Đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
TCCS - Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những thay đổi nhanh, mạnh và khó dự báo, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thực tiễn phát triển đòi hỏi chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo, coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực trọng tâm, chuyển đổi số là phương thức phát triển tất yếu. Việc đổi mới tư duy nhằm thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện thể chế linh hoạt phù hợp với kinh tế số, đồng thời chủ động đi trước về chính sách, tạo môi trường khuyến khích sáng tạo và làm chủ công nghệ mới. Đây là điều kiện then chốt để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, tận dụng cơ hội của thời đại số và phát triển nhanh, bền vững.
Tính tất yếu của đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo nên những biến chuyển sâu sắc đối với mô hình kinh tế - xã hội toàn cầu, bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của thời đại, đòi hỏi phải thích ứng kịp thời để biến thách thức thành cơ hội phát triển bứt phá, xây dựng nền kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trước hết, tư duy mới là điều kiện cần thiết để đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng dựa trên nền tảng số, vốn có tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống. Đổi mới tư duy lãnh đạo giúp chỉ đạo thúc đẩy phát triển dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay thế mô hình tăng trưởng dựa vào nguồn lực truyền thống. Đây cũng là yếu tố quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hành chính công và kinh tế số là tiêu chí đánh giá sức mạnh mới của các quốc gia.
Đồng thời, đổi mới tư duy lãnh đạo là điều kiện để xây dựng hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, chuyển từ quản lý truyền thống sang quản trị số, từ đó xây dựng chính quyền số và bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Việc đổi mới tư duy còn giúp tháo gỡ các nút thắt trong phát triển bằng chỉ đạo rà soát và điều chỉnh chính sách, pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ý nghĩa của đổi mới tư duy thể hiện trên nhiều phương diện: Phương thức lãnh đạo chuyển từ hoạch định sang kiến tạo phát triển; định hướng phát triển đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lên vị trí quốc sách hàng đầu; chính sách về nguồn nhân lực tập trung mạnh vào đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài và cơ chế quản lý hướng đến sự linh hoạt, thuận lợi, giảm thiểu rào cản hành chính, qua đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Sự phát triển về nhận thức của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, phát triển khoa học, công nghệ luôn được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Đảng ta đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc hiện đại hóa đất nước thông qua đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nhấn mạnh việc “tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội…”(1), qua đó khẳng định vai trò quan trọng của khoa học - kỹ thuật trong tiến trình phát triển quốc gia. Những nghị quyết, chỉ thị của Đảng ta qua các thời kỳ(2) đã minh chứng rất rõ điều này, từ việc chú trọng xây dựng nền tảng công nghiệp nặng trong giai đoạn kế hoạch hóa tập trung, cho đến định hướng đổi mới toàn diện và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trong thời kỳ đổi mới. Sự ra đời của mỗi nghị quyết đều đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng ta trong việc đưa đất nước tiến lên, không ngừng vươn tới mục tiêu giàu mạnh và hùng cường(3).
Trong những năm gần đây, tư duy lãnh đạo của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã có những chuyển biến quan trọng, thể hiện nhận thức ngày càng sâu sắc về vai trò then chốt của các lĩnh vực này đối với phát triển đất nước. Tư duy của Đảng đã chuyển từ việc coi khoa học, công nghệ như một lĩnh vực hỗ trợ sang xác định đây là động lực trung tâm của tăng trưởng và là quốc sách hàng đầu gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội lâu dài.
Đảng đã khẳng định tầm quan trọng chiến lược của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các văn kiện đại hội, nghị quyết chuyên đề và chương trình hành động. Nội dung chỉ đạo nhấn mạnh yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, chuyển đổi số được xác định là xu thế tất yếu, đóng vai trò tạo đột phá trong quản trị quốc gia, phát triển kinh tế số và xây dựng xã hội số.
Tư duy lãnh đạo của Đảng cũng đang chuyển từ tiếp cận quản lý truyền thống sang tư duy kiến tạo phát triển, tập trung tạo lập môi trường thuận lợi cho nghiên cứu - phát triển, khởi nghiệp sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong mọi lĩnh vực; đề cao việc hình thành và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, tăng cường liên kết giữa các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng khoa học.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, tư duy lãnh đạo của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vẫn còn những hạn chế nhất định. Việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng trong một số lĩnh vực liên quan còn chậm; nhận thức của một bộ phận cấp ủy, chính quyền địa phương về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số chưa đầy đủ; mức độ lan tỏa của tư duy đổi mới sáng tạo chưa đồng đều, dẫn tới khoảng cách giữa chủ trương và thực thi. Bên cạnh đó, tư duy chấp nhận rủi ro và khuyến khích thử nghiệm mô hình mới vẫn chưa thực sự mạnh, ảnh hưởng đến tốc độ đổi mới.
Nhìn chung, tư duy lãnh đạo của Đảng trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chuyển biến rõ nét theo hướng hiện đại, phù hợp với yêu cầu của thời đại số. Tuy vậy, để tạo ra bước đột phá mạnh mẽ hơn, cần tiếp tục đổi mới sâu sắc hơn nữa, bảo đảm tư duy tiên phong được chuyển hóa thành chính sách, nguồn lực và cơ chế triển khai đồng bộ, hiệu quả.
Đại hội XII (2016) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy lãnh đạo của Đảng về khoa học, công nghệ khi lần đầu tiên nội dung này là một mục riêng trong Văn kiện Đại hội (Mục VI – Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ), thay vì lồng ghép với các lĩnh vực khác, như giáo dục - đào tạo, văn hóa hay môi trường như trước đây. Đặc biệt, Đảng lần đầu tiên khẳng định: “Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, làm cho khoa học, công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu”. Việc nhấn mạnh cụm từ “thực sự” thể hiện yêu cầu đặt khoa học, công nghệ lên tầm cao mới, khắc phục những hạn chế trước đó, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đảng cũng yêu cầu mọi chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội phải dựa trên và được thực hiện bằng khoa học, công nghệ, coi khoa học, công nghệ là động lực chủ yếu, đi trước một bước.
Trong bối cảnh cách mạng khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ và đổi mới sáng tạo trở thành chiến lược quan trọng của các quốc gia, Việt Nam đã chủ động triển khai các định hướng phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo. Năm 2016, lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã đề cập đến khái niệm “đổi mới sáng tạo” và khẳng định đổi mới sáng tạo cùng với khoa học, công nghệ trở thành động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Đại hội xác định: “Động lực quan trọng nhất và cũng là điều kiện để đổi mới mô hình tăng trưởng là đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”, do đó cần phải: “Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo để nâng cao năng suất lao động”, “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ. Tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ và xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, phát huy năng lực sáng tạo của mọi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức”(4).
Trước tác động ngày càng mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Đảng xác định đây là yêu cầu tất yếu khách quan, là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; là giải pháp đột phá và là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019 đã đề cập đến ba trụ cột chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết chỉ rõ: “Nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia”. Do đó, cần phải tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để “phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái”. Để phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia, Đảng chủ trương “xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, tập trung vào các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. “Áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt, có tính đột phá đối với các trung tâm đổi mới sáng tạo”. Đồng thời, “hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia”(5).
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 được thông qua tại Đại hội XIII cũng nhấn mạnh: “Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính để tăng trưởng kinh tế”(6). Đây là tư duy mới, quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ trong tiến trình phát triển đất nước.
Trong giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng tiếp tục ban hành các chủ trương mới nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đáng chú ý, ngày 22-12-2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Nghị quyết khẳng định đây là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và ngăn chặn nguy cơ tụt hậu. Lần đầu tiên, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là “yếu tố quyết định… điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất” để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 thể hiện rõ bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, khi lần đầu tiên đặt vấn đề “đột phá phát triển” khoa học, công nghệ và chuyển đổi số như một nhiệm vụ trung tâm, cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI.
Một trong những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 là khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới, đồng thời là nền tảng để nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Khác với các giai đoạn trước, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ không chỉ dựa trên tiếp thu, ứng dụng, mà phải từng bước làm chủ, sáng tạo và dẫn dắt công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực then chốt, công nghệ nền tảng, công nghệ số và công nghệ chiến lược.
Trong các văn kiện Đại hội XIV một điểm nhấn nổi bật là việc nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ “khuyến khích phát triển” sang “tạo đột phá phát triển” khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn chặt với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở làm chủ công nghệ, tri thức và dữ liệu. Đại hội xác định rõ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là động lực quan trọng, mà là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, là cơ sở để nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả quản trị phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng.
Một trong những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đó là: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới”(7).
Có thể khẳng định, các quan điểm của Đại hội XIV và Nghị quyết số 57-NQ/TW đã hình thành một khung tư duy chiến lược mới, toàn diện và nhất quán về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây không chỉ là sự kế thừa và phát triển các quan điểm trước đó của Đảng, mà còn thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc tạo ra những đột phá thực chất, đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực trung tâm của sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Giải pháp tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần tiếp tục được triển khai đồng bộ với các nhóm giải pháp sau:
Một là, tăng cường nhận thức lý luận và hoàn thiện tư duy chiến lược.
Đổi mới tư duy lãnh đạo trước hết đòi hỏi nâng cao nhận thức lý luận về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đó, cần thường xuyên cập nhật tri thức mới về xu hướng công nghệ, mô hình kinh tế số, phương thức quản trị hiện đại và những biến động toàn cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong nước, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế nhằm củng cố nền tảng khoa học cho việc hoạch định chủ trương. Cùng với đó, cần tăng cường năng lực dự báo chiến lược, giúp nhận diện sớm các xu hướng công nghệ mới, qua đó xây dựng định hướng phát triển có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm tính chủ động và khả năng thích ứng của quốc gia trong bối cảnh biến động nhanh, phức tạp.
Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng kiến tạo và thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Để đáp ứng yêu cầu của thời đại số, phương thức lãnh đạo cần được chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình kiến tạo phát triển. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo môi trường thuận lợi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay vì can thiệp quá sâu vào hoạt động điều hành. Các chính sách cần được thiết kế theo hướng linh hoạt, kịp thời và phù hợp với tính chất biến động của công nghệ. Đồng thời, cần khuyến khích thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và phát huy tinh thần sáng tạo trong cả khu vực công và tư nhân. Khi phương thức lãnh đạo mang tính kiến tạo, năng lực đổi mới sáng tạo của toàn xã hội sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước.
Ba là, đẩy mạnh thể chế hóa các chủ trương của Đảng.
Để tư duy đổi mới của Đảng đi vào thực tiễn, việc thể chế hóa kịp thời và đồng bộ các chủ trương là yêu cầu bắt buộc. Cần đẩy nhanh quá trình xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm các quan điểm chỉ đạo của Đảng được cụ thể hóa thành chiến lược, chương trình và cơ chế, chính sách có tính khả thi cao. Đối với các công nghệ mới và mô hình kinh doanh số, cần ưu tiên ban hành chính sách đặc thù để tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo và thí điểm các mô hình mới. Song song với đó, cần tiến hành rà soát, loại bỏ các quy định lạc hậu, chồng chéo, đặc biệt là những thủ tục hành chính gây cản trở cho hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp sáng tạo. Một hệ thống thể chế thông thoáng, hiện đại sẽ là động lực quan trọng cho đổi mới tư duy và phát triển khoa học, công nghệ trong dài hạn.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và lãnh đạo tiên phong.
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình đổi mới tư duy lãnh đạo. Cần tập trung nâng cao năng lực số, kiến thức công nghệ và tư duy đổi mới sáng tạo cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu, cập nhật theo chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đào tạo, cần phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đồng thời xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới nhằm tạo môi trường khuyến khích sáng tạo trong khu vực công. Việc thu hút và trọng dụng nhân tài, đặc biệt là chuyên gia khoa học, công nghệ có trình độ cao, cần được thực hiện bằng các chính sách đãi ngộ phù hợp và cơ chế sử dụng linh hoạt. Khi đội ngũ lãnh đạo thực sự có năng lực, tầm nhìn và tinh thần đổi mới, việc triển khai các chủ trương của Đảng sẽ đạt được hiệu quả cao hơn.
Năm là, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và tăng cường liên kết.
Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là môi trường để tư duy đổi mới được hiện thực hóa bằng các sản phẩm và mô hình công nghệ mới. Đảng cần định hướng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia một cách toàn diện, bảo đảm sự tham gia chặt chẽ của Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Cần thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể này nhằm hình thành chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo, từ nghiên cứu, phát triển đến thương mại hóa sản phẩm. Doanh nghiệp cần được khuyến khích trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo thông qua chính sách tài chính, hỗ trợ R&D và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Khi hệ sinh thái được vận hành đồng bộ, năng lực hấp thụ công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế sẽ được nâng cao rõ rệt.
Sáu là, tăng cường đầu tư cho khoa học, công nghệ và hạ tầng số.
Đổi mới tư duy lãnh đạo chỉ thực sự hiệu quả khi đi kèm với sự ưu tiên về nguồn lực đầu tư. Cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu - phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cốt lõi có khả năng tạo đột phá như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học và tự động hóa. Song song với đó, việc phát triển hạ tầng số hiện đại, bao gồm trung tâm dữ liệu, nền tảng số dùng chung, mạng viễn thông thế hệ mới và hệ thống an ninh mạng quốc gia, là điều kiện nền tảng cho kinh tế số và chính phủ số. Ngoài nguồn vốn nhà nước, cần đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội thông qua mô hình đối tác công - tư nhằm bảo đảm tính bền vững và hiệu quả của các dự án đầu tư.
Bảy là, tăng cường kiểm tra, giám sát và thúc đẩy thực thi.
Kiểm tra và giám sát có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm các chủ trương đổi mới của Đảng được thực hiện nhất quán và hiệu quả. Cần hoàn thiện hệ thống giám sát việc triển khai các chương trình, chiến lược về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan. Việc đánh giá định kỳ cần được thực hiện bằng các tiêu chí rõ ràng, có thể đo lường được để kịp thời phát hiện những hạn chế trong nhận thức và quá trình tổ chức thực hiện. Đồng thời, trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức và cá nhân cần được nâng cao nhằm bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
Tám là, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo trong hệ thống chính trị.
Văn hóa đổi mới sáng tạo là nền tảng tinh thần để bảo đảm sự bền vững của quá trình đổi mới tư duy lãnh đạo. Cần xây dựng môi trường làm việc khuyến khích tư duy mở, tinh thần học hỏi liên tục, thái độ chủ động tiếp nhận công nghệ mới và khả năng chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Văn hóa đổi mới cần được lan tỏa từ cấp lãnh đạo đến toàn hệ thống, bảo đảm rằng mỗi cán bộ, đảng viên đều nhận thức rõ trách nhiệm đổi mới của mình. Khi văn hóa đổi mới sáng tạo được hình thành, quá trình chuyển đổi số và phát triển khoa học, công nghệ sẽ diễn ra thuận lợi, bền vững và tạo sức mạnh tinh thần cho toàn bộ hệ thống chính trị.
Trong bối cảnh mới, việc khơi thông và huy động nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là yếu tố quyết định để thực hiện thành công các mục tiêu lớn của đất nước. Với những thành tựu đạt được sau 40 năm đổi mới và khát vọng phát triển, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Với quyết tâm chính trị cao và hành động quyết liệt của toàn Đảng, Nhà nước, cùng sự chỉ đạo quyết liệt, mạnh mẽ của Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, trở thành động lực bứt phá để đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên mới./.
-----------------
(1) Xem: "Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng", Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-iv/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-iv-cua-dang-22
(2) Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 20-4-1981, của Bộ Chính trị về “Chính sách khoa học và kỹ thuật”; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30-3-1991, của Bộ Chính trị về “Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới”; Nghị quyết số 02-NQ/HNTW, ngày 24-12-1996, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 1-11-2012, của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; Kết luận số 50-KL/TW, ngày 30-5-2019, của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã bổ sung các nội hàm mới, như “Đổi mới sáng tạo”, “Khởi nghiệp sáng tạo”...; Hiến pháp năm 2013 khẳng định phát triển khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu; khoa học, công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…
(3) Xem: Lê Long Khanh: “Một chiến lược mang tính đột phá”, Báo Quân đội nhân dân điện tử, ngày 25-12-2024, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/mot-chien-luoc-mang-tinh-dot-pha-808689
(4) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, phần II (Đại hội X, XI, XII)
(5) Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-52-nqtw-ngay-2792019-cua-bo-chinh-tri-ve-mot-so-chu-truong-chinh-sach-chu-dong-tham-gia-cuoc-cach-mang-cong-5715
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 373
Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số  (26/05/2026)
Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số  (26/05/2026)
Vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp công nghệ trong mô hình phát triển mới của đất nước  (25/05/2026)
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- Xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại, tạo động lực tăng trưởng vùng trong bối cảnh mới
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống trong phát triển nhân cách quân nhân -
Kinh tế
Công nghiệp hóa bền vững để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam