Xác lập mô hình tăng trưởng mới tỉnh Quảng Ninh dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
TCCS - Trong bối cảnh yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu ngày càng cấp thiết, tỉnh Quảng Ninh nổi lên như một điển hình về tăng trưởng nhanh, nhưng cũng bộc lộ những giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa vào lợi thế sẵn có. Vấn đề đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng, mà là cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đánh giá mô hình tăng trưởng của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 - 2025
Trong giai đoạn 2016 - 2025, kinh tế tỉnh Quảng Ninh duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, thuộc nhóm các địa phương có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất cả nước. Quy mô nền kinh tế liên tục được mở rộng, với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) (giá so sánh) tăng từ khoảng 85,6 nghìn tỷ đồng năm 2016 lên khoảng 200,6 nghìn tỷ đồng năm 2025, tăng hơn 2,3 lần trong vòng chưa đầy một thập kỷ.
Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 10%/năm, riêng năm 2025, đạt 11,89%, dẫn đầu cả nước và là mức tăng trưởng cao nhất trong cả giai đoạn 2020 - 2025. Theo đó, quy mô nền kinh tế xếp thứ 7/34 tỉnh, thành phố; GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 10.402 USD, gấp 2,08 lần bình quân cả nước và là mức cao nhất cả nước.
Đáng chú ý, chất lượng tăng trưởng đã có sự chuyển dịch thực chất, phản ánh quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo: 1- Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII): Năm 2025, Quảng Ninh vươn lên xếp thứ ba toàn quốc (chỉ sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) với tổng số 58,41 điểm; 2- Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP): Tỷ lệ đóng góp của năng suất TPF vào GRDP đạt mức kỷ lục 62,51% năm 2025, duy trì xu hướng tăng liên tiếp qua các năm; 3- Sản phẩm công nghệ cao: Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao năm 2025 đã đạt gần 50%, trong đó tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 19%.
Đóng góp của các ngành kinh tế cho tăng trưởng
Công nghiệp và xây dựng: Tiếp tục là khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GRDP của tỉnh. Xét trong nội bộ khu vực này cho thấy cơ cấu đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng vai trò của công nghiệp chế biến, chế tạo. Kể từ sau đại dịch COVID-19, khu vực này có dấu hiệu phục hồi mạnh, sau khi giảm xuống mức 45,36% năm 2023 và quay lại mức 46,85% năm 2025. Đặc biệt, năm 2025 chứng kiến sự bứt phá của năng suất nhân tố tổng hợp khi tỷ lệ đóng góp của TFP vào GRDP đạt mức kỷ lục 62,51%. Tính chung cả giai đoạn 2021 - 2025, tỷ lệ này bình quân đạt trên 51%, khẳng định mô hình tăng trưởng đã chuyển dịch mạnh mẽ sang dựa vào năng suất và công nghệ thay vì thâm dụng vốn. Điều này cho thấy các dự án công nghiệp trọng điểm (đặc biệt là chế biến, chế tạo và năng lượng) đã đi vào vận hành ổn định và đóng góp lớn vào giá trị sản xuất.
Bên cạnh đó, ngành năng lượng cũng đang có sự chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa nguồn năng lượng, từ nhiệt điện than truyền thống sang các nguồn năng lượng mới như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và điện khí LNG (khí thiên nhiên hóa lỏng). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất; trong giai đoạn 2021 - 2025, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 21%/năm, trở thành đầu tàu trong tăng trưởng công nghiệp.
Phân tích sâu hơn có thể thấy ngành khai khoáng (than) vẫn là trụ cột chính, đóng góp khoảng 1/4 GRDP và gần 40% ngân sách thu nội địa của tỉnh, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 100.000 lao động. Khó khăn hiện nay đối với ngành này là công nghệ khai thác khoáng sản ngoài than còn nhỏ lẻ, manh mún, lạc hậu và tiềm ẩn nguy cơ môi trường(1).
Khu vực dịch vụ: Khu vực dịch vụ duy trì tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tỉnh Quảng Ninh đang tập trung phát triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, như logistics, thương mại biên giới và du lịch cao cấp. Việc đầu tư mạnh vào hạ tầng giao thông, đặc biệt là hệ thống cao tốc, cảng biển và sân bay, đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ vận tải, logistics và du lịch. Tỷ trọng ngành dịch vụ ước tính chiếm khoảng 37,73% GRDP vào năm 2025.
Sự gia tăng tỷ trọng ngành dịch vụ phản ánh sự bùng nổ của các loại hình dịch vụ hỗ trợ công nghiệp, vận tải kho bãi và đặc biệt là thương mại bán lẻ. Hệ thống hạ tầng giao thông hiện đại, đặc biệt là sân bay Vân Đồn và mạng lưới cao tốc dọc tỉnh, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh của các ngành dịch vụ này. Năm 2025, tỉnh đón trên 21 triệu du khách với doanh thu trên 57.000 tỷ đồng, góp phần quan trọng về tăng trưởng và tạo việc làm cho người lao động.
Khu vực nông nghiệp: Khu vực này tiếp tục xu hướng giảm tỷ trọng, chỉ còn đóng góp 3,97% vào GRDP. Mặc dù giá trị tuyệt đối vẫn tăng (từ 4,3 nghìn tỷ năm 2010 lên gần 8 nghìn tỷ năm 2025), nhưng tốc độ tăng trưởng của ngành này thấp hơn nhiều so với các nhóm ngành khác, khiến tỷ lệ đóng góp của ngành trong nền kinh tế thu hẹp lại. Hiện nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đang chuyển dịch từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao và nuôi trồng thủy sản bền vững. Các mô hình nuôi biển quy mô lớn và ứng dụng công nghệ cao đang được triển khai, đặc biệt tại đặc khu Vân Đồn và Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Đầm Hà, nhằm nâng cao giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp.
Thu hút đầu tư nước ngoài có nhiều chuyển biến tích cực và hướng đến nhà đầu tư chiến lược
Trong giai đoạn 2020 - 2025, dòng vốn FDI đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng quy mô công nghiệp chế biến, chế tạo. Tổng vốn đầu tư thu hút vào lĩnh vực này đạt hơn 9 tỷ USD, trong đó phần lớn tập trung vào các dự án của doanh nghiệp nước ngoài. Sự gia tăng của khu vực FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và mở rộng quy mô sản xuất, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Điểm nhấn quan trọng trong bức tranh thu hút đầu tư là sự dịch chuyển mạnh mẽ hướng tới các nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh vực công nghệ cao. Tỉnh đã thu hút được các nhà đầu tư, tập đoàn lớn, có thương hiệu toàn cầu và trình độ quản trị hiện đại tham gia sản xuất sản phẩm công nghệ cao với tổng số vốn 2,01 tỷ USD (tương đương trên 52.000 tỷ đồng). Một số dự án động lực tiêu biểu, như: tổ hợp dự án công nghệ tế bào quang điện của Jinko Solar với tổng vốn hơn 800 triệu USD, dự án nhà máy Lite-On với 690 triệu USD, dự án tấm silic của Công ty Gokin Solar với hơn 274 triệu USD, cùng các dự án nhà máy của Foxconn.
Đến hết năm 2025, trên địa bàn tỉnh có 163 dự án FDI đang hoạt động với tổng vốn đăng ký 10.532,1 triệu USD và 226 dự án đầu tư trong nước (DDI) với tổng vốn đăng ký hơn 222.418 tỷ đồng. Mặc dù vậy, số lượng doanh nghiệp FDI sản xuất công nghệ cao mới chỉ đạt tỷ lệ khiêm tốn (khoảng 5% tổng số dự án), cho thấy dư địa và yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh hơn nữa trong kỷ nguyên mới. Phần lớn các dự án này tập trung tại các khu công nghiệp và khu kinh tế ven biển, đặc biệt là các khu vực, như Quảng Yên, Hải Hà và Móng Cái. Điều này cho thấy các khu công nghiệp và khu kinh tế đã trở thành hạt nhân thu hút đầu tư của tỉnh, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy công nghiệp hóa.
Đóng góp của TFP trong tăng trưởng kinh tế
Kết quả tính toán cho thấy đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP của tỉnh Quảng Ninh duy trì xu hướng tăng liên tiếp qua các giai đoạn, phản ánh quá trình chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang mô hình dựa nhiều hơn vào hiệu quả, công nghệ và cải thiện năng suất.
Trong giai đoạn 2016 - 2020, tỷ lệ đóng góp của TFP đạt 45,84% (phần còn lại là đóng góp của vốn và lao động). Bước vào giai đoạn 2021 - 2026, tỷ lệ đóng góp TFP vào GRDP tiếp tục bứt phá, bình quân đạt trên 51%. Chính sự gia tăng mạnh mẽ của TFP cho thấy nền kinh tế đang giảm dần sự phụ thuộc vào vốn và lao động và tăng trưởng của tỉnh ngày càng dựa nhiều hơn vào cải thiện năng suất, chuyển đổi số, đổi mới quản trị và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay vì chỉ dựa vào gia tăng đầu vào sản xuất truyền thống.
Năng suất lao động luôn thuộc nhóm dẫn đầu cả nước
Năng suất lao động của tỉnh Quảng Ninh luôn nằm trong nhóm cao của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước. Theo giá hiện hành, năng suất lao động của tỉnh tăng từ khoảng 85,6 triệu đồng/lao động năm 2010 lên khoảng 512 triệu đồng năm 2024 và 537 triệu đồng năm 2025, tăng hơn 6 lần sau 15 năm. Mức này cao hơn đáng kể so với bình quân cả nước (240 triệu đồng năm 2025) và cũng cao hơn nhiều địa phương trong vùng(2).
Mức năng suất lao động cao của tỉnh Quảng Ninh chủ yếu xuất phát từ một số yếu tố: 1- Cơ cấu kinh tế có tỷ trọng lớn của các ngành có năng suất cao, đặc biệt là khai khoáng, công nghiệp năng lượng và dịch vụ du lịch; 2- Việc đầu tư mạnh vào hạ tầng và thu hút FDI đã giúp nâng cao trình độ công nghệ trong một số ngành công nghiệp. Tính đến đầu năm 2026, tỉnh đã thu hút được các nhà đầu tư, tập đoàn lớn, có thương hiệu toàn cầu tham gia sản xuất sản phẩm công nghệ cao với tổng số vốn 2,01 tỷ USD (tương đương trên 52.000 tỷ đồng) gồm: Lite-On, Foxconn, Jinko Solar, Gokin Solar. Riêng dự án Nhà máy Lite-On Quảng Ninh có số vốn đầu tư đăng ký đạt 690 triệu USD; 3- Sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ đã góp phần nâng năng suất bình quân của toàn nền kinh tế.
Tuy nhiên, mức năng suất cao này một phần cũng phản ánh đặc điểm cơ cấu ngành, trong đó các ngành khai thác tài nguyên có năng suất lao động rất cao nhưng không hoàn toàn phản ánh năng lực công nghệ hoặc đổi mới sáng tạo của nền kinh tế địa phương.
Hiệu quả đầu tư và hệ số sử dụng vốn (ICOR)
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của tỉnh Quảng Ninh có xu hướng được cải thiện rõ rệt theo thời gian. Số liệu cho thấy chỉ số ICOR của tỉnh giảm dần trong dài hạn, từ mức khá cao 14,65 vào năm 2012 xuống còn 5,01 năm 2018 và 4,33 năm 2019. Điều này chứng tỏ, nếu ở giai đoạn đầu thập niên 2010 (2011 - 2015), tăng trưởng kinh tế của tỉnh phụ thuộc lớn vào việc mở rộng quy mô đầu tư dẫn đến ICOR cao, thì ở giai đoạn sau, hiệu quả phân bổ nguồn vốn đã được cải thiện đáng kể.
Năm 2020, ICOR tạm thời tăng lên mức 6,09, do tác động của đại dịch COVID-19 khiến tốc độ tăng trưởng GRDP chậm lại trong khi các dự án đầu tư vẫn tiếp tục triển khai, làm giảm hiệu quả đầu tư trong ngắn hạn. Tuy nhiên, ngay sau giai đoạn này, ICOR tiếp tục đà giảm xuống còn 5,00 năm 2021, 4,77 năm 2022 và ước đạt 3,53 năm 2025, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn đã nhanh chóng phục hồi và tiếp tục cải thiện(3).
Tổng hợp 3 chỉ tiêu (TFP, năng suất lao động và ICOR) cho thấy, mô hình tăng trưởng của Quảng Ninh thời gian qua đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tăng trưởng kinh tế không chỉ dựa vào mở rộng quy mô vốn và lao động mà ngày càng gắn liền với việc cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản trị. Đây là minh chứng rõ nét của quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu.
Cùng với việc năng suất lao động thuộc nhóm cao nhất cả nước nhờ cơ cấu lại theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng nhanh khu vực công nghiệp và dịch vụ giá trị gia tăng cao, sự sụt giảm dài hạn của ICOR cho thấy, để tạo ra một đơn vị tăng trưởng GRDP, nền kinh tế cần lượng vốn đầu tư ngày càng ít hơn. Quá trình này gắn liền với những nỗ lực hoàn thiện hệ thống hạ tầng chiến lược, cải cách môi trường kinh doanh và chuyển dịch dòng vốn sang các lĩnh vực có hiệu quả kinh tế vượt trội.
Những bất cập trong mô hình tăng trưởng của tỉnh Quảng Ninh
Tuy đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng trước những kỳ vọng phát triển trong kỷ nguyên mới, Quảng Ninh vẫn đối mặt với những khó khăn mang tính chiến lược. Nếu không nhận diện và có chiến lược ứng phó kịp thời, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và vai trò dẫn dắt của tỉnh.
Thứ nhất, mô hình tăng trưởng của tỉnh chưa chuyển dịch đủ mạnh sang khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; vẫn phụ thuộc đáng kể vào phát triển hạ tầng, bất động sản, du lịch đại trà và khai thác lợi thế sẵn có. Công nghệ cao, kinh tế số, chế biến sâu, kinh tế sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực chủ đạo. Các lợi thế không gian kinh tế biển, kinh tế biên giới, kinh tế đô thị chưa được tổ chức thành chuỗi giá trị tích hợp; các cực tăng trưởng còn phân tán, thiếu liên kết.
Thứ hai, nguồn nhân lực và năng lực đổi mới chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Tỉnh còn thiếu các chuyên gia, kỹ sư, doanh nhân công nghệ và quản trị lao động kỹ thuật cao; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp còn yếu và chưa bền vững.
Thứ ba, mức độ ứng dụng công nghệ trong doanh nghiệp còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều và sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị còn yếu khiến hiệu quả lan tỏa của tăng trưởng chưa cao. Khu vực doanh nghiệp nội địa quy mô nhỏ, năng lực công nghệ hạn chế làm giảm khả năng hình thành các động lực tăng trưởng dựa trên năng suất.
Thứ tư, thể chế quản trị phát triển chậm đổi mới. Một số cơ chế về đất đai, đầu tư, tài chính, khoa học - công nghệ, khu kinh tế chưa tạo ra không gian thử nghiệm và bứt phá. Khát vọng và chuẩn mực phát triển hiện tại chủ yếu so sánh với tiêu chuẩn trong nước, chưa vươn tới các thước đo của khu vực và quốc tế.
Thứ năm, năng lực dẫn dắt và lan toả của tỉnh đối với khu vực và cả nước chưa được phát huy đầy đủ. Vai trò “đi trước mở đường” mới chỉ thể hiện rõ trong nội bộ tỉnh. Khi tỉnh Quảng Ninh đã thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, yêu cầu đặt ra là phải chủ động đảm nhận vai trò thí điểm, tiên phong trong các lĩnh vực chiến lược, qua đó đóng góp thực tiễn cho việc hoàn thiện chính sách của Đảng và Nhà nước.
Quan điểm xác lập mô hình tăng trưởng mới của tỉnh Quảng Ninh dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Thứ nhất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là trụ cột và động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, hình mẫu phát triển quốc gia dựa trên tri thức và là đô thị mang tính cạnh tranh toàn cầu.
Thứ hai, triển khai khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo cách tiếp cận định hướng sứ mệnh, tập trung giải quyết các vấn đề lớn, liên ngành: phát triển kinh tế biển và hải đảo; kinh tế di sản và du lịch bền vững; chuyển đổi mô hình công nghiệp hậu khai khoáng; bảo vệ môi trường; phát triển logistics và đô thị thông minh.
Thứ ba, ưu tiên nguồn lực khoa học, công nghệ cho các lĩnh vực mà tỉnh Quảng Ninh có lợi thế đặc thù, chuyển hóa tài nguyên, di sản và vị trí địa kinh tế thành lợi thế cạnh tranh bền vững.
Thứ tư, thực hiện chiến lược đổi mới sáng tạo mở, chủ động kết nối, hấp thụ tri thức thông qua các tập đoàn FDI và hợp tác quốc tế, gắn với xây dựng văn hóa chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu.
Thứ năm, chiến lược đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải đồng bộ, xứng tầm, mang tính dài hạn. Vốn ngân sách nhà nước chỉ là “vốn mồi” để dẫn dắt đầu tư tư nhân. Nguồn lực ngân sách nhà nước dành cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số của tỉnh hiện được bảo đảm ở mức cao nhất cả nước. Năm 2025, tỉnh đã bố trí 844 tỷ đồng (chiếm 2,86% chi ngân sách địa phương) và dự kiến năm 2026 tăng lên 1.186 tỷ đồng (đạt 2,96%). Nguồn “vốn mồi” mạnh mẽ này đã kích hoạt hiệu quả các nguồn vốn ngoài ngân sách, điển hình là Quỹ phát triển khoa học, công nghệ của các doanh nghiệp (riêng Tập đoàn TKV đã trích lập trên 850 tỷ đồng).
Một số định hướng giải pháp đến năm 2045
Một là, xây dựng chiến lược đầu tư đủ lớn, đồng bộ để ứng dụng công nghệ thực chất vào các ngành lợi thế: kinh tế biển, kinh tế di sản, logistics, nông nghiệp, năng lượng.
Hai là, xây dựng bản sao số (digital twin) toàn diện cho cấp xã/phường và sở/ngành, phục vụ công tác hoạch định và thực thi chính sách dựa trên dữ liệu thời gian thực.
Ba là, xây dựng khung chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ưu tiên, bao gồm: Khoa học xã hội và nhân văn: Nghiên cứu cải cách thể chế hiện đại; ứng dụng khoa học, công nghệ trong phát triển kinh tế di sản; Nông nghiệp và thủy sản: Hiện đại hóa ngành thủy sản dựa trên số hóa; xây dựng cảng cá thông minh (Smart Fishing Port) kết nối hệ thống quản lý video/camera tập trung (VMS) và nhật ký khai thác điện tử; phát triển nuôi biển công nghiệp công nghệ cao; Kinh tế biển: Ứng dụng công nghệ số trong đánh giá di sản địa chất Vịnh Hạ Long; xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển; Năng lượng và khoáng sản: Phát triển năng lượng mới (mặt trời, gió ngoài khơi, sinh khối); ứng dụng mô hình “mỏ số, mỏ thông minh - Smart Mining” dựa trên internet vạn vật (IoT) để tự động hóa khai thác; Y tế và chăm sóc sức khỏe: Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (big data) trong chẩn đoán; nghiên cứu tiềm năng dược liệu biển; phát triển công nghệ hóa dược.
Bốn là, kiến tạo các không gian tăng trưởng mới. Kiến nghị Trung ương cho phép thí điểm cơ chế phát triển Đặc khu kinh tế thế hệ mới Vân Đồn và thành lập Khu kinh tế số gắn với đô thị sáng tạo (quy mô khoảng 30.000ha) với các trụ cột, gồm công nghệ số tập trung, trung tâm AI, trung tâm dữ liệu dự phòng châu Á và khu đô thị giáo dục.
Năm là, ưu tiên thực hiện các dự án công nghệ chiến lược: Thử nghiệm kinh tế không gian tầm thấp: Sử dụng thiết bị bay không người lái (drone), phương tiện bay cất/hạ cánh thẳng đứng sử dụng điện, thường được gọi là “taxi bay” hay “ô tô bay” (eVTOL) cho du lịch, y tế, cứu hộ. Nền tảng cho dự án này là hạ tầng số hiện đại của tỉnh Quảng Ninh với tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 94% dân số (vượt xa mức bình quân 39,5% của cả nước tính đến tháng 10-2025), không còn vùng lõm sóng và 100% (54/54) đơn vị hành chính cấp xã, phường đã kết nối truyền số liệu chuyên dùng; Ứng dụng AI và big data trong kinh tế di sản: Số hóa di sản, xây dựng nền tảng hồ sơ dữ liệu (data lake), sử dụng AI thị giác máy tính và công nghệ phục dựng thực tế tăng cường (AR/VR).
Sáu là, đẩy mạnh cách tiếp cận giải quyết các “bài toán lớn”. Cụ thể, tiếp tục đặt hàng các tổ chức, doanh nghiệp giải quyết 13 bài toán lớn (đã công bố năm 2025) và 9 bài toán mới (năm 2026) tập trung vào AI, dữ liệu tập trung và thông minh hóa các ngành lợi thế./.
--------------------
(1) Ủy ban nhân dân tỉnh (2026): Báo cáo thuyết minh điều chỉnh quy hoạch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2050
(2) Thống kê tỉnh Quảng Ninh: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2025
(3) Sở Tài chính Quảng Ninh (2026): Báo cáo đề án xác lập mô hình tăng trưởng mới của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn 2050
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- Xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại, tạo động lực tăng trưởng vùng trong bối cảnh mới
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống trong phát triển nhân cách quân nhân -
Kinh tế
Công nghiệp hóa bền vững để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam