Xác định giới hạn của pháp luật góp phần phát huy vai trò của các thể chế phi chính thức trong điều chỉnh các quan hệ xã hội

TS TRƯƠNG HỒNG QUANG
Khoa Luật, Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh
19:22, ngày 28-07-2026

TCCS - Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhà nước sử dụng pháp luật với tư cách là thể chế chính thức, quan trọng và chủ yếu và các thể chế phi chính thức (đạo đức xã hội, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng, tập quán...). Pháp luật có giới hạn và không phải quan hệ xã hội nào cũng cần ban hành pháp luật để điều chỉnh. Xác định rõ giới hạn của pháp luật và phát huy vai trò của các thể chế phi chính thức trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, quản lý nhà nước và xã hội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm hỏi, động viên công nhân, lao động tại Khu nhà ở xã hội công nhân Becamex Định Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27-4-2026_Ảnh: tuoitre.vn

Yêu cầu về xác định giới hạn của pháp luật trong mối quan hệ với các thể chế phi chính thức

Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, “Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” yêu cầu phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đây là một yêu cầu quan trọng, liên quan mật thiết đến việc xác định giới hạn của pháp luật. Pháp luật (thể chế chính thức) là công cụ quan trọng nhất nhưng không phải là công cụ duy nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Các thể chế phi chính thức (đạo đức xã hội, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng, tập quán...) cần được sử dụng, phát huy đúng mức để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cần kết hợp giữa pháp luật và các thể chế chính thức trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Về bản chất, pháp luật là công cụ quan trọng, chủ yếu để quản lý nhà nước và xã hội. Vì vậy, tinh thần thượng tôn pháp luật luôn được đề cao, đặc biệt trong nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, pháp luật phải có điểm dừng hợp lý và không phải quan hệ xã hội hay vấn đề nào cũng cần được pháp luật điều chỉnh. Khi một cá nhân sử dụng tự do của mình mà có nguy cơ xâm hại đến tự do của người khác thì mới cần đến pháp luật để điều tiết tự do. Pháp luật không được đặt ra để hạn chế tự do của người dân với lý do mà theo nhà làm luật như thế sẽ tốt cho người dân hơn. Pháp luật không được can thiệp vào phần đời tư của cá nhân - phần mà khi vận hành không ảnh hưởng đến những người xung quanh. 

Có thể thấy, pháp luật không thể và không cần thiết phải bao phủ, “vươn tay” đến mọi ngóc ngách của đời sống xã hội. Giới hạn của pháp luật là rất cần thiết bởi không phải lúc nào cũng cần ban hành pháp luật để điều chỉnh hoặc nếu có điều chỉnh một quan hệ xã hội nào đó thì cũng cần có điểm dừng hợp lý. Nếu không xác định được giới hạn của pháp luật thì sẽ có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng pháp luật hoặc pháp luật bất ổn định, thiếu tính khả thi. 

Khi xác định giới hạn của pháp luật cần phân định ranh giới giữa pháp luật và các thể chế phi chính thức, làm rõ vấn đề khi nào thì cần pháp luật điều chỉnh. Theo đó, để quản lý xã hội không chỉ có pháp luật mà còn có các quy tắc xử sự khác. Trong nhiều trường hợp, một số quy tắc xử sự của thể chế phi chính thức (ví dụ như tập quán…) có thể hỗ trợ pháp luật quản lý xã hội và cũng có thể được nâng lên thành pháp luật.

Có những quan hệ xã hội pháp luật không nên hoặc không được tác động đến. Thông thường, liên quan đến quyền lực công, pháp luật cần phát huy tối đa vai trò định chuẩn và kiểm soát hành vi, điều chỉnh chi tiết, cụ thể (quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy công quyền, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan công quyền, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, chế tài đối với cán bộ, công chức, từ lãnh đạo đến các nhân viên thừa hành trong các cơ quan công quyền khi thực thi các nhiệm vụ của nhà nước trong việc quản lý các vấn đề xã hội)(1). Trong khi đó, trong lĩnh vực luật tư (như luật dân sự), luật càng ít thì khoảng không tự do của con người càng nhiều, luật càng nhiều, càng cụ thể thì càng bó hẹp sự tự do của con người. Khi đó pháp luật chỉ nên xác định các khuôn khổ nguyên tắc chung, cơ bản cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội do luật tư điều chỉnh và phải phát huy cao nhất vai trò định hướng, bảo hộ, tạo khung pháp lý an toàn, lành mạnh cho hoạt động của các chủ thể ngoài nhà nước. Đây chính là triết lý sâu xa của nhà nước pháp quyền. 

Việc can thiệp quá sâu của pháp luật vào đời sống kinh tế - xã hội có thể làm cho quy định của pháp luật phức tạp và ôm đồm nhiều nội dung cũng như làm cho yêu cầu sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật trở nên thường xuyên hơn. Việc ban hành nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn là do vẫn còn tư duy cho rằng có luật mới được làm, không có luật thì không được làm của nhiều cơ quan công quyền. Tư duy này dẫn đến việc hạn chế quyền tự do của người dân và hạn chế hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước. Các văn bản pháp luật nếu có cần tập trung vào những quy định “không được làm” (cần phải cân xứng với mục đích đạt được) hơn là những quy định “được làm”. Có như vậy, tự do của người dân mới được mở rộng, các hoạt động dân sự được thông thoáng, đồng thời tăng hiệu quả của các cơ quan công quyền.

Một điều lưu ý là để xác định giới hạn của pháp luật trong việc cần hay không cần ban hành pháp luật thì phải quan tâm đến cách tiếp cận khi xây dựng pháp luật. Một quan hệ xã hội vốn phải được pháp luật điều chỉnh nhưng cũng cần có giới hạn, mức độ trong việc điều chỉnh. Ví dụ, đối với pháp luật về quyền con người, quyền công dân được ban hành không chỉ để quản lý nhà nước mà còn phải rõ nội hàm, bảo đảm việc tiếp cận, thụ hưởng quyền của cá nhân, tổ chức.

Tựu trung lại, pháp luật là lĩnh vực riêng biệt nhưng không hoàn toàn tách biệt với các lĩnh vực xã hội khác. Về bản chất, pháp luật phản ánh ở mức độ rộng các lĩnh vực xã hội khác như đạo đức, chính trị, kinh tế, văn hóa, công nghệ và tôn giáo...(2). Pháp luật “vẫn là một công cụ của trật tự, mang dấu ấn của những thế lực định hình xã hội của chúng ta”(3). Tuy vậy, các lĩnh vực xã hội khác thường có logic riêng và pháp luật không thể điều chỉnh có hiệu quả tất cả các lĩnh vực này. Chính vì vậy, pháp luật có giới hạn, giới hạn đó cho thấy hạn chế của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng như hạn chế tình trạng lạm phát và lãng phí pháp luật đồng thời phát huy vai trò của các thể chế phi chính thức.

Thực tiễn xác định giới hạn của pháp luật và mối quan hệ với các thể chế phi chính thức tại Việt Nam

Có thể thấy, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở hiến định và hệ thống thể chế về ban hành ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm xác định phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã có những điều chỉnh để phân định hợp lý hơn phạm vi các chính sách do Quốc hội quyết định và các chính sách thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ. Với các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và hiện nay là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, cơ sở pháp lý để xác định phạm vi các nội dung thuộc thẩm quyền lập pháp của Quốc hội đã được hoàn thiện thêm một bước so với giai đoạn trước đây. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác định thẩm quyền quyết định và ban hành chính sách, văn bản pháp luật của một số chủ thể ngoài thẩm quyền lập pháp của Quốc hội (Chính phủ, chính quyền địa phương). Có thể coi đây là những giới hạn đối với quyền lập pháp để Quốc hội không “lấn sân” sang những lĩnh vực, những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của các chủ thể đó.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, trong đó, xác định lại thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của một số chủ thể theo Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Hiện nay, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã bỏ thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp xã; bổ sung một hình thức văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành là nghị quyết để giải quyết các vấn đề cấp bách, quan trọng phát sinh từ thực tiễn. Đồng thời, Luật này cũng đổi mới mạnh mẽ việc lập chương trình lập pháp hằng năm với tính chất linh hoạt cao, quy trình chính sách được thực hiện độc lập với việc lập chương trình lập pháp hằng năm.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cũng đã bổ sung hình thức lấy ý kiến là tham vấn chính sách trong quá trình xây dựng chính sách dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đây là một trong những hình thức mới để lấy ý kiến nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế hiện nay trong quy trình xây dựng pháp luật, nhất là trong quy trình lập đề nghị việc xây dựng chính sách chưa được quan tâm đúng mức, chính sách được đề ra còn chung chung. Thông qua hoạt động tham vấn chính sách, cơ quan đề xuất chính sách sẽ tìm kiếm sự đồng thuận, lựa chọn giải pháp tối ưu, hoàn thiện chính sách làm cơ sở soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, cũng như bảo đảm tính khả thi của chính sách trong cuộc sống.

Bên cạnh đó, thể chế phi chính thức đóng vai trò thiết yếu trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội tại Việt Nam thông qua việc thiết lập các chuẩn mực, giá trị, và hành vi mà không dựa trên pháp luật hay văn bản chính thức, từ đó tạo ra trật tự, sự gắn kết, và ổn định xã hội. Các thể chế này, như tập quán, truyền thống, đạo đức, và lòng tin, định hình cách mọi người tương tác, hợp tác, và giải quyết xung đột trong cộng đồng.

Đạo đức xã hội điều chỉnh quan hệ xã hội bằng cách là một phương thức tự nguyện, tự giác để điều chỉnh hành vi con người, tạo ra sự hài hòa, ổn định và phát triển. Vai trò này bao gồm việc định hướng hành vi theo các chuẩn mực “thiện” và “ác”, giải quyết mâu thuẫn lợi ích, góp phần nhân đạo hóa xã hội và là nền tảng tinh thần cho sự gắn kết cộng đồng, hỗ trợ pháp luật và củng cố các giá trị xã hội. Chủ trương, đường lối của Đảng ta đã thể hiện tư duy về sự kết hợp nhuần nhuyễn, tự nhiên giữa đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội. Đây là hai lĩnh vực, hai phương thức quản lý xã hội khăng khít, hòa quyện vào nhau chứ không chỉ đơn thuần đứng cạnh nhau, ghép với nhau một cách cơ học. Thực tiễn cho thấy cần có cơ chế giám sát, bảo đảm tính nghiêm minh tuyệt đối trong việc chấp hành pháp luật, bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, xây dựng lối sống, lao động, học tập và hành xử theo pháp luật, làm cho chấp hành pháp luật trở thành một nhu cầu tự thân của mỗi công dân. Pháp luật càng nghiêm, tính răn đe càng cao, càng công bằng thì theo đó đạo đức xã hội càng đi lên. Nếu pháp luật không nghiêm, lòng dân không thuận thì đạo đức đi xuống, dẫn tới coi thường, trà đạp lên các giá trị đạo đức, theo đó làm giảm hiệu quả quản lý xã hội của cả đạo đức và pháp luật(4). Bên cạnh đó, đạo đức xã hội là một trong các trường hợp cần thiết mà quyền con người, quyền công dân có thể bị hạn chế theo quy định của luật (khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)).

Quy tắc đạo đức nghề nghiệp có vai trò thiết yếu trong việc xây dựng niềm tin và uy tín với cộng đồng, khách hàng và đồng nghiệp, tạo ra môi trường làm việc lành mạnh, công bằng, nâng cao hiệu suất và năng suất lao động, đồng thời bảo vệ quyền lợi và trách nhiệm của người làm nghề, góp phần vào sự phát triển bền vững của cá nhân, tổ chức và xã hội. Ở nước ta, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp của nhiều ngành, lĩnh vực đã được ban hành, áp dụng thời gian qua. Các quy tắc này đã thể hiện rõ nét vai trò của thể chế phi chính thức trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến nghề nghiệp.

Tự quản trong cộng đồng tại Việt Nam cũng phát triển hết sức đa dạng và phong phú về hình thức, quy mô, trình độ tổ chức, lĩnh vực hoạt động…(5). Theo đó, phạm vi thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của người dân được mở rộng, phát huy được quyền làm chủ của người dân. Tự quản trong cộng đồng xã hội có vai trò bổ sung cho quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở Việt Nam. Tự quản xã hội là cầu nối giữa người dân và chính quyền. Thông qua các tổ chức tự quản, chủ trương, đường lối của Đảng và các kế hoạch, chương trình triển khai các chính sách tại địa phương được tuyên truyền đến người dân; giúp huy động nguồn lực của nhân dân vào giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng, giảm gánh nặng cho chính quyền nhà nước.

Tập quán trở thành pháp luật khi được Nhà nước thừa nhận và nâng lên làm pháp luật. Khi Nhà nước thừa nhận một tập quán và đưa tập quán đó trở thành pháp luật có ý nghĩa thể hiện sự chấp thuận của Nhà nước với thói quen ứng xử của cộng đồng. Theo đó, việc thừa nhận tập quán pháp được thực hiện thông qua các cách thức như liệt kê danh mục tập quán; áp dụng tập quán để giải quyết các vụ việc trong thực tiễn…

Mặc dù đóng vai trò quan trọng nhưng việc xác định được giới hạn của pháp luật ở mỗi quốc gia với các đặc điểm, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… khác nhau tương đối khó khăn và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Điều đó có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như: chủ thuyết về pháp luật, xây dựng pháp luật, quan điểm về mối quan hệ giữa chể chế chính thức và thể chế phi chính thức… Vấn đề xác định giới hạn của pháp luật trong mối quan hệ với các thể chế phi chính thức ở nước ta còn có một số hạn chế, khó khăn nhất định.

Trong một số lĩnh vực, pháp luật vừa thừa, vừa thiếu(6); một số luật về quyền con người, quyền công dân chưa bảo đảm đầy đủ việc tiếp cận, thụ hưởng quyền của chủ thể có quyền(7); một số vấn đề cần phải được pháp luật điều chỉnh, thể chế hóa quy định của Hiến pháp nhưng chưa được ban hành(8). Pháp luật Việt Nam chưa thực sự có ranh giới rõ ràng để xác định trường hợp nào việc can thiệp của pháp luật đối với đời sống kinh tế - xã hội là cần thiết và trường hợp nào thì nên để xã hội tự điều chỉnh bằng các quy phạm xã hội khác (như đạo đức, quy tắc của hội nghề nghiệp...)(9). Về cơ bản, nội dung của luật vẫn còn khá rộng, gần như bao phủ toàn bộ các quan hệ xã hội. Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò của các thể chế phi chính thức đôi lúc còn chưa phù hợp; việc áp dụng, thi hành pháp luật còn chưa nghiêm; một số tư tưởng, tập quán lạc hậu còn khá phổ biến trong đời sống của cộng đồng dân tộc thiểu số...

Giải pháp xác định rõ hơn giới hạn của pháp luật góp phần phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội

Xác định đúng giới hạn của pháp luật là yếu tố quan trọng để bảo đảm chất lượng của hoạt động xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật. Nghiên cứu về giới hạn của pháp luật cho thấy việc tuân thủ tinh thần thượng tôn pháp luật không đồng nghĩa với việc lạm dụng ban hành pháp luật. Phải thực sự cần thiết thì mới ban hành pháp luật và pháp luật không phải là một công cụ toàn năng để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội. Pháp luật nhất thiết phải có điểm dừng hợp lý.

Vấn đề xác định giới hạn của pháp luật và tìm kiếm giải pháp thích hợp để giải quyết những vấn đề do sự giới hạn đó gây ra trong xã hội đương đại ngày càng trở thành vấn đề vừa mang tính lý luận vừa mang tính ứng dụng cao đối với giới nghiên cứu và thực hành luật ở các nước khi mà vì nhiều lý do, pháp luật đã không thể đáp ứng được sự mong đợi của xã hội, trong nhiều lĩnh vực pháp luật đã bộc lộ khả năng hạn chế trong việc điều chỉnh và thực thi một cách hiệu quả các tiêu chuẩn quy phạm do chính nó đặt ra(10). Cũng cần lưu ý rằng có sự khác biệt về giới hạn điều chỉnh của pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau (lĩnh vực công và lĩnh vực tư). 

Trước hết, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chủ thuyết xây dựng pháp luật tại Việt Nam. Trong đó, cần xác định các luận thuyết về giới hạn của pháp luật (điểm dừng của pháp luật, mối quan hệ với các thiết chế phi chính thức, phân định ranh giới nội dung giữa các loại văn bản pháp luật). Hiến pháp và pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần được tiếp tục hiến định và thể chế hóa rõ nét hơn các vấn đề về giới hạn của pháp luật. Nếu không thực hiện được điều này thì mô hình hệ thống pháp luật sẽ tiếp tục tình trạng vừa thừa, vừa thiếu và dẫn đến lạm dụng, lãng phí pháp luật. 

Cần tiếp tục làm rõ cơ sở, nguyên tắc, nội dung của vấn đề hạn chế quyền con người, quyền công dân phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Nghị quyết số 66-NQ/TW. Việc làm rõ các cơ sở để hạn chế quyền sẽ đồng nghĩa với việc xác định được trường hợp nào cần ban hành quy định của luật để hạn chế quyền. Do vậy, đây cũng là một trong những tiêu chí để phân định được giới hạn điều chỉnh của luật - sản phẩm của quyền lập pháp. Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị yêu cầu công tác xây dựng pháp luật phải bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được. Theo đó, cần có những phương pháp cụ thể để xác định được giới hạn cần thiết của việc đặt ra các quy định nhằm hạn chế quyền con người, quyền công dân và chính thức làm rõ nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân được ghi nhận tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)(11). Theo đó, việc tiếp thu, học hỏi phương pháp để kiểm tra tính hợp hiến của các quy định về hạn chế quyền là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Ví dụ, theo phương pháp cân bằng - hợp lý (xuất phát từ Cộng hòa Liên bang Đức) có 04 bước để kiểm tra, nếu một quy định về hạn chế quyền đáp ứng được cả 04 bước này sẽ được xem là hợp hiến, nếu dừng ở một bước nào đó sẽ được xem là vi hiến(12).

Đối với các thể chế phi chính thức, đạo đức phải được thể chế hóa thành các nguyên tắc quy phạm pháp luật(13). Tính dung hợp của đạo đức và pháp luật trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần được thực hiện mạnh mẽ hơn, điều đó vừa phản ánh tính ưu việt của đạo đức, vừa thể hiện tính ưu việt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Một khía cạnh khác là pháp luật cần gần gũi hơn với truyền thống văn hóa, đạo đức dân tộc để pháp luật dễ đi vào cuộc sống. Như vậy, xem xét vai trò của đạo đức cần đặt trong tính chỉnh thể, không siêu hình, chủ quan, tuyệt đối hóa đạo đức mà xem nhẹ các thiết chế, phương thức điều chỉnh lợi ích cá nhân khác. Điều này sẽ phát huy vai trò của đạo đức xã hội trong điều chỉnh quan hệ lợi ích, làm cho lợi ích cá nhân phát triển chính đáng, đúng hướng, phù hợp và không xung đột với lợi ích chung của toàn xã hội, trên cơ sở đó mà tác động tích cực trở lại đến đạo đức xã hội, định hướng hình thành các giá trị đạo đức xã hội tiến bộ.

Những già làng và người có uy tín trên địa bàn huyện A Lưới, thành phố Huế tuyên truyền, vận động bà con thực hiện các chính sách pháp luật_Ảnh: baovanhoa.com

Cần tiếp tục tạo lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho sự hoạt động của tự quản xã hội(14). Mở rộng tự quản không có nghĩa là buông lỏng quản lý, mà cần được giám sát kịp thời bằng pháp luật. Thiết lập khuôn khổ pháp luật quản lý các hình thức tự quản trong cộng đồng một cách phù hợp, không hạn chế quyền làm chủ của người dân, nhưng không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng các hình thức này để chống phá Đảng, Nhà nước. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tự quản theo hướng không chỉ giúp tự quản đi đúng hướng mà còn bảo đảm cho tự quản thực sự có chỗ đứng trong công tác quản lý xã hội, trở thành một bộ phận của hệ thống quản lý xã hội, phát huy hết tiềm năng vốn có, đồng thời tránh được sự chồng lấn giữa hoạt động tự quản với công tác quản lý của chính quyền địa phương ở cấp cơ sở; cũng như đặt nền tảng pháp lý cho việc kiểm tra, giám sát, điều chỉnh của Nhà nước đối với hoạt động tự quản ở các mức độ và hình thức khác nhau./.

----------------

(1) Dương Thị Thanh Mai (Chủ nhiệm): Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài: “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay”, Chương trình khoa học & công nghệ cấp nhà nước KX02/06-10: “Quản lý phát triển xã hội trong tiến trình Đổi mới ở Việt Nam”, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội, 2010, tr. 270
(2) Erik Claes, Wouter Devroe, Bert Keirsbilck (Eds.): Facing the Limits of the Law, Springer Publishing, 2009, p. 11
(3) W. Friedmann: Law in a Changing Society, Middlesex: Penguin Books, 2nd ed., 1972, p. 498
(4) Đỗ Thanh Hải: “Kết hợp đạo đức với pháp luật trong quản lý xã hội theo tinh thần Đại hội XII của Đảng”, Tạp chí Giáo dục và Xã hội điện tử, ngày 12-6-2017, https://giaoducvaxahoi.vn/tin-tuc-giao-duc/k-t-h-p-d-o-d-c-v-i-phap-lu-t-trong-qu-n-ly-xa-h-i-theo-tinh-th-n-d-i-h-i-xii-c-a-d-ng.html
(5) Nguyễn Thị Như: “Tự quản trong cộng đồng xã hội đối với quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (kỳ 2), Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 28-11-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1006502/view_content  
(6) Trương Hồng Quang: “Giới hạn của pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 8, tr. 3 - 14, 28
(7) Trương Hồng Quang: “Để quyền thực sự là quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13, tr. 24-28
(8) Ví dụ quyền hội họp, lập hội, biểu tình được hiến định tại Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đến nay chưa được thể chế hóa bằng luật của Quốc hội
(9) Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý, Nguyễn Văn Cương (Chủ biên): Tính ổn định của pháp luật: Nhận thức, thực tiễn và giải pháp đổi mới, Sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 183
(10) Dương Thị Thanh Mai (Chủ nhiệm): Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài: “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay”, Tlđd, tr. 269
(11) Trương Hồng Quang: “Nhu cầu giải thích quy định về hạn chế quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3, 2018, tr. 3-13
(12) Bùi Tiến Đạt: “Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người: Cần nhưng chưa đủ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6, 2015, tr. 3-11
(13) Đỗ Thanh Hải: “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động điện tử, ngày 14-5-2017, https://tcnn.vn/news/detail/36634/Giai-quyet-tot_moi_quan_he_giua_loi_ich_ca_nhan_va_dao_duc_xa_hoi_o_nuoc_ta_hienall.html
(14) Nguyễn Thị Như: “Tự quản trong cộng đồng xã hội đối với quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (kỳ 2), Tlđd