Đầu tư và tài chính giáo dục tại Việt Nam: Thực trạng và những định hướng tái cấu trúc chiến lược trong kỷ nguyên mới (Kỳ II)

TS NGUYỄN DUY THÁI - BÙI ĐỨC NAM
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
06:01, ngày 30-06-2026

Kỳ II: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp chiến lược

TCCS - Trong bối cảnh cạnh tranh tri thức toàn cầu, quốc gia nào làm chủ được nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống đại học - nghiên cứu mạnh sẽ nắm giữ lợi thế lâu dài. Bài học rút ra từ nhiều quốc gia là: giáo dục chỉ tạo ra chất lượng khi được chuyển hóa thành năng lực, niềm tin và cơ hội. Đầu tư cho giáo dục không nên dừng ở xây dựng trường lớp, mà phải hướng đến xây dựng con người, hệ sinh thái học tập và văn hóa tri thức, vì vậy cần có hệ thống giải pháp mang tính chiến lược. 

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm phòng thực hành giáo dục STEM tại Trường Trung học phổ thông Chuyên Hà Nội - Amsterdam, ngày 14-5-2025 _Ảnh: TTXVN

Với giáo dục và đào tạo của Việt Nam, giai đoạn tới là thời điểm bản lề để chuyển từ “tư duy chi tiêu” sang “tư duy đầu tư chiến lược”. Khi chính sách tài chính được thiết kế dựa trên công bằng, trách nhiệm và minh bạch, ngân sách sẽ nuôi dưỡng những thế hệ học sinh biết vượt lên khó khăn, trở thành hạt giống của tri thức, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước. Để giải quyết căn cơ những bất cập mang tính cơ cấu và kiến tạo động lực bứt phá cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, công cuộc cải cách cơ chế đầu tư và tài chính giáo dục không thể thực hiện chắp vá mà phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm khắc phục sự đứt gãy trong chuỗi giá trị nhân lực. Cải cách tài chính giáo dục không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật ngân sách, mà là tái cấu trúc chiến lược đầu tư quốc gia vào con người. 

Về phương diện chiến lược quốc gia, đầu tư giáo dục phải đặt trong tổng thể mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 là đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Muốn vậy, cơ chế tài chính giáo dục phải bảo đảm ba yêu cầu cốt lõi: Hiệu quả kinh tế (gắn với năng suất lao động và đổi mới sáng tạo); công bằng xã hội (không để ai bị bỏ lại phía sau); tập trung chiến lược (hình thành các trung tâm đào tạo và nghiên cứu ở tầm khu vực). 

Chiến lược tài chính về giáo dục giai đoạn tới cần tập trung thực thi 4 vấn đề cốt lõi sau:

Thứ nhất, chuyển đổi mô hình tài chính hai tầng (Two-tier funding model), dung hòa tính công bằng và hiệu quả. 

Mô hình tài chính hai tầng (Two-tier funding model) là cấu trúc quản trị ngân sách hiện đại, được áp dụng rộng rãi tại các hệ thống giáo dục tiên tiến như Vương quốc Anh, Australia và các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế từ cuối thế kỷ XX. Thuật ngữ này ra đời nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu duy trì sự ổn định của hệ thống giáo dục (tính công bằng) và khát vọng bứt phá chất lượng (tính tinh hoa)(1)

Cơ chế cấp phát hiện nay của Việt Nam vẫn nặng tính bao cấp dựa trên “định mức đầu vào” như số lượng sinh viên hay chỉ tiêu biên chế. Cách tiếp cận này dẫn đến tâm lý thụ động, ỷ lại vào ngân sách và triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục. Vì thế, thực tiễn đòi hỏi một sự thay đổi căn bản về tư duy: chuyển từ “tư duy chi tiêu” sang “tư duy đầu tư chiến lược” để kiến tạo một kiến trúc tài chính vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa là bệ phóng cho các dự án mũi nhọn, phát triển nhân tài.

Trong bối cảnh quản trị đại học hiện đại, mô hình tài chính hai tầng được coi là “tư duy đầu tư chiến lược” giúp thay thế hoàn toàn “tư duy chi tiêu” thuần túy. Mô hình này cho phép nhà nước vừa giữ vai trò dẫn dắt thông qua ngân sách cơ bản, vừa khuyến khích sự sáng tạo thông qua ngân sách cạnh tranh(2).

Giải pháp thực thi là cần thiết lập cơ chế phân bổ tài chính hai tầng nhằm chuyển từ cấp phát thuần túy sang mô hình linh hoạt, gắn nguồn lực với kết quả thực hiện nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW. Tầng 1 (ngân sách cơ bản): Bảo đảm tính công bằng và an sinh giáo dục. Đóng vai trò là “móng nền” vững chắc của hệ thống, tầng ngân sách này tập trung vào việc duy trì tính công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục cơ bản cho mọi công dân. Việc thực thi nghiêm túc theo Điều 96 và Điều 99, Luật Giáo dục năm 2019, không chỉ nhằm mục tiêu phổ cập giáo dục hay xóa mù chữ, mà còn là cam kết của Nhà nước trong việc giữ vững các giá trị cốt lõi, bảo đảm an sinh giáo dục và không để bất kỳ vùng, miền hay đối tượng yếu thế nào bị bỏ lại phía sau. Tầng 2 (ngân sách cạnh tranh): Kiến tạo động lực và đầu tư cho sự phát triển tinh hoa. Ngược lại với tính chất duy trì của tầng 1, tầng 2 được thiết kế như một công cụ đầu tư chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển vượt trội và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. Nguồn kinh phí này được cấp phát linh hoạt dựa trên hệ thống chỉ số đánh giá hiệu năng (KPIs), tạo ra động lực cạnh tranh lành mạnh để các cơ sở giáo dục bứt phá khỏi tư duy bao cấp, hướng tới các chuẩn mực quốc tế. Đây chính là bước đi then chốt để cụ thể hóa khát vọng vươn mình của dân tộc, chuyển hóa nguồn lực tài chính thành năng lực tri thức thực chất theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. 

Để bảo đảm tính khả thi, hệ thống ngân sách cạnh tranh (tầng 2) cần dựa trên các tiêu chí định lượng cốt lõi sau: 1- Tỷ lệ có việc làm đạt tối thiểu 85% sinh viên có việc làm đúng chuyên môn sau 12 tháng tốt nghiệp; 2- Số lượng công bố khoa học đạt trung bình 0,5 - 1,0 bài nghiên cứu trên danh mục Scopus/WoS/giảng viên/năm nhằm định vị sức mạnh học thuật quốc tế (trong một số trường hợp đặc thù phải có bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học thuộc danh mục Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước Việt Nam); 3- Về thu hút nhân tài, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt trên 40% tại các cơ sở trọng điểm và thu hút chuyên gia quốc tế vào các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học...(3); Về việc nâng hạng và tự chủ, mức độ cải thiện vị trí trên các bảng xếp hạng uy tín (QS, THE) và chỉ số minh bạch trong báo cáo tài chính theo Nghị định 125/2024/NĐ-CP của Chính phủ.

Việc chuyển đổi này không chỉ là một điều chỉnh kỹ thuật ngân sách, mà là tái cấu trúc chiến lược đầu tư quốc gia vào con người, bảo đảm mỗi đồng ngân sách trở thành hạt giống của tri thức.

Thứ hai, tự chủ tài chính giáo dục đại học đi đôi với trách nhiệm giải trình.

Bước vào kỷ nguyên mới, quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học cần có sự đổi mới tư duy: Dịch chuyển mạnh mẽ từ “tự chủ hành chính” mang tính thủ tục sang “tự chủ học thuật và tài chính có trách nhiệm”. Tự chủ không phải là sự buông lỏng quản lý, mà là một mô hình quản trị cao cấp, nơi quyền tự quyết tối đa của nhà trường luôn song hành với sự cam kết chất lượng và sự minh bạch tuyệt đối trước xã hội. 

Muốn vậy, cần có giải pháp phù hợp như cụ thể hóa trách nhiệm giải trình qua các thiết chế giám sát hiện đại. Ví dụ, để ngăn chặn tình trạng tăng học phí thiếu căn cứ và bảo vệ tính nhân văn của giáo dục, trách nhiệm giải trình cần được thoát ra khỏi những báo cáo hình thức để trở thành các công cụ quản trị định lượng theo Luật Giáo dục đại học năm 2025 như: 1) Hệ thống minh bạch dữ liệu thực. Các cơ sở tự chủ bắt buộc phải vận hành cổng thông tin công khai về cơ cấu chi phí đào tạo, tỷ lệ tái đầu tư cho nghiên cứu và sự biến động các nguồn thu. Đây là cơ sở để người học và xã hội thực hiện quyền giám sát trực tiếp, bảo đảm dòng vốn giáo dục đi đúng hướng. 2) Kiểm toán độc lập bắt buộc: Chuyển từ kiểm toán nội bộ đơn thuần sang thiết chế kiểm toán độc lập định kỳ. Đây là yêu cầu tiên quyết để xác nhận năng lực tài chính và bảo đảm mức độ lành mạnh trong các hoạt động đầu tư của nhà trường. 3) Đánh giá ngoài và xếp hạng: Kết quả đánh giá chất lượng và xếp hạng định kỳ phải trở thành căn cứ pháp lý để Nhà nước quyết định mức độ ưu tiên trong việc phân bổ ngân sách cạnh tranh (tầng 2), tạo ra một cuộc đua chất lượng thực chất. 4) Cơ chế tài chính và tự chủ tài sản: Để gỡ những “điểm nghẽn” thể chế, quyền tự chủ tài chính và tài sản theo Chương X, Luật Giáo dục đại học năm 2025, cần một hành lang pháp lý đồng bộ và thông thoáng như: Vận hành cơ chế “đặt hàng” thay vì “bao cấp dàn trải”; Nhà nước cần chuyển từ cấp phát sang hình thức chi đầu tư và đặt hàng nghiên cứu cho các cơ sở trọng điểm, do vậy các trường phải chứng minh năng lực thực tế để giành quyền tiếp cận nguồn lực quốc gia; Kiến tạo mô hình “Quỹ hiến tặng”, sớm thiết lập khung pháp lý để các trường đại học chuyên nghiệp hóa việc huy động và quản lý nguồn lực từ cựu sinh viên và các đối tác doanh nghiệp, tương tự mô hình của các đại học tinh hoa trên thế giới; Cải cách quyền khai thác tài sản công, sửa đổi các quy định hiện hành, trao quyền cho các trường đại học tự chủ được đưa tài sản công (đất đai, hạ tầng chưa sử dụng hết) vào liên doanh, liên kết hoặc khai thác thương mại để tái đầu tư cho giáo dục mà không phải kinh qua những thủ tục phê duyệt hành chính phức tạp và chồng chéo.

Sự kết hợp giữa quyền tự chủ thực chất và cơ chế giải trình minh bạch sẽ giúp mỗi trường đại học thành một “thực thể sáng tạo”, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu xây dựng quốc gia phát triển vào năm 2045.

Các nhà khoa học hướng dẫn sinh viên nghiên cứu tại Khoa Công nghệ dược, Trường Đại học Dược Hà Nội_Ảnh: TTXVN

Thứ ba, khắc phục tình trạng phân bổ dàn trải, kiến tạo cực tăng trưởng học thuật trọng điểm.

Hiện nay, nguồn lực quốc gia dành cho giáo dục đại học chi cho hơn 230 cơ sở, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các “đầu tàu” đủ mạnh để định vị sức mạnh học thuật trên bản đồ quốc tế. Việc đầu tư dàn trải không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng ngân sách mà còn khiến Việt Nam rơi vào tình trạng “trung bình hóa” chất lượng đào tạo và nghiên cứu.

Giải pháp cần thiết là đầu tư trọng điểm cho hệ thống đại học dẫn dắt. Để cụ thể hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW, Nhà nước cần dồn lực ngân sách để kiến tạo từ 5 đến 7 đại học hoặc trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn khu vực; các “cực tăng trưởng” này cần hội tụ đủ các tiêu chí xác định đẳng cấp quốc tế: (1) Tập trung tài năng: Đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, người lao động xuất sắc, tài năng chính là tài sản lớn nhất của một cơ sở giáo dục đại học, là động lực cho sự phát triển. Sinh viên xuất sắc chính là giá trị về tri thức quan trọng nhất mà một đại học có thể mang lại cho xã hội và cộng đồng. Do đó, các trường đại học cần có đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đạt tỷ lệ cao(4). (2) Nguồn lực tài chính dồi dào: Mức đầu tư trên đầu sinh viên và tỷ lệ doanh thu từ nghiên cứu khoa học phải tiệm cận các đại học trong nhóm dẫn dắt của khu vực. (3) Quản trị thuận lợi và đặc thù: Được trao quyền tự chủ hoàn toàn trong việc “nới trần quỹ lương” để thu hút các nhà khoa học hàng đầu thế giới và chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược. (4) Phát triển công nghệ chiến lược: Trong bối cảnh mới, trọng tâm đầu tư giáo dục đại học phải gắn liền với các ngành công nghệ mũi nhọn. Các đại học trọng điểm đóng vai trò hạt nhân trong việc phát triển nguồn nhân lực thiết kế chip, trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học, những lĩnh vực có tính lan tỏa cao, trực tiếp nâng cao năng suất lao động quốc gia. Sự đầu tư này cần được thực thi dựa trên tư duy đột phá của Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Việc cụ thể hóa Nghị quyết này trong tài chính giáo dục đòi hỏi những cơ chế phi truyền thống, như ưu tiên nguồn lực tập trung (thay vì đầu tư dàn trải, ngân sách phải dồn lực để hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, các phòng thí nghiệm trọng điểm tại 5 - 7 đại học dẫn dắt để làm chủ công nghệ lõi); đột phá thể chế đổi mới sáng tạo (tận dụng tinh thần “chấp nhận rủi ro” trong nghiên cứu khoa học để xây dựng các cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, tháo gỡ rào cản hành chính cho các nhà khoa học); thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục (hạ tầng số và dữ liệu lớn là tài sản chiến lược của đại học, từ đó đầu tư tương xứng, tạo lập môi trường đào tạo - nghiên cứu thông minh, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030). 

Sự cộng hưởng chiến lược giữa Nghị quyết số 71-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW chính là “đòn bẩy” để chuyển hóa các đại học trọng điểm thành những cực tăng trưởng thực thụ. Việc kết hợp giữa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và làm chủ công nghệ lõi sẽ tạo ra động lực trực tiếp dẫn dắt nền kinh tế tri thức của Việt Nam.

Hiện nay, tổng chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam chỉ ở mức 0,4 - 0,5% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu là 2,3% và các nước trong khu vực như Trung Quốc (2,58% năm 2023), Singapore (1,85% năm 2022)(5). Để tạo sự đột phá, cần một lộ trình quyết liệt là nâng tỷ lệ chi cho R&D lên tối thiểu 1% GDP (giai đoạn 2026 - 2030). Trong đó, các trường đại học trọng điểm phải tái cấu trúc cơ cấu chi nội bộ, dành ít nhất 25 - 30% ngân sách cho nghiên cứu thay vì dồn toàn bộ cho chi thường xuyên. Giáo dục đại học phải thực sự trở thành một ngành “xuất khẩu tri thức”, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao.

Thứ tư, khơi thông nguồn vốn xã hội hóa và kiến tạo hệ sinh thái đa giá trị.

Hiện nay, Việt Nam cần một hành lang pháp lý minh bạch để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào R&D và xã hội hóa giáo dục, đồng thời kiên quyết ngăn chặn hệ lụy thương mại hóa.

Hoạt động đầu tư từ doanh nghiệp vào giáo dục đại học, đặc biệt ở các trường công lập còn hạn chế. Nguyên nhân do thiếu một cơ chế khuyến khích đủ mạnh, nhất là chính sách ưu đãi thuế, rào cản về thể chế trong hợp tác công - tư.

Trên thế giới, mô hình “ba nhà” (nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp) đã được nghiên cứu và triển khai từ rất sớm. Vai trò của nhà nước là định hướng, tài trợ và điều tiết; các trường đại học phụ trách đào tạo, nghiên cứu và khởi nghiệp; doanh nghiệp trở thành trung tâm sáng tạo, học tập và ứng dụng, tiếp nhận công nghệ từ các trường đại học. Tại Việt Nam, hợp tác “ba nhà” đã được triển khai nhưng vẫn ở mức hạn chế.

Giải pháp cần thiết lúc này là đẩy mạnh nâng cấp cơ chế đối tác công - tư, cụ thể hóa Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công - tư năm 2020 bằng cách phân định rủi ro minh bạch (Nhà nước gánh vác rủi ro vĩ mô, tư nhân chịu rủi ro vận hành). Áp dụng chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cao nhất cho các khoản đầu tư R&D hoặc quỹ hiến tặng. Mọi dự án hợp tác công - tư phải vượt qua kiểm định chất lượng độc lập để triệt tiêu nguy cơ mượn danh nghĩa xã hội hóa nhằm trục lợi bất động sản hay thương mại hóa môi trường sư phạm.

Việc mở rộng quyền tự chủ tài chính phải luôn song hành với cơ chế kiểm soát rủi ro thương mại hóa để bảo vệ tính sư phạm của nhà trường. Điều này không chỉ giúp các nhà trường chủ động dịch chuyển sang mô hình quản trị hiện đại mà còn bảo đảm sự công bằng trong việc tiếp cận giáo dục giữa các vùng, miền theo tinh thần của Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Bước vào kỷ nguyên mới, để tạo ra một “cú hích” đưa dân tộc bứt phá, triết lý quản trị tài chính giáo dục mới phải tuân thủ nguyên lý chuỗi giá trị liên thông, nơi dòng vốn không bị phân mảnh mà được thiết kế đồng bộ từ bậc tiểu học - đầu tư để mài giũa nền tảng nhân cách và kỹ năng cơ bản; đến bậc trung học phổ thông - đầu tư thực hiện phân luồng hiệu quả và kiến tạo nguồn đầu vào chất lượng cao cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học và cuối cùng là bậc đại học - đầu tư tập trung nguồn lực để sản sinh đội ngũ nhân lực tinh hoa, chuyên gia và nhà khoa học, góp phần kiến tạo một hệ sinh thái giáo dục nhân văn, sáng tạo và hiệu quả./.

-----------------------

(1) Xem: Australian National Audit Office: Administration of the Research Block Grants Program (tạm dịch: Quản lý chương trình tài trợ khối nghiên cứu), Commonwealth of Australia, 2013, p. 12
(2) OECD: Performance-based funding for public research in tertiary education institutions (tạm dịch: Cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên hiệu quả nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học công lập), OECD Publishing, 2010, p. 8
(3) OECD: Resourcing Higher Education: Challenges, Choices and Consequences (tạm dịch: Phân bổ nguồn lực cho giáo dục đại học: Những thách thức, lựa chọn và hệ quả), OECD Publishing, 2020, p. 62
(4) Xem: Gia Hân: “Ba nhóm yếu tố cấu thành một đại học đẳng cấp quốc tế”, Báo Đại biểu nhân dân, ngày 23-2-2024, https://daibieunhandan.vn/ba-nhom-yeu-to-cau-thanh-mot-dai-hoc-dang-cap-quoc-te-10331362.html
(5) Xem: Bảo Bình: “Ngân sách nghiên cứu khoa học công nghệ của Việt Nam vẫn thấp hơn trung bình thế giới”, Tạp chí Kinh tế Việt Nam, ngày 6-4-2026, https://vneconomy.vn/techconnect/ngan-sach-nghien-cuu-khoa-hoc-cong-nghe-cua-viet-nam-van-thap-hon-trung-binh-the-gioi.htm