Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nỗ lực bảo đảm an sinh xã hội giai đoạn hiện nay
TCCSĐT - Việc Chính phủ cho phép giá cả một số
mặt hàng trọng yếu như điện, xăng dầu, ngoại tệ... đồng loạt tăng thời gian qua
làm cho tình hình lạm phát diễn biến rất phức tạp. Trước tình hình đó, Nghị
quyết 11 của Chính phủ Về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội ra đời. Ngành Lao
động, Thương binh và Xã hội đã hưởng ứng đồng thuận nhanh chóng và thực hiện có
hiệu quả Nghị quyết này.
Trong 10 năm
qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về phát triển kinh tế-xã hội,
tốc độ tăng trưởng bình quân đạt gần 8%/năm, tỷ lệ nghèo giảm nhanh từ 58% năm
1993 xuống còn 9,45% năm 2010. Hệ thống chính sách an sinh xã hội được xây dựng
và phát triển tương đối đồng bộ, từng bước được hoàn thiện, bảo đảm quyền
lợi của người dân, đặc biệt chú ý đến người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn, người dân tộc thiểu số, dân cư vùng nông thôn, dân cư vùng sâu, vùng
xa, miền núi, hải đảo. Đối tượng tham gia và thụ hưởng các chính sách an sinh
xã hội được mở rộng, đa dạng về hình thức và gia tăng về quy mô; dân cư, kể cả
dân cư vùng nông thôn đã bước đầu chủ động phòng ngừa, đối phó, giảm thiểu và
khắc phục có hiệu quả những rủi ro để ổn định cuộc sống.
Tuy nhiên, nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít
khó khăn, thách thức. Chuyển dịch cơ cấu lao động chậm, chất lượng việc làm
không cao, đời sống một bộ phận dân cư còn khó khăn, chênh lệch mức sống giữa
các vùng, miền, giữa nông thôn và thành thị có xu hướng gia tăng; giảm nghèo
nhanh nhưng chưa bền vững; độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội và mức hỗ trợ
còn thấp, khả năng tiếp cận của nhiều nhóm đối tượng chưa cao, năng lực phòng,
chống và quản lý rủi ro của người dân còn thấp, nguồn lực cho an sinh xã hội
còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách của Nhà nước.
Đặc biệt từ đầu năm 2011 đến
nay, tình hình giá cả thế giới có nhiều biến động, một số mặt hàng là đầu vào
quan trọng của sản xuất như điện, xăng dầu phải điều chỉnh tăng giá để thực
hiện theo cơ chế giá thị trường, dẫn tới giá cả sinh hoạt cũng tăng cao, đời
sống nhân dân, nhất là người nghèo, người có thu nhập thấp gặp nhiều khó khăn.
Trước tình hình đó, Chính phủ
đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 09-01-2011 về những giải pháp chủ yếu
chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân
sách nhà nước năm 2011 và Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24-02-2011 về những giải
pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
sinh xã hội; trong đó xác định việc bảo đảm an sinh xã hội là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ,
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Quyết định số
278/QĐ-LĐTBXH ngày 11-3-2011 về Chương trình hành động của ngành Lao động -
Thương binh và Xã hội thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ; đồng thời
thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ khác nhằm tăng cường bảo đảm an sinh xã hội,
xóa đói giảm nghèo thời kỳ lạm phát. Trong giai đoạn hiện nay, chủ trương và
giải pháp bảo đảm an sinh xã hội có một số đặc điểm chính sau:
1- Chủ trương bảo đảm an sinh xã hội
Đảng và Nhà nước ta chủ trương bảo đảm an sinh xã hội phù
hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ XI xác định một trong những nhiệm vụ chủ yếu là: “Tập trung
giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân. Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo”.
Trong điều kiện kinh tế - xã hội của đất
nước giai đoạn hiện nay, chủ trương bảo đảm an sinh xã hội tập trung vào một số
nội dung:
- Phát triển hệ thống an sinh xã hội có trọng tâm
trong thời kỳ lạm phát, cần chú trọng đến nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, bao
gồm: người nghèo, người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi, người ốm đau, người
dân ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc miền núi, lao động nông thôn, khu vực
phi chính thức, người thất nghiệp, người bị ảnh hưởng của thiên tai và các rủi
ro bất khả kháng khác;
- Xây dựng và thực hiện hệ thống an sinh xã hội
hướng tới bao phủ toàn bộ người dân, trước mắt là nhóm đối tượng dễ bị tổn
thương; phát triển hệ thống chính sách an sinh xã hội đa dạng, nhiều tầng lớp,
bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân;
- Phát triển hệ thống an sinh xã hội dựa trên
quyền được an sinh của người dân và phù hợp với khả năng ngân sách của
Nhà nước nhằm mục tiêu hỗ trợ, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân;
- Nâng cao năng lực tự vươn lên, thoát
khỏi hoàn cảnh khó khăn của nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và khả năng tự an
sinh của người dân thông qua các chính sách hỗ trợ gián tiếp để phát triển kinh
tế, giảm nghèo bền vững; tăng cường chính sách trợ giúp trực tiếp đối với nhóm
đối tượng không có khả năng tự bảo đảm an sinh.
- Nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong
việc tổ chức thực hiện an sinh xã hội, đồng thời mở rộng sự tham gia của các đối
tác xã hội thông qua các cơ chế khuyến khích, thu hút sự tham gia của các đối
tượng vào cung cấp dịch vụ an sinh xã hội. Đồng thời phát huy vai trò và trách nhiệm
của cá nhân, hộ gia đình, người lao động, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc
thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội.
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an
sinh xã hội; phấn đấu từng bước phát triển các chính sách an sinh xã hội phù
hợp với xu hướng và chuẩn mực quốc tế.
2- Giải pháp bảo đảm an sinh xã hội
Có nhiều giải pháp bảo đảm an sinh xã hội
được xây dựng, triển khai đồng bộ trong giai đoạn hiện nay; trong đó, có
những giải pháp cụ thể, cấp bách, ngắn hạn nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống của nhóm
đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội, người lao động, người dân thời
kỳ lạm phát và những giải pháp tổng thể, dài hạn nhằm phát triển hệ thống an
sinh xã hội toàn dân, toàn diện, hỗ trợ mọi người dân đối phó hiệu quả
với các rủi ro, bảo đảm phúc lợi cho đối tượng xã hội, người lao động và gia
đình cũng như toàn bộ cộng đồng.
a) Nhóm giải pháp về thực hiện hiệu quả chính sách trợ giúp
xã hội
- Thực hiện điều chỉnh
nâng mức trợ cấp đối với người có công từ ngày 01-5-2011 và theo dõi chặt chẽ
tình hình đời sống người có công để hỗ trợ kịp thời những gia đình người có
công gặp khó khăn.
- Bảo đảm thực hiện hiệu quả,
kịp thời các chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng xã hội quy định tại
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
- Trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên
chức, lực lượng vũ trang, người hưởng lương hưu có mức lương thấp, người hưởng
trợ cấp ưu đãi người có công và hộ nghèo đời sống khó khăn theo quy định tại
Quyết định số 471/QĐ-TTg ngày 30-3-2011 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chủ động đối phó với tình hình thiếu lương
thực và khắc phục hậu quả thiên tai tại các tỉnh, thành phố trong cả nước;
hướng dẫn các địa phương chủ động bám sát tình hình, tổ chức cứu trợ kịp thời
cho những gia đình thiếu đói, sử dụng các nguồn kinh phí của địa phương, nguồn
hỗ trợ của Trung ương và các nguồn tài trợ khác đúng mục đích, đúng đối tượng,
hiệu quả.
- Tăng cường các chương trình trợ giúp xã hội để hỗ trợ
các thiếu hụt về thu nhập của người nghèo kinh niên và các đối tượng xã hội;
đổi mới mô hình và hình thức cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội; nâng cao hiệu
quả của công tác thông tin, quản l ý và giám
sát đối tượng trợ giúp xã hội; nâng cao năng lực của người dân đối phó với rủi
ro đột xuất.
- Tiếp tục hoàn thiện
chính sách trợ giúp xã hội và xem xét điều chỉnh mức chuẩn để tính mức
trợ giúp xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; tạo môi trường pháp lý,
hành chính, xã hội cho các đối tượng dễ bị tổn thương tiếp cận các dịch vụ xã
hội cơ bản và hòa nhập cộng đồng; huy động sự tham gia của cộng đồng, các tổ
chức xã hội trợ giúp các đối tượng.
- Củng cố, quy hoạch
và phát triển hệ thống các cơ sở trợ giúp xã hội, bao gồm các cơ sở bảo trợ xã
hội, các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội, các Trung tâm chữa bệnh-giáo
dục-lao động và xã hội...; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, nhân viên; hỗ trợ
nâng cấp, sửa chữa cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị cần thiết; bảo vệ môi
trường trong cơ sở nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và trợ giúp
đối tượng xã hội.
b) Nhóm
giải pháp về giảm nghèo
- Tiếp tục thực hiện đồng bộ, lồng ghép các chương
trình, chính sách hiện hành có điều chỉnh, bao gồm: (b1) Chính sách hỗ trợ lao
động nghèo, người thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn có việc làm, thu
nhập ổn định và tham gia thị trường lao động; hỗ trợ dân cư nông thôn dễ dàng
tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản; (b2) tuyên truyền,
hỗ trợ đối với 40% dân số nông thôn hiện nay chưa tham gia bảo hiểm y tế;
(b3) bổ sung nhóm đối tượng nghèo kinh niên được hưởng chính sách trợ giúp xã
hội thường xuyên; (b4) tiếp tục xây dựng, thực hiện Nghị quyết về định hướng
giảm nghèo thời kỳ 2011-2020, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo thời kỳ
2011- 2015 và Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP.
- Đổi mới nội dung hỗ trợ người nghèo; hoàn thiện việc
theo dõi, giám sát và đánh giá các chương trình giảm nghèo; xã hội hóa nguồn
lực cho xóa đói giảm nghèo; nâng cao năng lực và điều kiện làm việc cho đội ngũ
cán bộ cơ sở để đáp ứng được yêu cầu công việc.
- Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ các hộ nghèo về tiền
điện và các chính sách mới ban hành để bảo đảm thực hiện chi trả tiền hỗ trợ
cho hộ nghèo kịp thời, đúng đối tượng.
c) Nhóm giải pháp tăng cường tiếp cận các dịch
vụ xã hội cơ bản cho các đối tượng dễ bị tổn thương và vùng đặc thù
- Phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt
Nam; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội
ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số
lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch
vụ công tác xã hội tại các cấp.
- Tăng cường khả năng tiếp
cận các chính sách và dịch vụ cho các đối tượng dễ bị tổn thương; góp phần giúp đối tượng thoát nghèo, hòa nhập cộng đồng
xã hội và ổn định cuộc sống.
- Tiếp tục ưu tiên nguồn lực của Nhà nước đầu tư phát
triển các dịch vụ xã hội cơ bản; tăng cường sự tham gia của các đối tác xã hội
trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho các đối tượng dễ bị tổn
thương.
- Phát triển các hình thức chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng gắn với hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ
công tác xã hội tại các cấp; nâng cao chất lượng đời sống của trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn.
d) Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ
người dân có việc làm, nâng cao thu nhập và tham gia thị trường lao động
- Theo dõi chặt chẽ tình hình
biến động lao động trong các doanh nghiệp, đặc biệt là tại các khu công nghiệp,
các dự án phải dừng, giãn tiến độ để có các giải pháp kịp thời tạo điều kiện
cho người lao động mất việc nhanh chóng tìm được việc làm; theo dõi chặt chẽ
tình hình lao động đang làm việc ở nước ngoài, kịp thời đề xuất các giải pháp
để bảo đảm quyền lợi hợp pháp và an toàn cho người lao động. Phát triển hệ
thống thông tin thị trường lao động, nâng cao năng lực dự báo và cung cấp thông
tin thị trường lao động tại các vùng nông thôn, vùng chuyển đổi cơ cấu đất đai;
tổ chức việc làm tạm thời cho người lao động nghèo bị thất nghiệp, thiếu việc
làm trong các hộ gia đình nghèo hoặc cận nghèo.
- Theo dõi tình hình tiền lương, thu nhập của người
lao động; nghiên cứu đề xuất giải pháp để cải thiện tiền lương, thu nhập để
người lao động bớt khó khăn trong điều kiện lạm phát, giá cả sinh hoạt tăng
cao; giảm nguy cơ tranh chấp lao động.
- Tiếp tục xây dựng
và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm và dạy nghề giai đoạn
2011-2015; xây dựng một hệ thống chính sách tín dụng thống nhất trên cơ
sở đánh giá kết quả thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi hiện hành.
- Tập trung triển khai các Đề án dạy nghề hiện hành;
triển khai các chương trình, dự án di dân, định canh, định cư cho người dân gắn
với điều kiện cụ thể của các vùng, nhằm ổn định cuộc sống cho nhân dân, tạo điều
kiện chuyển đổi nghề.
e) Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách,
hỗ trợ người dân tham gia các loại hình bảo hiểm
- Tổ chức tốt việc thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp nhằm nhanh chóng đưa người lao động trở lại thị trường lao động. Từng
bước mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp để bảo đảm mục tiêu an
sinh xã hội.
- Thí điểm chính sách hỗ trợ nông dân tham gia bảo hiểm
nông nghiệp nhằm bảo đảm đời sống của người dân và duy trì sản xuất.
- Nghiên cứu và hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội
tự nguyện.
- Nâng cao nhận thức và ý thức của người dân tham gia
bảo hiểm y tế, đặc biệt chú trọng đối với nhóm người lao động trong khu vực phi
chính thức, người dân sinh sống ở khu vực nông thôn. Tăng cường tiếp cận dịch
vụ bảo hiểm y tế, chất lượng dịch vụ y tế đối với người hưởng dịch vụ bảo hiểm
y tế.
f) Nhóm giải
pháp thúc đầy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an sinh xã hội
Tăng cường hợp tác của cộng đồng quốc tế trong triển
khai thực hiện chính sách an sinh xã hội; hỗ trợ các dự án kỹ thuật để thí điểm
các chính sách, chương trình mới và nâng cao năng lực cho các cơ quan, tổ chức
thực hiện an sinh xã hội./.
Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng dành cho lãnh đạo các cơ quan khoa học - kỹ thuật khu vực phía Bắc  (27/05/2011)
EU là đối tác chiến lược của Việt Nam trên tất cả các phương diện  (27/05/2011)
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan thăm và tặng quà trẻ em nghèo học giỏi xã Phúc Tiến (Hòa Bình)  (27/05/2011)
Đừng thấy đỏ mà tưởng chín  (27/05/2011)
Phát triển kinh tế tri thức vươn lên trình độ tiên tiến thế giới  (27/05/2011)
LDCs - những thách thức và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế  (27/05/2011)
- Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) - Doanh nghiệp nhà nước tiên phong xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm