Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Động lực to lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới
TCCS - Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc là giá trị cốt lõi, xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phản ánh sự kết tinh biện chứng giữa truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam với tinh thần nhân văn, dân chủ. Trong kỷ nguyên mới, việc phát huy tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là yếu tố then chốt để củng cố đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc nhằm bảo đảm cho mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và giữ vững chủ quyền quốc gia, dân tộc.
Đại đoàn kết dân tộc và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc
Đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những quy luật phát triển có tính phổ quát và bền vững, đồng thời là giá trị văn hóa chính trị cốt lõi được hình thành và phát triển liên tục qua suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không chỉ kế thừa truyền thống yêu nước, tinh thần cố kết cộng đồng, lòng khoan dung và nghĩa đồng bào, mà còn là sự kết tinh giữa bản lĩnh cách mạng với tầm nhìn nhân văn và tinh thần dân chủ hiện đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”(1), được coi là nguyên lý tổ chức, phương pháp hành động, là chiến lược xuyên suốt trong mọi giai đoạn cách mạng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết không đơn thuần là tập hợp lực lượng, mà là sự thống nhất trên cơ sở đa dạng, là nền tảng để huy động toàn dân tham gia vào sự nghiệp giải phóng, kiến thiết và bảo vệ đất nước. Tư tưởng đó đã trở thành trụ cột trong hệ thống lý luận cách mạng Việt Nam, được Đảng ta kế thừa và phát triển thành quan điểm nhất quán trong hoạch định chủ trương, chính sách nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh. Do đó, việc kế thừa, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là yêu cầu lý luận mang tính nền tảng, mà còn là đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những trụ cột nền tảng của hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, kết tinh giữa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung của dân tộc với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tinh thần nhân văn tiến bộ của thời đại. Đây không chỉ là định hướng chiến lược cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, mà còn là di sản tinh thần quý báu, có giá trị lâu dài cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược, mang tính nền tảng, xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không chỉ là giá trị đạo lý truyền thống, nguyên lý mang tính chỉ đạo, chi phối toàn diện tư duy và hành động cách mạng. Đây là tư tưởng có tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, được hình thành trên cơ sở kết hợp biện chứng giữa tinh thần yêu nước, cố kết cộng đồng và khoan dung văn hóa của dân tộc Việt Nam với học thuyết khoa học, tinh thần cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đoàn kết không phải là một khẩu hiệu vận động, mà là một động lực tinh thần to lớn, quyết định thành bại của mọi giai đoạn cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta,… cần phải giữ gìn như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(2). Việc kiến tạo và duy trì một khối đoàn kết thống nhất không chỉ là yêu cầu sống còn, mà là minh chứng cho tư duy chính trị vượt thời đại, khả năng tổ chức cách mạng xuất sắc của Người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết phản ánh tầm nhìn bao trùm và linh hoạt trong xây dựng lực lượng cách mạng. Người không giới hạn đoàn kết trong khuôn khổ giai cấp, mà mở rộng thành một nguyên lý chiến lược toàn dân, toàn diện và toàn xã hội, lấy lợi ích dân tộc làm điểm quy chiếu tối thượng. Người viết: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ… Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(3). Quan điểm này đặt nền móng cho việc hình thành một mặt trận thống nhất mang tính quốc gia - dân tộc, thay vì chỉ mang tính giai cấp - ý thức hệ. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động chuyển hóa tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc vào các thiết chế chính trị cụ thể, hiệu quả và bền vững như Việt Minh (năm 1941), Liên Việt (năm 1946) và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (năm 1955). Các tổ chức này đã tập hợp lực lượng, quy tụ trí tuệ và nguyện vọng của toàn dân vào mục tiêu thống nhất: độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đại đoàn kết, từ đó không chỉ có giá trị dẫn dắt về nhận thức mà còn chứng minh hiệu lực vượt trội trong thực tiễn lịch sử cách mạng, kháng chiến và xây dựng đất nước trong thời kỳ hòa bình, hội nhập hiện nay.
Thứ hai, đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ truyền thống yêu nước, lòng khoan dung, cố kết cộng đồng của dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề đoàn kết từ chiều sâu văn hóa dân tộc, đặt trên nền tảng của lòng yêu nước - một giá trị xuyên suốt, bền vững và có khả năng quy tụ cao nhất trong lịch sử Việt Nam. Đây là sự kết tinh giữa tinh thần nhân văn dân tộc và thực tiễn cách mạng, được thử thách trong đấu tranh giải phóng và kiến thiết quốc gia. Quan niệm về đại đoàn kết được Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng thành hệ giá trị tổ chức xã hội mang tính nền tảng, định hình cách thức tập hợp lực lượng, vận hành bộ máy và phát triển quốc gia trong dài hạn. Người khẳng định: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới”(4). Quan điểm đó phản ánh rõ đặc trưng dân chủ, nhân văn trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh - nơi đoàn kết sự hòa hợp trên cơ sở tôn trọng cả khác biệt, đồng thuận thực chất thay vì gượng ép. Điều đó tạo nên một mô hình đoàn kết toàn dân linh hoạt, bền vững, thích ứng cao với một xã hội đa dân tộc, đa tôn giáo, đa tầng lợi ích. Tư tưởng ấy đồng thời được xác lập như một nguyên tắc tổ chức có tính chiến lược lâu dài trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh không coi đoàn kết là biện pháp tình thế, mà là yếu tố cốt lõi chiến lược bảo đảm sự tồn tại và phát triển của cách mạng. Trong Di chúc, Người tiếp tục nhấn mạnh: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(5). Đây là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện rõ sự hòa quyện giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với bản sắc văn hóa Việt Nam. Nếu học thuyết Mác - Lê-nin đề cao vai trò của giai cấp công nhân, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thành liên minh công - nông - trí, rồi tiến tới đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa tính giai cấp và tính dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, khi xã hội đối diện với nhiều yếu tố bất lợi gây phân hóa, chia rẽ, thì tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa trong củng cố đồng thuận xã hội và tạo nền tảng văn hóa - chính trị vững chắc cho sự phát triển bền vững quốc gia.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng trên cơ sở lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm.
Trong tư tưởng của Chủ tich Hồ Chi Minh, đại đoàn kết không chỉ là một chiến lược vận động cách mạng, mà còn là nguyên lý tổ chức quyền lực chính trị, định hình mô hình nhà nước kiểu mới - nơi nhân dân giữ vai trò chủ thể tối cao. Người xác mô hình quyền lực “xuất phát từ nhân dân, vì nhân dân và chịu sự kiểm soát của nhân dân”, trong đó đoàn kết không chỉ là phương tiện để giành chính quyền, mà là triết lý nền tảng bảo đảm cho sự bền vững của thể chế chính trị. Theo Người, không thể có đoàn kết thực chất nếu thiếu dân chủ thực chất, và ngược lại, dân chủ chỉ phát huy hiệu lực khi được bảo đảm bởi một khối đại đoàn kết rộng rãi, toàn diện. Đó là một quan điểm mang tính cách mạng, bởi nó không chỉ mở rộng quyền làm chủ của nhân dân, mà còn khẳng định vai trò trung tâm của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(6). Tư tưởng này không chỉ mang giá trị đạo lý, mà còn là nguyên tắc chính trị cốt lõi định hướng toàn bộ chiến lược phát triển quốc gia. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt yêu cầu thể chế hóa khối đại đoàn kết thành các cấu trúc pháp lý, chính sách công và cơ chế dân chủ thực chất, trong đó nhân dân không chỉ là đối tượng được phục vụ, mà là chủ thể tham gia hoạch định, giám sát và phản biện.
Mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng của Người không phải là bộ máy hành chính thuần túy, mà còn là cấu trúc chính trị - xã hội đặt niềm tin vào nhân dân, khai mở và phát huy tiềm năng sáng tạo của người dân. Dân chủ không dừng ở quyền bầu cử, ứng cử, mà bao gồm cả quyền được thông tin, tham vấn, giám sát và phản biện xã hội. Để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần xây dựng một nhà nước pháp quyền liêm chính, minh bạch, kiến tạo - nơi quyền lực được kiểm soát, công lý được bảo vệ và mọi quyết sách đều hướng tới lợi ích bền vững của nhân dân.
Một số giải pháp phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỳ nguyên mới
Một là, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Bối cảnh hiện nay, tình hình quốc tế và trong nước diễn biến phức tạp, việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành yêu cầu có tính chiến lược. Khối đại đoàn kết chỉ có thể được hình thành và vận hành hiệu quả khi có một hạt nhân lãnh đạo đủ tầm, đủ uy tín và có khả năng tập hợp, quy tụ mọi lực lượng xã hội thành một khối thống nhất vì lợi ích chung. Trong xu thế chuyển đổi số, toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, yêu cầu đặt ra là Đảng phải giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị, đồng thời không ngừng đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ, hiện đại và gắn với thực tiễn. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(7).
Trên cơ sở đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải tiếp tục được triển khai toàn diện, đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả, lấy phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm trọng tâm, đồng thời xử lý kiên quyết các biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm, quan liêu, xa dân. Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, cần tăng cường vai trò giám sát của nhân dân, phát huy hiệu quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ chốt, phải được đặt trong mối liên hệ mật thiết với yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và khả năng quy tụ, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, lĩnh vực. Mỗi tổ chức đảng thực sự phải trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết và là nơi hội tụ lý tưởng phát triển vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Ngoài ra, trong môi trường thông tin số và truyền thông mạng đa chiều, cần chủ động làm tốt công tác tư tưởng, nắm chắc diễn biến dư luận xã hội, kịp thời định hướng nhận thức, củng cố niềm tin và sự đồng thuận trong nhân dân. Năng lực lãnh đạo không chỉ được thể hiện qua khả năng hoạch định đường lối đúng đắn, mà còn qua năng lực tổ chức thực tiễn hiệu quả, khả năng xử lý linh hoạt các tình huống phát sinh và gắn kết các lực lượng xã hội thành một thể thống nhất.
Hai là, hoàn thiện hệ thống thể chế và chính sách nhằm phát huy quyền làm chủ, vai trò chủ thể của nhân dân trong xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Việc hoàn thiện thể chế để hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà còn là giải pháp căn bản nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc một cách thực chất và bền vững. Một hệ thống chính trị dân chủ, pháp quyền, đặt nhân dân vào vị trí trung tâm, sẽ tạo điều kiện để toàn dân tích cực tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, xây dựng xã hội số và hội nhập quốc tế toàn diện, việc tạo lập môi trường thể chế thuận lợi để nhân dân được tham gia, giám sát và phản biện chính sách là điều kiện tiên quyết để củng cố sự đồng thuận xã hội và tăng cường niềm tin vào chế độ. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu: “Tiếp tục coi trọng xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân; xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp, thuận lợi để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước”(8). Đây là định hướng chiến lược cần được cụ thể hóa thành các thiết chế pháp lý minh bạch, đồng bộ, khả thi và có tính khả dụng cao. Trọng tâm là xây dựng các cơ chế, để người dân được tiếp cận thông tin công, được tham gia từ khâu hình thành đến thực thi chính sách, và có thể giám sát quyền lực công một cách thực chất. Việc tăng cường năng lực thực thi pháp luật, nâng cao hiệu quả điều hành của chính quyền các cấp và bảo vệ quyền công dân trong môi trường số cũng là nội dung trọng yếu nhằm bảo đảm công lý xã hội và giữ gìn sự cố kết cộng đồng. Cùng với việc thể chế hóa quyền dân chủ, cần quan tâm phát triển các chính sách với sự tham gia bình đẳng của mọi tầng lớp xã hội vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh sự phân hoá giàu - nghèo có xu hướng gia tăng và sự tác động đa chiều của truyền thông xuyên biên giới, việc thiết lập một không gian pháp lý dân chủ, lành mạnh và có tính bao trùm là yêu cầu cấp thiết để khơi thông các nguồn lực xã hội. Đặc biệt, các chính sách về dân tộc, tôn giáo, an sinh xã hội, phát triển vùng sâu, vùng xa cần được hoàn thiện trên cơ sở công bằng, bảo vệ nhóm yếu thế và hướng tới sự đồng thuận bền vững.
Ba là, thường xuyên quan tâm khơi dậy và phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội để xây dựng nội lực phát triển đất nước và giữ vững chủ quyền quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt, yêu cầu phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trở thành một định hướng chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Việc xây dựng nội lực quốc gia không thể chỉ dựa vào tài nguyên vật chất hay nhân lực truyền thống, mà cần khơi dậy các nguồn lực mềm như trí tuệ, văn hóa, lòng yêu nước, ý thức công dân và tinh thần cống hiến trong mọi tầng lớp nhân dân. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định rõ nhiệm vụ này: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”(9). Trên cơ sở đó, cần có chiến lược tổ chức và chính sách đồng bộ nhằm phát hiện, bồi dưỡng và kết nối hiệu quả các lực lượng xã hội, từ đội ngũ trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, người lao động đến đồng bào dân tộc thiểu số, người có tín ngưỡng, tôn giáo và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là những chủ thể có tiềm năng và vai trò riêng, cần được trao cơ hội và tạo điều kiện để tham gia vào các lĩnh vực quan trọng như phát triển kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo, xây dựng văn hóa số, phát triển kinh tế xanh, bảo vệ môi trường và chuyển đổi năng lượng.
Song song với phát triển kinh tế - xã hội, việc củng cố quốc phòng, an ninh phải được đặt trong mối quan hệ mật thiết với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Mỗi công dân cần được nhìn nhận là một chủ thể tích cực trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa là người thụ hưởng thành quả phát triển, vừa là lực lượng bảo vệ an ninh, chủ quyền. Do đó, cần tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; giữa bảo tồn giá trị truyền thống với phát triển công nghệ hiện đại; giữa đối nội với đối ngoại nhân dân. Một thế trận tổng hợp, trong đó lòng dân là điểm tựa, khối đại đoàn kết là nền móng, sẽ là yếu tố then chốt để tăng cường sức đề kháng của quốc gia, bảo đảm ổn định chính trị và chủ động ứng phó hiệu quả với mọi tình huống, thách thức trong kỷ nguyên mới.
Bốn là, phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Trước yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã và đang trở thành một bộ phận không thể tách rời trong tổng thể nguồn lực phát triển đất nước. Phát huy vai trò của cộng đồng này không chỉ mang ý nghĩa tinh thần, mà còn là đòi hỏi chiến lược nhằm tăng cường nội lực quốc gia, lan tỏa ảnh hưởng mềm và củng cố "thế trận lòng dân" trên phạm vi toàn cầu. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ định hướng: “Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế đầu tư trí tuệ, nguồn lực, tham gia phát triển văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam”(10). Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm tận dụng hiệu quả tiềm năng trí tuệ, tài chính, công nghệ và mạng lưới quan hệ quốc tế của kiều bào trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và chuyển đổi phát triển ngày càng phức tạp.
Để hiện thực hóa yêu cầu đó, cần có cách tiếp cận toàn diện, linh hoạt và hiện đại trong chính sách đối với kiều bào. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cần được nhìn nhận không chỉ như một đối tượng gắn bó tình cảm, mà còn là chủ thể đồng hành và có khả năng đóng góp cụ thể vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế và chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để kiều bào duy trì bản sắc văn hóa, kết nối với quê hương, tiếp cận thông tin chính thống và tham gia trực tiếp vào các lĩnh vực then chốt, như kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa và đối ngoại nhân dân. Đồng thời, cần đẩy mạnh xây dựng các mạng lưới trí thức, doanh nhân toàn cầu, phát huy vai trò cầu nối chiến lược của kiều bào trong quảng bá hình ảnh Việt Nam, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và bảo vệ lợi ích quốc gia trên mặt trận thông tin quốc tế.
Bên cạnh yếu tố chính sách, việc củng cố lòng tin, ý thức cội nguồn và tinh thần trách nhiệm với tương lai đất nước trong cộng đồng kiều bào là điều kiện không thể thiếu để phát huy vai trò của lực lượng này một cách bền vững. Nhà nước cần bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của kiều bào, lắng nghe tiếng nói của họ, tôn trọng sự đa dạng và tạo dựng cơ chế tiếp nhận, phản hồi hiệu quả các ý kiến xây dựng từ xa. Trong bối cảnh cạnh tranh địa - chính trị ngày càng gay gắt, một cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vững mạnh, đoàn kết và gắn bó với Tổ quốc sẽ là điểm tựa chiến lược để củng cố "thế trận lòng dân" mở rộng, nâng cao uy tín và bản lĩnh của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời góp phần làm sâu sắc thêm khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong hệ giá trị phát triển của Việt Nam. Không chỉ là nền tảng tư tưởng - chính trị vững chắc, tư tưởng ấy còn là nguồn lực nội sinh đặc biệt quan trọng để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc phát huy tinh thần đại đoàn kết cần được quán triệt như một chiến lược lâu dài nhằm tăng cường đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin nhân dân và bảo đảm ổn định chính trị. Đoàn kết không chỉ là phương thức tổ chức xã hội, mà phải trở thành văn hóa chính trị, chuẩn mực hành vi và nguyên tắc hành động trong toàn hệ thống chính trị và đời sống công dân, tạo nền tảng để đất nước phát triển nhanh, bền vững, giữ vững độc lập, chủ quyền và nâng cao vị thế quốc gia trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh và bất định./.
----------------------
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 13, tr. 119
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd , t. 11, tr. 512
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 244
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 434
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 617
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 65
(7), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 204, tr. 14
(8), (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 286 - 287, tr. 272
Phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân, bảo vệ an ninh, trật tự trong kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc  (12/07/2026)
Xây dựng “Chuẩn mực con người Việt Nam” trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng  (23/06/2026)
Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay trong phòng, chống lãng phí theo tư tưởng Hồ Chí Minh  (15/06/2026)
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- Xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại, tạo động lực tăng trưởng vùng trong bối cảnh mới
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống trong phát triển nhân cách quân nhân -
Kinh tế
Công nghiệp hóa bền vững để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam