Lễ hội cổ truyền Hà Nội
![]() |
|
Lễ hội Đống Đa |
TCCS - Trong đời sống xã hội hiện nay, lễ hội Hà Nội cần được coi như là một tiềm năng văn hóa, vừa để xây dựng và phát triển bộ mặt văn hóa đa dạng của Thủ đô, vừa là cơ sở để quảng bá và phát triển văn hóa du lịch, nhất là Hà Nội đang gấp rút chuẩn bị cho đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.
I - Diện mạo của lễ hội ở Hà Nội
1 - Hiện nay chưa có ai đưa ra số liệu thống kê chính xác số lượng các lễ hội ở Hà Nội (cả nội và ngoại thành). Sách Hội làng Hà Nội của nhóm tác giả do Lê Trung Vũ chủ biên(1), đưa ra danh mục 201 lễ hội, còn trong công trình Văn hóa phi vật thể ở Hà Nội (2) do Phan Hồng Giang chủ biên thì đưa ra con số 183 lễ hội. Chúng tôi so sánh giữa các danh mục khác nhau và chọn ra 180 lễ hội (chưa đầy đủ) của Hà Nội, trong đó: 9 quận nội thành có 68 lễ hội, còn 5 huyện ngoại thành có 112 lễ hội. Con số này trái với nhận thức của nhiều người cho rằng lễ hội chủ yếu là hội làng, gắn với nông thôn, còn ở đô thị thì mất đi nhiều. Nhưng thực ra lễ hội trong nội thành vốn là hội làng, nay đã biến đổi nhiều, phần lớn không còn gắn với cộng đồng làng xã thuần túy nữa mà đã biến dạng để phù hợp với cộng đồng các phường hội của đô thị. Điều này cũng thể hiện một đặc tính của đời sống văn hóa nói chung và lễ hội nói riêng của Hà Nội là gắn bó mật thiết với nông thôn, xen cài giữa nông thôn và đô thị, tạo nên một sắc thái "nửa đô thị nửa nông thôn" của văn hóa lễ hội Hà Nội. Đấy là chưa kể nhiều quận nội thành của Hà Nội, như Cầu Giấy, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Tây Hồ cách đây chưa lâu vẫn còn là huyện ngoại thành, là vùng nông thôn thuần túy - nơi văn hóa nông thôn vẫn là chủ đạo.
Trong các lễ hội ở Hà Nội, chỉ có rất ít lễ hội được duy trì từ xưa tới nay, như các lễ hội chùa, một số lễ hội tưởng niệm các anh hùng dân tộc, như lễ hội gò Đống Đa tưởng nhớ Quang Trung - Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh , hội Gióng... còn lại phần lớn lễ hội mới phục hồi từ những thập niên gần đây sau khi nước ta thực hiện chính sách đổi mới. Bởi vậy, sự hồi phục của các lễ hội này, nhất là ở các làng, còn nhiều "chệch choạc" trong nghi thức thờ phụng, các phong tục.
2 - Theo lễ tiết truyền thống xuân thu nhị kỳ, các lễ hội kể trên của Hà Nội phần lớn tập trung vào mùa xuân (từ tháng giêng đến tháng tư). Trong tổng số 201 lễ hội đã thống kê, có tới 179 lễ hội tập trung vào mùa xuân. Chỉ có 28 lễ hội vào tiết thu - đông, còn lại rất ít lễ hội vào tháng 5, 6, 7. Điều này phản ánh, lễ hội Hà Nội vẫn chịu sự chi phối của của lễ hội theo mùa nông lịch, trong đó tập trung vào mùa xuân là mùa gieo trồng, còn mùa thu là mùa thu hoạch. Sau này, do việc tăng vụ, nên mùa gieo trồng không chỉ tập trung vào mùa xuân, nhưng với vị trí là mùa mở đầu của một năm, mùa xuân vẫn mang tính biểu trưng nhất. Tất nhiên, càng về sau, từ nguồn cội là lễ hội nông nghiệp, các lễ hội của các dân tộc nước ta, trong đó có Hà Nội, càng bị lịch sử hóa, xã hội hóa, tôn giáo hóa. Tuy nhiên, cái căn cỗi nông nghiệp của nó vẫn thể hiện khá rõ thông qua thời điểm mở hội, thông qua hàng loạt các nghi lễ và phong tục còn để lại cho tới tận ngày nay.
3 - Cũng như nhiều địa phương trong toàn quốc, lễ hội của Hà Nội diễn ra chủ yếu ở các đình, đền và chùa. Trong tổng số 201 hội đã được thống kê, có 175 lễ hội là hội đình, được mở ở đình làng, có 15 hội là hội đền (thờ thánh, thần) và 12 hội là hội chùa. Điều này nói lên quy mô và gốc rễ của lễ hội Hà Nội chủ yếu là hội làng, mặc dù nhiều lễ hội của nội thành không còn thuộc về cơ cấu làng nguyên thủy nữa, mà đã biến tướng thành lễ hội của phường, của phố. Tuy nhiên, do tính chất đô thị hóa, nhất là đô thị đầu não của hệ thống quyền lực quốc gia, nhiều hội làng đã vượt lên trở thành hội của cả một vùng, thậm chí một số lễ hội ít nhiều mang tính quốc lễ. Tiêu biểu cho sự chuyển biến đó là lễ hội Gióng và lễ hội Đống Đa.
4 - Chúng ta có thể phân loại lễ hội Hà Nội theo các chiều kích khác nhau, đơn giản nhất là phân chúng theo các đơn vị hành chính, mà ở đây là các quận, huyện, thậm chí tập hợp chúng thành hai thực thể, mà tiêu chí là các lễ hội ở nội thành và ngoại thành, tức là khu biệt giữa nông thôn và đô thị. Cũng có thể phân loại lễ hội theo thời gian, tức theo mùa, mà ở trên chúng ta đã nêu bật tính xuân thu của lễ hội Hà Nội, qua đó nó bộc lộ tính chất lịch tiết, chu kỳ nông nghiệp của lễ hội. Chúng ta cũng có thể phân chia lễ hội theo quy mô của chúng và rõ ràng quy mô làng là nét nổi bật của lễ hội các dân tộc Việt Nam, trong đó không loại trừ Hà Nội dù nó là một đô thị lớn. Tuy nhiên, cũng vì tính đô thị ấy mà nhiều lễ hội ở Hà Nội đã mở rộng quy mô, mang tính phường hội, thậm chí tính vùng và tính toàn quốc nữa.
II - Một số lễ hội tiêu biểu của Hà Nội
1 - Di tích và lễ hội "Tứ trấn thần"
![]() |
|
Lễ hội Chử Đổng Tử |
Có thể nói hệ thống di tích và lễ hội tôn thờ Tứ trấn thần là đặc trưng nổi bật của văn hóa lễ hội Thăng Long - Hà Nội. Theo truyền thống phương Đông, các thành thị, nhất là nơi kinh đô đều có những vị thần trấn giữ các phương và phù trợ cho kinh thành. Từ thời Trần, trong việc phân chia các đơn vị hành chính, bao quanh kinh thành Thăng Long là tứ trấn nội kinh, gồm Kinh Bắc, Sơn Nam, Sơn Tây và Hải Đông, để phân biệt với các trấn ngoại kinh, như Thanh Hoa (Thanh Hóa), Tuyên Hóa... Tất nhiên, quan niệm "Tứ trấn" với tính chất là đơn vị hành chính bao quanh kinh đô Thăng Long khác với "Tứ trấn thần" là các vị thần bảo trợ bốn phương của kinh đô. Tuy nhiên, chúng đều xuất phát từ một quan niệm chung về ngũ hành của tư duy vũ trụ luận cổ xưa trong văn hóa phương Đông.
Hệ thống Tứ trấn thần của Thăng Long đều xuất phát từ các vị phúc thần. Tuy có nguồn gốc là sơn thần, thủy thần, thiên thần nhưng Tứ trấn thần đã phần nào được nhân hóa, huyền thoại thần tích của các vị thần này gắn bó với Thăng Long trong việc đắp thành (Long Đỗ), diệt ác quỷ (Trấn Vũ), chống giặc ngoại xâm (Linh Lang), dẹp yên loạn lạc (Cao Sơn), đó là những mối đe dọa thường trực đối với sự tồn vong của kinh thành của một quốc gia phong kiến. Hơn thế nữa, với tư cách là kinh đô của nhà nước phong kiến quân chủ, các vị thần và việc thờ phụng đều đã được cung đình hóa, nó không chỉ thuần túy là sự tôn vinh suy tưởng của quần chúng nhân dân, mà còn gắn với sự hiện diện của nhà vua, với lợi ích của nhà nước. Tuy nhiên, trong hệ thống thờ tự, nghi lễ, không phải chúng ta không thấy được những ảnh hưởng của Đạo giáo, tín ngưỡng nông nghiệp và các hình thức tín ngưỡng dân gian khác.
2 - Hệ thống các lễ hội tưởng niệm các anh hùng chống ngoại xâm
Trong hàng trăm nghi lễ và lễ hội của Thăng Long - Hà Nội thì các lễ hội tôn thờ và tưởng niệm các anh hùng chống ngoại xâm chiếm số lượng khá lớn, trong đó có những vị thần vốn là nhân vật lịch sử, như Hai Bà Trưng, Phùng Hưng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung... và cũng có không ít vị là các thần linh được lịch sử hóa, như Thánh Gióng, Linh Lang,... Tuy nhiên, dù là nhân vật lịch sử hay nhân vật huyền thoại thì hình tượng các vị thần đều toát nên một giá trị cơ bản là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Trong hệ thống các lễ hội này, chúng ta có thể nêu một số lễ hội có quy mô lớn và tầm ảnh hưởng rộng, đó là hội Gióng, hội đền Đồng Nhân thờ Hai Bà Trưng, hội đền Bà Chúa Kho, hội gò Đống Đa.
3 - Hệ thống lễ hội Thành hoàng làng
Lễ hội Làng Triều Khúc
Khởi nguồn Hà Nội là một hay một cụm làng lâu dần do vị trí giao thương thuận lợi, nhất là khi nơi đây thành trụ sở của quan cai trị nhà Hán thời Bắc thuộc và sau này trở thành kinh đô của nhà nước phong kiến tự chủ thì quá trình đô thị hóa theo kiểu thành thị phương Đông càng diễn ra mạnh mẽ. Nhiều làng vốn xưa ở ngoại thành nay thành các phường, các phố nội thành, rồi hình thái cư trú "lưỡng cư" của cư dân khiến cho Hà Nội vẫn gắn bó chặt chẽ với nông thôn. Nhiều sinh hoạt văn hóa làng quê vẫn tồn tại lâu dài ngay trong lòng đô thị, trong đó có việc thờ phụng thành hoàng làng. Theo thống kê từ năm 1986 đến 1994, Hà Nội có 336 ngôi đình được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Các lễ hội của Hà Nội xưa kia cũng như hiện nay mang đậm tính hội làng, các vị thần được thờ trong các ngôi đình hay đền vốn xuất xứ là các vị thành hoàng. Đấy là chưa kể, tại các huyện ngoại thành, sau nhiều năm thời bao cấp vắng bóng, nay hội đình phụng thờ các thành hoàng tái lập một cách mạnh mẽ.

Tuy hình thái thờ phụng thần thành hoàng ở nội thành và ngoại thành có đôi chút khác biệt, nhưng tựu trung có những điểm tương đồng. Trước nhất, đó là vị thần bảo trợ cho cộng đồng làng xã (ngoại thành) hay phường (nội thành). Thí dụ, xưa Giảng Võ, Kim Mã thượng là những làng có đình thờ thành hoàng, nay trở thành một phường, dân cư tuy xen ghép nhiều, nhưng việc thờ phụng thành hoàng vẫn được duy trì khá chặt chẽ. Các vị thần thành hoàng này, có trường hợp được nhiều làng hay phường thờ, như thần Cao Sơn Đại Vương, thánh Tam Giang, Linh Lang Đại Vương, Ông hoàng Lệ Mật..., nhưng phần lớn các vị thần thành hoàng là của riêng từng làng theo nguyên tắc "Chiêng làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ". Tuy nhiên, trong một số trường hợp, do hình thái cư dân mang tính đô thị, do tác động của các nhân tố chính trị - xã hội, nên một số vị thần thành hoàng, kèm theo đó là các di tích thờ phụng và lễ hội dần mở rộng từ làng, phường ra thành liên làng, liên phường, thậm chí thành trung tâm lễ hội của cả một vùng. Hội Gióng, hội Lệ Mật, hội Thủ Lệ là các thí dụ điển hình của quá trình biến đổi này.
4 - Lễ hội phường nghề thủ công
![]() |
|
Hội Lệ Mật |
Trong kết cấu thành thị của Thăng Long - Hà Nội, thì phần "thị" chủ yếu bao gồm dân cư buôn bán và làm nghề thủ công. Hà Nội thời Trần có 64 phố phường, còn thời Lê là 36 phố phường. Tất nhiên, ngoài các phường nghề ra thì phường còn là một đơn vị hành chính, các phường nghề thì có phường nghề nông, nghề buôn bán (buôn có bạn bán có phường) và phường nghề thủ công(3). Các phường nghề hay phố nghề của Hà Nội là sản phẩm của hình thái maketing từ các làng nghề thủ công ở nông thôn. Khi hình thành thành thị, do nhu cầu đời sống và kinh doanh, một bộ phận, mà thường là những gia đình thợ thủ công có tay nghề cao ở các làng nghề thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ di chuyển ra Thăng Long - Hà Nội, thành lập nên các phường nghề, phố nghề. Phường nghề ở Hà Nội có hai dạng, dạng biệt lập và dạng xen ghép với các phường buôn. Thí dụ, vùng Bưởi có năm phường, trong đó Bái Ân, Trích Sài là hai phường dệt lụa, gấm, Yên Thái, Hồ Khẩu là hai phường làm giấy, còn Võng Thị là phường nấu rượu và trồng hoa. Còn các phường ở xen kẽ, như phố Hàng Tiện là dân từ Nhị Khê (Hà Tây), dân làm nghề kim hoàn, thợ bạc thì từ Trâu Khê (Hải Đông)(4), Đồng Sâm (Thái Bình)...
Do hình thái cư trú như vậy, nên, một mặt, những người thợ thủ công này quy tụ thành cụm cư dân, phối hợp sản xuất kinh doanh, cùng sinh hoạt xã hội và văn hóa, trong đó có việc thờ tổ nghề; mặt khác, họ vẫn giữ liên hệ mật thiết với làng gốc, thông qua các quan hệ kinh tế, thân tộc và thờ cúng. Các phường, phố nghề như vậy cũng hình thành nên các đình, đền, chùa, quán, nơi sinh hoạt tâm linh của đồng bào. Thí dụ, phố Thợ Tiện có đền thờ tổ nghề ở phố Hàng Hành thờ vọng ông tổ nghề tiện Nhị Khê Vọng Từ. Phố Hàng Bạc vẫn còn di tích các nghề, đình ở số nhà 42, 50, 24 của cư dân từ Trâu Khê (Hải Dương), Đồng Xâm (Thái Bình), Định Công (Thanh Trì), đình thờ tổ nghề quạt ở phố Hàng Quạt, mặc dù ngày nay ở phố này và các phố lân cận không còn ai làm nghề nữa. Hội cúng thành hoàng cũng là ngày lễ hội của nghề.
5 - Lễ hội "tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ" của đạo Mẫu
Tại Hà Nội, nếu chưa kể thờ Mẫu ở đền thì ở hầu hết các chùa đều có điện thờ Mẫu theo mô thức "tiền Phật hậu Mẫu", còn chỉ tính riêng các đền, điện thờ Mẫu thì đã có tới 86 nơi. Nếu gộp cả các điện thờ Mẫu trong chùa thì con số lên tới hàng trăm, chứng tỏ mức độ phổ biến của tín ngưỡng này. Trong số các nơi thờ Mẫu thì điện thờ Mẫu ở nhà riêng của các bà đồng, ông đồng chiếm số lượng lớn và ngày càng nhiều. Tại Hà Nội có những đền thờ Mẫu nổi tiếng, như Phủ Tây Hồ, một trong ba nơi thờ Mẫu ở nước ta được gọi là phủ, đó là Phủ Dầy, Phủ Sòng Sơn, thờ Mẫu Liễu Hạnh, kỷ niệm nơi Mẫu Liễu gặp và đàm đạo thơ văn với nhà thơ Phùng Khắc Khoan và các nhà thơ họ Ngô, họ Lý. Đền Ghềnh ở Bồ Đề, Gia Lâm, thờ Mẫu Thoải; đền Dâu ở 64 Hàng Quạt thờ vọng Mẫu Liễu Hạnh...
Đạo Mẫu là một tín ngưỡng bản địa duy nhất đã hình thành hệ thống điện thần, bao gồm vị thần chủ cao nhất là Thánh Mẫu và các vị thần khác, gồm cả nữ thần và nam thần, được xếp thành các phủ: thiên phủ, địa phủ, nhạc phủ, thủy phủ và các hàng: quan, chầu, ông Hoàng, Cô, Cậu... Nghi lễ điển hình của Đạo Mẫu là lên đồng và lễ hội là "tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ".
6 - Lễ hội "Tứ bất tử"
Tứ Bất Tử là bốn vị thần bất tử trong hệ thống điện thần của người Việt, gồm Tản Viên Sơn Thần, Chử Đạo tổ (Chử Đồng Tử), Thánh Gióng và Liễu Hạnh Thánh mẫu. Thực ra mỗi vị thần trên đã tạo nên một hình thức tín ngưỡng riêng, mang đậm tính Đạo giáo dân gian, nhưng quan niệm "Tứ bất tử" mang tính chất như một hệ biểu tượng Việt Nam, được tạo nên do nhu cầu xây dựng hệ ý thức thời phong kiến tự chủ Đại Việt. Do vậy, không có tín ngưỡng Tứ bất tử, mà chỉ có hệ ý thức Đại Việt mang tên Tứ bất tử. Tuy nhiên, từng vị thần trong Tứ bất tử lại cấu thành những tín ngưỡng và cùng với nó là sinh hoạt lễ hội.
Lễ hội tưởng niệm các vị thánh Tứ bất tử trên địa bàn Thăng Long - Hà Nội diễn ra vào các dịp mùa xuân: thờ Tản Viên Sơn Thánh ở làng Tầm Xá (Đông Anh) vào dịp 12 tháng ba (âm lịch), thờ Thánh Gióng ở hội Phù Đổng mồng 8 tháng ba (âm lịch), hội Chử Đồng Tử ở làng Chử Xá (Gia Lâm) vào tháng giêng và hội Phủ Tây Hồ thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh vào dịp mồng 3 tháng ba (âm lịch). Phần lớn các vị thánh bất tử nêu trên đều được dân gian lịch sử hóa, gắn với các thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc, nên trong lễ hội, ngoài các nghi lễ mang đậm tính chất Đạo giáo dân gian thì không khí lịch sử cũng được tô đậm.
7 - Một số sinh hoạt nghi lễ và phong tục trong lễ hội ở Hà Nội
Có thể nhìn nhận lễ hội như là một hình thức đại diễn xướng, trong mỗi nghi lễ, phong tục như là các diễn xướng và trò diễn nhỏ hơn. Lâu nay, các nhà nghiên cứu Việt Nam coi diễn xướng là một tổ hợp gồm diễn, tức các hành động và xướng, tức là lời nói (nói, hát, âm thanh). Đấy là cách duy danh định nghĩa mang tính diễn giải. Còn các nhà nghiên cứu nước ngoài thì quan niệm diễn xướng (performance) là một tổ hợp các hành động của con người mang tính thông tin, trong đó mỗi động tác, lời nói, hình khối, màu sắc, âm thanh đều truyền đạt một thông tin nào đó. Trong lễ hội, kể cả phần lễ và phần hội, các thông tin này thường thể hiện dưới dạng các biểu tượng, biểu trưng, mà đặc điểm của các biểu tượng hay biểu trưng là vừa phô bày lại vừa ẩn giấu một cái gì đó mà nó muốn truyền đạt, điều đó làm tăng phần thiêng liêng và huyền bí của lễ hội. Thí dụ hình tượng cướp Hoa tre trong hội Gióng, múa mặt nạ, mà là con số 13 mặt nạ trong lễ hội ổi Lỗi...(5)
III - Một số đặc trưng của lễ hội Hà Nội
Thứ nhất, khác với nhiều thành phố trên thế giới, nhất là các thành phố phương Tây, Hà Nội còn thể hiện khá rõ mối quan hệ gắn bó với nông nghiệp, nông thôn. Vào những năm đầu thế kỷ XX, làng xã còn bao quanh trung tâm Hà Nội, thậm chí nhiều làng vẫn nằm trong Hà Nội. Do vậy, hơn rất nhiều lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần khác, lễ hội Hà Nội thể hiện tính chất lễ hội nông nghiệp, quy mô mang tính hội làng.
Tính chất lễ hội nông nghiệp, quy mô hội làng của Hà Nội thể hiện không chỉ ở chỗ phần lớn các lễ hội tập trung ở làng quê ngoại thành, mà còn trong quy cách thờ cúng, sinh hoạt lễ hội. Ví dụ, một trong những nét đặc trưng của Hà Nội là các phường nghề, phố nghề, thì phần lớn các vị tổ nghề hiện thờ phụng ở Hà Nội đều "di cư" từ thôn quê ra, thậm chí có phố nghề vẫn thờ cúng tổ nghề ở thôn quê nơi đất gốc trước khi vào Hà Nội. Trong sinh hoạt lễ hội, ngoài việc các đám rước bị hạn chế do địa hình nơi đô thị không có điều kiện tổ chức, thì còn lại mọi sinh hoạt khác gần như giữ nguyên như ở nông thôn. Thậm chí, một số nghi lễ, phong tục trong nghi lễ và lễ hội còn duy trì bền chặt hơn cả ở làng quê, do những năm gần đây, điều kiện duy trì các phong tục cũ ở đô thị thuận lợi hơn ở làng xã. Nếu như các nhà lý luận văn hóa hay nói về hiện tượng văn hóa "hóa thạch ngoại biên", thì lại cũng có hiện tượng ngược lại, văn hóa vẫn có hiện tượng "hóa thạch trung tâm". Thí dụ, tục thi cỗ bảy tầng, vốn là văn hóa ở làng xã, nhưng nay ít có làng xã nào giữ lại được, trái lại trong lễ hội đền Kim Liên tục đó vẫn được duy trì cho tới nay.
Việc duy trì tính chất nông thôn, làng xã đậm nét trong lễ hội Hà Nội cùng với các sinh hoạt văn hóa dân gian khác tạo nên nét độc đáo của văn hóa đô thị Hà Nội mà chúng ta cần gìn giữ, bảo vệ.
Thứ hai, lễ hội của Hà Nội cũng thể hiện tính chất đô thị, nhất là đô thị đầu não trong xã hội phong kiến cũng như xã hội hiện nay. Thăng Long - Hà Nội là vùng đất cổ xưa, ngay cạnh đất Kinh Bắc, nên đã kế thừa và nâng cao truyền thống văn hóa của vùng đất vốn được xem là tinh hoa của văn hóa Đại Việt. Các tư liệu cổ của nước ta còn ghi chép các lễ hội Thăng Long - Hà Nội có từ lâu đời gắn với các tín ngưỡng và tôn giáo, như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo (tam giáo) cũng như các tín ngưỡng thành hoàng ở các đình làng, thờ các phúc thần ở các đền miếu.
Các lễ hội ở Thăng Long - Hà Nội thường có xu hướng phong kiến hóa và cung đình hóa, thể hiện rõ dấu ấn của nhà nước đối với hoạt động mang tính nghi lễ này. Thí dụ, hệ thống lễ hội về Tứ trấn thần là một sự quy tụ từ rất nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian để hình thành một hệ thống thần linh phù trợ cho Kinh đô Thăng Long. Rồi lễ hội Gióng, vốn là thờ một vị thần sấm của nghi lễ nông nghiệp ở một làng vùng Kinh Bắc, từ thời Lý, với vai trò của Lý Công Uẩn, được quy tụ và nâng cấp thành lễ hội mang tính quốc gia và xây dựng thành hình tượng Thánh Gióng, anh hùng chống ngoại xâm. Lễ hội gò Đống Đa cũng đã có sự chuyển hóa từ một nghi lễ thờ cúng linh hồn của giặc nhà Thanh bại trận để chúng không quấy phá dân lành, thành một lễ hội tôn vinh Quang Trung, người anh hùng chống ngoại xâm của dân tộc...
Hệ thống nghi lễ của các phố nghề của Hà Nội cũng là nét đặc thù của hệ thống lễ hội mang đậm chất đô thị. Do tính chất Thăng Long - Hà Nội là trung tâm nên chúng ta cũng chứng kiến các nghi lễ và hình bóng lễ hội của các vùng khác đã được tích hợp về đây. Thí dụ đền thờ Đồng Cổ vốn có nguồn gốc ở Thanh Hóa, được đưa về Hà Nội, trong đó một trong hai đền được biến thành nơi tổ chức hội thề hằng năm của triều đình Đại Việt. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể thấy sự tinh lọc của các trò diễn dân gian trong lễ hội từ các vùng quê khác mang về Hà Nội với những nét tinh xảo hơn, thanh nhã hơn.
Thứ ba, Thăng Long - Hà Nội là đô thị trung tâm, đầu não chính trị của cả nước, nên hệ thống lễ hội ở đây thể hiện tính đa dạng cao. Như đã trình bày về các lễ hội tiêu biểu của Hà Nội, chúng tôi đã đưa ra nhiều hệ thống lễ hội khác nhau, như các lễ hội Tứ trấn thần, lễ hội thờ phúc thần - các anh hùng chống ngoại xâm, các lễ hội về Tứ bất tử (bốn vị thần bất tử), lễ hội đạo Mẫu, lễ hội các thành hoàng làng, lễ hội các thánh sư tổ nghề, các lễ hội liên quan tới Phật giáo, lễ hội Công giáo, Tin lành, Cao Đài... Có thể nói, lễ hội Hà Nội như là bức tranh thu nhỏ của diện mạo lễ hội của đồng bằng Bắc Bộ nói riêng và lễ hội của cả nước nói chung.
Tính đa dạng của lễ hội Hà Nội nói lên nhiều điều. Một là, Hà Nội là trung tâm, thu hút các sắc thái văn hóa lễ hội từ bốn phương, rồi trong môi trường chính trị - xã hội đô thị nó nhào nặn, tạo nên bộ mặt lễ hội vừa mang tính chung với cả nước, vừa mang nét đặc thù của Hà Nội. Hai là, tính đa dạng về đời sống tín ngưỡng và lễ hội chứng tỏ tính hỗn dung và khoan dung tín ngưỡng và văn hóa cao của Hà Nội. ở đây, trong một không gian đô thị không lớn, chúng ta không thấy sự kì thị, xung đột tín ngưỡng và văn hóa như ở nhiều nơi trên thế giới, đấy cũng là nét góp vào bộ mặt "hòa bình" của Thăng Long - Hà Nội. Về phương diện con người, chúng ta cũng có thể thấy được người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung, về phương diện đời sống tâm linh, tín ngưỡng thể hiện tính thực tế cao, họ không tôn sùng một vị thần linh tối thượng nào như một đấng cứu thế, mà đúng hơn là thần linh trở thành các lực lượng siêu nhiên "phục vụ" cho đời sống con người.
(1) Lê Trung Vũ (chủ biên): Hội làng Hà Nội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006
(2) Phan Hồng Giang (chủ biên): Văn hóa phi vật thể ở Hà Nội, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005
(3) Nguyễn Vinh Phúc: Tổng luận về phố nghề trong "Tìm hiểu di sản văn hóa dân gian Hà Nội", Nxb Hà Nội, 1994
(4) Nguyễn Vinh Phúc: Sđd
(5) Lê Trung Vũ (chủ biên): Hội làng Hà Nội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006
Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và thể chế trong quản lý vốn ODA  (09/10/2010)
Mối quan hệ thành thị - nông thôn trong đời sống Thăng Long - Hà Nội  (09/10/2010)
Thăng Long - Hồn thiêng sông núi  (09/10/2010)
Mục lục Hồ sơ sự kiện số 136 (8-10-2010)  (08/10/2010)
Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh với 6 chương trình đột phá  (08/10/2010)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm


