TCCS - Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5-1941) đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng, trong đó có vấn đề quốc gia dân tộc trong quan hệ giữa ba nước Đông Dương, đặt nền móng cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tạo tiền đề cho sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở Lào và Campuchia. Trong giai đoạn hiện nay, việc nhận thức đầy đủ, đúng đắn chủ trương và quyết định của Hội nghị sẽ góp phần củng cố, tăng cường tình đoàn kết, đấu tranh chống âm mưu và hành động xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Samdech Techo Hun Sen và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith tại Cuộc gặp giữa Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam - Campuchia - Lào, ngày 6-2-2026_Ảnh: TTXVN

Chủ trương giải quyết vấn đề quốc gia dân tộc từ năm 1930 đến trước Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5-1941)

Vấn đề quốc gia dân tộc trong quan hệ giữa ba nước Đông Dương là một vấn đề lớn. Từ năm 1930 đến trước Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5-1941), trong Đảng tồn tại hai chủ trương giải quyết vấn đề này: (1) Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước tại Hội nghị thành lập Đảng; (2) Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ ba nước Đông Dương từ tháng 10-1930 đến trước Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (5-1941).

Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam, Lào, Campuchia là ba quốc gia có độc lập, chủ quyền. Từ khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, Lào, Campuchia (năm 1858 xâm lược Việt Nam; năm 1863 xâm lược Campuchia; năm 1893 xâm lược Lào), phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân của ba nước mặc dù diễn ra rất anh dũng, nhưng cuối cùng đều thất bại. Năm 1887, thực dân Pháp lập ra Liên bang Đông Dương (lúc đầu gồm Việt Nam, Cao Miên (Campuchia); đến năm 1897 có thêm Ai Lao (Lào), gồm 5 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên, Ai Lao. Từ đây ba quốc gia bị xóa tên trên bản đồ thế giới, trở thành thuộc địa và bị thực dân Pháp đô hộ, bóc lột thông qua các cuộc khai thác thuộc địa.

Năm 1919, Quốc tế Cộng sản ra đời (Quốc tế III) đã rất quan tâm đến việc thành lập các đảng cộng sản, trong đó có Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1929, khi biết ở Đông Dương xuất hiện 3 tổ chức cộng sản, Quốc tế Cộng sản đã có nhiều chỉ đạo để thành lập một đảng cộng sản duy nhất. Ngày 27-10-1929, trong tài liệu “Về việc thành lập một đảng cộng sản ở Đông Dương”, Quốc tế Cộng sản yêu cầu phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm cộng sản và thành lập một đảng cộng sản của giai cấp vô sản: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”(1). Nguyễn Ái Quốc không biết đến tài liệu này. Đầu năm 1930, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến cách mạng Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Hương Cảng, Trung Quốc. Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ nước Việt Nam: đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ trương sau khi đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai phản động, sẽ thành lập một nước Việt Nam độc lập; chủ trương thành lập Mặt trận phản đế của dân tộc Việt Nam.

Tám tháng sau, Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 được tổ chức dưới sự chủ trì của Trần Phú, người vừa trở về nước sau quá trình học tập tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Hội nghị đã thông qua Luận cương chính trị; yêu cầu phải căn cứ vào chủ trương, chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản để hoạch định đường lối cho cách mạng Đông Dương. Hội nghị đã chủ trương và quyết định giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ ba nước Đông Dương: bỏ tên Đảng Cộng sản Việt Nam và đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương; chủ trương sau khi đánh đổ thực dân Pháp và tay sai phản động sẽ thành lập chính phủ công nông của các dân tộc Đông Dương; chủ trương thành lập Mặt trận phản đế và các hội, đoàn thể trong toàn Đông Dương…

Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 cho rằng, “vì vô sản An Nam, Cao Miên và Lào tuy tiếng nói, phong tục và nòi giống khác nhau, nhưng về mặt chánh trị và kinh tế thì cần phải liên lạc mật thiết với nhau”(2). Nhân dân ba nước muốn đánh đổ được ách thống trị đó, giành độc lập dân tộc thì không thể đấu tranh riêng lẻ được. Hơn nữa, kẻ thù chung của phong trào cách mạng ở Việt Nam, Lào và Cao Miên là “một thế lực tập trung, thống nhất”, do đó, Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân và là tổ chức dẫn đường cho tất cả quần chúng làm cách mạng không thể chỉ lãnh đạo riêng cho một xứ, mà phải là một đảng cộng sản tập trung lực lượng giai cấp cho toàn xứ Đông Dương. Án Nghị quyết của Hội nghị nhấn mạnh: “Việc đổi tên đảng không đơn thuần chỉ về mặt tên gọi mà theo đó, phạm vi, nhiệm vụ của Đảng được mở rộng”. Từ nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng của dân tộc Việt Nam, Đảng đã mở rộng phạm vi lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên cả ba nước Đông Dương.

Về vấn đề chính quyền, Hội nghị chủ trương sau khi đánh đổ ách thống trị của đế quốc, địa chủ và phong kiến sẽ thành lập chính phủ công nông của các dân tộc Đông Dương - Nhà nước chung của các dân tộc Đông Dương. Chủ trương trên dựa trên mô hình của Nhà nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và quan điểm của Xtalin về thành lập nhà nước liên bang. Sự thay đổi trong chủ trương và cách giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam trong quan hệ giữa ba nước Đông Dương bắt nguồn từ sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản cũng như xu thế chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn này, khi mô hình Nhà nước Liên bang Xô viết được đề cao.

Giải quyết vấn đề dân tộc trong từng nước Đông Dương - quyết định đúng đắn, kịp thời của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5-1941)

Ngày 28-1-1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Lúc này, Chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra, tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc Đông Dương. Tình hình đó đòi hỏi Đảng phải có những chủ trương và quyết định đúng đắn, sáng tạo, kịp thời để đón bắt khi thời cơ đến.

Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, tại Pác Bó, Cao Bằng, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương diễn ra dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị quyết định “thay đổi chiến lược”: Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”(4). Từ đó, Hội nghị đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. “Nói như thế không phải Đảng ta thủ tiêu vấn đề giai cấp đấu tranh trong cuộc cách mạng Đông Dương. Không! Vấn đề giai cấp đấu tranh vẫn tồn tại mãi. Nhưng trong giai đoạn hiện tại, quốc gia trước hết, thì tất thảy những yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của toàn thể, của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc, thì phải gác lại để giải quyết sau. Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được"(5). Chủ trương đó đã đáp ứng được yêu cầu bức thiết của toàn thể dân tộc là đánh đổ ách áp bức của thực dân, phát xít Pháp - Nhật và tay sai phản động để giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do.

Từ quyết định thay đổi chiến lược, Trung ương Đảng đã nhận thức và giải quyết một cách thỏa đáng vấn đề dân tộc trong quan hệ giữa ba nước Đông Dương. Hội nghị cho rằng, chính sách dân tộc của thực dân Pháp đối với các dân tộc Đông Dương là hết sức dã man. Chính sách “chia để trị”, “dùng người Đông Dương trị người Đông Dương” để lại hậu quả nặng nề đối với các dân tộc Việt Nam, Lào, Cao Miên, gieo rắc sự mâu thuẫn và nghi ngờ lẫn nhau giữa nhân dân ba nước. Đối với nước Việt Nam, một dân tộc, một lịch sử, một văn hóa, một tính sinh hoạt như nhau, thế mà chúng chia ra làm ba kỳ, dùng ba lối cai trị khác nhau, gây mối thù hằn cừu thị ở các xứ đó, làm cho sự đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng khó khăn. Đối với các dân tộc Cao Miên, Lào, chúng cũng làm cho xa cách hẳn dân tộc Việt Nam, làm cho họ ác cảm với dân tộc Việt Nam, không có chút thiện cảm nào đối với nhau. Thực dân Pháp còn “đem dân tộc này bắn giết dân tộc khác. Trong các phong trào cách mạng Đông Dương chúng nó thường đem dân tộc này chống dân tộc khác. Đem lính Nam qua Miên, Lào, đem lính Miên, Lào về Việt Nam”(6).

Phiên trao đổi bàn tròn tại Hội thảo khoa học "Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5-1941): Tầm nhìn chiến lược của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước", ngày 18-5-2026_Ảnh: baocaobang.vn

Từ sự phân tích tình hình, chính sách dân tộc của thực dân Pháp, Đảng chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc Đông Dương: “Nói đến vấn đề dân tộc tức là đã nói đến sự tự do, độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn của mỗi dân tộc. Nói như thế nghĩa là sau lúc đánh đuổi Pháp - Nhật, ta phải thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý”(7).

Đối với dân tộc Việt Nam, Hội nghị nhấn mạnh: “Sau lúc đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”(8). Nghĩa vụ của dân tộc Việt Nam đối với dân tộc Miên, Lào là “phải dìu dắt giúp đỡ trong bước đường tranh đấu tự do độc lập”.

Cùng với vấn đề chính quyền, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (tháng 5-1941) quyết định không thành lập mặt trận chung cho cả ba nước Đông Dương mà chủ trương thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng, nhằm thức tỉnh tinh thần dân tộc ở mỗi nước. Ở Việt Nam sẽ thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh. Mặt trận Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị nhằm đoàn kết toàn dân tộc đánh đổ thực dân, đế quốc, làm cho nước Việt Nam được độc lập. Việt Minh lấy ngọn cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh làm huy hiệu. Các đoàn thể yêu nước của Mặt trận mang tên là “Hội cứu quốc”. Chương trình Việt Minh bao gồm tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa…, cốt thực hiện được hai điều mà toàn thể đồng bào đang mơ ước, đó là: (1) Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; (2) Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do.

Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh không có nghĩa là Đảng ta bỏ quên nhiệm vụ giúp đỡ, đoàn kết với nhân dân hai nước Lào và Cao Miên, mà qua đó còn đánh thức tinh thần dân tộc, tính chủ động, sáng tạo của nhân dân mỗi nước trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nghị quyết Hội nghị chủ trương sẽ giúp đỡ nhân dân hai nước thành lập Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh, tiến tới thành lập Đông Dương độc lập đồng minh - hình thức mặt trận chung cho nhân dân ba nước Đông Dương.

Có thể nói, chủ trương của Trung ương Đảng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, thể hiện sự nhạy bén chính trị, phù hợp với đặc điểm chính trị, lịch sử của Việt Nam và mỗi nước Đông Dương, thấm nhuần một cách sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền dân tộc tự quyết.

Thứ nhất, chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước Đông Dương. Liên bang Đông Dương là do thực dân Pháp lập ra vào năm 1887, bao gồm Việt Nam (bị chia cắt làm 3 kỳ), Campuchia và Lào nhằm tạo cơ sở thuận lợi cho chính sách khai thác và bóc lột các dân tộc Đông Dương. Đây không phải là sự liên minh tự nguyện của ba dân tộc và trên thực tế, ba nước Đông Dương vẫn tồn tại với tư cách là ba quốc gia riêng biệt, có truyền thống sâu xa về lịch sử, văn hóa mà không một sức mạnh nào có thể xóa bỏ nổi.

Thứ hai, chủ trương đó là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vấn đề độc lập dân tộc và quyền dân tộc tự quyết vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và Đông Dương. Khi Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vấn đề dân tộc không có nghĩa là bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan, mà chính là đã vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đã phát triển chủ nghĩa dân tộc lên một mức độ mới. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăng-ghen nhấn mạnh: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc"(9). Theo lập luận đó, trước hết mỗi đảng phải chịu trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc mình. Giai cấp vô sản tồn tại trong từng quốc gia, dân tộc, vì thế trước khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới, giai cấp vô sản phải hoàn thành sứ mệnh lịch sử với chính dân tộc mình.

Thứ ba, chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương thể hiện tư tưởng nhất quán về chủ trương, đường lối trong các tổ chức do Người sáng lập từ những năm 20 của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc, đó là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Chính vì tư tưởng đó, tại Hội nghị Trung ương tháng 5-1941, Người đã nêu cao tinh thần độc lập dân tộc, chủ trương thực hiện quyền dân tộc tự quyết đối với Lào, Cao Miên. Thực ra, ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, từ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đến tác phẩm "Đường kách mệnh" và Cương lĩnh chính trị tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, hai từ “Việt Nam” luôn được Người nhấn mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích việc đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: “Cái từ Đông Dương rất rộng và theo nguyên lý của chủ nghĩa Lênin, vấn đề dân tộc là một vấn đề rất nghiêm túc, người ta không thể bắt buộc các dân tộc khác gia nhập Đảng, làm như thế là trái với nguyên lý của chủ nghĩa Lênin. Còn cái từ An Nam thì hẹp, vì An Nam chỉ là miền Trung của nước Việt Nam mà thôi và nước ta có ba miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Do đó, từ Việt Nam hợp với cả ba miền và không trái với nguyên lý Lênin về vấn đề dân tộc”(10).

Thứ tư, quyết định giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương đã thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc trong nhân dân mỗi nước Đông Dương. Mỗi nước, muốn giành được độc lập, tự do phải dựa vào thực lực của mình là chính, không thể trông chờ vào dân tộc khác. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập. Do vậy, chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh thức chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức độc lập, tự do, tinh thần tự lực tự cường của ba dân tộc Đông Dương. 

Thứ năm, chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước Đông Dương là cơ sở cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tạo tiền đề cho sự phát triển của cách mạng Lào và Campuchia. Đây là việc khẳng định khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, một dân tộc có ý thức sâu sắc về lịch sử, chủ quyền lãnh thổ, truyền thống văn hóa. Do vậy, song song với quá trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của Nhà nước Việt Nam độc lập vào ngày 2-9-1945.

Sau Hội nghị Trung ương tháng 5-1941, Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiếp tục có nhiều chỉ đạo nhằm cụ thể hóa quyết định thay đổi chiến lược cách mạng, giành độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thể hiện qua các văn kiện, như: Kính cáo đồng bào, ngày 6-6-1941; Nghị quyết của Hội nghị cán bộ toàn xứ Bắc Kỳ, ngày 25, 26, 27-9-1941; Chỉ thị về công tác, ngày 1-12-1941; Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng, ngày 21-12-1941; Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày 25 đến 28-2-1943; Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, ngày 12-3-1945; Nghị quyết của toàn quốc hội nghị Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày 14, 15-8-1945… Các văn kiện này chủ trương tập hợp, đoàn kết các giai cấp, dân tộc, tầng lớp nhằm đánh đổ ách xâm lược của thực dân - phát xít Pháp - Nhật, giải phóng các dân tộc Đông Dương; ủng hộ Campuchia, Lào được độc lập và thống nhất. Cụ thể, Đảng thành lập ủy ban dân tộc giải phóng ở các nhà máy, mỏ, làng, ấp, đường phố, trại lính và đặc biệt là thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng Việt Nam theo hình thức một chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam, triệu tập quốc dân lập pháp để quy định chính thể và hình pháp quốc gia; ban bố các quyền tự do dân chủ; toàn xá và trọng dụng chính trị phạm; đặt quốc ca và định dấu hiệu cho quốc gia Việt Nam…

Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, thời cơ nghìn năm có một đã đến, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ trong vòng hai tuần lễ (từ 14 đến 28-8-1945), các địa phương trong cả nước đã nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền, đánh đổ ách thống trị của thực dân, phát xít, giành độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945 do nhiều nguyên nhân, trong đó có quyết định thay đổi chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương.

Ý nghĩa với việc củng cố, tăng cường tình đoàn kết giữa nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia

85 năm đã trôi qua, nhưng chủ trương và quyết định của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5-1941) không chỉ có ý nghĩa trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn để lại những kinh nghiệm, giá trị sâu sắc trong việc củng cố, tăng cường quan hệ giữa ba nước Đông Dương trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực đang diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; các thế lực thù địch tiếp tục tìm mọi cách để xuyên tạc, chống phá tình đoàn kết giữa nhân dân ba nước Đông Dương.

Thứ nhất, tăng cường hợp tác giữa ba nước Đông Dương trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia là láng giềng, có mối quan hệ mật thiết, khăng khít với nhau trong lịch sử cũng như hiện tại; đã từng kề vai sát cánh bên nhau trong các cuộc đấu tranh, kháng chiến chống kẻ thù xâm lược; trong xây dựng, phát triển đất nước, nhưng ba nước vẫn là ba quốc gia - dân tộc, có truyền thống sâu sắc về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán… Do vậy, trong quan hệ hợp tác, phải phát huy những điểm tương đồng, tôn trọng sự khác biệt; đoàn kết, hợp tác lẫn nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

Thứ hai, không ngừng củng cố, vun đắp tình đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa Đảng, chính quyền và nhân dân ba nước; coi đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với hòa bình, ổn định, phát triển của mỗi nước và cả khu vực. Phải thực hiện phương châm “sự ổn định, phát triển của nước này là điều kiện, cơ sở cho sự ổn định, phát triển của nước kia và ngược lại”. Các thế hệ lãnh đạo và nhân dân ba nước phải có trách nhiệm không ngừng củng cố và làm sâu sắc hơn sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tạo cơ sở cho sự hợp tác bền chặt trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại... Thực tế cho thấy, trong cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc trên một chiến trường chung, chống một kè thù chung, nhân dân ba nước đã chia ngọt sẻ bùi, kề vai sát cánh bên nhau, hy sinh vì nhau, coi khó khăn của bạn cũng như khó khăn của mình; thắng lợi của bạn cũng là thắng lợi của mình. Tinh thần đó cần phải được phát huy hơn nữa trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước của ba dân tộc trong bối cảnh hiện nay.

Thứ ba, nhận diện, đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn phá hoại tình đoàn kết giữa ba nước. Bối cảnh khu vực và quốc tế đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường; các quốc gia, đặc biệt là các nước lớn đang cạnh tranh gay gắt với nhau nhằm tăng cường lực lượng, nguồn lực, kiềm tỏa nhau nhằm phục vụ lợi ích và chiến lược của mình; trong đó, khu vực Đông Nam Á nói chung, các nước Đông Dương nói riêng là địa bàn cạnh tranh chiến lược của nhiều nước lớn. Bối cảnh đó đòi hỏi ba nước phải cùng nhau đoàn kết, làm thất bại mọi âm mưu tìm cách phá hoại tình đoàn kết truyền thống tốt đẹp giữa nhân dân Việt Nam - Lào - Campuchia./.

---------------

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 1, tr. 614
(2) (3) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 2, tr. 112,111
(4) (5) (6) (7) (8) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 119, 113, 111, 113, 114
(9) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 105
(10) Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 68