TCCS - Một trong những quan điểm phát triển được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định là: “chủ động kiến tạo, đột phá phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, bền vững, bao trùm, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới, chủ động, tích cực làm mới các động lực tăng trưởng, xanh hóa, số hóa các ngành truyền thống, thúc đẩy nhanh các động lực tăng trưởng mới”(1).

Khu công nghiệp Bắc Tiền Phong - Quảng Ninh_Ảnh: Báo Quảng Ninh

1. Trong bối cảnh nền kinh tế cả nước chịu nhiều tác động từ biến động kinh tế toàn cầu, dịch bệnh và yêu cầu ngày càng cao về tăng trưởng xanh, bền vững, tỉnh Quảng Ninh đã có sự chuyển hướng chiến lược mạnh mẽ trong phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Từ một địa phương có cơ cấu kinh tế phụ thuộc lớn vào khai thác khoáng sản tài nguyên, Quảng Ninh đã từng bước chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa trên công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ và kinh tế tri thức. Giai đoạn 2020 - 2025 đánh dấu bước phát triển quan trọng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh, không chỉ về quy mô và tốc độ tăng trưởng mà còn về chất lượng, hiệu quả và tính bền vững. Công nghiệp chế biến, chế tạo được xác định là động lực tăng trưởng mới, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, bền vững của tỉnh.

Một trong những quan điểm, định hướng phát triển trong Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 16-11-2020, của Tỉnh ủy Quảng Ninh, “Về phát triển nhanh, bền vững công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030” (Nghị quyết số 01-NQ/TU) đã xác định: “Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo gắn liền với phát triển bền vững các khu công nghiệp, khu kinh tế thực sự trở thành những động lực tăng trưởng; chú trọng phát triển khu công nghiệp theo mô hình “3 trong 1” khu công nghiệp - khu đô thị - khu dịch vụ, với kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại, dịch vụ tiện ích khác biệt, tạo ra môi trường làm việc và môi trường sống văn minh, an toàn; tạo việc làm, tăng thu nhập cho công nhân, người lao động gắn với nâng cao chất lượng sống của nhân dân”(2).

Qua 5 năm triển khai Nghị quyết số 01-NQ/TU, những kết quả đạt được về phát triển bền vững công nghiệp chế biến, chế tạo đã khẳng định tính đúng đắn và tầm nhìn chiến lược trong quá trình chuyển hướng phát triển kinh tế của Quảng Ninh.

Tăng trưởng quy mô và đóng góp ngày càng lớn vào GRDP. Thời gian qua, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế gặp không ít khó khăn, nhưng công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh Quảng Ninh vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá và ổn định. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng đều qua các năm. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh liên tục được cải thiện, từng bước thay thế vai trò chủ đạo của công nghiệp khai khoáng; dần trở thành một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế tỉnh, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GRDP, nâng cao năng lực nội sinh và giảm sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên không tái tạo.

Từ “thủ phủ than” của cả nước, Quảng Ninh đang chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình tăng trưởng xanh, bền vững và hiện đại. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10,4%/năm giai đoạn 2021 - 2025, GRDP bình quân đầu người trên 11.000 USD, cùng sự trỗi dậy của công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng sạch và du lịch xanh, Quảng Ninh khẳng định vị thế cực tăng trưởng toàn diện của miền Bắc. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2021 - 2025 đạt mức tăng trưởng ấn tượng 23%/năm, trở thành động lực chính của toàn tỉnh. Tỷ trọng FDI vào lĩnh vực này chiếm tới 68,5% tổng vốn thu hút, với tổng vốn đăng ký giai đoạn 2021-2025 ước đạt 9,77 tỷ USD, cao gấp 5,1 lần giai đoạn 2016-2020(3). Đáng chú ý là sự tăng trưởng không chỉ thể hiện ở quy mô sản xuất mà còn ở giá trị gia tăng, phản ánh hiệu quả của quá trình chuyển đổi từ “khai thác thô” sang “chế biến sâu”, tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn.

Thu hút đầu tư mạnh mẽ, đặc biệt là các dự án công nghệ cao. Một trong những kết quả nổi bật thời gian qua là khả năng thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh. Tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Nhiều dự án mới trong lĩnh vực chế biến, chế tạo đã được cấp phép và triển khai, với tổng vốn đầu tư lớn, vượt mục tiêu đề ra ban đầu. Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp đã lựa chọn Quảng Ninh là điểm đến đầu tư, góp phần nâng cao trình độ công nghệ, năng lực quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp địa phương. Nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ cao đã được triển khai tại các Khu công nghiệp Đông Mai, Bắc Tiền Phong, Sông Khoai, Việt Hưng, Cảng biển Hải Hà… tạo thành chuỗi sản xuất mới mang tính cạnh tranh quốc tế như: Dệt công nghệ cao, lắp ráp ô tô, xe điện, cơ khí chế tạo, sản xuất điện tử, pin năng lượng(4). Đáng chú ý, cơ cấu đầu tư có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng ưu tiên dự án công nghệ cao; hạn chế dự án sử dụng nhiều lao động giản đơn, tiêu hao năng lượng lớn; khuyến khích dự án thân thiện với môi trường, sử dụng công nghệ sạch.

Cơ cấu ngành và sản phẩm ngày càng hợp lý, hiện đại. Công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh giai đoạn 2020 - 2025 có sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu ngành nghề và sản phẩm. Bên cạnh các ngành truyền thống như chế biến thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, tỉnh tập trung phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như: Cơ khí chế tạo; Sản xuất, lắp ráp thiết bị, phương tiện vận tải; Công nghiệp điện - điện tử; Chế biến sâu khoáng sản và nguyên liệu đầu vào... Việc phát triển các sản phẩm chế biến sâu không chỉ giúp nâng cao giá trị tài nguyên địa phương mà còn góp phần hình thành chuỗi sản xuất - cung ứng - tiêu thụ tương đối hoàn chỉnh, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Phát triển gắn với bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo của cả nước nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Trong những năm qua, Quảng Ninh đặc biệt chú trọng yếu tố môi trường trong quá trình thu hút đầu tư và tổ chức sản xuất công nghiệp. Theo đó, các dự án mới đều được thẩm định chặt chẽ về công nghệ, tiêu chuẩn môi trường; ưu tiên sử dụng dây chuyền hiện đại, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải. Nhiều khu công nghiệp được quy hoạch và phát triển theo hướng khu công nghiệp sinh thái, gắn sản xuất công nghiệp với xử lý chất thải, tái sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường sống của người dân. Việc kiểm soát tốt tác động môi trường của công nghiệp chế biến, chế tạo đã góp phần cải thiện hình ảnh của Quảng Ninh từ một địa phương “nâu” sang địa phương phát triển theo hướng “xanh”, bền vững.

Tỉnh Quảng Ninh cũng đã đề nghị bổ sung quy hoạch phát triển điện gió giai đoạn 2021 - 2040 với công suất 5.000MW (ngoài khơi 3.000MW, trên bờ 2.000MW), trong đó giai đoạn 2021-2030 là 2.500MW. Viện Năng lượng đánh giá Quảng Ninh có tiềm năng rất lớn, với tổng công suất gió khoảng 15.397MW cả trên đất liền và ngoài khơi. Theo Quy hoạch tỉnh 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, Quảng Ninh sẽ phát triển công nghiệp năng lượng thân thiện môi trường, duy trì vị thế trung tâm năng lượng quốc gia, đặc biệt về điện gió và điện khí LNG. Tỉnh định hướng công nghiệp xanh, ưu tiên năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch; đồng thời nâng cao tỷ trọng chế biến, chế tạo công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, tạo thêm một trụ cột chính cho nền kinh tế(5).

Tác động tích cực đến xã hội và thị trường lao động. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã tạo ra nhiều việc làm mới, ổn định cho người lao động địa phương. Các nhà máy, khu công nghiệp đã thu hút, tạo việc làm mới cho hàng chục nghìn lao động, trong đó phần lớn là lao động trong tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp và khai thác khoáng sản sang công nghiệp - dịch vụ. Thu nhập và điều kiện làm việc của người lao động từng bước được cải thiện; trình độ tay nghề, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động được nâng cao. Đồng thời, sự phát triển của ngành cũng thúc đẩy các lĩnh vực liên quan như logistics, thương mại, đào tạo nghề, dịch vụ đô thị phát triển theo.

Góp phần nâng cao năng lực điều hành và quản lý nhà nước. Quá trình phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo thời gian qua cũng là động lực thúc đẩy tỉnh Quảng Ninh đổi mới tư duy quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền các cấp. Việc đồng hành cùng doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý khu công nghiệp, cấp phép đầu tư đã tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững lâu dài.

Sản xuất tại Công ty TNHH Công nghiệp Jinko Solar Việt Nam, Khu công nghiệp Sông Khoai - Quảng Ninh_Ảnh: Báo Quảng Ninh 

2. Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, quá trình phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh Quảng Ninh giai thời gian qua vẫn bộc lộ một số hạn chế, bất cập nhất định. Những tồn tại này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, ảnh hưởng đến tính bền vững, chiều sâu và khả năng lan tỏa của ngành trong dài hạn.

Quy mô và trình độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Mặc dù công nghiệp chế biến, chế tạo có tốc độ tăng trưởng khá, song xét về quy mô, vẫn chưa thực sự có sự bứt phá mạnh mẽ, toàn diện so với yêu cầu, mục tiêu đề ra trong Nghị quyết số 01-NQ/TU cũng như tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Số lượng doanh nghiệp lớn, có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị còn hạn chế; phần lớn doanh nghiệp thuộc nhóm vừa và nhỏ, năng lực tài chính và công nghệ chưa cao. Giá trị gia tăng tạo ra từ hoạt động chế biến, chế tạo còn thấp so với kỳ vọng, nhất là trong các ngành chế biến sâu. Điều này khiến đóng góp của ngành vào GRDP tuy có tăng nhưng chưa thực sự mang tính đột phá và bền vững.

Cơ cấu ngành chưa thật sự cân đối, còn phụ thuộc vào một số lĩnh vực. Cơ cấu công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh vẫn còn tập trung vào một số ngành nhất định, trong khi các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm. Sự liên kết giữa các ngành trong nội bộ công nghiệp chế biến, chế tạo còn yếu, chưa hình thành rõ các cụm liên kết ngành hay chuỗi cung ứng hoàn chỉnh. Việc phụ thuộc vào một số ngành, sản phẩm chủ lực cũng tiềm ẩn rủi ro khi thị trường biến động, ảnh hưởng đến tính ổn định và bền vững của tăng trưởng công nghiệp.

Chất lượng thu hút đầu tư chưa đồng đều. Dù thu hút được nhiều dự án đầu tư, song không ít dự án trong lĩnh vực chế biến, chế tạo vẫn sử dụng công nghệ ở mức trung bình, giá trị gia tăng thấp. Một số dự án còn nặng về gia công, lắp ráp, phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, chưa tạo được sự lan tỏa mạnh mẽ về công nghệ và quản trị. Việc lựa chọn, sàng lọc dự án trong một số thời điểm chưa thực sự chặt chẽ, dẫn đến nguy cơ phát sinh áp lực về môi trường, hạ tầng và lao động trong dài hạn.

Hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp chế biến, chế tạo tuy dồi dào về số lượng nhưng còn hạn chế về chất lượng. Lao động kỹ thuật cao, kỹ sư, chuyên gia công nghệ còn thiếu, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các ngành chế biến, chế tạo hiện đại. Công tác đào tạo nghề, gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa thật sự hiệu quả, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng chuyên sâu, ảnh hưởng đến năng suất và khả năng đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.

Áp lực về môi trường và hạ tầng. Mặc dù tỉnh đã chú trọng yếu tố môi trường, song trên thực tế, một số cơ sở sản xuất chế biến, chế tạo vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm, nhất là trong xử lý nước thải, chất thải công nghiệp. Hạ tầng kỹ thuật tại một số khu, cụm công nghiệp chưa đồng bộ, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển nhanh của ngành. Điều này đặt ra thách thức không nhỏ đối với mục tiêu phát triển công nghiệp theo hướng xanh và bền vững.

Ngoài ra, những vấn đề liên quan đến tính bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường… trong quá trình phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo cũng là  những “điểm nghẽn” mà hầu hết các địa phương, trong đó có Quảng Ninh đã và đang quan tâm “tháo gỡ”, như: Năng suất lao động trong công nghiệp chế biến, chế tạo chưa cao; tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu; khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế; chênh lệch chất lượng lao động giữa các khu vực trong tỉnh; áp lực về nhà ở, hạ tầng xã hội cho công nhân tại các khu công nghiệp; một số doanh nghiệp chưa đầu tư đồng bộ cho công nghệ xử lý môi trường; công tác giám sát môi trường ở một số khu công nghiệp còn bất cập…

Những hạn chế, bất cập nêu trên cho thấy quá trình phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh giai đoạn 2020 - 2025 tuy đạt nhiều kết quả quan trọng nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm tính bền vững, chiều sâu và khả năng cạnh tranh lâu dài.

Sản xuất tại Công ty TNHH Solex High-Tech industries Việt Nam, Khu công nghiệp Bắc Tiền Phong - Quảng Ninh_Ảnh: Báo Quảng Ninh 

3. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030 nhận định: cùng với những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế, yếu kém, cần nỗ lực khắc phục, trong đó có “Chất lượng tăng trưởng chưa bền vững, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển, du lịch, các khu kinh tế, khu công nghiệp…”; “Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực, nhất là quản lý tài nguyên, khoáng sản, đầu tư công, đất đai, quản lý xã hội có mặt còn hạn chế...”(6).

Trong bối cảnh yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng trở nên cấp thiết, việc tiếp tục phát triển mạnh mẽ công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới đã được định hướng một cách đồng bộ, dài hạn. Từ thực trạng và những vấn đề đặt ra, các hệ thống giải pháp cơ bản nhằm đưa công nghiệp chế biến, chế tạo thực sự trở thành trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế địa phương được xác định là:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện quy hoạch và định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo theo định hướng.

Quảng Ninh tiếp tục rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo theo hướng: Phù hợp với quy hoạch tỉnh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn; ưu tiên các ngành có giá trị gia tăng cao, công nghệ hiện đại, ít phát thải; hình thành các cụm liên kết ngành, khu công nghiệp chuyên sâu gắn với chuỗi giá trị; quy hoạch bảo đảm tính đồng bộ giữa phát triển công nghiệp với hạ tầng giao thông, logistics, đô thị và bảo vệ môi trường.

Thứ hai, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư.

Thay vì chú trọng số lượng dự án, cần chuyển mạnh sang thu hút đầu tư có chọn lọc, tập trung vào dự án chế biến sâu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ; dự án có khả năng lan tỏa công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước; dự án thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên… Cùng với đó, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường vai trò đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp trong suốt vòng đời dự án.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt bảo đảm phát triển bền vững công nghiệp chế biến, chế tạo. Theo đó, tỉnh sẽ tiếp tục chú trọng đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu; thu hút và giữ chân đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, lao động kỹ thuật cao… Song song với đó là tiếp tục quan tâm nâng cao chất lượng đời sống, phúc lợi xã hội cho người lao động, tạo môi trường làm việc ổn định và hấp dẫn.

Thứ tư, đẩy mạnh đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.

Đổi mới công nghệ không chỉ là nền tảng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của công nghiệp chế biến, chế tạo, mà còn điều kiện quan trọng giúp giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm phát thải. Trong thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục triển khai các chủ trương, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa, sản xuất thông minh; thúc đẩy ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý sản xuất, logistics, chuỗi cung ứng; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các chương trình đổi mới sáng tạo, quỹ khoa học - công nghệ.

Thứ năm, phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường; hoàn thiện hạ tầng công nghiệp và logistics.

Cùng với các giải pháp nhằm bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sống như: tăng cường kiểm soát môi trường đối với các dự án công nghiệp; khuyến khích mô hình khu công nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn; hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng, tái chế chất thải…, Quảng Ninh cũng xác định việc đồng bộ hạ tầng là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững công nghiệp chế biến, chế tạo. Theo đó, song song với tiếp tục thúc đẩy bảo vệ môi trưởng, là những giải pháp về đầu tư hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; phát triển hệ thống logistics hiện đại, kết nối hiệu quả hệ thống cảng và hạ tầng giao thông; nâng cao năng lực cung cấp điện, nước, xử lý chất thải phục vụ sản xuất…

Thứ sáu, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Cùng với phát triển thị trường và doanh nghiệp, tỉnh tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo; tăng cường phối hợp liên ngành trong quản lý khu công nghiệp; đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước; quản lý hiệu quả sẽ tạo môi trường phát triển ổn định, minh bạch và bền vững...

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ tạo nền tảng vững chắc để ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh Quảng Ninh phát triển bền vững trong thời gian tới. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là định hướng chiến lược lâu dài nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng và vị thế của tỉnh trong nền kinh tế quốc gia; đồng thời “chủ động kiến tạo, đột phá phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, bền vững, bao trùm, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới, chủ động, tích cực làm mới các động lực tăng trưởng, xanh hóa, số hóa các ngành truyền thống, thúc đẩy nhanh các động lực tăng trưởng mới” như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã đề ra../.

-----------

(1) Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030, https://baoquangninh.vn/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-quang-ninh-lan-thu-xvi-nhiem-ky-2025-2030-3377665.html
(2) Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 16-11-2020, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, “Về phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020 - 2025, định hướng 2030”, www.quangninh.gov.vn 
(3), (4), (5) Đẩy mạnh mô hình “tăng trưởng xanh” Quảng Ninh phát triển bền vững, https://baoquangninh.vn/day-manh-mo-hinh-tang-truong-xanh-quang-ninh-phat-trien-ben-vung-3372998.html 
(6) Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030, https://baoquangninh.vn/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-quang-ninh-lan-thu-xvi-nhiem-ky-2025-2030-3377665.html, ngày 29-9-2025