Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo quan điểm Đại hội XIV của Đảng
TCCS - Phát triển bền vững đã trở thành quan điểm xuyên suốt trong tư duy và đường lối của Đảng, được tích lũy qua nhiều nhiệm kỳ đại hội và tiếp tục được nhấn mạnh, làm sâu sắc hơn trong Văn kiện Đại hội XIV. Trong bối cảnh đó, với tư cách là chủ thể trung tâm của nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp không chỉ tham gia vào hoạt động kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, tạo ra của cải vật chất, mà còn chia sẻ trách nhiệm đối với xã hội, môi trường và tương lai phát triển của đất nước. Vì vậy, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trở thành yêu cầu khách quan của mô hình phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong tư duy phát triển của Đảng
Trong suốt tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, tư duy phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện trên cơ sở tổng kết thực tiễn trong nước và tiếp thu chọn lọc giá trị tiến bộ của nhân loại. Một trong những dấu ấn quan trọng nhất của quá trình đó là sự hình thành, phát triển và ngày càng làm sâu sắc hơn quan điểm phát triển bền vững. Quan điểm đó có ý nghĩa nền tảng, phản ánh bản lĩnh chính trị, trí tuệ và trách nhiệm lịch sử của Đảng cầm quyền đối với tương lai lâu dài của dân tộc.
Trong tư duy của Đảng, phát triển bền vững không chỉ nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, mà còn bao hàm những vấn đề căn bản hơn: bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, giữ vững ổn định chính trị, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo vệ lợi ích của các thế hệ mai sau(1). Chính vì vậy, việc bảo đảm phát triển bền vững không thể chỉ là tập hợp giải pháp kỹ thuật hay công cụ quản lý riêng lẻ, mà phải được nhìn nhận như một tầm nhìn phát triển đối với thế hệ tương lai, chi phối cách thức xác lập mục tiêu, lựa chọn mô hình và tổ chức thực hiện con đường phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp phải được đặt trong chỉnh thể của quan điểm phát triển bền vững, gắn chặt với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ là vấn đề quản trị doanh nghiệp, mà là một bộ phận cấu thành của mô hình phát triển quốc gia.
Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, yêu cầu giải phóng lực lượng sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được đặt lên hàng đầu. Mục tiêu “phát triển nhanh” trong giai đoạn này mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt, phản ánh đúng yêu cầu khách quan của thực tiễn và là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước thoát khỏi trì trệ, khủng hoảng.
Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, hạn chế của mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và mở rộng quy mô sản xuất ngày càng bộc lộ rõ. Ô nhiễm môi trường gia tăng, chênh lệch giàu nghèo xuất hiện, chất lượng tăng trưởng chưa cao, nhiều vấn đề xã hội phát sinh. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, tư duy phát triển của Đảng đã có bước chuyển quan trọng: từ nhấn mạnh phát triển nhanh sang phát triển nhanh gắn với bền vững. Đây không phải là sự điều chỉnh mang tính hình thức, mà là sự nâng cao về chất của mục tiêu phát triển. Tăng trưởng kinh tế tiếp tục được coi trọng, nhưng không còn là mục tiêu duy nhất hay tuyệt đối; thay vào đó, tăng trưởng phải phục vụ cho mục tiêu xã hội rộng lớn hơn và phải được đặt trong giới hạn chịu tải của môi trường và xã hội. Quan điểm này ngày càng được khẳng định rõ trong các văn kiện Đại hội, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, về năng lực cạnh tranh và về tính bền vững của mô hình phát triển.
Một nội dung cốt lõi trong tư duy phát triển bền vững của Đảng là cách tiếp cận phát triển hài hòa giữa trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Ba trụ cột này không vận hành tách rời, mà gắn bó hữu cơ, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau. Kinh tế là phương tiện để thực hiện mục tiêu xã hội. Phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, với bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển con người toàn diện. Đồng thời, phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, hệ sinh thái, không làm tổn hại đến môi trường sống và khả năng phát triển của thế hệ tương lai.
Trong chỉnh thể đó, môi trường không chỉ là đối tượng cần được bảo vệ, mà là nền tảng của sự phát triển. Môi trường bị suy thoái sẽ kéo theo hệ lụy nghiêm trọng về kinh tế và xã hội, làm gia tăng chi phí phát triển và thậm chí đe dọa ổn định lâu dài của đất nước. Do đó, bảo vệ môi trường không phải là sự đánh đổi hay hy sinh cho tăng trưởng, mà là điều kiện để tăng trưởng có chất lượng và bền vững.
Một bước tiến quan trọng trong tư duy về phát triển bền vững của Đảng là việc đặt con người vào vị trí trung tâm. Con người vừa là chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển, vừa là mục tiêu cuối cùng mà phát triển hướng tới. Phát triển không chỉ nhằm tạo ra của cải vật chất, mà phải nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm nhân phẩm, quyền lợi và cơ hội phát triển của mỗi người dân.
Trong chỉnh thể tư duy đó, doanh nghiệp, với tư cách là chủ thể trực tiếp của hoạt động sản xuất - kinh doanh, không chỉ đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra của cải vật chất, mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, thực hiện trách nhiệm, bổn phận với xã hội, cộng đồng và tác động kinh tế, xã hội, môi trường... do hoạt động của doanh nghiệp mình tạo ra.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng, đóng góp cho phát triển bền vững, vượt lên trên yêu cầu pháp lý tối thiểu, thông qua việc cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận với lợi ích của người lao động, cộng đồng, xã hội... Trách nhiệm xã hội gắn với nhiều yếu tố, như bảo vệ môi trường, hệ sinh thái, người tiêu dùng, quan tâm đến nhóm yếu thế, bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, thực hiện an sinh xã hội, tuân thủ đạo đức kinh doanh,..., góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh. Phát triển bền vững và việc thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là các yếu tố gắn bó hữu cơ, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau.
Tư duy phát triển nhanh và bền vững của Đại hội XIV
Phát triển nhanh gắn liền với bền vững là một trong những trục tư duy xuyên suốt của Đảng trong tiến trình đổi mới, song tại Đại hội XIV, quan điểm này được nâng lên một tầm mức mới cả về nhận thức lý luận lẫn định hướng thực tiễn. Nếu trong những giai đoạn trước, yêu cầu “phát triển nhanh” mang ý nghĩa ưu tiên nhằm thoát khỏi tình trạng kém phát triển, rút ngắn khoảng cách với quốc gia đi trước, thì trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, vấn đề không còn thuần túy là tốc độ, mà còn là chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng. Đại hội XIV thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy khi khẳng định: phát triển bền vững không phải là sự “đánh đổi” hay “giới hạn” của tăng trưởng, mà chính là điều kiện để tăng trưởng nhanh và lâu dài(2).
Phát triển nhanh và bền vững được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất. Tốc độ tăng trưởng nếu không đi cùng với sự chuyển biến về chất của nền kinh tế, thể hiện ở năng suất lao động, hàm lượng khoa học - công nghệ, chất lượng thể chế và nguồn nhân lực, thì sẽ sớm chạm tới giới hạn. Do đó, phát triển nhanh trong tư duy của Đại hội XIV không đồng nghĩa với mở rộng quy mô bằng mọi giá, mà là đẩy mạnh động lực nội sinh, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp, cải thiện chất lượng tăng trưởng và củng cố nền tảng ổn định vĩ mô. Chính sự thay đổi về “chất” mới tạo ra khả năng gia tăng “lượng” một cách bền vững.
Trên phương diện kinh tế - xã hội, phát triển nhanh chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng kinh tế phải song hành với bảo đảm an sinh, nâng cao chất lượng cuộc sống và mở rộng cơ hội phát triển cho mọi người dân. Kỷ nguyên công nghệ số mở ra khả năng cấu trúc lại phương thức quản trị và cung ứng dịch vụ công. Chuyển đổi số trong khu vực công, phát triển chính phủ số và dịch vụ công trực tuyến không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn góp phần giảm chi phí xã hội, tăng tính minh bạch và mở rộng khả năng tiếp cận của người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa.
Trong giáo dục và y tế, ứng dụng công nghệ tạo điều kiện phát triển học tập suốt đời, y tế từ xa, qua đó thu hẹp khoảng cách về cơ hội tiếp cận dịch vụ cơ bản giữa các nhóm xã hội. Tuy nhiên, Đại hội XIV cũng nhận diện rõ nguy cơ, thách thức đối với quá trình chuyển đổi số từ sự phân hóa mới do chênh lệch về hạ tầng, kỹ năng và khả năng tiếp cận công nghệ. Vì vậy, phát triển bao trùm trở thành yêu cầu có tính nguyên tắc, bảo đảm mọi người dân đều được tham gia và thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số. Điều này đòi hỏi chính sách đồng bộ về đầu tư hạ tầng số, phổ cập kỹ năng số và cơ chế hỗ trợ nhóm yếu thế, để công nghệ thực sự trở thành công cụ thúc đẩy công bằng xã hội chứ không làm gia tăng phân tầng.
Trên trụ cột môi trường, tư duy phát triển bền vững được cụ thể hóa bằng yêu cầu chuyển đổi xanh và xây dựng kinh tế tuần hoàn. Đại hội XIV xác định: “Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm”(3). Đây không chỉ là lựa chọn chính sách, mà là tất yếu khách quan trước sức ép của biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và cam kết quốc tế về phát thải. Khoa học - công nghệ giữ vai trò trung tâm trong đổi mới mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và tái tạo hệ sinh thái. Công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, vật liệu mới và giải pháp xử lý chất thải không chỉ giảm áp lực môi trường, mà còn tạo ra động lực tăng trưởng mới, hình thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, đổi mới sáng tạo là chìa khóa nâng cao năng lực thích ứng và khả năng chống chịu của nền kinh tế - xã hội, nhất là tại vùng dễ bị tổn thương. Ứng dụng công nghệ trong dự báo thiên tai, quản lý tài nguyên nước, phát triển nông nghiệp thông minh hay đô thị thông minh không chỉ giảm thiểu rủi ro, mà còn tạo nền tảng cho phát triển dài hạn. Như vậy, bảo vệ môi trường không tách rời mục tiêu tăng trưởng, mà trở thành một cấu phần nội tại của chiến lược phát triển nhanh và bền vững.
Đại hội XIV nhấn mạnh tính bền vững về văn hóa và con người như nền tảng tinh thần của phát triển. “Nhận thức đầy đủ hơn về vai trò và tầm quan trọng của văn hóa trong phát triển bền vững”(4). Trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ số, văn hóa dân tộc vừa có cơ hội lan tỏa rộng rãi, vừa đối diện nguy cơ bị đồng nhất hoặc mai một. Do đó, gắn công nghệ với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa không chỉ là nhiệm vụ văn hóa thuần túy, mà còn là điều kiện bảo đảm tính liên tục và ổn định của hệ giá trị xã hội. Sự phát triển thiếu nền tảng văn hóa vững chắc sẽ khó duy trì bền lâu.
Con người được xác định là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển. Phát triển nhanh và bền vững, xét đến cùng, là quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống, phát huy toàn diện năng lực, phẩm chất và khát vọng của con người Việt Nam. Đầu tư cho giáo dục, khoa học, văn hóa và xây dựng hệ giá trị quốc gia chính là đầu tư cho nền tảng bền vững lâu dài.
Tổng thể lại, tư duy phát triển nhanh và bền vững của Đại hội XIV thể hiện sự vận dụng sáng tạo phép biện chứng giữa tăng trưởng và ổn định, giữa đổi mới và kế thừa, giữa hội nhập và tự chủ. Đây không chỉ là sự điều chỉnh chính sách, mà là bước phát triển mới về phương pháp luận, đặt nền tảng lý luận cho con đường phát triển hiện đại, độc lập và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm thúc đẩy phát triển đất nước nhanh, bền vững theo tinh thần Đại hội XIV
Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành một nội dung có tính chiến lược trong định hướng phát triển nhanh và bền vững đất nước theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng. Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vai trò của doanh nghiệp không dừng lại ở tạo ra của cải vật chất và lợi nhuận, mà còn ở việc kiến tạo giá trị xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng kết nối cộng đồng... Do đó, nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chính là một trong những giải pháp trọng yếu để bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Để nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, một số vấn đề cần được quan tâm:
Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức lý luận và thống nhất quan điểm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trách nhiệm xã hội không phải là hoạt động từ thiện đơn lẻ hay hình thức truyền thông thương hiệu, mà là cam kết xuyên suốt trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp, gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Doanh nghiệp cần nhận thức rõ rằng lợi nhuận chỉ thực sự bền vững khi được tạo ra trên cơ sở tôn trọng pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, bảo vệ môi trường, đóng góp tích cực cho cộng đồng... Việc quán triệt quan điểm “phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường”(5) cần được cụ thể hóa thành chuẩn mực hành xử và văn hóa doanh nghiệp. Đây là nền tảng tư tưởng để chuyển biến từ tư duy “tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn” sang tư duy “tối ưu hóa giá trị dài hạn”.
Thứ hai, hoàn thiện khung thể chế và cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy, định hướng và giám sát việc thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Nhà nước cần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, trong đó quy định rõ nghĩa vụ công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị (ESG); thiết lập tiêu chí đánh giá và xếp hạng mức độ thực hiện trách nhiệm xã hội; đồng thời, có cơ chế khuyến khích, như ưu đãi thuế, tín dụng xanh, hỗ trợ tiếp cận thị trường đối với doanh nghiệp thực hiện tốt. Song song với đó là cơ chế xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm, như trốn thuế, xả thải gây ô nhiễm, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động... Thể chế phải bảo đảm vừa tạo động lực phát triển, vừa giữ vững kỷ cương, qua đó định hình môi trường kinh doanh lành mạnh và công bằng.
Thứ ba, gắn trách nhiệm xã hội với chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đại hội XIV “khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao”(6). Theo đó, doanh nghiệp cần chủ động đầu tư vào công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm phát thải và tối ưu hóa nguồn lực. Trách nhiệm xã hội trong giai đoạn mới không chỉ thể hiện ở việc khắc phục hậu quả môi trường, mà quan trọng hơn là phòng ngừa rủi ro ngay từ khâu thiết kế sản phẩm và quy trình sản xuất. Việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường, lao động, quản trị doanh nghiệp... không chỉ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, mà còn khẳng định vị thế doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là con đường để phát triển nhanh, nhưng không đánh đổi bằng môi trường hay ổn định xã hội.
Thứ tư, nâng cao trách nhiệm đối với người lao động. Doanh nghiệp cần bảo đảm tiền lương, phúc lợi và điều kiện làm việc an toàn; đầu tư vào đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nhất là kỹ năng số và kỹ năng đổi mới sáng tạo; xây dựng môi trường làm việc dân chủ, tôn trọng và khuyến khích sáng kiến. Trong bối cảnh chuyển đổi số và tự động hóa gia tăng, trách nhiệm xã hội còn thể hiện ở việc hỗ trợ người lao động thích ứng với thay đổi, tránh tình trạng bị bỏ lại phía sau. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là lợi ích của doanh nghiệp, mà còn góp phần nâng cao năng suất lao động quốc gia và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thứ năm, thúc đẩy liên kết và hợp tác giữa doanh nghiệp với Nhà nước, tổ chức xã hội và cộng đồng. Trách nhiệm xã hội cần được thực hiện trong một hệ sinh thái phát triển, nơi thực thể tham gia cùng chia sẻ trách nhiệm và lợi ích. Doanh nghiệp có thể tham gia chương trình phát triển hạ tầng, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường tại địa phương; đồng thời, phối hợp với tổ chức xã hội để triển khai dự án cộng đồng hiệu quả và bền vững. Mô hình hợp tác công - tư (PPP) nếu được vận hành minh bạch và hiệu quả sẽ tạo ra nguồn lực lớn cho phát triển, đồng thời củng cố niềm tin xã hội đối với khu vực doanh nghiệp.
Thứ sáu, xây dựng văn hóa doanh nghiệp dựa trên giá trị đạo đức, liêm chính và tinh thần phụng sự xã hội. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: “Phát triển văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa khởi nghiệp sáng tạo và đạo đức doanh nhân”(7). Văn hóa doanh nghiệp chính là “hệ miễn dịch” trước những biểu hiện lệch chuẩn trong kinh doanh. Khi chuẩn mực tốt đẹp trở thành thói quen hành xử, trách nhiệm xã hội sẽ không còn là yêu cầu bên ngoài, mà trở thành nhu cầu tự thân của tổ chức. Việc đề cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp phòng ngừa sai phạm, giảm thiểu xung đột lợi ích và bảo vệ uy tín thương hiệu. Trong dài hạn, uy tín và niềm tin xã hội chính là giá trị vô hình quý giá nhất của doanh nghiệp.
Thứ bảy, đẩy mạnh công tác truyền thông và giáo dục về trách nhiệm xã hội trong cộng đồng doanh nghiệp. Hiệp hội ngành nghề cần đóng vai trò cầu nối, chia sẻ kinh nghiệm, xây dựng bộ quy tắc ứng xử chung và tôn vinh mô hình tiêu biểu. Truyền thông cần phản ánh trung thực, khách quan cả điển hình tốt và trường hợp vi phạm, qua đó tạo áp lực xã hội tích cực đối với doanh nghiệp. Đồng thời, giáo dục về đạo đức kinh doanh và phát triển bền vững cần được tích hợp trong chương trình đào tạo quản trị và kinh tế, góp phần hình thành thế hệ doanh nhân mới có tầm nhìn dài hạn và trách nhiệm cộng đồng cao.
Thứ tám, bản thân mỗi doanh nghiệp phải chủ động tự đánh giá, kiểm toán và cải tiến liên tục việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Việc xây dựng báo cáo phát triển bền vững định kỳ, công bố minh bạch chỉ số về môi trường, xã hội, quản trị... không chỉ đáp ứng yêu cầu của đối tác và nhà đầu tư, mà còn tạo động lực nội bộ cho sự hoàn thiện. Cơ chế tự giám sát kết hợp với giám sát của cơ quan quản lý và cộng đồng sẽ bảo đảm trách nhiệm xã hội không dừng ở khẩu hiệu, mà được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể.
Phát triển nhanh và bền vững là mục tiêu xuyên suốt của đất nước trong giai đoạn mới. Để đạt được mục tiêu đó, khu vực doanh nghiệp phải trở thành lực lượng tiên phong không chỉ trong sáng tạo kinh tế, mà còn trong kiến tạo giá trị xã hội. Khi trách nhiệm xã hội được nâng lên tầm chiến lược và được thực thi bằng giải pháp đồng bộ, doanh nghiệp sẽ thực sự trở thành trụ cột của nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập hiệu quả, góp phần đưa đất nước vững bước, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc./.
---------------
(1) Ở nước ta, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng. Ngay từ Đại hội III năm 1960 và Đại hội IV năm 1976, Đảng ta đã đặt mục tiêu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000, nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường”. Đại hội VIII nêu bài học “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”. Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 thông qua tại Đại hội IX khẳng định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Đại hội X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững, trong đó ngoài các nội dung phát triển kinh tế, xã hội, môi trường còn bổ sung yêu cầu phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 là “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người”
Đến Đại hội XI, tư duy phát triển bền vững được nâng lên một tầm cao mới. Đảng nhấn mạnh yêu cầu kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây là bước chuyển rõ rệt từ tư duy phát triển đơn chiều sang tư duy phát triển đa chiều, coi bền vững là yêu cầu xuyên suốt của quá trình phát triển.
Đại hội XII và đặc biệt là Đại hội XIII tiếp tục hoàn thiện tư duy này trong bối cảnh mới, khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và đối mặt với những thách thức phát triển phức tạp hơn. Phát triển nhanh vẫn được xác định là yêu cầu khách quan để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, nhưng phát triển nhanh chỉ có ý nghĩa khi dựa trên nền tảng bền vững, bao gồm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
(2) Xem: Phạm Minh Tuấn: “Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 22-1-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1208602/dai-hoi-xiv--khoi-dau-ky-nguyen-phat-trien-moi-voi-mo-hinh-tang-truong-nhanh-va-ben-vung-dua-tren-khoa-hoc---cong-nghe%2C-doi-moi-sang-tao.aspx
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 81
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 50
(5), (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 99, 104
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 99
Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế số  (23/06/2026)
Sự phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới  (23/05/2025)
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- Xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại, tạo động lực tăng trưởng vùng trong bối cảnh mới
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống trong phát triển nhân cách quân nhân -
Kinh tế
Công nghiệp hóa bền vững để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam