu được cải tiến, lực lượng sản xuất sẽ thay đổi, có trình độ nhận thức cao hơn, bảo đảm yêu cầu làm chủ và tự chủ, làm thay đổi cán cân tỷ lệ lực lượng lao động theo hướng có trình độ cao hơn. Đơn cử, trước kia, đất đai màu mỡ là yếu tố quyết định, thì nay, dữ liệu từ cảm biến, vệ tinh, AI phân tích thời tiết và đất đai giúp nông dân tăng năng suất, giảm chi phí. Dữ liệu trở thành “tư liệu sản xuất” quan trọng không thua kém diện tích đất…

2. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh chuyển đổi số dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ(4). Đặc biệt, Văn kiện Đại hội Đảng XIV xác lập mô hình tăng trưởng mới về kinh tế dữ liệu(5). Kết luận số 18-KL/TW, ngày 2-4-2026, của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, “Về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”” nhấn mạnh, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những đột phá chiến lược giai đoạn 2026 - 2030. Trên cơ sở chủ trương, định hướng của Đảng, pháp luật của Nhà nước dần được hoàn thiện và ban hành, trọng tâm là Luật Dữ liệu, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo… Qua đó cho thấy, chuyển đổi số được triển khai mạnh mẽ, làm thay đổi tổng thể và toàn diện về năng lực quốc gia.

Tuy nhiên, quá trình triển khai bên cạnh thành công vẫn còn những thách thức nhất định. Dữ liệu chưa đóng vai trò chủ đạo như mong muốn trong tạo động lực phát triển kinh tế, xã hội, nhất là trong kỷ nguyên số; chưa tạo lập, hình thành được kho dữ liệu toàn diện, tổng thể, liên thông, thống nhất phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước. Việc ứng dụng và khai thác dữ liệu phục vụ mô hình kinh tế dữ liệu mới ở bước đầu, dữ liệu chưa thực sự trở thành tư liệu sản xuất quan trọng. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương và cơ sở dữ liệu quốc gia chưa thông suốt, vẫn còn tình trạng “cát cứ” dữ liệu, thiếu sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, triển khai, điều phối. Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chưa đầy đủ, tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa quyết liệt, hiệu lực và hiệu quả chưa cao; kiểm tra, kiểm soát thiếu chặt chẽ(6). An ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức(7).

Bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu của đất nước trong kỷ nguyên mới dẫn đến mâu thuẫn giữa nhu cầu ngày càng tăng của người dân về một cuộc sống thịnh vượng hơn dựa trên dữ liệu và sự phát triển tổng thể của dữ liệu quốc gia chưa tương xứng với nhu cầu chính đáng đó. Mâu thuẫn tạo ra động lực của sự phát triển, thúc đẩy công cuộc mạnh mẽ công cuộc xây dựng Chính phủ số, cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu; đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết hơn nữa về phát triển dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất quan trọng.

Trong quá trình phát triển dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất quan trọng hiện nay, xuất hiện một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, đó là:

Một là, xây dựng hình thái kinh tế dữ liệu. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực”(8). Như vậy, việc phát triển dữ liệu thành tư liệu sản xuất sẽ góp phần quan trọng giải thành công bài toán lịch sử về tăng trưởng hai con số và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới thịnh vượng. Điều này đặt ra yêu cầu phải xây dựng thành công nền kinh tế dữ liệu - một nền kinh tế với dữ liệu trở thành nguồn lực cho các hoạt động quản trị quốc gia, hoạch định chính sách, phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Công an đã xây dựng và đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Trung tâm Dữ liệu quốc gia đang xây dựng Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, trên cơ sở đồng bộ, liên thông, kết nối với nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia của các bộ, ngành. Đây là thành tựu bước đầu giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí xã hội, tạo nền tảng cho Chính phủ số, xã hội số và kinh tế dữ liệu.

Hai là, xây dựng kịch bản ứng dụng dữ liệu dựa trên hình thái kinh tế dữ liệu được xác lập. Trên cơ sở dữ liệu được tạo lập, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp sẽ xây dựng các kịch bản ứng dụng dữ liệu cho từng hoạt động kinh tế, xã hội, triển khai tạo lập, đồng bộ, kết nối, khai thác dữ liệu để tạo ra sản phẩm, dịch vụ dữ liệu, đóng góp trực tiếp vào hoạt động phát triển kinh tế, xã hội.

Ví dụ về kịch bản dữ liệu là tư liệu sản xuất trong quản trị chống ngập úng, lũ lụt. Thực tế, có rất nhiều nguyên nhân gây ra lũ lụt lịch sử ở Việt Nam, nên một trong những cách hạn chế tốt nhất là có sự chuẩn bị đề phòng chu đáo, xây dựng các kịch bản ứng phó theo thời gian thực, dựa trên dữ liệu. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sẽ triển khai thu thập, tạo lập, kết nối, đồng bộ, khai thác dữ liệu tại một địa bàn A, với ước tính thời gian cụ thể (trong vòng 24 giờ tới) sẽ xảy ra lũ lụt, với vận tốc lượng nước, mực nước, công tác ứng phó… Khi đó, các dữ liệu tạo lập bao gồm các thông tin về địa bàn A, bản đồ địa hình địa bàn (cao, thấp, ngầm, trũng, lưu vực, địa hình, khả năng thấm đất, độ che phủ thực vật), công trình chống lũ (hồ thủy điện, khả năng lưu trữ, xả lũ, dung tích hồ chứa, hồ điều hòa, khả năng thoát của kênh, mương, sống, công suất trạm bơm tiêu úng, đê, kè, cống), dự báo thời tiết (cập nhật theo thời gian thực, lưu lượng lũ thiết kế, mực nước lũ thiết kế, cường độ mưa cực đoan, thời gian tập trung nước), khả năng thoát nước (mặt, lịch sử lũ (chu kỳ lặp lại), dòng chảy thượng nguồn, dữ liệu sử dụng đất, mức độ bê-tông hóa, diện tích rừng, nơi nước dễ thấm/nơi nước không thấm, tốc độ nước dồn về từng hạ lưu, bản đồ nguy cơ lũ, số lượng dân cư ở các vùng trũng), hệ thống cảnh báo sớm hiện có, đường giao thông, dữ liệu dân cư sinh sống; khả năng chống lũ (dựa trên các kịch bản vận hành hồ chứa, di dời dân cư, bảo vệ công trình). Nếu có được đầy đủ dữ liệu này, với khả năng xử lý dữ liệu thời gian thực, khả năng quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu trong ứng phó lũ lụt, ngập úng sẽ mang lại hiệu quả cao…

Đại diện cơ quan chức năng và các chuyên gia cùng thảo luận về chiến lược bảo vệ dữ liệu, bảo đảm an ninh hạ tầng số và nâng cao năng lực ứng phó trước các mối đe dọa an ninh mạng tại chương trình Vietnam Security Summit 2026 _Ảnh: TTXVN

Ba là, làm rõ mối quan hệ sản xuất mới dựa trên dữ liệu. Trong hình thái kinh tế dữ liệu, dữ liệu tác động tới quan hệ sản xuất thông qua giải quyết đúng đắn mối quan hệ sở hữu, tổ chức - quản lý, phân phối. Quan hệ về sở hữu dữ liệu là nhân tố có tính quyết định. Sự phân công lao động truyền thống, chủ yếu nhằm mục đích nâng cao năng lực sản xuất có sự khác biệt với sự phân công lao động trong nền kinh tế dữ liệu là tạo ra môi trường với những điều kiện sống tốt hơn cho con người. Phát triển dữ liệu tạo ra tiến bộ công nghệ, thúc đẩy nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, ảnh hưởng đến cơ cấu xã hội và hệ thống kinh tế, góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất.

Ví dụ, các công ty sở hữu dữ liệu như Facebook/Meta, Google, Appple… sử dụng dữ liệu do người dùng tạo ra (bài đăng, hình ảnh, hành vi tương tác), nhưng quyền sở hữu và khai thác dữ liệu lại thuộc về công ty; điều này tạo ra mâu thuẫn về quyền lợi, buộc các quốc gia phải ban hành luật bảo vệ dữ liệu cá nhân (như Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (General Data Protection Regulation - GDPR) ở EU, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Việt Nam). Công nghệ chuỗi khối cho phép phân phối dữ liệu giao dịch minh bạch, không phụ thuộc vào ngân hàng trung gian, điều này làm thay đổi quan hệ sản xuất trong lĩnh vực tài chính, tạo ra mô hình phân quyền, người dùng vừa là chủ sở hữu, vừa là người tham gia quản lý dữ liệu. Nhà nước quản lý dữ liệu dân cư, y tế, giáo dục để phục vụ dịch vụ công; nếu quản lý tốt, dữ liệu giúp nâng cao hiệu quả quản trị, giảm chi phí xã hội; như vậy, dữ liệu đã tác động trực tiếp đến quan hệ giữa Nhà nước và người dân.

Bốn là, khai thác thặng dư dữ liệu và tăng cường bảo vệ chủ quyền dữ liệu. Dữ liệu càng được làm giàu và khai thác thì giá trị thặng dư càng nhiều. Dữ liệu được đưa vào sản xuất, chuyển đổi thành nguyên liệu đầu vào của nền kinh tế - xã hội, nhưng không mất đi như các tài nguyên truyền thống, mà vẫn tiếp tục được lưu trữ, sử dụng, khai thác. Quá trình xử lý dữ liệu cũng tạo ra và thu thập thêm dữ liệu mới. Điều này hình thành thặng dư dữ liệu. Sự tồn tại của thặng dư dữ liệu cũng đặt ra bài toán về tối ưu nguồn tài nguyên này. Khi dữ liệu đủ nhiều, thặng dư đủ lớn, quyền lực dữ liệu được sinh ra và mở rộng tới đời sống thực, tác động tới các mối quan hệ xã hội. Quyền lực dữ liệu giúp định hình các ngành kinh tế, hoạt động xã hội, đánh giá và hiểu rõ được nhu cầu, thực trạng và dự đoán được tương lai của quốc gia, tổ chức, cá nhân, quyết định sự tiến bộ của nhân loại. Không làm chủ dữ liệu đồng nghĩa với không có được “quyền lực dữ liệu”, sẽ đánh mất lợi thế cạnh tranh và cơ hội lịch sử, đánh mất chủ quyền, an ninh dữ liệu, mà thậm chí còn bị các quốc gia khác thu thập và chi phối. Google Maps và dữ liệu giao thông là ví dụ điển hình. Mỗi lần người dùng di chuyển, dữ liệu vị trí được thu thập và lưu trữ. Quá trình xử lý dữ liệu này lại tạo thêm dữ liệu mới về mật độ giao thông, thời gian di chuyển. Từ thặng dư dữ liệu, Google có thể dự đoán tình trạng kẹt xe, tối ưu tuyến đường, thậm chí phân tích xu hướng đô thị hóa…

Sáu là, thúc đẩy nhanh quá trình tạo lập, kết nối, đồng bộ, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia. Việc xây dựng, kết nối, tích hợp các Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành và Cơ sở dữ liệu địa phương vào Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia của Trung tâm Dữ liệu quốc gia theo lộ trình thống nhất. Trong đó, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc được thực hiện theo Nghị định số 278/2025/NĐ-CP, Trung tâm Dữ liệu quốc gia là hạ tầng dữ liệu quốc gia, là đầu mối tiếp nhận, tích hợp, điều phối, chia sẻ dữ liệu trên phạm vi toàn quốc để phục vụ có hiệu quả bài toán quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu, kinh tế dữ liệu và bảo đảm quốc phòng, an ninh bằng dữ liệu. Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng, tạo lập cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra, chưa có nền tảng/CSDL tập trung hoặc mức độ hoàn thiện thấp. Các bộ, ngành, cơ quan trung ương, địa phương chậm ban hành danh mục dữ liệu chủ chuyên ngành, danh mục dữ liệu mở, danh mục dữ liệu dùng chung, chiến lược dữ liệu, chiến lược chuyển đổi số thuộc phạm vi quản lý, khung quản trị, quản lý dữ liệu chi tiết, quy trình kỹ thuật về truy cập, truy xuất dữ liệu, lưu trữ dữ liệu. Các cơ sở dữ liệu khi đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia còn chưa “đúng - đủ - sạch - sống”, dữ liệu phát sinh thay đổi tại nguồn chưa được cập nhật, đồng bộ kịp thời bảo đảm tính “sống” của dữ liệu, đặt ra nguy cơ không bảo đảm tính chính xác của dữ liệu khi phục vụ giải quyết thủ tục hành chính cho người dân.

3. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đem đến cơ hội lịch sử đưa đất nước vươn mình phát triển vượt bậc, bước vào kỷ nguyên mới thịnh vượng. Xây dựng mô hình kinh tế lấy dữ liệu làm trung tâm, lấy chuyển đổi số làm nền tảng vừa là mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược của quốc gia khi thế và lực của đất nước đã hội tụ đầy đủ. Việc phát triển dữ liệu phải đi trước một bước, đưa dữ liệu trở thành tài nguyên, thành tư liệu sản xuất quan trọng trong xây dựng nền văn minh tương lai do dữ liệu tạo ra. Để giải quyết các vấn đề và thực trạng trên, cần quyết tâm thực hiện cuộc cách mạng về phát triển dữ liệu, tập trung vào một số nhiệm vụ:

Một là, xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo đảm dữ liệu là yếu tố then chốt định hình mô hình kinh tế mới của quốc gia, tác động hình thành quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp. Khẩn trương xây dựng khung khổ pháp lý đáp ứng yêu cầu chuyển dịch hoạt động trong môi trường thực lên môi trường số của mọi ngành, lĩnh vực. Xây dựng thể chế phát triển dữ liệu, sản phẩm và dịch vụ dữ liệu, thị trường dữ liệu và xây dựng nền kinh tế dữ liệu. Xác lập quyền sở hữu, tổ chức - quản lý, phân phối dữ liệu. Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào các ngành nghề, dịch vụ dữ liệu, thị trường dữ liệu, nhất là nghiên cứu và phát triển các mô hình ứng dụng dữ liệu. Ban hành sớm các chính sách đột phá thu hút đầu tư trực tiếp của các tập đoàn công nghệ trên thế giới và các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong và ngoài nước khởi nghiệp, đầu tư, mở rộng thị trường dữ liệu tại Việt Nam; nghiên cứu, phát triển các sản phẩm, dịch vụ bảo đảm an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Hai là, tập trung phát triển bốn trụ cột dữ liệu chính gồm: dữ liệu con người, dữ liệu vị trí, dữ liệu hoạt động, dữ liệu vật phẩm nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quản lý điều hành và bảo đảm quốc phòng - an ninh. Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia thu thập, xây dựng, phát triển, khai thác, sử dụng và làm giàu dữ liệu với vai trò dẫn dắt, tiên phong của Nhà nước. Phát huy vai trò của các tổ chức hội về dữ liệu, hình thành đội ngũ doanh nhân dữ liệu; xây dựng thị trường dữ liệu là yếu tố đột phá, làm động lực phát triển dữ liệu và kích thích thúc đẩy chuyển đổi số các ngành, lĩnh vực. Phát triển, sử dụng dữ liệu phải đi đôi với bảo đảm an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Khai thác, sử dụng dữ liệu phải bảo đảm nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan.

Ba là, tăng cường ứng dụng, làm chủ, tiến tới tự chủ các công nghệ dữ liệu cốt lõi, như AI, công nghệ bản sao số, truyền nhận dữ liệu Li-Fi, sinh trắc học, thực tế mở rộng, thực tế ảo, thực tế tăng cường và thực tế hỗn hợp, điện toán lượng tử, 5G, 6G, IoT, chuỗi khối, big data, điện toán đám mây, internet vệ tinh băng thông rộng, các công nghệ mở, mã nguồn mở để phát triển các nền tảng công nghệ lõi của quốc gia, phục vụ phát triển sản phẩm, dịch vụ dữ liệu, thị trường dữ liệu và nền kinh tế dữ liệu.

Bốn là, xây dựng hạ tầng dữ liệu tiên tiến, hiện đại, bảo đảm được đầu tư trước một bước tạo nền tảng cho chuyển đổi số. Tập trung nguồn lực đầu tư, đưa vào khai thác các cơ sở dữ liệu quốc gia, bốn cơ sở dữ liệu trụ cột. Xây dựng và hoàn thành sớm các cơ sở dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số, trước hết là nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và năng lượng, di sản văn hóa, di tích quốc gia, bảo hiểm xã hội, thị trường lao động, giáo dục, y tế, giao thông, tài nguyên và môi trường. Ưu tiên nguồn lực để xây dựng và thống nhất vai trò quản lý nhà nước, chỉ huy, điều phối, phát triển và bảo đảm an ninh dữ liệu của Trung tâm dữ liệu quốc gia. Sắp xếp và tổ chức hoạt động của các trung tâm dữ liệu quốc gia, bộ, ngành, địa phương, vùng, khu vực, doanh nghiệp, thành một mạng lưới chia sẻ năng lực tính toán, xử lý dữ liệu lớn phục vụ phát triển đất nước. Thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đặt các trung tâm dữ liệu, hạ tầng điện toán đám mây tại Việt Nam.

Năm là, đổi mới nhận thức, tư duy, phương thức chỉ đạo, điều hành về chuyển đổi số và phát triển dữ liệu. Thống nhất một ban chỉ đạo để chỉ đạo, điều hành việc hình thành các lực lượng chuyển đổi số và phát triển dữ liệu đủ mạnh. Mạnh dạn lựa chọn lực lượng tiên phong, nòng cốt, xung kích trong mặt trận chuyển đổi số. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền chịu trách nhiệm về thực hiện chuyển đổi số, phát triển dữ liệu. Tăng cường chỉ đạo kế thừa, chia sẻ, tích hợp, tái sử dụng và phát huy tối đa hiệu quả của dữ liệu. Rà soát, loại bỏ các quy định dẫn đến cát cứ dữ liệu, bảo đảm kết nối, liên thông, khai thác hiệu quả dữ liệu, tạo điều kiện người dân, doanh nghiệp khai thác để tạo ra các giá trị mới. Hình thành các thị trường dữ liệu, bảo đảm cân bằng, hài hòa giữa quản lý và phát triển, giữa bảo vệ với khai phá tiềm năng dữ liệu.

Sáu là, tăng cường bảo đảm chủ quyền, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân, coi đây là yêu cầu bảo vệ quan trọng của nền kinh tế dữ liệu. Ưu tiên bảo đảm quyền kiểm soát và quản lý dữ liệu, bảo vệ dữ liệu khỏi các mối đe dọa bên ngoài…/.

--------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 109
(2) n kin Đi hi đi biu toàn quc ln th XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II,  tr. 247
(3) Google kiểm soát hệ điều hành Android, công cụ tìm kiếm, Gmail, YouTube… Facebook, Instagram, WhatsApp nắm giữ dữ liệu hành vi, sở thích, kết nối xã hội của hơn 3 tỷ người. Apple kiểm soát hệ điều hành iOS và App Store, tạo ra hệ sinh thái khép kín. Huawei, TikTok, Alibaba đầu tư hạ tầng viễn thông, thương mại điện tử, phương tiện truyền thông xã hội ra khắp thế giới
(4) Tiêu biểu là Nghị quyết số 175/NQ-CP, ngày 30-10-2023, của Chính phủ, “Phê duyệt Đề án Trung tâm dữ liệu quốc gia”, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” xác định chuyển đổi số là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới quản trị quốc gia. Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW, ngày 19-6-2025, của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
(5) n kin Đi hi đi biu toàn quc ln th XIII, Sđd, t. I, tr. 110
(6) n kin Đi hi đi biu toàn quc ln th XIV, Sđd, t. 2, tr. 191
(7) n kin Đi hi đi biu toàn quc ln th XIV, Sđd, t. 2, tr. 219
(8) n kin Đi hi đi biu toàn quc ln th XIV, Sđd, t. 2, tr. 377