TCCSĐT - Ngày 19-3-2015, Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam (Ban Chỉ đạo 33) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức Hội nghị tổng kết Dự án “Xử lý đi-ô-xin tại các điểm ô nhiễm nặng đi-ô-xin ở Việt Nam” do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua UNDP.

Dự án được thực hiện từ năm 2010 với tổng kinh phí là hơn 5 triệu USD (bao gồm gần 5 triệu USD từ GEF và 76.000 USD từ Cộng hòa Séc), với mục tiêu nhằm giảm thiểu tác hại của đi-ô-xin đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người tại các khu vực: sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát.

Dự án có giá trị liên kết và tăng hiệu quả của các hoạt động khác có liên quan đến nghiên cứu và khắc phục hậu quả chất độc da cam/đi-ô-xin tại Việt Nam và hỗ trợ Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam (Văn phòng Ban Chỉ đạo 33) trong vai trò là cơ quan đầu mối điều phối và hợp tác giữa các đơn vị trong nước và với các đối tác quốc tế như Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ, Cộng hòa Séc, tổ chức SIDA (Thụy Điển), Hàn Quốc và Nhật Bản.

Hơn 40 năm sau khi Mỹ rải chất độc hóa học ở Việt Nam, nồng độ đi-ô-xin ở những vùng bị phun rải đã giảm dưới ngưỡng cho phép, không còn nguy hiểm nữa. Đi-ô-xin tồn lưu với nồng độ cao từ vài chục đến vài trăm lần ngưỡng cho phép chỉ tập trung ở 03 sân bay cũ là Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát. Đây là nơi chứa, nạp chất diệt cỏ lên máy bay để đi phun rải, rửa máy bay sau khi phun rải và chứa các vỏ thùng đựng chất diệt cỏ, đóng lại các thùng chất diệt cỏ để đưa về Mỹ; sự cố chảy tràn (Biên Hòa). Chỉ còn một số nơi (ao hồ, sông suối) có thể còn lắng đọng chất diệt cỏ/đi-ô-xin do mưa lũ cuốn trôi từ những khu vực bị phun rải và những điểm sự cố máy bay khi đi phun rải là chưa được điều tra đầy đủ.

Phát biểu tại Hội nghị, TS. Nguyễn Thế Đồng, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo 33, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục môi trường, nhận xét: “Dự án đã thực hiện tốt các mục tiêu được đặt ra, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng đối với việc nghiên cứu và khắc phục hậu quả phức tạp và lâu dài của chất độc da cam/đi-ô-xin tại Việt Nam”.

Dự án đã giúp gần 170.000 người dân sống ở các khu vực xung quanh sân bay Biên Hòa và sân bay Phù Cát thoát khỏi nguy cơ phơi nhiễm với chất độc da cam/đi-ô-xin; chôn lấp cách ly được 7.500m3 đất ô nhiễm đi-ô-xin tại sân bay Phù Cát. Việc hoàn thiện bãi chôn lấp Phù Cát là một trong 10 sự kiện môi trường tiêu biểu của Việt Nam trong năm 2012. Dự án đã hoàn thiện công trình ngăn chặn lan tỏa tạm thời của đi-ô-xin tại sân bay Biên Hòa vào tháng 02-2014 nhằm ngăn chặn việc phát tán đi-ô-xin vào môi trường xung quanh và cách ly khoảng hơn 100.000 m3 đất trong khu vực Pacer Ivy và các khu vực khác tại sân bay Biên Hòa. Những hoạt động này giúp ngăn chặn nguy cơ phơi nhiễm đi-ô-xin cho 120.000 người dân sống gần khu vực sân bay Biên Hòa và 47.000 người sống xung quanh sân bay Phù Cát.

Dự án đã thúc đẩy việc phát triển công nghệ xử lý phù hợp thông qua công tác thử nghiệm các công nghệ xử lý đi-ô-xin tại hiện trường và trong phòng thí nghiệm. Các thử nghiệm này đã tạo cơ hội cho các nhà khoa học Việt Nam cũng như các cán bộ nhà nước tham gia, nâng cao kiến thức và năng lực trong việc tẩy độc môi trường. Cũng trong lĩnh vực hoạt động này, dự án đã hỗ trợ xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn và quy chuẩn đi-ô-xin trong môi trường.

Điều đặc biệt quan trọng là dự án đã có những nỗ lực đáng kể trong việc phát hành và phổ biến các thông tin khoa học, các tài liệu nâng cao nhận thức, cung cấp những thông tin cập nhật thường xuyên tới các cơ quan, tổ chức truyền thông nhằm giảm những nguy cơ phơi nhiễm đi-ô-xin cho cộng đồng dân cư sống xung quanh vùng bị ô nhiễm. Hàng trăm bài báo, các bản tin và các ấn phẩm liên quan đã được phát hành và phổ biến trong hơn 05 năm qua. Các tài liệu này cũng bao gồm bản đồ các khu vực ô nhiễm trong và xung quanh sân bay Biên Hòa.

Phó Giám đốc quốc gia của UNDP tại Việt Nam, ông B. Bu-kha-nốp (Bakhodir Burkhanov), đánh giá cao công tác truyền thông của dự án và nhấn mạnh tầm quan trọng của truyền thông nhằm giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm đối với người dân. Ông nói: “Công tác truyền thông trong cộng đồng nhằm thúc đẩy những tập quán hành vi an toàn cũng quan trọng không kém những nỗ lực xử lý ô nhiễm. Cung cấp thông tin chính xác và vận động, nâng cao nhận thức của cộng đồng sẽ góp phần rất lớn vào nỗ lực giảm thiểu tác hại của đi-ô-xin đối với hệ sinh thái và sức khỏe của người dân”.

Tuy nhiên việc xử lý chất độc da cam/đi-ô-xin hiện nay vẫn còn một số bất cập. Đó là: Các cuộc thảo luận giữa Việt Nam và đối tác không thống nhất được yêu cầu xử lý đi-ô-xin đến nồng độ nào; Không có sự ràng buộc chặt chẽ giữa cơ quan quản lý dự án xử lý của Việt Nam với đối tác nên việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn đề ra chưa tốt; Việc thanh tra của cơ quan chức năng nhà nước với hoạt động xử lý không kịp thời nên hạn chế hiệu quả của các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện công tác xử lý.

Hội nghị đề xuất một số vấn đề cần lưu ý như: Hoàn thiện các văn bản pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn về ngưỡng đi-ô-xin tại các khu vực, các vùng đất ô nhiễm; Rà soát, bổ sung các văn bản pháp lý cần thiết; Có tiêu chí cụ thể về lựa chọn công nghệ xử lý đi-ô-xin; Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng của Việt Nam với các đối tác; Nâng cao năng lực giám sát một cách chủ động và hiệu quả; Tiến hành thanh tra kịp thời đối với việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình xử lý của các cơ quan tiến hành dự án xử lý./.