Định hướng phát triển kinh tế biển, đảo vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Nguyễn Hoàng Hà Quyền Trưởng ban Ban Tổng hợp Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
22:13, ngày 17-01-2014

TCCSĐT - Để xây dựng định hướng phát triển kinh tế biển, đảo của vùng Bắc Trung Bộ một cách hợp lý, bài viết muốn đi sâu nghiên cứu, tiếp cận, đánh giá và phân tích vấn đề theo “3 cấp độ không gian”: (i) Việt Nam trong khu vực; (ii) Miền Trung trong Việt Nam; (iii) Bắc Trung Bộ trong miền Trung.

Nghị quyết của Chính phủ số 27/2007/NQ-CP ngày 30-5-2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 nêu rõ: nhiệm vụ của ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển, cần xây dựng quy hoạch phát triển vùng biển, đảo thuộc địa phương quản lý và xây dựng các danh mục ưu tiên đầu tư trình Chính phủ phê duyệt.

Những năm gần đây, hầu hết các quốc gia có biển trên thế giới đã và đang đẩy mạnh khai thác mọi nguồn lực của biển cho phát triển kinh tế. Biển Đông là nơi sinh kế trực tiếp của hơn 300 triệu cư dân thuộc 11 quốc gia và vùng lãnh thổ, là tuyến đường hàng hải “trọng yếu”, là “khu căn cứ” quân sự của các quốc gia.

Vùng biển Việt Nam có trên 1 triệu km2, với hơn 3.000 hòn đảo, trong đó có 2.773 đảo ven bờ, 187 đảo xa bờ. Đường bờ biển (không bao gồm các đường ven đảo) dài trên 3.260 km, tỷ lệ giữa diện tích lục địa và chiều dài bờ biển là 100 km2/1km (thế giới 600 km2/1km); có 114 cửa sông, 12 đầm phá, 50 vũng, vịnh ven bờ; có 20 kiểu hệ sinh thái biển điển hình; với trên 100 điểm khoáng sản đã được phát hiện. Việt Nam có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giáp biển, với 134 đơn vị cấp quận/huyện có biển, bao gồm 30quận/thị xã, 92 huyện và 12 huyện đảo; tổng số xã, phường trực tiếp giáp biển là 637 đơn vị, trong đó 469 xã (với 47 xã đảo) và 155 phường/thị trấn (với 13 thị trấn/phường đảo).

Theo Tổng cục Thống kê (năm 2011), nếu chưa tính các xã đảo thuộc các huyện ven biển, thì diện tích đất tự nhiên của 12 huyện đảo là 2.459 km2 (tương đương với diện tích các tỉnh Bạc Liêu, Tiền Giang, lớn gấp 3 lần diện tích tỉnh Bắc Ninh và gấp hai lần diện tích tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Đà Nẵng); với gần 242 nghìn người hiện đang sinh sống (tương đương với khoảng 3/4 dân số tỉnh Bắc Cạn, 3/5 dân số tỉnh Lai Châu), trong đó có các huyện đảo lớn như Phú Quốc (Kiên giang) có diện tích gần 589 km2 (gần bằng quốc đảo Xin-ga-po) với trên 93 nghìn người; Vân Đồn (Quảng Ninh) diện tích trên 553 km2 và gần 41 nghìn người; Cát Hải (Hải Phòng) trên 334 km2 với hơn 30 nghìn người. Như vậy, diện tích lãnh thổ đất tự nhiên và dân số sinh sống trên các đảo hiện chiếm một phần không nhỏ. Tất cả các đảo hợp thành bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, thống nhất, không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam.

Theo Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, mục tiêu phát triển biển được Nghị quyết Đảng ta nêu rõ: Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu, mạnh. Với mục tiêu cụ thể đó, chúng ta phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước; thu nhập bình quân đầu người nơi đây cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước; phấn đấu xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, phát triển mạnh cả khai thác, chế biến sản phẩm từ biển và phát triển các ngành dịch vụ biển; xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển.

Kể từ khi có Chiến lược biển, đến nay 5 nhóm ngành, lĩnh vực đã được Nhà nước ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đó là: (1) Khai thác, chế biến dầu, khí; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác và chế biến hải sản; (4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; (5) Khu Kinh tế ven biển. Kinh tế biển nói chung đã có những khởi sắc, mang lại những kết quả tích cực bước đầu. Hiện nay cả nước có 18 Khu kinh tế ven biển, 07 sân bay, hơn 90 cảng biển, 65 đô thị,... đã được xây dựng, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thu nhập từ biển và khu vực ven biển ước chiếm khoảng 50% tổng GDP của cả nước. Luật Biển Việt Nam được ban hành năm 2012, trong đó tại Điều 43 nêu rõ nhóm ngành, lĩnh vực được Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển có phạm vi rộng hơn so với Chiến lược biển với 06 nhóm ngành (trong đó có 04 nhóm ngành được kế thừa từ Chiến lược biển) bao gồm: (i) Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; (ii) Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; (iii) Du lịch biển và kinh tế đảo; (iv) Khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; (v) Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; (vi) Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển.

Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý lựa chọn 5 nhóm khu kinh tế ven biển để tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2013 - 2015: (1) Nhóm Khu kinh tế Chu Lai - Dung Quất; (2) Khu Kinh tế Đình Vũ; (3) Khu Kinh tế Nghi Sơn; (4) Khu Kinh tế Vũng Áng; và (5) Khu Kinh tế đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới. Trong đó có 2 khu thuộc vùng Bắc Trung Bộ và 1 khu thuộc vùng Nam Trung Bộ. Đây là lợi thế trong phát triển các trung tâm hướng ra biển của vùng so với các vùng khác trong cả nước.

Theo Dự thảo Báo cáo Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung, mục tiêu phát triển tổng quát của vùng tới 2020 là phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung trở thành khu vực phát triển năng động có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững; là khu vực phát triển các hoạt động kinh tế - văn hóa biển của cả nước và khu vực đưa ngành du lịch và các khu du lịch của vùng đạt trình độ cao của khu vực và quốc tế, trở thành một trong những cửa ngõ ra biển, cũng như đầu mối giao lưu quan trọng của cả nước và các nước trong khu vực với một vài cảng biển thương mại và sân bay quốc tế tầm cỡ khu vực. Đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân căn bản được cải thiện; các di sản và di tích văn hóa được giữ gìn, phát huy có hiệu quả; ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái.

Đến nay, mặc dù có những sự quan tâm về biển, đảo từ mọi cấp nhưng đời sống của người dân ven biển vùng Bắc Trung Bộ vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Tốc độ tăng dân số bình quân của các huyện ven biển từ năm 2001 cho đến năm 2011 ở mức âm; tỷ lệ dân cư vùng ven biển, đảo xuống chỉ còn 48% so với dân số toàn vùng vào năm 2011 (năm 2001 là 49%). Chính vì thế, định hướng sắp tới về phát triển kinh tế biển của vùng Bắc Trung Bộ cần dựa trên định hướng phát triển các ngành kinh tế biển đã được Chiến lược biển và Luật Biển Việt Nam xác định; đồng thời dựa trên lợi thế cạnh tranh, mang tính khác biệt của vùng, phù hợp với nhu cầu của thị trường trong thời gian tới, đó chính là phát triển mạnh các khu kinh tế, tạo chân hàng lớn để có thể phát triển kinh tế hàng hải; xây dựng các trung tâm tiến ra biển; du lịch biển; đào tạo nhân lực biển và nuôi trồng hải sản.

Về đô thị biển

- Đầu tư phát triển theo quy hoạch và xây dựng thành phố Thanh Hóa trở thành một trung tâm phát triển ở Bắc miền Trung. Xây dựng và phát triển Vinh là Trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ theo Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg ngày 30-9-2005 của Thủ tướng Chính phủ.

- Xây dựng và phát triển các thành phố, thị xã ven biển trên từng tỉnh trở thành những trung tâm tiến ra biển của từng tỉnh như: thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh của Hà Tĩnh; thành phố Đồng Hới và khu kinh tế Hòn La của Quảng Bình; Đông Hà gắn kết với không gian kinh tế cảng Cửa Việt của Quảng Trị; thành phố Huế trở thành thành phố Festival, thành phố du lịch, trung tâm văn hóa, kinh tế của vùng; trung tâm thương mại, dịch vụ và giao dịch quốc tế, trung tâm khoa học, đào tạo và trung tâm y tế đa ngành chất lượng cao của vùng.

Về khu kinh tế ven biển

Phát triển khu kinh tế phải gắn với quy hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương và của vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo đảm phát triển môi trường bền vững làm thước đo cao nhất, vừa hướng tới hiện đại vừa bảo đảm sử dụng hiệu quả cả quỹ đất, mặt nước và không gian khu kinh tế. Đồng thời phải phân khúc theo từng giai đoạn phù hợp với điều kiện cụ thể và thống nhất với định hướng phát triển của quốc gia, cụ thể là: tập trung vào một số nhiệm vụ quan trọng như xây dựng kế hoạch đầu tư của từng khu theo định hướng phát triển và phải tập trung vào các dự án, công trình nòng cốt và có tính chiến lược theo bước đi thích hợp. Đề xuất cơ chế tài chính cho từng dự án, công trình; tính toán rõ nhu cầu hỗ trợ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Xúc tiến đầu tư và mở rộng hợp tác quốc tế để đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu kinh tế.

Về du lịch ven biển

Căn cứ vào sự phân bố tài nguyên, đặc biệt sự xuất hiện những yếu tố mới liên quan đến phát triển du lịch, không gian du lịch biển và ven biển Bắc Trung Bộ được chia thành 2 tiểu vùng du lịch:

Tiểu vùng du lịch phía Bắc từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh với trung tâm du lịch của tiểu vùng là thành phố Vinh. Đây là địa bàn tập trung nhiều bãi biển đẹp vốn đã nổi tiếng như Sầm Sơn, Cửa Lò, Xuân Thành, Thiên Cầm,… gắn với nhiều di tích lịch sử văn hóa có giá trị mà tiêu biểu là di tích Kim Liên, Di sản văn hóa thế giới thành Nhà Hồ, Lam Kinh,…

Tiểu vùng Nam Bắc Trung Bộ từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế với trung tâm tiểu vùng là thành phố Huế. Đây là địa bàn tập trung tới 03 di sản thế giới, trong đó có 01 di sản thiên nhiên là Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng; đồng thời cũng là nơi có nhiều bãi biển đẹp như Nhật Lệ, Cửa Tùng, Cửa Việt, Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô và là nơi có nhiều di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng, tiêu biểu là thành cổ Quảng Trị, đường Hồ Chí Minh, địa đạo Vĩnh Mốc, Cồn Cỏ, cầu Hiền Lương,... Tuy nhiên, nơi đây còn chịu ảnh hưởng khá lớn của tính mùa vụ trong du lịch do đặc điểm thời tiết, khí hậu.

Trong không gian du lịch này, du lịch đặc trưng là các di sản thế giới. Có tới 3/9 di sản thế giới ở Việt Nam được UNESCO công nhận, vinh danh bao gồm: Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Quần thể di tích Cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế (Thừa Thiên Huế). Với số lượng di sản này, không gian du lịch biển Bắc Trung Bộ được xem là lãnh thổ có mật độ di sản cao nhất nước và khá cao so với nhiều các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Đây là yếu tố quan trọng quyết định lựa chọn phát triển loại hình/sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng lãnh thổ.

Tài nguyên du lịch thiên nhiên trong không gian du lịch này là các bãi biển như Đá Nhảy, Nhật Lệ (Quảng Bình); Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thủy (Quảng Trị); Thuận An, Lăng Cô (Thừa Thiên Huế). Đây là yếu tố quan trọng để ưu tiên phát triển loại hình du lịch sinh thái nghỉ dưỡng và thể thao. Huế và Đà Nẵng được xác định là 2 trung tâm đồng vị trong không gian du lịch của cả miền Trung bởi Đà Nẵng là đô thị loại I trực thuộc trung ương và đang được nâng cấp thành phố lớn thứ 3 của đất nước (sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh), có sân bay quốc tế Đà Nẵng (cửa ngõ đường không), cảng Đà Nẵng (cửa ngõ đường biển); thành phố Huế là thành phố loại I có sân bay quốc tế Phú Bài (cửa ngõ đường không) và cảng nước sâu Chân Mây (cửa ngõ đường biển) ở biển Bắc Trung Bộ.

Để thực hiện Kết luận 60-KL/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược biển, tập trung phát triển 6 nhóm ngành kinh tế biển theo Điều 43 Luật Biển Việt Nam năm 2012, Nghị quyết của Chính phủ số 27/2007/NQ-CP ngày 30-5-2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng phát triển kinh tế biển, đảo vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, cần triển khai thực hiện một số giải pháp:

Một là, sơ kết, đánh giá nghiêm túc, chính xác các nhiệm vụ trong Chương trình hành động thực hiện Chiến lược biển, trong đó trọng tâm là đánh giá về xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế biển, đảo, thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm và việc di giãn dân đến các huyện ven biển; đồng thời, đề xuất các nhiệm vụ mới trong phát triển kinh tế biển phù hợp với bối cảnh mới.

Hai là, xây dựng các chương trình nâng cao văn minh thương mại, văn minh du lịch; xúc tiến, quảng bá hình ảnh chung cho toàn vùng; chương trình ứng phó và giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu; tiếp tục thực hiện các chương trình hỗ trợ ngư dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân biển, đảo bám biển, mở rộng sinh kế theo hướng bền vững.

Ba là, các địa phương tiếp tục hoàn thiện và cụ thể hóa, đồng bộ hóa các chính sách phát triển kinh tế biển, đảo của Trung ương phù hợp với tình hình của địa phương mình. Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện Chiến lược biển. Kiện toàn, ổn định các cơ quan quản lý biển đảo tại địa phương. Tăng cường kết nối, phối hợp giữa các địa phương trong vùng, giữa địa phương với các bộ, ngành trung ương; tăng cường hiện đại hóa cơ sở vật chất và hệ thống thông tin liên lạc trên các tuyến ven biển, đảo và trên biển.

Bốn là, đẩy mạnh phổ biến và cập nhật kiến thức về biển, đảo cho các ngành, các cấp, cho ngư dân, tạo ra sự hiểu biết và thống nhất trong cách quản lý, thực hiện, giám sát các hoạt động liên quan đến kinh tế biển và vấn đề chủ quyền quốc gia; kết hợp chặt chẽ, gắn bó phát triển kinh tế biển, đảo với bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, với các hoạt động quốc phòng an ninh./.