Một số giải pháp giảm nghèo bền vững góp phần để tỉnh Tuyên Quang vững bước vào kỷ nguyên mới

TS Nguyễn Mạnh Dũng - TS Trịnh Minh Thái
Trường Đại học Thủ Dầu Một - Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
08:04, ngày 30-03-2026

TCCS Trong bối cảnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi là yêu cầu cấp thiết. Phân tích thực trạng nghèo đa chiều (thu nhập, tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, sinh kế và khả năng chống chịu rủi ro) cho thấy tỉnh Tuyên Quang vẫn tồn tại một số điểm nghẽn” về chất lượng nguồn nhân lực, cơ hội việc làm, mức độ tiếp cận tín dụng thị trường và bất lợi ở khu vực nông thôn, miền núi. Việc nhận diện những “điểm nghẽn” này là cơ sở xây dựng hệ giải pháp để thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ hỗ trợ ngắn hạn sang tăng cường năng lực, cơ hội và khả năng chống chịu của hộ nghèo nhằm giảm nghèo đa chiều một cách bền vững.

Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững và nâng cao đời sống nhân dân_Ảnh: nhandan.vn

Tổng quan về giảm nghèo bền vững theo tiếp cận đa chiều

Giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ phát triển chiến lược, đòi hỏi giảm thiếu hụt thu nhập và khắc phục thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, qua đó mở rộng năng lực và cơ hội của người dân theo cách tiếp cận nghèo đa chiều. Khung đo lường nghèo đa chiều nhấn mạnh, một hộ có thể không nghèo theo thu nhập nhưng vẫn chịu nhiều thiếu hụt về giáo dục, y tế, điều kiện sống. Vì vậy, chính sách giảm nghèo hiệu quả cần dựa trên nhận diện nghèo theo nhiều chiều cạnh khác nhau, có khả năng phân chia theo nhóm và theo địa bàn để can thiệp đúng mục tiêu. Trong bối cảnh thế giới chịu các cú sốc chồng lấn (dịch bệnh, xung đột, biến động giá cả), tiến trình giảm nghèo toàn cầu đã đảo chiều và phục hồi không đồng đều. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấy cú sốc COVID-19 làm tăng tỷ lệ nghèo cùng cực năm 2020 và dự báo đến năm 2030 vẫn còn một bộ phận rất lớn dân số thế giới sống trong nghèo cùng cực(1). Đồng thời, Báo cáo Phát triển con người 2023/2024 ghi nhận những dấu hiệu hợp tác toàn cầu suy giảm và xu hướng bất bình đẳng trong phát triển gia tăng giữa các nhóm quốc gia, hàm ý rủi ro kéo dài của nghèo đói và tổn thương xã hội nếu thiếu các can thiệp chính sách có hệ thống(2). 

Ở Việt Nam, định hướng thể chế cho giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 đã được cụ thể hóa bằng các văn bản chính sách cấp quốc gia, trong đó xác lập mục tiêu giảm nghèo theo hướng bền vững và yêu cầu giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm, nhấn mạnh ưu tiên các địa bàn đặc thù và nhóm yếu thế(3). Đồng thời, cơ chế rà soát, xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm được thiết kế theo logic nghèo đa chiều, kết hợp ước lượng thu nhập với xác định mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, tạo nền tảng cho quản trị chính sách dựa trên bằng chứng và dữ liệu(4). Trong hệ thống an sinh, chính sách trợ giúp xã hội cũng nhấn mạnh các nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch và xác lập tiêu chuẩn trợ giúp xã hội làm cơ sở trợ cấp, qua đó góp phần giảm rủi ro tái nghèo đối với nhóm dễ tổn thương(5).

Đối với tỉnh Tuyên Quang, một địa bàn miền núi với cấu trúc sinh kế và mức độ tiếp cận dịch vụ cơ bản có thể phân hóa theo khu vực và nhóm dân cư, bài toán giảm nghèo bền vững không chỉ nằm ở việc đưa thu nhập vượt chuẩn, mà còn ở năng lực chống chịu trước cú sốc, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu và cơ hội tham gia thị trường lao động theo hướng nâng cao chất lượng việc làm. Thực tiễn triển khai chính sách thường đối mặt các thách thức: (i) nguy cơ tái nghèo do thiên tai, dịch bệnh, biến động giá; (ii) thiếu hụt dịch vụ cơ bản ở một bộ phận hộ; (iii) hiệu quả can thiệp chưa đồng đều do hạn chế. Vì vậy, cần một hệ giải pháp mang tính tích hợp, kết hợp sinh kế, dịch vụ xã hội cơ bản, an sinh thích ứng và quản trị dựa trên dữ liệu để bảo đảm giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo và phù hợp với yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới. 

“Giảm nghèo bền vững” được hiểu là một quá trình và kết quả đưa cá nhân, hộ gia đình thoát nghèo theo nghĩa không chỉ tăng thu nhập, mà còn mở rộng năng lực và điều kiện sống, bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đồng thời giảm xác suất tái nghèo và hạn chế phát sinh nghèo mới trước các cú sốc và rủi ro vòng đời. Cách hiểu này tương thích với định hướng chính sách ở Việt Nam khi Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 nhấn mạnh giảm nghèo theo hướng đa chiều, bao trùm và bền vững, gắn với mục tiêu hạn chế tái nghèo, phát sinh nghèo và cải thiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản(6). Ở cấp triển khai, tiêu chí “bền vững” còn được cụ thể hóa bằng nhóm đối tượng “hộ mới thoát nghèo” trong một khoảng thời gian theo dõi (ví dụ 36 tháng), qua đó hàm ý yêu cầu duy trì trạng thái thoát nghèo theo thời gian thay vì chỉ “thoát nghèo tại một thời điểm”(7). Về phương diện đo lường và nội hàm khoa học, giảm nghèo bền vững gắn chặt với quan niệm nghèo đa chiều: nghèo là tập hợp các thiếu hụt về phúc lợi và điều kiện sống, do đó đánh giá thoát nghèo cần xem xét đồng thời nhiều chiều thiếu hụt và ngưỡng xác định nghèo. 

Theo phương pháp “cắt ngưỡng kép, đếm thiếu hụt”(8), để xác định hộ nghèo, cần dùng hai thước đo: thứ nhất, nhận diện thiếu hụt ở từng lĩnh vực cụ thể (như y tế, giáo dục,...); thứ haithống kê tổng các lĩnh vực bị thiếu hụt để đạt tới mức độ nghèo. Thoát nghèo thực sự không chỉ là gia tăng thu nhập, mà cốt lõi nằm ở việc bù đắp các thiếu hụt về điều kiện sống. Tương tự, khung đo lường nghèo đa chiều của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh việc quan sát thiếu hụt theo các chiều phúc lợi như nghèo tiền tệ, giáo dục và hạ tầng dịch vụ cơ bản, qua đó củng cố luận điểm giảm nghèo bền vững phải bao trùm cả các điều kiện nền tảng tạo sinh kế và cơ hội.

Các thành tố cốt lõi khác của tính bền vững là “năng lực chống chịu” (resilience)  “giảm tổn thương” (vulnerability). Theo khung sinh kế bền vững, các sinh kế của người nghèo thường bấp bênh trước bối cảnh dễ tổn thương; do vậy, giảm nghèo theo nghĩa bền vững cần ưu tiên giảm tổn thương trước cú sốc bất lợi và nâng tính bền vững xã hội của sinh kế, không chỉ tối đa hóa lợi ích ngắn hạn(9). Bằng chứng toàn cầu cũng cho thấy trong các bối cảnh xung đột, kém an ninh, tiến trình giảm nghèo có thể bị đảo ngược, đình trệ hoặc chậm lại, nhấn mạnh yêu cầu thiết kế chính sách giảm nghèo theo hướng “bền vững trước rủi ro”.

Từ các nền tảng trên, “giảm nghèo bền vững” được thao tác hóa như: (i) thoát nghèo theo chuẩn đa chiều (giảm thiếu hụt dịch vụ cơ bản, điều kiện sống), chuẩn thu nhập; (ii) duy trì trạng thái thoát nghèo qua một khoảng thời gian theo dõi, qua đó giảm tái nghèo, hạn chế phát sinh nghèo; (iii) nâng năng lực chống chịu giảm tổn thương trước cú sốc, tạo sinh kế ổn định và khả năng tiếp cận cơ hội.

Bối cảnh và thực trạng nghèo đa chiều tại tỉnh Tuyên Quang

Theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025, nghèo không chỉ được nhận diện bằng thiếu hụt thu nhập mà còn bằng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Cụ thể, hệ thống đo lường bao gồm 6 dịch vụ xã hội cơ bản (việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin) và 12 chỉ số thiếu hụt tương ứng, qua đó nhấn mạnh tính đa chiều của nghèo và yêu cầu chính sách can thiệp theo cấu phần thiếu hụt(10). Tuyên Quang là tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc với đặc trưng địa hình miền núi, dân cư phân tán khiến tổ chức không gian cư trú và cung ứng dịch vụ công (y tế, giáo dục, nước sạch, thông tin số) gặp nhiều thách thức, đồng thời làm gia tăng rủi ro “thiếu hụt kép” giữa thu nhập và dịch vụ. Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm đáng kể trong giai đoạn trước, từ 27,81% (2015) xuống 9,03% (2020), phản ánh nỗ lực chính sách và tăng trưởng sinh kế; tuy nhiên mức giảm này không đồng nghĩa với việc các thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản đã được khắc phục giữa các nhóm dân cư và không gian cư trú(11).

Thứ nhất, thu nhập và chất lượng việc làm chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu kinh tế địa phương và khả năng hấp thụ lao động của khu vực công nghiệp, dịch vụ. Báo cáo quy hoạch cho thấy đến năm 2020, một số ngành như dệt may, da giày đã tạo việc làm thường xuyên cho trên 15.000 lao động, góp phần tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu; song quy mô dự án và số việc làm vẫn được nhận định là chưa tương xứng với tiềm năng lực lượng lao động, rủi ro việc làm và hạn chế về cơ hội việc làm “ổn định” đối với nhóm dễ tổn thương(12). Đây là nền tảng thiếu hụt việc làm trong nghèo đa chiều, nhất là ở khu vực nông thôn miền núi khi việc làm phi chính thức và thời vụ còn phổ biến. 

Thứ hai, giáo dục kỹ năng nghề là yếu tố có tính quyết định đối với thoát nghèo bền vững vì gắn trực tiếp với năng suất lao động và khả năng chuyển dịch sinh kế. Định hướng của tỉnh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 80% (trong đó có bằng cấp/chứng chỉ 40%) và nhấn mạnh đào tạo nghề phù hợp cho lao động dân tộc thiểu số(13)

Thứ ba, ở chiều y tế, thách thức không chỉ nằm ở năng lực cung ứng dịch vụ mà còn ở tính công bằng trong tiếp cận giữa trung tâm và vùng sâu. Quy hoạch xã hội của tỉnh đặt ra mục tiêu trên 40 giường bệnh và 11 bác sĩ/10.000 dân, đồng thời nhấn mạnh củng cố y tế cơ sở và khả năng phục vụ khu vực vùng sâu, vùng xa(14). Như vậy, thiếu hụt dịch vụ y tế và các yếu tố liên quan như dinh dưỡng, bảo hiểm y tế vẫn là chiều nghèo dai dẳng trong không gian miền núi, nơi chi phí đi lại và thời gian tiếp cận dịch vụ làm gia tăng bất bình đẳng. 

Thứ tư, chiều nhà ở - nước sạch - vệ sinh phản ánh đồng thời chất lượng sống và điều kiện sức khỏe dự phòng. Quy hoạch môi trường của tỉnh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh lên 98% và tỷ lệ hộ có công trình vệ sinh hợp vệ sinh lên 96%(15). Việc nhấn mạnh mục tiêu bao phủ cho thấy đây vẫn là cấu phần thiếu hụt cần ưu tiên, nhất là tại các điểm dân cư miền núi phân tán và các vùng cư trú đặc thù của đồng bào dân tộc, nơi tổ chức cấp nước tập trung và hạ tầng vệ sinh gặp ràng buộc địa hình.

Thứ năm, chiều tiếp cận thông tin và dịch vụ số ngày càng trở thành biến số nền tảng của giảm nghèo (tiếp cận thị trường, dịch vụ công, giáo dục, y tế từ xa). Quy hoạch hạ tầng thông tin, truyền thông của tỉnh đặt mục tiêu phủ cáp quang đến 100% xã và 100% thôn, hướng tới trên 90% hộ gia đình; đồng thời đặt lộ trình phủ sóng 5G toàn tỉnh(16). Các mục tiêu này cho thấy khoảng cách số vẫn là chiều thiếu hụt có ý nghĩa chính sách, đặc biệt với vùng sâu xa nơi chất lượng kết nối quyết định khả năng tiếp cận thông tin thiết yếu và cơ hội sinh kế ngoài nông nghiệp.

Thứ sáu, chiều hạ tầng và kết nối thị trường là điều kiện đầu vào để các can thiệp giảm nghèo đa chiều phát huy hiệu quả. Báo cáo quy hoạch nhấn mạnh nhu cầu phát triển các tuyến giao thông kết nối liên vùng và nội tỉnh, đồng thời kết nối đến các khu công nghiệp, cụm công nghiệp để tạo động lực tăng trưởng và mở rộng cơ hội việc làm(17). Ở bình diện quốc gia, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 cũng đặt trọng tâm đầu tư hạ tầng thiết yếu (đường giao thông, trường học, cơ sở y tế, thủy lợi…) tại địa bàn khó khăn, cùng các mô hình sinh kế để tạo việc làm và thu nhập bền vững(18). Do đó, tại tỉnh Tuyên Quang, giảm nghèo đa chiều hiệu quả cần gắn kết đồng thời: (i) phát triển hạ tầng kết nối thị trường; (ii) nâng chất lượng nguồn nhân lực và (iii) bảo đảm bao phủ dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn đa chiều.

Nguyên nhân ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững tại tỉnh Tuyên Quang cần được gắn với cấu trúc sinh kế, năng lực con người, điều kiện tiếp cận dịch vụ, thị trường và mức độ chống chịu trước rủi ro. 

Thứ nhất, điểm nghẽn nguồn nhân lực và dịch chuyển việc làm. Chất lượng nguồn nhân lực thấp và hạn chế về kỹ năng nghề làm suy giảm khả năng chuyển dịch khỏi khu vực việc làm năng suất thấp (phi chính thức, tự làm, nông nghiệp quy mô nhỏ), từ đó kéo dài nghèo thu nhập và nghèo dịch vụ. Trong định hướng quy hoạch, tỉnh nhấn mạnh nhu cầu gắn đào tạo nghề với doanh nghiệp, chú trọng công nghiệp chế biến, đặc biệt chế biến gỗ và nâng cấp kỹ năng để đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành. Hơn nữa, nghèo đa chiều của nhóm dân tộc thiểu số ở vùng núi thường chịu tác động đáng kể từ các yếu tố như quy mô hộ, cú sốc, đào tạo và khả năng tiếp cận thị trường nhấn mạnh rằng thiếu năng lực là cơ chế tái sản xuất nghèo, không chỉ là thiếu thu nhập(19).

Thứ hai, điểm nghẽn sinh kế phụ thuộc nông nghiệp quy mô nhỏ, giá trị gia tăng thấp, liên kết chuỗi yếu. Cấu trúc kinh tế hiện tại và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu cho thấy khu vực nông - lâm nghiệp vẫn là nền sinh kế quan trọng của dân cư nông thôn; tuy nhiên, nếu thiếu chế biến sâu, tiêu chuẩn chất lượng và liên kết thị trường, sinh kế nông nghiệp dễ rơi vào “bẫy giá trị gia tăng thấp”. Nghiên cứu tổng quan về chuỗi giá trị nông nghiệp cho thấy các rào cản phổ biến đối với nông hộ nhỏ gồm bất cân xứng thông tin, logistics yếu, hạn chế tài chính và năng lực số thấp; đồng thời, chính các yếu tố này làm giảm khả năng tham gia thị trường theo hướng công bằng và bền vững(20).

Thứ ba, tiếp cận tín dụng thị trường và chi phí giao dịch cao. Khi thông tin thị trường hạn chế, chi phí giao dịch như tìm kiếm thông tin, vận chuyển, thương lượng, tuân thủ tiêu chuẩn tăng lên, hộ nghèo thường chọn chiến lược an toàn nhưng lợi suất thấp, làm suy yếu động lực đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Trong quy hoạch, tỉnh xác định phát triển hạ tầng thương mại, logistics, thương mại điện tử và hệ thống kết nối thị trường là một trụ cột để giảm “độ ma sát thị trường” và mở rộng cơ hội sinh kế. Các bằng chứng tổng quan cũng nhấn mạnh hạ tầng số và năng lực số là điều kiện nền để giảm bất cân xứng thông tin và mở rộng tiếp cận thị trường cho nông hộ nhỏ(21).

Thứ tư, hạ tầng dịch vụ cơ bản và “khoảng cách không gian”. Với đặc trưng miền núi, phân tán dân cư và khoảng cách đến trung tâm dịch vụ, nghèo đa chiều biểu hiện dưới dạng thiếu hụt tiếp cậnvề giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh, thông tin,... Tính “không gian” của nghèo làm cho cùng một chính sách hỗ trợ có hiệu quả khác nhau giữa khu vực thuận lợi và vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, quy hoạch nhấn mạnh nâng cấp đồng thời giữa kết nối thị trường và hạ tầng số, coi đây là cấu phần của tăng trưởng bao trùm. 

Thứ năm, rủi ro và chống chịu từ thiên tai, dịch bệnh, biến động giá, rủi ro sức khỏe. Một điểm nghẽn cốt lõi của giảm nghèo bền vững là nguy cơ tái nghèo khi hộ nghèo, cận nghèo thiếu “năng lực hấp thụ” và “năng lực thích ứng” trước cú sốc. Bằng chứng thực nghiệm ở nông thôn Việt Nam cho thấy tích lũy tiết kiệm và đa dạng hóa thu nhập là hai chiến lược chống chịu quan trọng, trong bối cảnh thị trường bảo hiểm còn bất toàn và rủi ro khí hậu, thiên tai gia tăng. Ở cấp tỉnh, quy hoạch cũng đặt ra các nhiệm vụ giảm thiểu rủi ro như di dời dân cư khỏi vùng nguy cơ thiên tai và bố trí ổn định dân cưbởi rủi ro môi trường là tác nhân cấu trúc của nghèo và tái nghèo. 

Thứ sáu, bất cập trong quản trị chương trình, phối hợp liên ngành, trùng lặp chính sách, theo dõi, đánh giá dựa trên kết quả. Do nghèo đa chiều có tính liên ngành, nên khi cơ chế điều phối và phân bổ nguồn lực thiếu thống nhất sẽ dẫn tới dàn trải, trùng lặp hoặc đứt gãy chuỗi can thiệp, từ tạo sinh kế, kết nối thị trường, nâng kỹ năng đến bảo đảm dịch vụ xã hội. Công tác quy hoạch đòi hỏi việc xây dựng lộ trình thực hiện theo chu kỳ 5 năm và hàng năm, gắn liền với phân bổ nguồn lực và rà soát, điều chỉnh kịp thời. Đây chính là nền tảng thể chế quan trọng để chuyển dịch phương thức quản lý từ tập trung vào “đầu vào” sang quản trị theo mục tiêu phát triển và kết quả.

Một số giải pháp giảm nghèo bền vững tại tỉnh Tuyên Quang

Thứ nhất, nâng cao quản trị chương trình giảm nghèo 

Để nâng cao quản trị chương trình giảm nghèo theo hướng hiệu lực - hiệu quả - liêm chính, trọng tâm cần chuyển từ “quản lý theo thủ tục” sang “quản trị theo kết quả” và cơ chế trách nhiệm giải trình đa tầng. Trước hết, công tác rà soát, xác định đúng đối tượng phải được chuẩn hóa bằng quy trình thống nhất, có đối chiếu thông tin, công khai danh sách, lấy ý kiến cộng đồng và thiết lập kênh tiếp nhận, xử lý kiến nghị, khiếu nại nhằm giảm sai lệch và nâng độ tin cậy của chuẩn nghèo, cận nghèo trong vận hành chính sách. Bên cạnh đó, cần minh bạch hóa nguồn lực và quyết định phân bổ, làm rõ vai trò của từng cấp, từng ngành và chuẩn hóa quy trình quản trị, từ hồ sơ, tiêu chí, trách nhiệm ký duyệt, gắn với các nguyên tắc minh bạch, liêm chính, trách nhiệm giải trình, tham gia của người dân theo chuẩn mực quản trị công mở. Về cơ chế thực thi, địa phương tăng chất lượng cung ứng dịch vụ bằng đặt hang, đấu thầu một số dịch vụ công phù hợp, như truyền thông, tư vấn, đào tạo, hỗ trợ sinh kế, dịch vụ xã hội,…bảo đảm cạnh tranh công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế theo khung pháp lý hiện hành. 

Vùng chè xã Tân Trào mang lại thu nhập ổn định cho người dân, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững_Ảnh: tuyenquang.dcs.vn

Thứ hai, phát triển sinh kế bền vững gắn chuỗi giá trị địa phương

Giải pháp phát triển sinh kế bền vững gắn với chuỗi giá trị địa phương cần tập trung nâng caonăng suất, chất lượng, tăng phần giá trị gia tăng, giảm rủi ro thu nhập thông qua hợp đồng, đa dạng hóa kênh tiêu thụ và dịch vụ hỗ trợ. Trên phương diện thực thi, chuỗi giá trị ưu tiên cần được lựa chọn theo tiêu chí dựa vào thị trường, lợi thế địa phương, tác động đến người nghèo, sau đó tổ chức sản xuất theo cụm liên kết thông qua hợp tác xã kết nối với doanh nghiệp và dịch vụ khuyến nông, bảo đảm minh bạch hợp đồng cùng cơ chế phân chia lợi ích phù hợp. Song song, can thiệp cần tập trung vào nâng cấp tiêu chuẩn như an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng nội bộ và phát triển các mắt xích như sơ chế, bảo quản, logistics phù hợp quy mô, nhằm giảm thất thoát, tăng sức mặc cả và giữ giá trị gia tăng tại địa phương. Về tài chính và rủi ro, ưu tiên các cơ chế tài chính chuỗi giá trị, như tín dụng dựa trên hợp đồng, đơn hàng, quỹ quay vòng hợp tác xã, kết hợp điều khoản chia sẻ rủi ro và đa dạng hóa thị trường. Đồng thời, công tác giám sát, đánh giá cần lấy kết quả thực chất làm thước đo, trọng tâm là các chỉ tiêu về thu nhập ròng theo ngành hàng, tỷ lệ ổn định đầu ra và năng lực tạo việc làm mới 

Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo việc làm bền vững

Công tác đào tạo nguồn nhân lực và giải quyết việc làm phải gắn kết chặt chẽ giữa cung và cầu. Trong đó, lấy nhu cầu sử dụng lao động làm cơ sở để phát triển kỹ năng, nhằm thu hẹp khoảng cách vềtrình độ, tăng khả năng chuyển dịch việc làm của nhóm nghèo, cận nghèo và nhóm dễ tổn thương. Trọng tâm thứ nhất là đào tạo nghề theo cơ chế “đặt hàng doanh nghiệp”, trong đó doanh nghiệp tham gia xác định chuẩn đầu ra, nội dung chương trình, địa điểm thực hành và cam kết tuyển dụng. Cách tiếp cận này phù hợp với mô hình đào tạo dựa trên nhu cầu thực tiễn, tạo mối liên kết chặt chẽ giữa đào tạo, cấp chứng chỉ, giải quyết việc làm và thu nhập. Song song, cần triển khai cơ chế quản trị theo kết quả như hợp đồng khoán sản phẩm, nhằm dịch chuyển trọng tâm từ kiểm soát đầu vào sang đo lường hiệu quả thực tế. Việc chi trả, khuyến khích được thiết kế dựa trên kết quả xác minh như tỉ lệ hoàn thành, hiệusuất, mức thu nhập, góp phần tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực công và giảm trùng lặp can thiệp. Trọng tâm thứ hai là hỗ trợ chuyển đổi việc làm và nâng năng lực số. Trong thị trường lao động hiện đại, kỹ năng số đã trở thành năng lực nền tảng, cần được trau dồi thường xuyên theo từng giai đoạn sự nghiệp và nhu cầu thực tế của người lao động. Trọng tâm thứ ba là triển khai chính sách đặc thù cho nhóm yếu thế thông qua thiết kế chương trình bao trùm, như tạo điều kiện tham gia linh hoạt, hỗ trợ chi phí cơ hội, dịch vụ chăm sóc trẻ, tư vấn nghề, giới thiệu việc làm.

Thứ tư, mở rộng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản và hạ tầng thiết yếu

Mở rộng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản và hạ tầng thiết yếu cần được thiết kế nhằm giảm rào cản khoảng cách, tăng năng lực tiếp cận dịch vụ và cải thiện lượng của hộ nghèo, cận nghèo. Trước hết, cần tập trung tháo gỡ các “nút thắt” hạ tầng tại vùng khó khăn, hoàn thiện mạng lưới giao thông, trường học, y tế cơ sở và hệ thống điện, thủy lợi, qua đó thúc đẩy sản xuất và giao thương, bám sát mục tiêu của Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025. Bên cạnh đó, cần bám chặt các chiều thiếu hụt của nghèo đa chiều, ưu tiên can thiệp những yếu tố có tác động lan tỏa như nước sạch, vệ sinh  tiếp cận internet, kết hợp mô hình cung ứng linh hoạt như điểm dịch vụ liên thông, điểm hỗ trợ dịch vụ số tại cộng đồng. Hơn nữa, để bảo đảm tính bền vững, cần lồng ghép mục tiêu giảm nghèo đa chiều vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tư công của địa phương. Quá trình này cần vận hành theo cơ chế quản trị dựa trên kết quả, từ việc ưu tiên phân bổ ngân sách đến đo lường hiệu quả bằng các chỉ số đầu ra cụ thể. Cách tiếp cận này phù hợp với chiến lược chuyển đổi số toàn diện, trong đó hạ tầng kết nối, định danh số và năng lực số là nền tảng cốt lõi, giúp người dân thụ hưởng dịch vụ công một cách công bằng, hiệu quả.

Thứ năm, chuyển đổi số trong quản lý giảm nghèo và cung cấp dịch vụ công

Chuyển đổi số trong quản lý giảm nghèo và cung cấp dịch vụ công cần được triển khai dựa trên dữ liệu nhằm tăng độ chính xác, giảm phân mảnh, chi phí hành chính và tạo liêm chính trong chính sách. Trọng tâm là xây dựng hệ thống dữ liệu hộ nghèo, cận nghèo theo hướng liên thông với các nền tảng định danh và dịch vụ công. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chất lượng đăng ký và chia sẻ dữ liệu là điều kiện quyết định để số hóa dịch vụ công và ra quyết định dựa trên bằng chứng. Trên nền tảng đó, hệ thống quản lý giảm nghèo cần chuyển dịch từ kiểm soát đầu vào sang giám sát và đánh giá theo kết quả. Việc tích hợp các hệ thống đăng ký xã hội và dữ liệu thụ hưởng sẽ quản lý chính xác đối tượng thụ hưởng, từ đó phát hiện các khoảng trống hoặc sự trùng lặp trong chính sách. Khi được vận hành theo thời gian thực, kho dữ liệu này sẽ giảm tình trạng phân mảnh, hỗ trợ xây dựng bảng điều khiển để tối ưu hóa việc lập kế hoạch và điều hành thực thi.

Thứ sáu, củng cố an sinh xã hội và quản trị rủi ro để hạn chế tái nghèo

Củng cố an sinh xã hội và quản trị rủi ro cần được triển khai theo tiếp cận “an sinh thích ứng”, trong đó hệ thống an sinh không chỉ hỗ trợ thường xuyên mà còn chuẩn bị sẵn năng lực ứng phó với các cú sốc để bảo vệ phúc lợi và ngăn hộ gia đình tái nghèo khi gặp rủi ro. Để thực hiện điều đó, cần ưu tiên xây dựng gói bảo vệ trước cú sốc gồm hỗ trợ khẩn cấp, xây dựng quỹ dự phòng, dự trữ, công cụ tài trợ nhằm bảo đảm giải ngân nhanh và giảm tổn thất. Cuối cùng, để can thiệp sớm đối với nhóm “cận nghèo rủi ro cao”, cần bổ sung biến số về tính dễ tổn thương và năng lực chống chịu, từ đó xây dựng các cơ chế bảo trợ linh hoạt, có khả năng phản ứng kịp thời trước những biến động kinh tế - xã hội./.

-----------------------------------------

(1) Xem: Poverty and shared prosperity 2022: Correcting course (Tạm dịch: Nghèo đói và thịnh vượng chung năm 2022: Phương hướng điều chỉnh), World Bank, pp. 45, 2022, https://doi.org/10.1596/978-1-4648-1893-6
(2) Xem: Human development report 2023/2024: Breaking the gridlock - Reimagining cooperation in a polarized world (Tạm dịch: Báo cáo Phát triển Con người 2023/2024: Phá vỡ bế tắc - Tái định hình hợp tác trong một thế giới đa cực), United Nations Development Programme, pp.324, 2024
(3), (6) Nghị quyết số 24/2021/QH15, ngày 28-7-2021, của Quốc hội, “Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025”
(4) Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg, ngày 16-07-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Quy định quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm và quy trình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022-2025”
(5) Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, ngày 15-3-2021, của Chính phủ, “Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội”
(7), (18) Quyết định số 90/QĐ-TTg, ngày 18-01-2022, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025”
(8) Xem: Alkire, S., & Foster, J.: Counting and multidimensional poverty measurement (Tạm dịch: Đo lường nghèo đa chiều và phương pháp đếm), Journal of Public Economics, Vol. 95 No. 7-8, pp. 476-487, 2011
(9) Xem: Sustainable livelihoods guidance sheets (Section 2: Framework) (Tạm dịch: Các bảng hướng dẫn sinh kế bền vững (Phần 2: Khung lý thuyết)), Department for International Development, pp.26, 1999
(10) Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, ngày 27-01-2021, của Chính phủ, “Quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025”
(11), (12), (13), (14), (15), (16), (17) Xem: “Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, 2022
(19) Tran, T. N., Tran, N. A. T., Hoang, H. G., Tran, T. N., Sen, L. T. H., & Mazancova, J.: Insight into the multidimensional poverty of the mountainous ethnic minorities in Central Vietnam (Tạm dịch: Cái nhìn sâu sắc về nghèo đa chiều của các dân tộc thiểu số miền núi miền Trung Việt Nam), Social Sciences, Vol. 12 No. 6, Article 331, 2023
(20), (21) Nadiyal, A. A. F., Nadiyal, A. A. F.Strengthening smallholder integration in agricultural value chains across developing countries: A systematic literature review (Tạm dịch: Tăng cường sự hội nhập của các hộ tiểu nông vào chuỗi giá trị nông nghiệp tại các nước đang phát triển: Một bài tổng quan lý thuyết hệ thống), International Journal of Design & Nature and Ecodynamics, Vol. 20 No. 5, pp. 1103-1115, 2025, https://doi.org/10.18280/ijdne.200515