Phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

TS KHÚC VĂN HƯỞNG
Trường Sĩ quan Chính trị
19:05, ngày 07-11-2023

TCCS - Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc, cho rằng chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được Đại hội XIII của Đảng thông qua là “duy tâm, siêu hình”, là “chủ quan, nóng vội, duy ý chí”, chỉ là “ảo vọng viển vông, hão huyền”... Trước tình hình đó, yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra hiện nay là cần nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, nhằm góp phần tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội về con đường, mục tiêu, động lực phát triển đất nước.

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được Đại hội XIII của Đảng đề ra thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta, với mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao(1). Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc, bóp méo, hòng phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta. Chúng rêu rao thiếu căn cứ rằng, đó là một “khẩu hiệu trống rỗng”, “nặng tính duy tâm, siêu hình”, rằng “khát vọng” là yếu tố tinh thần; do vậy, khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần đề cập và nhấn mạnh đến thành tố “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII (từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược) thì có nghĩa là đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nên đây là một quan điểm “duy tâm, siêu hình, đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử”. Chúng suy diễn rằng, chủ trương của Đảng ta là “phi thực tế, phản khoa học”; là biểu hiện “chủ quan, nóng vội, duy ý chí”; là “ảo vọng viển vông, hão huyền”, “không có tính khả thi”; rêu rao rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ “đánh trống bỏ dùi”, không có kế hoạch và biện pháp triển khai cụ thể, hữu hiệu....

Trong khi đó, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, tình hình thế giới biến động rất nhanh, phức tạp, khó đoán định. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; cuộc xung đột giữa Nga và U-crai-na tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; lạm phát thế giới tăng cao, xu hướng tăng lãi suất, thắt chặt chính sách tiền tệ, tài khóa và hậu quả của đại dịch COVID-19 dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu; rủi ro tài chính, tiền tệ, mất an ninh năng lượng, lương thực... đang hiện hữu. Ở trong nước, áp lực lạm phát tăng cao; nhiều vấn đề tồn đọng kéo dài cần được giải quyết; dịch bệnh, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị kích động tâm lý bi quan, mơ hồ, chán chường, giảm niềm tin, thiếu quyết tâm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân trong hiện thực hóa chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng. Chúng thường dùng thủ đoạn thông qua “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào dịp Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương, kỳ họp Quốc hội, phiên họp Chính phủ...,  nhằm thổi phồng những yếu kém về kinh tế - xã hội, hạ thấp thành quả công cuộc đổi mới, khoét sâu vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chúng triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, các báo, đài phản động nước ngoài, các hình thức truyền thông mới, nhằm tuyên truyền chống phá trong một “thế trận” có “kịch bản” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”; tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”; dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống một số báo, đài chính thống để đưa tin, giật tít, “câu view”, nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chúng sử dụng một số phát biểu hằn học, thiếu thiện chí của một số chính trị gia, học giả “diều hâu” phương Tây; những luận điệu sặc mùi phản động của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị và các nhân vật ở trong nước đã bị xử lý kỷ luật vì suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... để tuyên truyền chống phá, xuyên tạc chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Luận cứ phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trước các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác cao và nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ để khẳng định rằng, chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta là đúng đắn, khoa học trên cơ sở nhận thức biện chứng tầm quan trọng của khát vọng phát triển đất nước; đánh giá khách quan cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước. Chủ trương đó đã được thảo luận rộng rãi, với sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận của toàn dân; có tính khả thi cao với những mục tiêu, tầm nhìn, kế hoạch và biện pháp thực hiện cụ thể. Những kết quả đạt được qua hơn hai năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là minh chứng, hiện thực sống động, chứng minh chủ trương đó đang đi vào cuộc sống một cách vững chắc, đầy thuyết phục; cụ thể là:

Thứ nhất, khát vọng phát triển đất nước có vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt.

Thực tiễn lịch sử xã hội loài người chứng minh, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sinh tồn và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Trong lúc thuận lợi, đặc biệt là khi gặp khó khăn, thách thức thì sức mạnh của tinh thần, của ý chí giữ vai trò hết sức quan trọng. Khát vọng phát triển của một dân tộc là nguồn năng lượng nội sinh to lớn và sức mạnh vô địch; là một trong những động lực trọng tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai.

Đối với Việt Nam, khát vọng phát triển đất nước thật sự là sức mạnh nội sinh phi thường, cội nguồn tạo nên những kỳ tích trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Thời trung đại, Việt Nam đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc, giữ vững nền độc lập dân tộc, bắt nguồn từ khát vọng về độc lập, chủ quyền quốc gia. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đập tan ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến; đánh thắng các thế lực xâm lược hùng mạnh, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những chiến công oanh liệt đó khởi nguồn từ khát vọng mãnh liệt của dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do(2). Hiện nay, khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường là một động lực quan trọng thúc đẩy dân tộc ta vươn lên, quyết tâm khắc phục đói nghèo, lạc hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nguy cơ tụt hậu về kinh tế... để phát triển trong giai đoạn mới.

Công nhân vận hành dây chuyền sản xuất sợi bằng công nghệ hiện đại _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Rõ ràng, Đảng ta không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước, mà xác định đây là một trong những động lực cho tiến trình đổi mới, phát triển; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất, kỹ thuật.

Thứ hai, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trên cơ sở đánh giá đúng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước.

Khát vọng phát triển đất nước bắt nguồn từ niềm tin vững chắc vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước ta sau hơn 35 năm đổi mới. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”(3).

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đất nước tiếp tục phát triển nhanh và khá toàn diện. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 6%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD). Năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 - 2020(4). Lĩnh vực văn hóa, xã hội của đất nước đạt kết quả tích cực, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Đến năm 2020, Việt Nam đã đứng thứ 49 về phát triển bền vững trên thế giới trong khi thu nhập bình quân đầu người còn ở hạng ngoài 100(5).

Một trong những dấu ấn nổi bật nhất là việc Việt Nam thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép” trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát dữ dội (từ cuối năm 2019): Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam được truyền thông quốc tế ca ngợi là “mảnh đất tiềm năng” (theo Forbes), “bình minh đang lên” (theo báo Nga), “ngôi sao sáng” (theo Asia Times), “phép màu châu Á” (theo New York Times),... 

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng là một thành công nổi bật trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, hướng vào những khâu trọng yếu, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Công tác phòng, chống tham nhũng được tiến hành quyết liệt, đạt được những kết quả quan trọng. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, tuyệt đại đa số người dân được hỏi ý kiến (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng(6).

Thứ ba, chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng” với “lòng Dân”.

Trong quá trình chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII, các tiểu ban đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ở Trung ương và địa phương tổ chức gần 60 hội nghị, hội thảo, tọa đàm; thành lập 50 đoàn đi khảo sát thực tế; tổ chức tọa đàm với một số tổ chức quốc tế, 2 đoàn đi khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài. Các tiểu ban đã tiến hành 20 phiên họp để thảo luận, thông qua Đề cương và các dự thảo văn kiện. Bộ Chính trị đã họp nhiều lần để cho ý kiến hoàn thiện Đề cương và các dự thảo văn kiện trình xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương tại các Hội nghị Trung ương 10, 11, 14 và 15 khóa XII. Các dự thảo báo cáo đã được chỉnh lý, sửa chữa nhiều lần và gửi xin ý kiến rộng rãi của các đại biểu Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều tổ chức, cơ quan, đoàn thể... Bộ Chính trị đã quyết định công bố công khai toàn văn các dự thảo Báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng để lắng nghe ý kiến rộng rãi của nhân dân; đã có hàng triệu lượt ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện; các ý kiến đóng góp được tổng hợp trong tài liệu dài 1.410 trang.

Văn kiện được đánh giá là có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định  đổi mới, giữa kế thừa  phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”(7). Các ý kiến, đề xuất tâm huyết, trách nhiệm, kết tinh trí tuệ, ý chí và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện mong muốn đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh; nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc; dân tộc ta ngày càng cường thịnh, trường tồn. Tất cả điều đó chứng minh rõ tính khoa học, khách quan, dân chủ của các đánh giá, mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Thứ tư, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước được thể chế hóa thành mục tiêu, tầm nhìn và kế hoạch, chương trình cụ thể.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nói Đại hội XIII không phải chỉ cho đến năm 2026 (giai đoạn 2021 - 2026) mà phải có tầm nhìn chiến lược dài hơn, nhìn lại cả quá khứ và hướng tới tương lai”(8). Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã được Đảng, Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa thành mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, kế hoạch cụ thể, với lộ trình và bước đi phù hợp với điều kiện thực tế.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định “những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: - Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. - Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. - Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(9).

Giai đoạn hiện nay, Việt Nam xác định chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt khoảng 7.500 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,74; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35% - 40%(10)

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh các nhiệm vụ đột phá sau: 1- Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 2- Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; 3- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.

Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc là cả một quá trình cải biến toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; vì vậy, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp vĩ đại này, cần huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại bằng những kế hoạch, biện pháp cụ thể của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành trong từng giai đoạn.

Thứ năm, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước bước đầu được minh chứng với kết quả sinh động của đất nước từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay.

Hơn hai năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là phải chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu, hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện.

Việt Nam đã nỗ lực duy trì, phục hồi và thúc đẩy phát triển kinh tế với nhiều điểm sáng tích cực. Năm 2021, tăng trưởng kinh tế đạt 2,58%; thu ngân sách nhà nước tăng 16,4%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt mức kỷ lục 668,5 tỷ USD (đưa Việt Nam trở thành 1 trong 20 nước có nền kinh tế đứng đầu thế giới về thương mại). Nông nghiệp tiếp tục giữ được vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; xuất khẩu nông sản đạt 48,6 tỷ USD(11).

Năm 2022, tăng trưởng GDP đạt 8,02%, mức cao nhất trong hơn 10 năm qua; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Thu ngân sách nhà nước vượt 26,4% dự toán, tăng 13,8% so với năm 2021. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD. Khu vực nông nghiệp phát triển ổn định; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt kỷ lục trên 53,2 tỷ USD. Sản xuất công nghiệp tăng 7,69%. Khu vực dịch vụ phục hồi mạnh mẽ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 19,8%(12).

Báo cáo triển vọng kinh tế năm 2023 của Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra 2 kịch bản: Ở kịch bản 1, tăng trưởng kinh tế năm 2023 có thể đạt mức 6,47%; xuất khẩu tăng 7,21% và thặng dư thương mại đạt 5,64 tỷ USD; lạm phát sẽ ở mức 4,08%. Ở kịch bản 2, tăng trưởng kinh tế năm 2023 sẽ tích cực hơn, lên mức 6,83%; xuất khẩu tăng 8,43% và thặng dư thương mại đạt 8,15 tỷ USD; lạm phát sẽ được kiểm soát ở mức 3,69%.

Một tín hiệu lạc quan nữa là mặc dù phải đối diện với những khó khăn, thách thức, nhưng Đảng, Nhà nước vẫn tiếp tục quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Việt Nam đã ứng phó, kiềm chế, kiểm soát được dịch bệnh, từng bước chuyển sang trạng thái “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”. Cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh đã được triển khai đồng bộ, góp phần tích cực tiếp tục bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân trong “trạng thái bình thường mới”.

Quốc phòng - an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định tiếp tục được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực, hiệu quả, trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.

Diện mạo Thành phố Hồ Chí Minh sau gần 40 năm đổi mới _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Tiếp tục khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc - Một số giải pháp chủ yếu trong thời gian tới

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: “Luôn phải có các chính sách, biện pháp phù hợp để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(13). Do vậy, để khơi dậy được khát vọng phát triển đất nước của các tầng lớp nhân dân trong thời gian tới, cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tăng cường tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên, nhân dân nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đổi mới việc học tập lý luận chính trị, chú trọng giáo dục lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân trước các vấn đề chính trị thời sự của đất nước. Cần tăng cường tuyên truyền, giác ngộ, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước để lan tỏa sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, với sự sinh động, phong phú, thiết thực và hiệu quả bằng các hình thức, phương pháp khác nhau. “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc”(14). Trong đó, cần chú trọng “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội”(15).

Đặc biệt, dưới góc độ kinh tế, khát vọng phát triển đất nước được thể hiện chủ yếu ở tinh thần quyết tâm vươn lên, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, chậm phát triển. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước chính là khơi dậy ý thức lao động hăng say, sáng tạo, nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng, hợp pháp của mỗi người dân Việt Nam; nhất là sự cố gắng phấn đấu của thanh niên nước nhà trong học tập, lao động, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp.

Hai là, chú trọng xây dựng cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam.

Đảng, Nhà nước cần chủ động tạo lập các yếu tố, điều kiện và môi trường xã hội thuận lợi để khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường ở mỗi con người Việt Nam; phải tập trung “xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam(16).

Cần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi trọng “ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(17). Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia vào các công việc chung của đất nước. Thực hiện triệt để, thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo lập và phát huy sức mạnh đồng thuận của nhân dân ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài để tạo động lực và nguồn lực mạnh mẽ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện những cải cách có tính đột phá về thể chế, cơ chế, chính sách, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, minh bạch, gắn kết chặt chẽ với tầm nhìn chiến lược phát triển dài hạn. Bảo đảm kết hợp giữa quản lý, kiểm soát bằng các quyết định hành chính với quản trị hiện đại, phục vụ nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững; xây dựng, kiến tạo và thực thi hiệu quả cơ chế, chính sách chuyển đổi sang mô hình phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, nhằm thúc đẩy khởi nghiệp gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là hiệu quả sử dụng, quản lý đầu tư công.

Tập trung kiến tạo môi trường, thiết chế, chính sách thuận lợi, minh bạch, nhằm bảo đảm giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ổn định an ninh chính trị và bảo vệ Tổ quốc. Trọng tâm là rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách an sinh xã hội, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, hệ thống hỗ trợ tích cực, như chính sách việc làm, chính sách tiền lương và thu nhập, từng bước tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho các đối tượng và vùng đặc thù, nhất là chính sách xóa nghèo bền vững; giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường.

Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, trong thực hiện khát vọng, mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước nói riêng. Do vậy, phải chú trọng “xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(18); “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(19); phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong các phong trào hành động cách mạng, phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên làm giàu chính đáng. Đảng ta luôn nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát thực tiễn để hoạch định đường lối đúng đắn, phù hợp với thực tiễn. Theo đó, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng bảo đảm tính khoa học, thiết thực, kịp thời, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung, có khát vọng đổi mới và phát triển.

Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo đảm đồng bộ cả lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, sự gắn kết giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương; nêu cao sứ mệnh phục vụ nhân dân; làm rõ nội dung mối quan hệ giữa “Nhà nước, thị trường và xã hội” trong quá trình phát triển. Tăng cường kiểm soát quyền lực, thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Các cơ quan nhà nước cần ban hành hệ thống văn bản pháp luật, chính sách đồng bộ nhằm tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân, người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển chung của đất nước.

Tích cực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, thực chất, hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động nhân dân theo hướng thiết thực; hướng về cơ sở, chú ý những nhân tố mới, những cách làm sáng tạo. Nâng cao hiệu quả công tác tiếp xúc cử tri, giám sát, tiếp dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân. Đấu tranh với các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu đối với nhân dân, doanh nghiệp.

“Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” là chủ trương đúng đắn, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục, vững chắc, sinh động để phản bác các luận điệu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trong hành trình vĩ đại của dân tộc trên con đường tiến lên giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết, nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, đồng lòng, bền gan vững chí, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, tầm nhìn phát triển mà Đại hội XIII của Đảng đã hoạch định, như di nguyện của Bác Hồ và ước vọng của toàn dân tộc./.

---------------------------

(1) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 36
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 131
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 104
(4) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 60 - 61
(5) Hà Anh: “Tập trung cho hạ tầng, nhân lực và các yếu tố xã hội nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 21-1-2021, https://dangcongsan.vn/kinh-te/tap-trung-cho-ha-tang-nhan-luc-va-cac-yeu-to-xa-hoi-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-kinh-te-573300.html
(6) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 116
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 19
(8) “Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị Trung ương 10 khóa XII”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 16-5-2019, https://dangcongsan.vn/tieu-diem/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-nguyen-phu-trong-khai-mac-hoi-nghi-trung-uong-10-khoa-xii-522524.html
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 36
(10) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 218 – 220
(11) Xem: Tổng cục Thống kê: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2021, Hà Nội, 2021
(12) Xem: Tổng cục Thống kê: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2022, Hà Nội, 2022
(13) “Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Chính phủ với địa phương”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 28-12-2020, https://baochinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-nguyen-phu-trong-tai-hoi-nghi-chinh-phu-voi-dia-phuong-102285063.htm
(14), (15), (16), (17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 47, 168, 47, 173
(18) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 180
(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 612


Cán bộ, đảng viên thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

NGUYỄN NGỌC SƠN - NGUYỄN THỊ NGHĨA
Cục Chính trị Quân khu 9 - Học viện Chính trị khu vực IV
09:39, ngày 31-10-2023

TCCS - Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Để góp phần phản bác, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng là mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, đi đầu trong bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khoá XII, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Nghị quyết số 35-NQ/TW) đã xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Quan điểm trên khẳng định vai trò quan trọng của cán bộ, đảng viên trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”C. Mác, Ph. Ăng-ghen viết: “… về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”(1). Các ông cũng chỉ rõ: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”(2). Kế thừa, phát triển tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen,  khi bàn về vai trò của Đảng, của đội ngũ đảng viên, V.I. Lê-nin đã khẳng định: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên!”(3). Tổ chức những người cách mạng, theo quan điểm của V.I. Lê-nin, là những người ưu tú nhất của giai cấp, được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ, luôn đặt lợi ích của giai cấp và quần chúng lên trên hết, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích cao cả ấy.

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc đánh giá đúng vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(4). Chính vì vậy, Người đặt lên hàng đầu công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, trước hết là về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trong đó có vai trò nêu gương. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(5). Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đề cập về vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta”(6). Để được nhân dân tin yêu, quý trọng và xứng đáng là người lãnh đạo của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thực sự tiên phong, gương mẫu cả về phẩm chất, nhân cách, đạo đức, tri thức…, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết, thực sự là người đầy tớ trung thành của nhân dân, làm tròn bổn phận mà Đảng và nhân dân giao phó.

Cán bộ, chiến sĩ quân đội giúp nhân dân cứu lúa ở đồng bằng sông Cửu Long _Nguồn: tienphong.vn

Nghị quyết số 35-NQ/TW xác định, một trong những mục tiêu chủ yếu, căn cốt của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, tích cực tham gia xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm cho Đảng ta thực sự là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng không chỉ là nhân tố tạo ra nguồn lực, động lực của cách mạng, sức mạnh nội sinh to lớn của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn quyết định đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Niềm tin đó không chỉ xuất phát từ sự đúng đắn của đường lối, chủ trương, quyết sách của Đảng trên các lĩnh vực; từ bản lĩnh, trách nhiệm của Đảng trong nhận thức và sự nghiêm túc sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, mà còn xuất phát từ tư cách đạo đức, tính tiền phong, gương mẫu của hàng triệu cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cách mạng nước ta qua các thời kỳ đã chứng minh, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù ở vào tình thế khó khăn, hiểm nguy nhất, nhưng nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu, không quản ngại gian khổ, hy sinh, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thì sức mạnh lãnh đạo của Đảng được bảo đảm, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được nâng lên, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tuy nhiên, bên cạnh những đảng viên mẫu mực, cán bộ kiên trung đã góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang của Đảng, làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ ra hiện nay vẫn còn “một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá””(7). Thực trạng đó không chỉ gây bức xúc trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, mà còn làm suy yếu năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta, nếu không được ngăn chặn, khắc phục. Những năm qua, từ khi Đảng ta đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhiều vụ “đại án” đã được đưa ra xét xử. Trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, có hơn 1.000 tổ chức đảng và gần 52 nghìn đảng viên bị thi hành kỷ luật (tăng gấp 2 lần về số tổ chức đảng và hơn 1,5 lần về số đảng viên so với cùng kỳ của nhiệm kỳ trước)(8); 23 vụ án trọng điểm đã được đưa ra xét xử với 31 cán bộ Trung ương quản lý bị xử lý hình sự (9)… Thực trạng đó cho thấy sự suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người giữ cương vị cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước đã làm tổn hại đến danh dự và uy tín của Đảng, tạo ra những “mảnh đất” cho các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự suy thoái dẫn đến “nhúng chàm” và vướng vào lao lý của không ít cán bộ, đảng viên thời gian qua chính là do không thường xuyên nêu gương, rèn luyện đạo đức cách mạng, tu dưỡng theo những chuẩn mực của người cán bộ, đảng viên và “do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa”(10).

Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đang đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, “nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(11). Để hiện thực hóa mục tiêu ấy, đòi hỏi phải nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hoá, con người Việt Nam. Một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm cho các nhiệm vụ, giải pháp trên đạt hiệu quả là phải phát huy tốt vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trên tất cả các lĩnh vực, trong đó, “bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; … là công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp của từng địa phương, cơ quan, đơn vị của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu”(12). Bởi, trong nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhân dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của sự bảo vệ, là lực lượng to lớn, có vai trò quan trọng hàng đầu quyết định hiệu quả của nhiệm vụ này. Để dân hiểu, dân tin, dân theo; để nền tảng tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội thì điều có ý nghĩa quan trọng không chỉ là làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, mà còn phải thông qua những “tấm gương sáng”, sự nêu gương một cách tự giác, thường xuyên của cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt, học tập, công tác. “Cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương phải nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu thực hiện Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư "Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị "Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương". Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương”(13).

Theo đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ, đảng viên trong trách nhiệm nêu gương để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chất lượng, hiệu quả, mức độ chuyển biến trong việc nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phụ thuộc trước hết vào nhận thức, trách nhiệm chính trị của từng cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cho thấy, nơi nào mà cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn vị trí, tầm quan trọng của việc nêu gương thì vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên sẽ được phát huy tốt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu trong tuyên truyền, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành và thực hiện nghiêm túc Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước. Để tạo chuyển biến về trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc nêu gương, cần quan tâm công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị về ý nghĩa, mối quan hệ của việc nêu gương của cán bộ, đảng viên với công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần những quan điểm, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về nêu gương để trên cơ sở đó thực hành đạt hiệu quả. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết phải từ nội bộ Đảng, thông qua những tấm gương sáng, người thật, việc thật trong hàng ngũ của Đảng để tạo sức thuyết phục và lan tỏa mạnh mẽ đến nhân dân.

Cán bộ Đồn Biên phòng Xuân Trường, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng luôn gần gũi, gắn bó với đồng bào _Nguồn: bienphong.com.vn

Thứ hai, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp đối với việc nêu gương của cán bộ, đảng viên để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là ở cơ sở, phải nắm vững quan điểm, nguyên tắc, nội dung, giải pháp được nêu trong Nghị quyết số 35-NQ/TW; các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên đã được xác định trong các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng(14). Trên cơ sở đó, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ vào tình hình, đặc điểm và thực trạng đội ngũ cán bộ, đảng viên của cơ quan, đơn vị mình để xác định phương hướng, mục tiêu, nội dung, biện pháp thực hiện cho phù hợp và triển khai thực hiện sâu rộng đến các tổ chức, các lực lượng. Chủ động, sáng tạo xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện theo từng nhóm đối tượng cụ thể. Kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hiện các quy định về nêu gương với thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Trong quá trình thực hiện, cấp ủy các cấp phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, chủ động nghiên cứu, nắm bắt, đánh giá đầy đủ thuận lợi, khó khăn và kết quả đạt được, linh hoạt chỉ đạo, đề xuất những nội dung, biện pháp mới theo sự phát triển của tình hình. Trong từng giai đoạn, cần lãnh đạo, chỉ đạo sơ, tổng kết rút kinh nghiệm nghiêm túc, kịp thời nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu.

Thứ ba, nêu cao vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những hành động thiết thực, việc làm cụ thể.

Người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị là người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện thắng lợi các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Người đứng đầu phát huy tốt vai trò, trách nhiệm nêu gương sẽ tạo ra hiệu ứng to lớn trong việc tuyên truyền, động viên cán bộ, đảng viên, cấp dưới noi theo. Sự nêu gương của người đứng đầu chính là nhân tố bảo đảm cho “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Người đứng đầu phải thực sự là tấm gương về phẩm chất đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tụy trong công việc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sắc bén, có uy tín chuyên môn, luôn thực hành dân chủ, sâu sát cơ sở, nói đi đôi với làm, quan tâm, chăm lo đến những lợi ích chính đáng của nhân dân, của cấp dưới,... từ đó truyền cảm hứng và lôi cuốn, thúc đẩy cán bộ, đảng viên noi theo. 

Thứ tư, phát huy tốt vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát việc nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Để nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đạt hiệu quả cao, phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; đồng thời, kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Trong công tác này, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân có vai trò rất quan trọng, vì “Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay. Phải làm tốt công tác báo công, bình công ngoài nhân dân”(15). Mọi ưu điểm, hạn chế của cán bộ, đảng viên, nhất là về đạo đức, lối sống, đều được bộc lộ thông qua công tác, sinh hoạt và giao tiếp với nhân dân. Qua đó, nhân dân sẽ phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp về những ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, giúp cho tổ chức đảng, cơ quan chức năng nhận xét, đánh giá và có biện pháp giáo dục, uốn nắn, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Để phát huy tốt vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện tốt những quy định của Trung ương về dân chủ cơ sở; giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền…(16), với những hình thức và cách làm cụ thể, sáng tạo, nhằm phát huy đầy đủ vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên, tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

--------------------------------

(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t.4, tr. 614 - 615
(2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.181
(3) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, t.6, tr.162
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.313, 309
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 284
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr. 546
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr. 92
(8) Ban Thời sự: “Nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII: Hơn 1.000 tổ chức đảng, gần 52.000 đảng viên bị kỷ luật”, Báo điện tử Đài Truyền hình Việt Nam, ngày 27-9-2023, https://vtv.vn/chinh-tri/nua-dau-nhiem-ky-dai-hoi-xiii-hon-1000-to-chuc-dang-gan-52000-dang-vien-bi-ky-luat-20230927115008758.htm
(9) Thu Hà: “Án tham nhũng tăng hơn 2 lần, 31 cán bộ Trung ương quản lý bị xử lý hình sự”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 16-8-2023, https://dangcongsan.vn/thoi-su/an-tham-nhung-tang-hon-2-lan-31-can-bo-trung-uong-quan-ly-bi-xu-ly-hinh-su-644341.html
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 36
(12) Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đáu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”
(13) Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”
(14) Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, "Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t.15, tr. 526
(16) Như: Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; Quyết định 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, “Về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú”; “Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở”


Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tố cáo sai sự thật của một số cán bộ, đảng viên hiện nay

PGS, TS ĐINH NGỌC GIANG
Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
14:08, ngày 18-10-2023

TCCS - Tố cáo sai sự thật gây ra những hậu quả khôn lường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của cá nhân, tổ chức bị tố cáo, gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự và gây ra nhiều hệ lụy đối với xã hội. Bởi vậy, việc đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên cần được nhận diện, nghiên cứu một cách cẩn trọng, thấu đáo, để tìm ra giải pháp xử lý thực sự hiệu quả, đồng bộ và khả thi.

Một số vấn đề chủ yếu về tố cáo sai sự thật

Luật Tố cáo năm 2018 giải thích: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”(1).

Hiến pháp năm 2013, quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”(2).

Như vậy, tố cáo là quyền của công dân do Hiến pháp, pháp luật quy định. Cán bộ, đảng viên cũng là công dân và họ cũng có quyền tố cáo theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Từ những điều nêu trên, có thể hiểu: Tố cáo là quyền của công dân Việt Nam do Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định; đó là việc người dân theo quy định của Luật Tố cáo báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiến hành giải quyết, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 

Nội dung tố cáo: Một là, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; hoặc của người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ; người không còn là cán bộ, công chức, viên chức, nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ, nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Hai là, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào về việc chấp hành quy định của pháp luật, trừ hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Hình thức tố cáo: Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Luật Tố cáo giải thích: Giải quyết tố cáo là việc thụ lý, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo. Do vậy, có thể hiểu: Giải quyết tố cáo là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền làm cho các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị ngăn chặn, loại trừ, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 

Luật Tố cáo cũng quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo, bao gồm cố ý tố cáo sai sự thật; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo; lợi dụng quyền tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; gây rối an ninh, trật tự công cộng; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

Cùng với quyền tố cáo theo quy định của pháp luật, người cán bộ còn phải chấp hành nghiêm quy định về tố cáo trong Luật Cán bộ, công chức. Luật này quy định cán bộ không được làm những việc khác với quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, cán bộ phải gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh những điều nghiêm cấm về tố cáo, theo Luật Tố cáo và Luật Cán bộ, công chức,

Đảng viên có quyền tố cáo theo quy định của pháp luật, gương mẫu chấp hành những điều nghiêm cấm trong tố cáo theo Luật Tố cáo nêu trên; đồng thời, còn phải chấp hành những quy định của Đảng về tố cáo. Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng” chỉ rõ: “Những người lợi dụng việc tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu khống, tố cáo bịa đặt, đả kích, chia rẽ bè phái, gây rối nội bộ, tố cáo nhiều lần có dụng ý xấu phải được xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”(3); “Không giải quyết đơn tố cáo nặc danh, giấu tên,... đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên”(4); “Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị xử lý nghiêm những trường hợp... lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu khống, tố cáo mang tính bịa đặt, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác”(5).

Điều 6, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Quy định về những điều đảng viên không được làm”, chỉ rõ những hành vi cụ thể, không được làm là: “Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Gửi hoặc phát tán đơn khiếu nại, tố cáo dưới mọi hình thức đến nơi không có thẩm quyền giải quyết...; kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo”(6).

Tố cáo đúng đắn, nghiêm túc và việc giải quyết tố cáo đúng đắn, kịp thời, hiệu quả sẽ có tác dụng to lớn về nhiều mặt: Góp phần thực hiện nghiêm pháp luật, trước hết là Luật Tố cáo, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xử lý kịp thời cá nhân, tập thể sai phạm, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, góp phần giữ nghiêm kỷ luật đảng, kỷ cương phép nước; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; bảo đảm an ninh, trật tự ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của địa phương và đất nước; thông qua giải quyết tố cáo, Đảng và Nhà nước tiến hành xem xét lại tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật với thực tiễn, để chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện hơn và ban hành những văn bản mới để ngăn chặn, hạn chế việc tố cáo sai sự thật, giải quyết kịp thời, hiệu quả tố cáo.

Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Sự thật là cái có thật, có xảy ra”(7), “Sai sự thật” được hiểu là cái không có thật, không xảy ra. Như vậy, có thể hiểu: Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên được hiểu là việc cán bộ, đảng viên bịa ra sự việc, hành vi không có thật, không xảy ra của cá nhân, tổ chức và báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về sự việc, hành vi đó nhằm mục đích đả kích, chia rẽ, bè phái, gây dư luận xấu, gây rối nội bộ.

Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên - những dấu hiệu chính và hậu quả

Một số dấu hiệu về tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên

Một là, tố cáo sai sự thật thường xuất hiện cùng với sự xuất hiện của những tố cáo của công dân và tập trung nhiều hơn vào thời điểm chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; đại hội đảng bộ các cấp, bầu cấp ủy khóa mới; quy hoạch, luân chuyển cán bộ; bổ nhiệm cán bộ; cử cán bộ đi học...

Số lượng tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên gia tăng, nhiều khi tăng nhanh trong những thời điểm diễn ra những hoạt động nêu trên, nhất là khi thực hiện quy trình nhân sự lãnh đạo, quản lý. Ở một số nơi, khi cấp ủy có thẩm quyền cử cán bộ đi học, nhất là học chương trình cao cấp lý luận chính trị ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thì tố cáo sai sự thật cũng xuất hiện. Điều này đồng nghĩa với việc làm cho cán bộ bị tố cáo đó sẽ không được đưa vào quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và quy hoạch cấp ủy cho các nhiệm kỳ tiếp theo.

Tố cáo sai sự thật thường xuất hiện vào thời điểm chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, bầu cấp ủy khóa mới (Trong ảnh: Các đại biểu biểu quyết thông qua nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ cấp huyện nhiệm kỳ 2020 - 2025)_Ảnh: TTXVN _Ảnh: TTXVN

Hai là, đối tượng của tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên chủ yếu là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Thực tế cho thấy, tố cáo sai sự thật thường tập trung vào những cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị; có ít và rất ít tố cáo sai sự thật đối với cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị. Điều này có thể xuất phát từ nguyên nhân là do việc tố cáo sai sự thật đối với cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị thường không dễ được nhiều người, nhất là cán bộ, đảng viên chấp nhận và tin theo; đồng thời, việc xử lý khi có thông tin tố cáo (dù sau này được xác định là bịa đặt) với cá nhân sẽ đem lại kết quả nhanh chóng và trực tiếp hơn (dừng quy hoạch, bổ nhiệm...), đúng với ý đồ, “mục tiêu” của những đơn, thư loại này.

Ba là, những tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên thường chỉ do một cán bộ (cán bộ này là đảng viên), đảng viên ký tên vào đơn thư tố cáo.

Việc này chủ yếu để đối phó với quy định của Đảng là cấm từ hai đảng viên trở lên cùng ký tên vào đơn tố cáo, và không giải quyết đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên vào đơn tố cáo. Song, trên thực tế, vẫn có một số đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên vào đơn (những người này không là đảng viên); họ tố cáo do bị kích động, xúi giục, mua chuộc, thậm chí bị cưỡng ép từ phía cán bộ, đảng viên. Về thực chất, đây cũng có thể coi là tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên.

Bốn là, tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên thường do một số cán bộ đã được miễn nhiệm chức vụ, hoặc do cán bộ, đảng viên nghỉ hưu tiến hành.

Thực tế cho thấy, cán bộ, đảng viên đương chức hầu như không tố cáo sai sự thật đối với cán bộ, tổ chức đang thực hiện nhiệm vụ được giao. Bởi vì, họ nhận thức rõ rằng, khi còn đang làm việc trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, nếu tiến hành tố cáo sai sự thật, qua kết quả xác minh, giải quyết tố cáo, chắc chắn họ sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo kỷ luật đảng và pháp luật. Khi nghỉ hưu, một số người mới tiến hành tố cáo sai sự thật đối với cán bộ, cấp ủy, tổ chức đảng đang thực hiện nhiệm vụ được giao; một số tố cáo loại này, đối với cán bộ nghỉ hưu, là về sự việc diễn ra trong thời gian họ còn đương chức. Song, họ thường dùng chiêu bài là tiến hành tố cáo để “góp phần chống tiêu cực, suy thoái”; đến khi kết quả giải quyết tố cáo kết luận đó là tố cáo sai sự thật, họ mới nhận sai phạm và phải chịu kỷ luật đảng, xử lý theo quy định của pháp luật.       

Hậu quả của việc cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật

Thứ nhất, gây phức tạp, rối ren, thậm chí mất đoàn kết trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị.

Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên ở những mức độ khác nhau đều gây nên những phức tạp, sự rối ren trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Nguy hại hơn, nếu cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, người đứng đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị thì sẽ gây mất đoàn kết nội bộ nặng nề, gây hậu quả lớn đến mọi hoạt động, nhất là việc thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức này, ảnh hưởng đến việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên. Nếu tố cáo đó không được giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm minh, cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị đó kém vững vàng, không kiên quyết, hạn chế về năng lực trong giải quyết và xử lý, thì tình trạng rối ren, mất đoàn kết sẽ ngày càng nghiêm trọng, kéo dài, gây nên những hậu quả khó lường.

Thứ hai, gây ra sự lãng phí thời gian, công sức, tài sản của cá nhân, cơ quan liên quan.

Ở các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật, cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị thường phải dành thời gian chuẩn bị thông tin cần thiết để cung cấp cho cán bộ, tổ giải quyết tố cáo và phải họp nhiều lần, kể cả họp bất thường, gây lãng phí lớn về thời gian, công sức. Trong khá nhiều trường hợp, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cũng phải họp nhiều lần và không khí khá căng thẳng, làm lãng phí thời gian, gây nên những phức tạp trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Tình trạng này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tập trung lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý trong thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; tác động tiêu cực đến hoạt động thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, khiến kết quả thực hiện nhiệm vụ không cao.

Cán bộ, tổ giải quyết tố cáo phải tiến hành những công việc cần thiết để giải quyết việc tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên; thậm chí, có những tố cáo phức tạp, kéo dài, cán bộ, tổ giải quyết tố cáo phải thực hiện nhiều công việc và tiến hành nhiều lần để giải quyết dứt điểm. Điều này gây lãng phí lớn về thời gian, công sức, trí tuệ của cán bộ giải quyết tố cáo, ảnh hưởng không nhỏ đến công việc và tiến độ của việc giải quyết các tố cáo đúng đắn khác.

Thứ ba, gây hậu quả cho người, cơ quan, tổ chức bị tố cáo và công tác tổ chức, cán bộ của cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị bị cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật là đối tượng phải gánh chịu nhiều hậu quả, thậm chí là rất nghiêm trọng. Họ phải chuẩn bị những nội dung cần thiết để giải trình và trực tiếp giải trình với cán bộ, tổ giải quyết tố cáo, gây lãng phí thời gian, công sức, ảnh hưởng đến chất lượng việc lãnh đạo, điều hành, tổ chức mọi hoạt động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Nguy hiểm hơn là, những tố cáo đó nhằm mục đích vu khống, hạ bệ, làm mất uy tín của cán bộ và khi lan truyền trong xã hội, mặc dù đã được cơ quan chức năng xác minh, kết luận là không đúng, nhưng nó cũng làm cho người bị tố cáo phải chịu sức ép rất lớn về tâm lý trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, kể cả trong quan hệ gia đình, đồng chí, bạn bè.

Người bị tố cáo sai sự thật chịu thiệt thòi lớn trong công tác cán bộ, nhất là khi quy hoạch, luân chuyển cán bộ, bổ nhiệm cán bộ, giới thiệu bầu cử vào cấp ủy trong các đại hội tổ chức đảng nhiệm kỳ tiếp theo. Bởi vì, về nguyên tắc, những người đang có đơn tố cáo sẽ bị tạm dừng việc đề bạt, bổ nhiệm vào chức vụ đã định; không được giới thiệu bầu vào cấp ủy trong đại hội tổ chức đảng nhiệm kỳ tiếp theo. Đặc biệt, tố cáo sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng đối với uy tín, danh dự của cá nhân, tập thể khi các thông tin bịa đặt, sai sự thật được phát tán trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội.

Thứ tư, gây phức tạp trong xã hội và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự.

Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng ở địa phương đều gây phức tạp trong xã hội, bất ổn về an ninh, trật tự, kìm hãm sự phát triển mọi mặt của địa phương, cơ quan, đơn vị. Mức độ nghiêm trọng và phức tạp trong xã hội và với an ninh, trật tự sẽ lớn hơn, khi tố cáo sai sự thật nhằm vào cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị ở các cấp.

Vì vậy, có thể khẳng định, tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên là hành vi gây rối, nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước, chế độ và cần được kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh, thỏa đáng.

Nguyên nhân của tình trạng tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên và giải pháp chủ yếu để ngăn chặn, đẩy lùi

Mặc dù Đảng, Nhà nước đã có khá nhiều chủ trương, quyết định, quy định nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, từng bước hạn chế, loại trừ tình trạng tố cáo sai sự thật của người dân và của cán bộ, đảng viên; đồng thời, đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt và xử lý nghiêm minh những người tố cáo sai sự thật, nhất là cán bộ, đảng viên; song, tình trạng này vẫn tồn tại ở nhiều nơi; vẫn còn trên 50% tố cáo loại này. Đơn cử, qua kết quả thực hiện chỉ thị, quy định của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong năm 2022 của tỉnh Nghệ An, cho thấy tố cáo sai chiếm tỷ lệ 59,2%(8), trong đó có một số tố cáo của cán bộ, đảng viên. Ở khá nhiều nơi, tình trạng này đang có xu hướng gia tăng.

Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên thường do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, một bộ phận cán bộ, đảng viên nhận thức chưa sâu sắc, đầy đủ về vai trò, tác dụng của việc tố cáo, nhất là tố cáo trong Đảng; về những điều nghiêm cấm trong Luật Tố cáo và những quy định của Đảng về những vấn đề, hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến việc tố cáo.

Thứ hai, bản lĩnh chính trị của một số cán bộ, đảng viên không vững vàng, còn nhẹ dạ, cả tin vào những lời bịa đặt của một số người khác, trong đó có một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất chưa bị phát hiện và xử lý; do đó, đã tiến hành tố cáo không đúng sự thật đối với cán bộ, đảng viên, cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị.

Thứ ba, một số cán bộ, đảng viên có mục đích, động cơ không trong sáng, không muốn người khác hơn mình, kèn cựa địa vị, tranh giành quyền lực... nên đã trực tiếp hoặc xúi giục, dụ dỗ, thậm chí khống chế người khác tiến hành tố cáo sai sự thật.

Thứ tư, trình độ, năng lực, kinh nghiệm giải quyết tố cáo và nhận diện tố cáo sai sự thật của nhiều cơ quan, cán bộ có thẩm quyền giải quyết tố cáo của công dân và giải quyết tố cáo trong Đảng còn hạn chế; có lúc, có nơi chưa thật sự coi trọng thỏa đáng việc xử lý người, cán bộ, đảng viên có hành vi tố cáo sai sự thật; chưa xử lý nghiêm, kịp thời theo kỷ luật đảng và pháp luật nên chưa đủ sức răn đe.

Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên, cần tập trung thực hiện những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức đầy đủ, sâu sắc cho cán bộ, đảng viên với những quy định về tố cáo trong Đảng, nhất là Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”; Luật Tố cáo, Luật Cán bộ, công chức; góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, và từ đó, nêu cao tinh thần gương mẫu trong thực hiện các quy định này.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện các văn bản của Nhà nước về tố cáo và các quy định của Đảng về tố cáo, giải quyết tố cáo trong Đảng.

Cần quan tâm hơn đến việc cụ thể hóa, hướng dẫn thực hiện những nội dung về tố cáo, giải quyết tố cáo trong các văn bản nêu trên, nhất là những điều nghiêm cấm khi tiến hành tố cáo; bổ sung quy định về xử lý hành vi tố cáo sai sự thật, đặc biệt là của cán bộ, đảng viên.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để hạn chế và đẩy lùi tình trạng cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật.

Cấp ủy các cấp tăng cường lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy trực thuộc, ủy ban kiểm tra cùng cấp và cấp dưới về tố cáo, giải quyết tố cáo; đồng thời, chú trọng việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cấp ủy về tố cáo, giải quyết tố cáo. Ủy ban kiểm tra các cấp coi trọng và tăng cường công tác kiểm tra về tố cáo và giải quyết tố cáo của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và việc tố cáo của đảng viên. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm những quy định về tố cáo, nhất là vi phạm những điều nghiêm cấm về tố cáo; tăng cường giám sát về vấn đề này để phòng ngừa, ngăn chặn việc tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên ngay từ khi mới manh nha; qua đó, thiết thực góp phần hạn chế, loại trừ tố cáo loại này.

Bốn là, nâng cao chất lượng các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo của Nhà nước và của Đảng; nâng cao trình độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ các cơ quan này, có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Nâng cao chất lượng các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo của Nhà nước và của Đảng theo các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; coi trọng xác định đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc và chọn, bố trí đúng người đứng đầu. Đồng thời, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của các cơ quan này, đáp ứng tốt yêu cầu giải quyết đúng đắn, nghiêm minh, hiệu quả, kịp thời đơn tố cáo, nhất là tố cáo của cán bộ, đảng viên; kết luận chính xác, kịp thời tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên; xử lý theo thẩm quyền và đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm minh, thỏa đáng theo pháp luật và kỷ luật đảng. Coi trọng bồi dưỡng cập nhật kiến thức, nâng cao năng lực, kỹ năng và kinh nghiệm nhận diện, phát hiện những tố cáo của cán bộ, đảng viên có khả năng là tố cáo sai sự thật; giải quyết kịp thời, hiệu quả, chính xác các tố cáo, nhất là tố cáo của cán bộ, đảng viên.

Năm là, cấp ủy tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên, chú trọng việc quản lý của chi ủy, chi bộ; phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong tham gia ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên.

Chi ủy, chi bộ cần xác định rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện nhiệm vụ quản lý đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ cấp trên, về thực hiện Điều lệ Đảng, những quy định của Đảng, Nhà nước về tố cáo; chủ động phát hiện sớm và ngăn chặn từ xa đảng viên có ý định tố cáo sai sự thật.  

Cấp ủy các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi và hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân nắm rõ những vấn đề chủ yếu về tố cáo, về giải quyết tố cáo trong Đảng; về giám sát hoạt động tố cáo của cán bộ, đảng viên, phát hiện và báo cáo cấp ủy về những đảng viên có khả năng tiến hành tố cáo sai sự thật để có giải pháp ngăn chặn kịp thời, hiệu quả; coi trọng việc thực hiện chủ trương, quy định của Đảng về giám sát, phản biện xã hội(9)./.

---------------------------

(1) Luật Tố cáo (Luật số: 25/2018/QH14), Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-quy-pham-phap-luat/luat-to-cao-so-252018qh14-ngay-1262018-hieu-luc-thi-hanh-tu-ngay-01012019-4475
(2) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. 19
(3), (4), (5) Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 214 - 215, 215, 216
(6) Quy định về những điều đảng viên không được làm, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 7 - 8
(7), Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1999, tr. 1.472
(8) Xem: Cao Nguyên Hùng: “Nghệ An: Kết quả thực hiện chỉ thị, quy định của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong năm 2022”, Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Nghệ An, ngày 15-3-2023, https://nghean.dcs.vn/vi-vn/tin/nghe-an--ket-qua-thuc-hien-chi-thi--quy-dinh-cua-dang-doi-voi-cong-tac-tiep-cong-dan-va-giai-quyet-khieu-nai--to-cao-cua-cong-dan-trong-nam-2022/405132-738680-883829
(9) Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, “Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, “Ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”; Quy định số 124-QĐ/TW, ngày 2-2-2018, của Ban Bí thư, “Về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ, chủ chốt và cán bộ, đảng viên”; Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, “Về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú”...


Nắm vững cơ sở lịch sử và pháp lý, kiên quyết bảo vệ tính chính danh của Đảng

TS TRẦN VĂN RẠNG
Thượng tá, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
18:36, ngày 01-10-2023

TCCS - Sự lãnh đạo và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam phản ánh ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân Việt Nam. Thực hiện quyền lãnh đạo đối với Nhà nước, xã hội; gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân là mệnh lệnh của lịch sử, là phẩm chất, văn hóa của Đảng; đồng thời, cũng là trách nhiệm của Đảng. Dù các thế lực phản động, thù địch có cố tình xuyên tạc ra sao thì các nội dung trên là sự thực không thể phủ nhận.

Dân tộc Việt Nam chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng - một sự thật lịch sử không thể phủ nhận

Để giải phóng mình khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, tại sao dân tộc Việt Nam không chọn một tổ chức chính trị nào khác, mà chọn Đảng Cộng sản Việt Nam? Phải chăng đó chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận người yêu nước Việt Nam như điều mà các thế lực thù địch vẫn đang xuyên tạc?! Những người hiểu biết cơ sở lịch sử và pháp lý sẽ đáp trả rằng: Không! Dứt khoát không phải như vậy. Sự lựa chọn đó là của dân tộc Việt Nam, một sự lựa chọn tất yếu khách quan mang tính quy luật lịch sử.

Sự thực là, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã xuất hiện những ngọn cờ cứu nước, cứu dân, những đảng phái khác nhau, song những ngọn cờ ấy, những đảng phái ấy không đủ sức đảm đương sứ mệnh giải phóng dân tộc.

Tháng 9-1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Sau khi hoàn thành giai đoạn vũ trang xâm lược, chúng đặt nền cai trị hà khắc ở Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa... Từ một nước phong kiến độc lập, có chủ quyền, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nước Việt Nam mất độc lập, nhân dân Việt Nam trở thành nô lệ.

Vì lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, một bộ phận phong kiến Việt Nam đã đứng lên giương cao ngọn cờ chống thực dân Pháp, ròng rã gần 40 năm (1858 - 1896), vẫn không chống được chủ nghĩa thực dân - một kẻ thù mới của dân tộc, có trình độ phát triển về phương thức sản xuất hơn hẳn. Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, tiếp đến là Phan Đình Phùng lãnh đạo, kéo dài đến cuối thế kỷ XIX thì lụi tắt. Đầu năm 1896, những tiếng súng cuối cùng của phong trào Cần Vương chấm dứt, cũng là tín hiệu kết thúc sứ mệnh lịch sử của giai cấp phong kiến Việt Nam trong thời đại mới.

Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX diễn ra sôi nổi, song có hạn chế lớn trong xác định mục tiêu, kẻ thù và phương thức đấu tranh. Tiêu biểu như: Phan Bội Châu xác định chống đế quốc nhằm giành độc lập và thiết lập nền quân chủ lập hiến ở Việt Nam (dựa vào Nhật để chống Pháp, dẫn đến không thành công); Phan Châu Trinh tập trung chống phong kiến (dựa vào Pháp để đánh đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại, coi đó như là điều kiện tiên quyết để giành độc lập, cũng đi đến thất bại)...

Trong công cuộc giải phóng dân tộc, những thập niên đầu thế kỷ XX,  đã có nhiều đảng phái đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội từng nỗ lực trên vũ đài chính trị, như Nghĩa hưng (1907); Lập hiến (1923); Việt Nam nghĩa đoàn; Đảng Thanh niên; Đảng An Nam độc lập (1927), Việt Nam Quốc dân Đảng (1927)...; kể cả một số đảng của những kẻ tay sai cho đế quốc, như Đại Việt quốc gia xã hội Đảng, Đại Việt quốc dân Đảng trong những năm 40 của thế kỷ trước; hay các đảng phản động, như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)... cũng cố thực hiện mưu đồ chính trị. Thế nhưng, sự thực là, các đảng phái đó không được dân tộc Việt Nam lựa chọn giữ quyền lãnh đạo.

Tiếp tục truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp đã diễn ra quyết liệt, liên tục, trên các vùng lãnh thổ Việt Nam, hướng tới mục tiêu đánh đổ chế độ thuộc địa, giành độc lập dân tộc. Tuy nhiên, các phong trào cứu nước lần lượt thất bại. Thực tế thất bại của các phong trào đó cho thấy sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra. Cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ đứng trước sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối, thiếu lý luận cách mạng tiên tiến dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Lịch sử đặt cho dân tộc Việt Nam một câu hỏi mang tầm thời đại: Giải phóng dân tộc bằng con đường nào mới giành thắng lợi? Lực lượng nào đủ khả năng hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện đường lối cứu nước, cứu dân? Câu hỏi đó vẫn chưa có lời giải trong suốt mấy thập niên đấu tranh. Đây chính là nhu cầu lịch sử và tất yếu phải có sự ra đời của lực lượng tiên phong.

Sự thực là, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lời giải đúng cho công cuộc giải phóng dân tộc - bước ngoặt vĩ đại, chính thức chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Trước yêu cầu lịch sử, với hành trang là chủ nghĩa yêu nước, lòng yêu nước vô hạn và thương dân sâu sắc, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh) đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình lịch sử ấy bắt đầu từ ngày 5-6-1911. Trên con đường vạn dặm, “Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi/Những đất tự do, những trời nô lệ/Những con đường cách mạng đang tìm đi”(1). So sánh các cuộc cách mạng, Người chỉ rõ, kết cục của các cuộc cách mạng tư sản là “cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”(2). Điều đó có nghĩa là, cách mạng Việt Nam khi đó quyết không chọn con đường cách mạng tư sản, không thể đặt nhiệm vụ ấy cho giai cấp tư sản.

Bằng tư duy mới, coi trọng khảo cứu thực tiễn, đối sánh, cùng với sự nhạy bén đặc biệt về chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã tìm và chọn được con đường giải phóng dân tộc triệt để nhất - con đường cách mạng vô sản, theo Cách mạng Tháng Mười Nga, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong Đường Cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc khẳng định dứt khoát: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). Nghiên cứu lý luận, đối chiếu với thực tiễn chính trị - xã hội, Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Tuân theo tính quy luật, để làm cách mạng vô sản thì điều kiện tiên quyết phải tổ chức ra Đảng Cộng sản.

Nhận thức được chân lý của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã nỗ lực xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức, về đội ngũ cán bộ ban đầu đã dẫn tới sự ra đời các tổ chức tiền thân của đảng cộng sản. Những năm 1929 - 1930, phong trào dân tộc theo xu hướng cộng sản thể hiện rõ sự thắng thế so với các xu thế khác, các tổ chức cộng sản cũng phát triển mạnh mẽ. Nhu cầu cần có một đảng cộng sản duy nhất để tập trung sự lãnh đạo trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc chủ động hợp nhất các tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng; An Nam Cộng sản Đảng, tiếp đến là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 -  bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời vạch ngay một Cương lĩnh đúng, đưa cách mạng Việt Nam đi theo xu thế thời đại, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chính thức chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước ở Việt Nam, đảm nhận sứ mệnh mà các lực lượng trước đó không giải quyết được. “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”(5).

Đảng ra đời với đường lối đúng, đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, được toàn dân tin theo và ủng hộ. Đây là bước đầu quyết định, chứng tỏ cách mạng Việt Nam đã có một lực lượng lãnh đạo đủ uy tín, năng lực đưa cách mạng vượt qua khó khăn, thử thách, làm nên những kỳ tích trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến tạo đất nước, đáp ứng khát vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế của lịch sử.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 _Ảnh: Tư liệu

Lịch sử khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất đủ uy tín và năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi

Sự thực là, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam đủ uy tín, năng lực lãnh đạo thắng lợi trong đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945).

Vừa mới ra đời, trong điều kiện chủ yếu phải hoạt động bí mật, trong 15 năm (1930 - 1945), tổ chức đảng bị thực dân đế quốc khủng bố, hệ thống tổ chức của Đảng hai lần phải xây dựng lại. Trong 15 năm ấy, Đảng chịu nhiều tổn thất, 4 đồng chí Tổng Bí thư của Đảng đã hy sinh, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng vẫn kiên trung vì lợi ích dân tộc, không nhụt chí trước kẻ thù. Đường lối chiến lược vạch ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên và bổ sung ở Luận cương (tháng 10-1930) đã đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộc. Đi theo ngọn cờ của Đảng, dân tộc Việt Nam đã làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với sự kiện này, “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(6). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, làm thay đổi vận mệnh dân tộc, thay đổi thân phận của người dân Việt Nam, từ người nô lệ trở thành người làm chủ nước nhà.

Bình luận về ý nghĩa lịch sử và tác động của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến những bước tiến của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX, nhà sử học người Pháp Charles Fourniau khẳng định: Cách mạng Tháng Tám “đã đem đến chiều sâu lịch sử của nó vào cuộc đấu tranh mà nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi từ 1945 đến 1975”(7).

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dù có những tổ chức ra sức công kích, tranh giành quyền lãnh đạo, nhưng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo thắng lợi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Giai đoạn 1945 - 1954: Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, không bao lâu sau, thực dân Pháp đã quay lại xâm lược Việt Nam, đánh dấu bằng việc chúng nổ súng ở Nam Bộ. Lúc này, ở Việt Nam, vừa có hoạt động của trên 30 vạn quân ngoại quốc (Nhật, Tưởng, Anh, Pháp), vừa có các đảng phái phản động, nhất là Việt Quốc, Việt Cách. Trước bối cảnh chính quyền còn non trẻ, Đảng vừa ra hoạt động công khai, nắm chính quyền cách mạng lại phải đối phó với vô vàn khó khăn, buộc phải rút vào hoạt động bí mật, nhưng vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với cách mạng. Trước 3 thứ giặc (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm), cách mạng Việt Nam rơi vào tình thế như “nghìn cân treo sợi tóc”. Được nhân dân tin tưởng, Đảng đã khéo vận dụng nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đưa cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo trong những năm 1945 - 1946, vững tâm thế bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, với đường lối toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ (1945 - 1954) đã bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng miền Bắc, đưa cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng ở miền Nam. “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”(8).

Tại Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trong 31 đồng chí hiện nay là Ủy viên Trung ương Đảng ta, trước ngày khởi nghĩa đã được đế quốc Pháp tặng cho 222 năm tù đày”(9). Chỉ tính trong 15 năm đấu tranh trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và 9 năm kháng chiến, biết bao đảng viên ưu tú và quần chúng cách mạng đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh một cách cực kỳ oanh liệt. Chỉ riêng trong cấp Trung ương, đã có 14 đồng chí bị thực dân Pháp bắn, chém, hoặc giết trong nhà tù. Bản lĩnh của Đảng sáng chói. Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Đúng là: Sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cộng sản, của các anh hùng, liệt sĩ chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do.

Giai đoạn 1954 - 1975: Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành “con đê” ngăn chặn “làn sóng đỏ” (tức sự phát triển của chủ nghĩa xã hội) sang Đông Nam Á, đế quốc Mỹ đã xâm lược miền Nam, chia cắt đất nước Việt Nam. Những năm 1965 - 1968 và 1972, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Việt Nam đã tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, đồng tâm hiệp lực, hướng về mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Đây là một điểm sáng tạo độc đáo của đường lối cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.

Sự thực là, sau 21 năm kháng chiến kiên cường, bất khuất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới của đế quốc Mỹ, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước. Chiến công ấy là “một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(10). Dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sự thật cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất khởi xướng, lãnh đạo đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nâng tầm vị thế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong hơn 10 năm 1975 - 1986, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã tìm tòi con đường thích hợp đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu biên giới; đồng thời, từng bước tháo gỡ khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, hoạch định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, tạo một bước ngoặt mới của cách mạng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

Nêu cao trách nhiệm trước dân tộc, Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã xác định 4 nội dung trọng tâm cần đổi mới: “Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”(11). Gần 40 năm đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, song với bản lĩnh chính trị vững vàng và quyết tâm đổi mới, kiên định mục tiêu mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã chọn, Đảng đã giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa cách mạng vượt qua cơn chấn động của thời cuộc, nhất là khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước Đông Âu và Liên Xô khủng hoảng và đi vào đổ vỡ. Thông qua đổi mới, Việt Nam đã phá thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Việt Nam “tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam”(12).

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đang đi vào chiều sâu, đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt về sự lãnh đạo của Đảng, mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng. Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử ấy thể hiện ở chỗ: Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển mới; đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được củng cố; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu năm 1989 GDP mới đạt 6,3 tỷ USD(13); năm 2000 là 40 tỷ USD(14), thì đến năm 2022 đạt 409 tỷ USD(15). Gần 40 năm đổi mới cũng là một chặng đường từng bước hội nhập quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức. Đại hội XIII của Đảng khẳng định sự thật: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(16).

Qua gần 40 năm đổi mới, trong một thời gian không dài, trong những điều kiện rất khó khăn, phức tạp, những thành tựu ấy đã minh chứng thuyết phục cho tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Đó cũng là cơ sở để khơi dậy khát vọng của nhân dân Việt Nam về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc.

Niềm tin chiến thắng _Nguồn: nld.com.vn

Nhiều học giả, chính trị gia, chuyên gia quốc tế đã có đánh giá tốt về thành tựu công cuộc đổi mới của Việt Nam. Đồng chí Tề Kiến Quốc, Đại sứ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam khẳng định: “Với những thành tựu nổi bật, công cuộc đổi mới đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt đất nước..., có ảnh hưởng vượt tầm quốc gia, gây ấn tượng cho cả thế giới”(17).  PGS, TS V.I. An-tô-sơ-chen-cô, Phó Giám đốc Trung tâm Việt Nam học thuộc Đại học quốc gia Mát-xcơ-va, Liên bang Nga, nhận xét: “Mười lăm năm trong tiến trình hàng nghìn năm lịch sử của Việt Nam là một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi, nhưng nhân dân Việt Nam đã làm được những việc phi thường. Thắng lợi của công cuộc đổi mới đã chứng tỏ với thế giới rằng Việt Nam không phải chỉ là một dân tộc kiên cường bất khuất, giỏi chống giặc ngoại xâm mà còn có đủ tài trí để xây dựng và phát triển đất nước”(18). GS, TS Cho Jae Hyun, Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc, nhấn mạnh: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được đường lối chính trị đúng - một đường lối thể hiện sự kiên định về chiến lược; sự sắc sảo, mềm dẻo về sách lược; sự phong phú, sáng tạo và linh hoạt về phương pháp cách mạng... Việc Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hóa và thị trường thực sự là một bước đổi mới tư duy. Điều này cũng cho thấy rằng, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng được Việt Nam vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của mình... Công cuộc đổi mới ở Việt Nam là một chiến lược rất đúng đắn”(19).

Tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam còn được đấu tranh bảo vệ bằng cơ sở pháp lý. Việc hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng đã trở thành yêu cầu khách quan trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được khẳng định trong tiến trình xây dựng Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay.

Hiến pháp đầu tiên của đất nước Việt Nam hiện đại (năm 1946) ghi rõ: Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của Cách mạng. Lời nói đầu Hiến pháp năm 1959 khẳng định: Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới; Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được những thắng lợi vẻ vang. Hiến pháp năm 1980 hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lê-nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đến Hiến pháp năm 2013, Khoản 1, Điều 4 khẳng định và làm rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Khoản 2, Điều 4 bổ sung nội dung mới, thể hiện rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân: Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Cả hai chiều quan hệ: Đảng với nhân dân và nhân dân với Đảng được xác định một cách biện chứng, bản chất là giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng cầm quyền và cơ sở xã hội của nó.

Từ lịch sử đến hiện tại, vai trò lãnh đạo và trọng trách của Đảng đã được khẳng định trong Hiến pháp - luật cơ bản của Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất, ghi nhận địa vị pháp lý của đảng cầm quyền và được pháp luật bảo vệ. Đây là cơ sở pháp lý tối thượng, phản ánh ý chí, nguyện vọng và quyền lực thực sự của nhân dân Việt Nam; là kết quả vận động tất yếu khách quan của lịch sử. Những cơ sở lịch sử và pháp lý đó góp phần cung cấp luận cứ chủ yếu, cần được nắm vững và sử dụng hiệu quả trong đấu tranh bảo vệ tính chính danh, chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới./.

------------------

(1) Chế Lan Viên: “Người đi tìm hình của nước”, Chế Lan Viên: Toàn tập, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2002, t. 1, tr. 253
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 296
(3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 289, 30
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 406
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 25
(7)  Xem: Charles Fourniau: “Những cội nguồn của Cách mạng Tháng Tám”, in trong sách Việt Nam trong thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2001, tr. 70 - 71
(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 410, 401
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr. 5 - 6
(11)  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 124
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 23
(13) “GDP của Việt Nam tăng gấp 30 lần kể từ năm 1989”, Tạp chí điện tử Viettimes, ngày 3-9-2015, http://viettimes.vn/gdp-cua-viet-nam-tang-gap-30-lan-ke-tu-nam-1989-post9124.html
(14) Thùy Lê: “Chủ động thiết kế mô hình tăng trưởng mới để phát triển bền vững hơn”, Báo Kiểm toán điện tử, ngày 7-12-2020, http://baokiemtoan.vn/chu-dong-thiet-ke-mo-hinh-tang-truong-moi-de-phat-trien-ben-vung-hon-9658.html
(15) “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2022”, Trang thông tin điện tử Tổng cục Thống kê, ngày 29-12-2022, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/12/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2022/
(16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 322
(17) Tề Kiến Quốc: “Công cuộc đổi mới, con đường phát triển tất yếu của dân tộc Việt Nam”, in trong sách Việt Nam trong thế kỷ XX, Sđd, tr. 106
(18) V.I. An-tô-sơ-chen-cô: “Công cuộc đối mới ở Việt Nam (từ góc nhìn của các nhà Việt Nam học Nga)”, in trong sách Việt Nam trong thế kỷ XX, Sđd, tr. 115
(19) Cho Jae Hyun: “Công cuộc đổi mới: Một chiến lược đúng đắn?”, in trong sách Việt Nam trong thế kỷ XX, Sđd, tr. 529 - 530


Kiên quyết đấu tranh, bác bỏ các âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận những thành quả cách mạng Việt Nam

VŨ THỊ HƯỜNG
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
16:58, ngày 14-09-2023

TCCS - Một trong những âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động nhằm chống phá nước ta là tìm mọi cách phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, mưu toan phủ nhận, bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng xóa bỏ thành quả cách mạng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, hướng lái Việt Nam phát triển đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Những luận điệu phi khoa học, vô căn cứ

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động ráo riết đẩy mạnh việc công kích, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng ta trên nhiều phương tiện truyền thông, nhất là trên internet, các mạng xã hội, như xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước trong bối cảnh thế giới có nhiều bất ổn, làm cho đất nước lâm vào tình trạng yếu thế, lạc hậu trước xu hướng bùng nổ thông tin và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, kết cấu xã hội ở Việt Nam đã có sự chuyển biến theo hướng đa dạng, nhiều tầng nấc, xu hướng dân chủ hóa ngày càng được coi trọng (!).

Để tuyên truyền cho luận điệu thâm độc trên, các thế lực thù địch, phản động đưa ra nhiều lý lẽ mang tính chất tấn công, chống phá sau:

Một là, xảo biện rằng nền tảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam theo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, không còn phù hợp trong thế kỷ XXI; rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, dẫn dắt là sai lầm, do vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn đảm đương được trách nhiệm lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc Việt Nam, nhất là trong bối cảnh mới hiện nay (!?).

Hai là, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử và thành quả đấu tranh cách mạng vẻ vang của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động quy chụp rằng Đảng có nhiều sai lầm trong quá khứ, và dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng “đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo khiến đất nước ngày càng yếu thế và lạc hậu so với các nước trên thế giới” (!?). Các thế lực thù địch, phản động viện dẫn phiến diện và xuyên tạc thực tiễn lịch sử để ra sức chứng minh chế độ một đảng lãnh đạo là “sai lầm”, rằng nếu không có Đảng Cộng sản Việt Nam trên chính trường thì dân tộc ta không phải tiến hành cuộc chiến tranh lâu dài và đau thương như thế và rằng, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không “tiếm quyền” thì Việt Nam đã đứng trong hàng ngũ các nước phát triển từ lâu.

Ba là, rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng suy thoái, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng tham nhũng, tham ô, lãng phí; Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái thành công (!).

Bốn là, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam hơn ai hết và trước hết nên thẳng thắn sám hối những sai lầm của mình; tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở Việt Nam hoàn toàn là hệ quả của chính sách cai trị độc tài dựa theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin mà Đảng Cộng sản Việt Nam áp đặt trên đất nước Việt Nam, chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, độc đoán, đảng trị, thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự quan liêu của giới thượng lưu. Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối (!).

Năm là, lập luận hàm hồ rằng tình hình, điều kiện, bối cảnh mới ngày nay đã khác và có nhiều thay đổi về bản chất với vai trò của khoa học - công nghệ, đội ngũ trí thức ngày càng tăng, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là phát triển kinh tế thì giai cấp công nhân Việt Nam với đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam đã không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước trong thời gian tới. Từ đó, các thế lực thù địch, phản động đòi hỏi một cách phi lý rằng Đảng tự nguyện rời bỏ vai trò lãnh đạo vì Đảng “chỉ giỏi lãnh đạo trong chiến tranh”, còn trong xây dựng kinh tế thì nên trao quyền cho lực lượng chính trị khác (!).

Những luận điệu trên bộc lộ dã tâm, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động là xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thoái lui, hòng thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để đưa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản; từ đó, gây tâm lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là những quan điểm, luận điệu hết sức phản động, sai lầm, phi khoa học, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá, nhiều nhận xét chủ quan, vô căn cứ và mang tính áp đặt, phải bị bác bỏ, bởi những luận cứ sau:

Thứ nhất, xuất phát từ luận điểm khách quan, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản trong tiến trình cách mạng ở các quốc gia.

C. Mác và Ph. Ăng-ghen trong học thuyết cách mạng và khoa học của mình đã chỉ ra rằng, giai cấp công nhân là giai cấp hiện đại, cách mạng nhất, tiên tiến nhất trong xã hội, nhưng giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình khi thành lập ra được chính đảng đảm đương vai trò lãnh đạo, dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân tiến hành cách mạng thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Giai cấp công nhân phải giành lấy quyền lực nhà nước và thực hiện vai trò lãnh đạo đối với xã hội. V.I. Lê-nin từ thực tiễn cách mạng nước Nga đã khẳng định, chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh kiên quyết nhất chống mọi lực lượng của chủ nghĩa tư bản và chỉ có Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân mới lãnh đạo được đất nước. V.I. Lê-nin cũng nhấn mạnh rằng, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò duy nhất lãnh đạo nhà nước, xã hội, là người định hướng sự phát triển trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội. Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo là nguyên tắc, là yêu cầu tất yếu. Thấm nhuần những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rằng, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam muốn thắng lợi, trước hết phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo. “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(1).

Thứ hai, bản chất, mục tiêu, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc Việt Nam, Đảng không có lợi ích nào khác.

Các quốc gia trên thế giới đều có đảng cầm quyền lãnh đạo và nắm giữ nhà nước để tổ chức và quản lý đất nước, triển khai chủ trương, đường lối chính trị của đảng cầm quyền, thực hiện lợi ích của giai cấp thống trị. Để đánh giá vai trò, khả năng lãnh đạo đất nước của một chính đảng cầm quyền, cần phải xem xét bản chất, mục tiêu, đường lối lãnh đạo của đảng cầm quyền. Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức ưu tú nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của giai cấp công nhân, toàn thể dân tộc Việt Nam. Đảng một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự dân tộc. Mục đích hoạt động, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện rõ: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(2), là “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”; xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đưa đất nước Việt Nam ngày càng phồn vinh, thịnh vượng, xã hội ổn định, phát triển, đời sống nhân dân thường xuyên được cải thiện,... Với bản chất, mục tiêu, đường lối như vậy thì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới là chính đảng duy nhất lãnh đạo đất nước và nhân dân Việt Nam tiến tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc(3).

Thứ ba, trong bối cảnh mới hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất hội tụ đầy đủ phẩm chất, năng lực, tiêu chí để lãnh đạo đất nước, dân tộc Việt Nam phát triển.

Trước tình hình mới hiện nay, bên cạnh những cơ hội còn tồn tại nhiều thách thức ảnh hưởng tới sự phát triển của Việt Nam, đòi hỏi chính đảng lãnh đạo quốc gia phải đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân, có tính tiên phong cách mạng; có sức mạnh và kỷ luật tập thể; toàn tâm, toàn ý vì lợi ích chung của nhân dân, dân tộc;... Ở Việt Nam hiện nay chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam có được những điều kiện và nhân tố nêu trên, bởi:

Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong giác ngộ, có tổ chức chặt chẽ nhất, hình thành nên sức mạnh, phẩm chất nổi trội và nhờ đó lãnh đạo, dẫn dắt đất nước ta vượt qua khó khăn, thử thách trên con đường phát triển, do: 1- Sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất vững chắc cả về tư tưởng và hành động, bảo đảm sự tập trung trong lãnh đạo của Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở mục tiêu, lý tưởng của Đảng, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc, phát huy dân chủ, tôn trọng ý kiến về sự thống nhất, tổ chức và phương thức hành động tạo nên sức mạnh lớn lao, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách; 2- Tinh thần triệt để cách mạng, sức chiến đấu mạnh mẽ, được tôi luyện và ý thức kỷ luật cao, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ, nghiêm ngặt theo tư tưởng, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; 3- Sự sẵn sàng hy sinh, chấp nhận khó khăn, gian khổ, khả năng vươn lên không ngừng của Đảng vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc...

Những phẩm chất, năng lực này được hình thành từ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, như các nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Các nguyên tắc cơ bản đó đã phát huy cao nhất dân chủ trong Đảng với trí tuệ tập thể để có được những quyết định, đường lối đúng đắn, đồng thời bảo đảm sự tập trung, thống nhất cao trong thực hiện các quyết định, đường lối của Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến hành thì chỉ như một người”(4). Các nguyên tắc này cũng đòi hỏi cá nhân phục tùng tổ chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương, tất cả đảng viên phải chấp hành nghị quyết của đảng; đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải tự giác, thường xuyên tu dưỡng, học tập, rèn luyện về mọi mặt, thấy được khuyết điểm để khắc phục, sữa chữa, để xứng đáng là người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới gắn bó mật thiết với nhân dân, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tin và đi theo Đảng. Vai trò lãnh đạo của Đảng chính là trách nhiệm, nhiệm vụ cao cả mà nhân dân Việt Nam tin tưởng giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, từ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân đối với Đảng. Mục tiêu lãnh đạo của Đảng là để nhân dân thực sự là người chủ đất nước, để toàn bộ quyền lực đều ở nơi dân. Đảng luôn có trách nhiệm với dân và tăng cường mối quan hệ chặt chẽ với dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đảng được nhân dân tin yêu, giúp đỡ và thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình. Nhân dân thấy rằng lợi ích căn bản của mình gắn liền với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; mục đích, lý tưởng của Đảng chính là nguyện vọng của nhân dân, của dân tộc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi, động viên cán bộ, công nhân Công ty TNHH một thành viên Đạm Ninh Bình _Ảnh: TTXVN

Thứ tư, Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên cầu thị, luôn tự xây dựng, chỉnh đốn, nâng tầm trí tuệ, nâng cao năng lực và sức chiến đấu, luôn nghiêm khắc và có trách nhiệm với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của mình.

Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, cầm quyền nhằm làm cho Đảng mạnh lên, có đường lối đúng đắn, giúp Đảng hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ đặt ra, đưa Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đất nước và thế giới không ngừng vận động, biến đổi, nhiều vấn đề mới, yếu tố mới xuất hiện, đòi hỏi phải được giải quyết. Đảng ta luôn tìm tòi, học hỏi, tổng kết thực tiễn để đề ra đường lối, quyết sách đúng đắn, phù hợp. Đảng luôn quan tâm đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền, phù hợp với các yêu cầu, nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng, nhất là trách nhiệm, nhiệm vụ mới nảy sinh từ thực tiễn hiện nay để Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng, khoa học, vì lợi ích của nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chất lượng, năng lực của đội ngũ đảng viên có tính chất quyết định đối với chất lượng, năng lực cầm quyền của Đảng, do vậy, Đảng chú trọng kết nạp những người ưu tú vào Đảng và luôn luôn làm trong sạch Đảng, loại bỏ những phần tử biến chất, xét lại, cơ hội chủ nghĩa ra khỏi Đảng... Đảng luôn siết chặt kỷ luật đảng để chống suy thoái, tiêu cực và tham nhũng đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Đảng ta ý thức rõ rằng, một đảng duy nhất cầm quyền, bên cạnh mặt thuận lợi là cơ bản, cũng chứa đựng không ít nguy cơ, mà một trong số đó là sự quan liêu, xa rời quần chúng, chủ quan... Để tránh nguy cơ đó, Đảng hết sức kiên định mục tiêu đã lựa chọn, thường xuyên tự đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức mạnh về mọi mặt, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, phong cách công tác gần gũi với nhân dân...

Những luận cứ từ thực tiễn

Thực tế lịch sử ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh tính tất yếu khách quan về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn của tiến trình cách mạng. Không có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò này của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điệu, mưu toan hạ thấp hoặc xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam đều đi ngược với điều kiện thực tế của nước ta. Sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải tự nhiên mà là tất yếu của lịch sử.

Trong thời kỳ giải phóng dân tộc ở Việt Nam trước đây, ngoài phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và dẫn dắt, đã có những phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc của một số hội, đoàn thể, đảng phái khác, như Duy Tân Hội, Việt Nam Quang phục Hội, Việt Nam Quốc dân đảng... Tuy nhiên, những tổ chức, đảng phái này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do đường lối, mục tiêu của các tổ chức, đảng phái đó không phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc, thời đại, không quy tụ, tập hợp được quần chúng nhân dân... nên không thể lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và dần tan rã, thất bại. Bài học rút ra từ thất bại của các phong trào yêu nước ở Việt Nam trước đây cũng chứng minh tầm quan trọng và vai trò của việc có một chính đảng, tổ chức yêu nước đảm đương sứ mệnh dẫn dắt dân tộc Việt Nam đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc, là ý nguyện và là sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã giành được những thắng lợi, những thành tựu to lớn, vẻ vang, có ý nghĩa lịch sử. Đó là cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 lịch sử, lật đổ ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), là thắng lợi của hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làm nên những chiến thắng vang dội và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển đất nước, với đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, đưa nước ta từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá bởi chiến tranh trở thành nước đang phát triển năng động; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện; uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.

Bối cảnh mới hiện nay với nhiều thách thức, khó khăn càng khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội; quy tụ, tập hợp được các giai cấp, tầng lớp; tập trung, huy động được các nguồn lực cho phát triển đất nước; thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, nâng cao đời sống của nhân dân.

Bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu vào những năm cuối thế kỷ XX cho thấy, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị ở các nước này là đã từ bỏ, buông lỏng, phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, để cho các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng, vô hiệu hóa, cướp chính quyền, đẩy đất nước vào con đường khác khi có những biến cố về chính trị. Thực tiễn biến động ở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay cũng đã chỉ rõ, không phải cứ nhiều đảng, cứ đa nguyên, đa đảng thì đất nước mới phát triển, ổn định. Nhiều nước thực hiện chế độ đa đảng, nhưng vẫn là các nước nghèo trên thế giới, thậm chí thường xuyên xảy ra xung đột, bất ổn. Cũng có những nước chỉ một đảng lãnh đạo, nhưng vẫn là nước phát triển mọi mặt và có vị thế trên thế giới.

Qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên tất cả lĩnh vực. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (5)  .

Diện mạo Thành phố Hồ Chí Minh sau gần 40 năm đổi mới _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Những minh chứng nổi bật qua các con số thành tựu thực tiễn trong hơn ba thập niên qua ở Việt Nam cho thấy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng khá cao (giai đoạn 2016 - 2020, tăng trưởng bình quân khoảng 6%/năm); chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô và tiềm lực nền kinh tế được nâng lên (năm 2010 đạt 115,93 tỷ USD, năm 2015 đạt 193,24 tỷ USD, năm 2019 đạt 261,92 tỷ USD, năm 2020 đạt 343 tỷ USD). Bình quân thu nhập đầu người tăng nhanh (năm 1945 là 35 USD, năm 1975 là 80 USD, năm 1985 là 159 USD, năm 1990 là 182 USD, năm 2020 là 3.561 USD). Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam tăng nhanh, xếp thứ 67/141 nền kinh tế thế giới (năm 2019)(6).

Tiến trình hội nhập quốc tế ở nước ta phát triển sâu rộng, trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt thành tựu nổi bật. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 33 nước đối tác quan trọng. Việt Nam chủ động và tiếp cận hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam tham gia hiệu quả vào các định chế khu vực và toàn cầu, nhất là các FTA thế hệ mới và đóng góp tích cực ở hầu hết tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách, đã ghi nhận dấu ấn về sự chủ động, tích cực trong vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021...

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhất là tổng kết 30 năm đổi mới, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, các hội nghị Trung ương khóa XI, Đại hội XII và các hội nghị Trung ương khóa XII tiếp tục cụ thể hóa, bổ sung, làm sáng rõ hơn những nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã được trình bày trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011).

Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến lược, phát triển nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; về hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện đại, hội nhập quốc tế. Đảng đã bổ sung nhận thức về mối quan hệ giữa phát triển văn hóa và xây dựng con người; về đúc kết, phát huy hệ giá trị văn hóa, sức mạnh và giá trị của con người Việt Nam; về nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân, thực hiện hiệu quả tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển. Nhận thức về bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được hoàn thiện trên cơ sở phát triển Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Phương hướng thực hiện đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế tiếp tục được bổ sung, phát triển gắn với yêu cầu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc; xử lý hiệu quả hợp tác và đấu tranh, đối tác và đối tượng. Phương hướng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất được bổ sung những nhận thức mới về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ công dân; thực hiện vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Đảng nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước; xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, tăng cường phân cấp, phân quyền, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phương hướng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh được bổ sung nhận thức mới về xây dựng Đảng toàn diện: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; về xây dựng Đảng gắn với chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm rõ nhận thức của Đảng ta về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chỉ ra và khẳng định thuộc tính quan trọng, đặc trưng cơ bản làm nên sự khác biệt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những nền kinh tế thị trường khác. Đó là nền kinh tế “gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”(7). Nói một cách khác, điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến chính sách xã hội, chính sách liên quan đến con người và việc phát triển hài hòa giữa kinh tế và xã hội. Chúng ta không coi nhẹ tiến bộ và công bằng xã hội chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà thay vào đó, chúng ta đặt ra mục tiêu tạo điều kiện cho con người hưởng lợi từ mọi thành tựu của quá trình phát triển và bảo đảm cải thiện cuộc sống của con người diễn ra đồng thời với tiến trình xây dựng và phát triển kinh tế.

Từ những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định một lần nữa quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(8). Đó chính là tư tưởng và định hướng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn tới. Trước mắt với tư tưởng chỉ đạo hiện tại đối với nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Nghị quyết của Đại hội XIII của Đảng. Để thành công trong việc thực hiện định hướng chung đó, Đảng xác định 4 nhiệm vụ quan trọng như 4 trụ cột chính sách, bao gồm: phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng Đảng là yếu tố then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng và an ninh là trọng yếu và thường xuyên.

Có thể thấy rõ, những luận điệu thâm độc, đen tối của các thế lực thù địch, phản động nêu trên về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đều không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, những luận điệu này dựa trên những phân tích không khoa học, không logic, không hệ thống và không toàn diện. Về thực tiễn, những luận điệu này hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế. Những luận điệu sai lầm, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn này không thể lật ngược một thực tế hiển hiện và có cơ sở lý luận về vai trò, sứ mệnh, trọng trách to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân Việt Nam giành nhiều thắng lợi lịch sử trong công cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI./.

---------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 289
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 65, 187
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 17
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25
(6) “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý iv và năm 2020”, Trang thông tin điện tử Tổng cục Thống kê, ngày 27-12-2020, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2020/12/baocao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2020/