Phòng, chống tham nhũng để tăng cường đại đoàn kết - Tư tưởng nổi bật trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng*

TS KHUẤT TRỌNG NAM - LÃ TRỌNG ĐẠI
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
00:47, ngày 16-01-2024

TCCS - Trong lúc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta diễn ra hết sức quyết liệt, cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được xuất bản. Cuốn sách chứa đựng nhiều quan điểm, tư tưởng quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư cũng như của Đảng ta về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong đó có mối quan hệ giữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tăng cường đoàn kết.

Phòng, chống tham nhũng để tăng cường đoàn kết

Tham nhũng, tiêu cực là kẻ thù số một của khối đoàn kết, thống nhất. Trong các tổ chức đảng, tham nhũng, tiêu cực là một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu thống nhất về chính trị - tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho cấp dưới không tin tưởng cấp trên, nguyên tắc tập trung dân chủ bị coi nhẹ; nội bộ xảy ra tình trạng kéo bè kết cánh, phe phái lợi ích, thậm chí triệt hạ lẫn nhau, dẫn đến nguy cơ suy giảm niềm tin vào tổ chức, chế độ. Trong xã hội, tham nhũng, tiêu cực xâm phạm quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân, khiến cho nhân dân suy giảm niềm tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Tổ chức đảng để xảy ra tình trạng tham nhũng, tiêu cực sẽ không thể phát huy được vai trò là hạt nhân đoàn kết quần chúng. Không những thế, tình trạng tham nhũng, tiêu cực còn tạo cớ cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, chống phá, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân và giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chính vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trong những biện pháp đặc biệt quan trọng để giữ gìn và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước”(1), đồng thời chỉ rõ cuộc đấu tranh này “góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đặc biệt là góp phần lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân”(2).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đại biểu và cử tri thành phố Hà Nội _Nguồn: nhandan.vn

Thời gian qua, khi Đảng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bên cạnh sự tin tưởng, phấn khởi của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, vẫn có những luồng dư luận tiêu cực. Đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ: “Một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, làm “chậm” sự phát triển đất nước”(3). Thực chất, đây là những nhận thức sai lệch của một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng không kiên định, vững vàng, là biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, khi đánh đồng những người dám nghĩ, dám làm với làm liều, làm ẩu; đánh đồng việc bao che, né tránh sai lầm, khuyết điểm với sự ổn định của tổ chức. Động cơ thực sự đằng sau những quan điểm này chính là để dung túng, bao che cho các hành vi tham nhũng, tiêu cực; làm giảm quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm”(4).

Bên cạnh đó, các thế lực xấu, thù địch đã và đang ra sức tuyên truyền luận điệu sai trái cho rằng: Đảng ta đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”. Đây là luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm, mưu toan xóa đi ý nghĩa tích cực của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, biến thành một hoạt động mang đầy động cơ tiêu cực. Nó trực tiếp phá hoại khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, khiến cho chính những người đang kiên cường đấu tranh với sai phạm, khuyết điểm phải mang tiếng xấu. Đáng lo ngại hơn, những luận điệu sai trái này lại đang có ảnh hưởng ở mức độ nhất định trong một bộ phận nhân dân, gây ra sự hoang mang, dao động, nghi ngờ của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận diện đích xác những âm mưu này, đồng thời chỉ rõ: “Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”(5). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Mục đích của việc xử lý tham nhũng, tiêu cực là để “trị bệnh cứu người”, kỷ luật một vài người để cứu muôn người”(6). Đương nhiên, những luận điệu xuyên tạc, phản động ấy không thể làm “chùn bước” cuộc đấu tranh của chúng ta, song cũng không thể xem nhẹ, coi thường.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, những kết quả mà chúng ta đạt được trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần quan trọng làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, đồng thời giữ vững và tăng cường niềm tin của các tầng lớp nhân dân.

Tăng cường đoàn kết để đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Để đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả, việc giữ vững, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã không chỉ nêu lên sự cần thiết phải tăng cường đoàn kết mà còn chỉ ra nguyên tắc, điều kiện để khối đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc trở thành sức mạnh ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, tiêu cực.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(7). Nhấn mạnh tầm quan trọng của đoàn kết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đoàn kết nhất trí là truyền thống rất quý báu của Đảng ta. Ngay cả những lúc cách mạng gặp sóng gió, khó khăn, ở những bước ngoặt phức tạp của lịch sử, Đảng ta luôn luôn giữ vững khối đoàn kết thống nhất. Nhờ đó, Đảng đã lãnh đạo và đoàn kết được toàn dân, đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng tiến lên”(8).

Hiện nay, tham nhũng, tiêu cực đang là một trong những thách thức lớn nhất đe dọa sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Những năm qua, tham nhũng, tiêu cực diễn biến phức tạp, tinh vi, len lỏi vào sâu trong bộ máy Đảng, Nhà nước; nhiều cán bộ, trong đó có cả một số cán bộ giữ chức vụ, vị trí cao đã “nhúng chàm”. Những cán bộ thoái hóa, biến chất kết bè kéo cánh, thông đồng, cấu kết, hình thành “nhóm lợi ích”, trục lợi cả cơ chế, chính sách, pháp luật. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Nhiều người có quan hệ trực tiếp với vật tư, hàng, tiền, đã lợi dụng chức quyền và điều kiện công tác để tham ô, buôn lậu, ăn cắp của công, ăn hối lộ, thông đồng với bọn gian thương, tư sản để làm giàu. Điều nghiêm trọng là có không ít cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp, đảng viên lâu năm bị những ham muốn vật chất cám dỗ, cũng chạy theo tiền tài, địa vị, sống ích kỷ, buông thả, tự do chủ nghĩa… Đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân rất bức xúc, bất bình trước những hiện tượng đó và lo ngại về sự xói mòn bản chất giai cấp công nhân và truyền thống tốt đẹp của Đảng”(9). Do đó, hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên chân chính phải đồng lòng, quyết tâm, đoàn kết chặt chẽ cùng với Đảng tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh: “Ngày nay, trong hoàn cảnh mới của đất nước, trước những khó khăn về kinh tế và đời sống, trước một số hiện tượng tiêu cực trong Đảng và trong xã hội ta, kẻ thù đang âm mưu phá hoại, kích động chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, chia rẽ cấp dưới với cấp trên, chia rẽ miền Nam với miền Bắc... Vì vậy, hơn bao giờ hết, chúng ta càng phải chăm lo củng cố và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(10).

Để xây dựng khối đoàn kết vững mạnh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trước hết cần chú trọng xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, bởi “chăm lo giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng là cơ sở để tăng cường đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng”(11). Đồng thời, phải biến việc xây dựng khối đoàn kết thống nhất thành quan điểm, chủ trương và đi vào hành động cụ thể của mọi cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp. Tổng Bí thư chỉ rõ: “Cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp phải thật sự đoàn kết, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là phải có những giải pháp đủ mạnh, những việc làm cụ thể để làm chuyển biến rõ rệt tình hình; kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”; tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc bức xúc đã được chỉ ra”(12).

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay, cần đặc biệt quan tâm việc xây dựng, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong các cơ quan trực tiếp tiến hành đấu tranh, trong đó đi đầu là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiếp đó là các cơ quan thuộc khối nội chính và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan. Đây là những cơ quan “đầu sóng ngọn gió”, là “bộ não” của toàn bộ hoạt động đấu tranh. Tổng Bí thư yêu cầu: “Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng phải là một tập thể mạnh, đoàn kết thống nhất cao, gắn bó chặt chẽ. Mỗi thành viên của Ban, mỗi cán bộ làm việc trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng phải hết sức gương mẫu, công tâm, trong sạch, thực hiện đúng bốn chữ: liêm - dũng - chính - trực. Tức là phải liêm khiết, dũng cảm, ngay thẳng, cương trực. Không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào và cũng không ngại bất cứ lực cản không trong sáng nào. Bản thân mình có sạch sẽ thì mới chống tham nhũng được”(13). Đồng thời, “phải có sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cơ quan nội chính với nhau và với các cơ quan, tổ chức khác có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở quy định của Đảng, Nhà nước; bảo đảm “đúng vai, thuộc bài”, tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây”(14).

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc củng cố đoàn kết, thống nhất trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đồng chí Tổng Bí thư cũng chỉ rõ phải có nhận thức đúng đắn, rõ ràng về đoàn kết, phân biệt đoàn kết thực sự với thói cục bộ, bè phái, bản vị; đồng thời phân biệt giữa việc tranh luận ý kiến trong Đảng với tình trạng mất đoàn kết. Theo Tổng Bí thư, “Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng phải được xây dựng trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn, tình cảm cách mạng trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; đồng thời, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, thực hiện chính sách cán bộ một cách nhất quán, công bằng”(15); “Mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cục bộ, địa phương, thiếu công bằng, bệnh quan liêu, không sâu sát đều dẫn tới những hậu quả tiêu cực trong việc sắp xếp, bố trí cán bộ, ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự đoàn kết thống nhất trong Đảng”(16). Đảng ta mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, bản chất ấy “không tương dung với chủ nghĩa phường hội, cục bộ, bản vị, phân tán. Trái lại, nó đòi hỏi phải có tư tưởng thống nhất, hành động thống nhất, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân và tập thể, bộ phận và toàn cục”(17). Đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải được xây dựng trên tình đồng chí của những người cộng sản. Tổng Bí thư nêu rõ: “Những người cộng sản công tác ở cùng một lĩnh vực hoặc ở các lĩnh vực khác nhau, dù trẻ hay già, có cương vị công tác cao hay thấp, luôn luôn đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, phấn đấu thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng”(18).

Trong Đảng, cần phải coi việc tranh luận, thảo luận là sinh hoạt bình thường và lành mạnh, thậm chí rất cần thiết để đi đến thống nhất chung, đồng thời giúp cho đường lối, quan điểm của Đảng luôn đúng đắn, phù hợp. Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Không nên đồng nhất việc trong Đảng có những ý kiến khác nhau khi thảo luận, tranh luận với tình trạng mất đoàn kết. Trước sự phát triển của cách mạng, có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất phức tạp, chưa sáng tỏ, trong Đảng cần có thảo luận, tranh luận. Đây là sinh hoạt bình thường và lành mạnh trong Đảng, phản ánh bước trưởng thành của Đảng. Nếu mọi cán bộ, đảng viên đều nghiêm túc chấp hành nghị quyết của tổ chức, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau, có việc phải chờ đợi nhau, giải quyết có lý có tình, không vội vàng quy chụp, thì sẽ giữ gìn được sự đoàn kết”(19).

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang nghiên cứu tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng _Ảnh: TTXVN

Để xây dựng sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư nêu rõ phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của Đảng ta. Giữ vững nguyên tắc này vừa là cơ sở để Đảng ta phát huy trí tuệ sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, vừa gắn trách nhiệm của người đứng đầu vào mọi công việc, đồng thời hạn chế được tình trạng lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực. Thực tế cho thấy, ở đâu, lúc nào nguyên tắc tập trung dân chủ không được duy trì nghiêm túc thì ở đó, khi đó tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực sẽ nảy sinh, tổ chức đảng sẽ rơi vào tình trạng yếu kém, mất sức chiến đấu. Vì vậy, để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất quyết phải giữ vững nguyên tắc này. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Bản chất giai cấp công nhân đòi hỏi Đảng phải được tổ chức chặt chẽ và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thường xuyên tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Mọi sự chia rẽ, bè phái, buông lỏng kỷ luật đều trái với bản chất giai cấp công nhân của Đảng”(20). Tổng Bí thư cũng đặc biệt nhấn mạnh: “Phải giữ vững quy chế làm việc theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo. Những vấn đề quan trọng phải trải qua thảo luận tập thể, biểu quyết và chấp hành theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số”(21).

Cùng với việc duy trì nguyên tắc tập trung dân chủ, mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, tích cực tự phê bình và phê bình. Đây chính là con đường, phương thức căn bản để làm trong sạch nội bộ, đồng thời củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Tổng Bí thư yêu cầu: “Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Chăm lo củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và tình thương yêu đồng chí. Tập trung giải quyết tình trạng mất đoàn kết ở một số nơi. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng kèn cựa địa vị, tranh giành ngôi thứ, lợi lộc, cũng như đầu óc cục bộ, bản vị; bồi dưỡng tình yêu thương đồng chí, tôn trọng lẫn nhau, vì sự nghiệp chung”(22). Đồng chí Tổng Bí thư cũng căn dặn muốn tự phê bình và phê bình đi vào thực chất, hiệu quả thì mỗi cá nhân, tổ chức đều phải thực sự nghiêm túc, chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, đồng thời kiên quyết đấu tranh với việc lợi dụng kiểm điểm, tự phê bình và phê bình để thực hiện những động cơ không trong sáng. “Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình cần được chuẩn bị thật chu đáo, chỉ đạo tỉ mỉ, chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, thận trọng; làm đến đâu chắc đến đó, đạt kết quả cụ thể, thực chất. Hết sức tránh làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ. Khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; cũng như tình trạng lợi dụng để “đấu đá”, “hạ bệ” nhau với những động cơ không trong sáng. Nghiêm khắc xử lý những trường hợp trù dập phê bình và vu cáo người khác. Kinh nghiệm cho thấy, muốn tự phê bình và phê bình có kết quả tốt, điều quan trọng là phải thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, người đứng đầu phải gương mẫu và phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn”(23).

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay, bên cạnh việc củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng, cần đặc biệt quan tâm đến việc phát huy vai trò, sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tăng cường sự gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng. Tại Đại hội XIII, Đảng ta cũng xác định phải phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí”(24). Những quan điểm, tư tưởng này cũng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh: “Sức mạnh và động lực to lớn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng, tham gia tích cực của nhân dân và cả hệ thống chính trị, báo chí, mà nòng cốt là các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, như nội chính, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Nếu không dựa vào dân thì cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực khó có thể thành công. Dựa vào dân, lắng nghe dân, lắng nghe dư luận để chọn lọc tiếp thu cái đúng; phải động viên quần chúng, phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia mới chắc chắn thành công”(25).

Có thể nói, cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa chứa đựng những quan điểm lý luận căn bản của Đảng ta về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, vừa kết tinh trí tuệ, tâm huyết, trách nhiệm của người giữ cương vị, trọng trách cao nhất trong Đảng đối với vấn đề này. Những quan điểm, tư tưởng ấy của Tổng Bí thư  - trong đó có quan điểm về mối quan hệ gắn bó biện chứng giữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tăng cường đoàn kết - có giá trị to lớn trong việc định hướng tư tưởng, nhận thức, hành động và cổ vũ toàn Đảng, toàn dân ta tiếp tục kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới./.

------------------------------------

* Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tháng 2-2023
(1), (2), (3), (4), (5), (6) Nguyễn Phú Trọng, Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 14, 126, 126, 126, 14, 24
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr. 622
(8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) Nguyễn Phú Trọng, Sđd, tr. 221 - 222, 234 - 235, 222, 222, 394, 146, 423, 258, 212, 255, 486 - 487, 258, 255, 222, 281, 319
(24) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, p. I, tr. 196
(25) Nguyễn Phú Trọng, Sđd, tr. 21


Xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

NGUYỄN VĂN GẤU
Ủy viên Trung ương Đảng, Trung tướng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
19:51, ngày 28-12-2023

TCCS - Xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ trương đúng đắn, nhất quán, thể hiện tư duy mới, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Để thực hiện chủ trương này một cách hiệu quả, cần kiên trì, kiên quyết, triển khai đồng bộ các giải pháp; có lộ trình cụ thể, tiến hành thận trọng, từng bước, chủ động bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật và kịp thời phát hiện, giải quyết khó khăn, vướng mắc ngay từ cơ sở.

1- Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là sự bùng nổ của viễn thông, internet, không gian mạng trở thành môi trường đặc biệt để các quốc gia khai thác, phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin là một trong những cơ hội để đi tắt, đón đầu, phát triển đất nước nhanh và bền vững dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Tuy nhiên, không gian mạng cũng là môi trường để các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng để đăng tải nội dung chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng sử dụng không gian mạng như một công cụ đắc lực để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều thủ đoạn mới ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trắng trợn hơn.

Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết xác định việc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ, toàn diện nhiều chủ trương, giải pháp để thực hiện nghị quyết này; trong đó, xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những giải pháp cơ bản, quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần cảnh giác, hình thành phong trào hành động cách mạng sâu rộng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng _Ảnh: Hà Quốc Thái

Thực hiện chủ trương của Đảng, trong những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp về công tác tổ chức, lực lượng, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành; chú trọng phát huy tốt vai trò của các tổ chức, lực lượng, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan chức năng đã chủ động làm tốt công tác nghiên cứu chiến lược, nắm bắt, đánh giá, dự báo đúng tình hình, nhất là những vấn đề về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều giải pháp có ý nghĩa chiến lược trong thực hiện nhiệm vụ này. Chúng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, vận dụng tổng hợp hình thức, phương pháp tuyên truyền, đấu tranh; kết hợp chặt chẽ với đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên internet, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với phòng ngừa, tích cực đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, sai trái, thù địch trên không gian mạng; kết hợp phòng thủ tích cực, vững chắc với tiến công đáp trả, kịp thời ngăn chặn, xử lý các tình huống trên không gian mạng một cách linh hoạt và hiệu quả, không để bị động, bất ngờ. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “... công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, chuyển biến tích cực”(1).

Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm an toàn, an ninh mạng; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý, các ban, bộ, ngành trung ương tham mưu, cùng các địa phương tổ chức thực hiện. Đặc biệt, Nhà nước đã kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm xử lý nghiêm tổ chức và cá nhân đưa tin sai sự thật, xấu, độc trên không gian mạng. Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chú trọng khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, củng cố niềm tin của người dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ nhận thức, ý chí của người dân; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, mang lại hiệu quả rõ rệt; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người dân và thường xuyên chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó là nền tảng cơ bản để xây dựng thành công “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn có mặt hạn chế: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền đối với nhiệm vụ quan trọng này chưa được quan tâm đúng mức, tổ chức thực hiện chưa quyết liệt và chưa hiệu quả. Một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa huy động và phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên và người dân thờ ơ, đứng ngoài cuộc, có biểu hiện né tránh, hoặc coi đây chỉ là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Công tác thông tin, tuyên truyền về một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng chưa thường xuyên, kịp thời, chưa đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân. “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(2). Trước các thủ đoạn, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, một bộ phận cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân có biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác; chưa thể hiện tinh thần trách nhiệm, chính kiến khi tham gia mạng xã hội, thiếu ý thức hành động phản bác những luận điệu xuyên tạc chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; thậm chí, một số người còn có biểu hiện lệch lạc về quan điểm trên internet, mạng xã hội, hoặc phụ họa, vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch tán phát các quan điểm sai trái, phản động...

2- Dự báo trong những năm tới, các thế lực thù địch, nhất là số đối tượng phản động, phần tử cơ hội chính trị sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trắng trợn hơn. Chúng sử dụng phổ biến nhất là các phương thức liên lạc qua giải pháp cung cấp nội dung, như hình ảnh, tin nhắn, gọi điện cho người dùng (OTT) để lập hội kín, nhóm kín trên không gian mạng, từ đó móc nối, lôi kéo thành viên tham gia. Thông qua các trang mạng xã hội, như Zalo, Facebook, Youtube... các đối tượng này tổ chức các lớp học trực tuyến về cái gọi là “xã hội dân sự”, “dân chủ, nhân quyền”, tuyên truyền về cái gọi là “phương pháp đấu tranh bất bạo động”. Chúng triệt để lợi dụng các diễn đàn trên không gian mạng nhằm tác động, chuyển hóa tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; lợi dụng các sự kiện chính trị, xã hội trong và ngoài nước để bóp méo, xuyên tạc với thủ đoạn hết sức tinh vi, hòng kích động, thúc đẩy các luồng dư luận trái chiều, lôi kéo các tầng lớp nhân dân tham gia, gây áp lực với chính quyền, từ đó thực hiện âm mưu chống phá và lật đổ chế độ... Vì vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng tiếp tục diễn ra phức tạp và ngày càng quyết liệt; trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên trận tuyến này cũng sẽ ngày càng nặng nề hơn. Theo đó, xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn là một trong những chủ trương lớn, đúng đắn, vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính thường xuyên, lâu dài; đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Đây là vấn đề cơ bản, quan trọng, xuyên suốt để xây dựng thành công “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, giữ vai trò định hướng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương cần nhận thức rõ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; từ đó, đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện.

Cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; sự quản lý của chính quyền và vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tập trung xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách; kiện toàn tổ chức, bộ máy của các cơ quan quản lý nhà nước về không gian mạng và thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Coi trọng việc thực thi pháp luật về công nghệ thông tin, viễn thông, an toàn thông tin mạng từ Trung ương đến địa phương; xây dựng và hoàn thiện cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin và quy trình phối hợp xử lý thông tin chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội và từng người dân đối với nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Cấp ủy, chính quyền các cấp, cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng; cơ sở lý luận, thực tiễn của nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Tuyên truyền về kết quả đạt được và hạn chế, bất cập; nắm chắc nội dung, yêu cầu, thấy rõ thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đang đặt ra... Trên cơ sở đó, làm cho mọi tổ chức, lực lượng và toàn xã hội nhận thức rõ đây là chủ trương lớn, lâu dài, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; là yêu cầu khách quan để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới; là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của cả hệ thống chính trị.

Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng bộ, toàn diện và có chiều sâu; chú trọng đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục phù hợp với từng đối tượng; gắn với phong trào thi đua yêu nước và các phong trào, cuộc vận động của các cấp, các ngành để thu hút đông đảo mọi người tham gia, tạo ra các hoạt động sôi nổi, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Tận dụng thế mạnh không gian mạng và phát huy vai trò của cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên, các thiết chế văn hóa ở cơ sở để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp và toàn xã hội; xác định rõ và thực hiện tốt nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng _Ảnh: Tư liệu

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Trước hết, cần nhận thức rõ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng; từ đó, tăng cường phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, trong đó cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng tuyên giáo các cấp, lực lượng quân đội và công an đóng vai trò tiên phong, nòng cốt, xung kích đi đầu. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần cảnh giác, hình thành phong trào hành động cách mạng sâu rộng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, giữa Trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các “binh chủng” cùng tham gia. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, văn hóa, văn nghệ...; nâng cao vai trò trách nhiệm của cơ quan thông tấn, báo chí; đồng thời, khai thác ưu thế và phát huy sức mạnh tổng hợp của các công cụ, phương tiện tiến hành công tác tư tưởng - văn hóa của toàn xã hội trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đặc biệt, cần tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ này thường xuyên, liên tục và rộng khắp từ Trung ương đến địa phương, ở mọi cấp, mọi ngành, cơ quan, đơn vị. Quan tâm xây dựng các lực lượng chuyên trách, mà nòng cốt là các chuyên gia, nhà khoa học, ban chỉ đạo 35 các cấp, lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp... cùng tham gia xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Các cơ quan chức năng cần chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng của các thế lực thù địch; đồng thời, thường xuyên quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”; vạch trần những quan điểm sai trái, thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trên không gian mạng hòng chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Tập trung xây dựng và đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bồi đắp niềm tin, sự kiên định, vững vàng về chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, không để sơ hở khiến các thế lực thù địch lợi dụng kích động. Nâng cao năng lực phòng, chống, “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng; nâng cao trình độ khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội một cách hiệu quả, thiết thực và lành mạnh.

Chủ động nắm bắt, đánh giá và dự báo chính xác tình hình tư tưởng, dư luận trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; chỉ đạo, xử lý kịp thời các vấn đề bức xúc nảy sinh ở từng địa bàn để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, không để hình thành các “điểm nóng”, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá. Chú trọng tới thông tin trái chiều, tăng cường đối thoại, lắng nghe thông tin từ cơ sở. Thường xuyên lãnh đạo, quản lý, nắm chắc và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống thông tin đại chúng, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng nhận thức, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo dư luận tích cực và đồng thuận trong xã hội, lấy cái đẹp dẹp cái xấu; đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ hơn nữa cơ sở khoa học và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng... Xây dựng các luận cứ, luận điểm mang tính khoa học, sắc bén, thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. 

Năm là, thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Thực tiễn, kinh nghiệm tổ chức hoạt động này trong những năm qua cho thấy: Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương nào làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thì việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nơi đó có được hiệu quả thiết thực. Ngược lại, nơi nào làm không tốt thì có nhiều hạn chế, yếu kém.

Để phát huy ưu điểm và khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém, một mặt, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương cần coi trọng làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá đúng ưu điểm cũng như hạn chế, khuyết điểm và chỉ rõ nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện; phát hiện tập thể, cá nhân và những nơi làm tốt, có cách làm tốt, mô hình hay, sáng tạo, hiệu quả nhằm kịp thời biểu dương, phổ biến, nhân rộng trên phạm vi cả nước để tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và mọi người học tập, làm theo; mặt khác, kiên quyết chấn chỉnh, nhắc nhở tập thể, cá nhân có nhận thức lệch lạc, có khuyết điểm và biểu hiện vi phạm các quy định, hướng dẫn, hoặc những nơi làm chưa tốt, hiệu quả chưa cao, chưa tạo thành phong trào rộng khắp trong mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương. Cấp ủy, chính quyền các cấp cần đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm. Tuyệt đối tránh những biểu hiện hình thức, làm qua loa, đại khái; đồng thời, qua sơ kết, tổng kết phải đúc rút thành những bài học kinh nghiệm quý để tiếp tục vận dụng vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện ở các cấp, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương và từng cá nhân trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thực hiện tốt những nhiệm vụ và giải pháp nói trên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, của cả hệ thống chính trị, mà trước hết và chủ yếu là của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương và của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu./.

------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 74
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 91


Phê phán luận điệu của các thế lực thù địch đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, khẳng định tính đúng đắn của vấn đề đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý  

PGS, TS NGÔ TUẤN NGHĨA
Viện trưởng Viện Kinh tế chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
05:00, ngày 14-12-2023

 TCCS - Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, có liên quan đến mọi thành viên trong xã hội, do đó việc xác định quyền sở hữu đất đai luôn là vấn đề trọng đại của các quốc gia. Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý - đó là phương thức đúng đắn và hiệu quả nhất đối với sự phát triển của đất nước. 

Thu hoạch lúa trên cánh đồng mẫu lớn ở đồng bằng sông Cửu Long _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

Xét về loại hình quyền, quyền sở hữu đất đai là quyền sở hữu đặc biệt. Tính chất đặc biệt của quyền sở hữu đất đai thể hiện ở những khía cạnh cơ bản sau đây:

Một là, sự đặc biệt về nguồn gốc hình thành - tiền đề cho việc xác lập tính chất xã hội của quyền sở hữu đất đai.

Đất đai có khởi nguồn và là kết quả của quá trình kiến tạo tự nhiên trên vỏ địa cầu. Về phương diện này, khác với các tài sản, tài nguyên thông thường, đất đai không có nguồn gốc từ sự sáng tạo lao động của con người. Tuy vậy, để có thể biến đất đai từ trạng thái tự nhiên thành tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt hay không gian sinh tồn, lại đòi hỏi hao phí sức lao động, trí tuệ, thậm chí là sinh mạng của con người. Do đó, quyền sở hữu đất đai có tính chất xã hội bao trùm và rộng lớn hơn các quyền về tài sản khác. Đây là điều đặc biệt, song ít được chú ý vì trong xã hội hiện đại, người ta thường chỉ quan tâm tới tính năng có thể sử dụng của đất đai, còn nguồn gốc xuất phát của nó lại bị che mờ theo thời gian. Theo đó, quyền sở hữu đất đai, từ bản thân nó đã thuộc về xã hội, không phải là một loại quyền tư nhân điển hình, thuần túy như quyền sở hữu các loại tài sản khác. Đây cũng là căn cứ để xác lập các trình độ xã hội của quyền sở hữu đất đai.

Trình độ xã hội của quyền sở hữu đất đai phụ thuộc vào trình độ phát triển của phân công lao động xã hội và chịu sự tác động bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ở trình độ phát triển đầy đủ nhất, đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Sở dĩ như vậy là vì, đất đai là không gian sinh tồn, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, là kết quả của sự cống hiến, hao phí trí và lực một cách lâu dài, là sinh mệnh của toàn dân, của xã hội. Do đó, sở hữu toàn dân về đất đai sẽ phản ánh được hết sự đóng góp của tất cả thế hệ thành viên trong xã hội trong việc tạo nên loại tài sản đặc biệt này. Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, mọi thành viên trong xã hội đều được hưởng dụng đầy đủ các quyền thuộc về cấu trúc quyền sở hữu. Điều này sẽ không thể xảy ra trong điều kiện sở hữu tư nhân về đất đai. Sở hữu tư nhân về đất đai làm mờ đi nguồn gốc xã hội của đất đai, đồng nhất nguồn gốc tự nhiên, nguyên thủy của đất đai với nguồn gốc lịch sử - xã hội của đất đai khi đất đai đã trở thành tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, không gian sinh tồn của con người. Với ý nghĩa đó, quyền sở hữu đất đai phải được đặt trong mối quan hệ lịch sử - xã hội của sự hình thành đất đai. Thoát ly khỏi mối quan hệ này, cách tiếp cận quyền sở hữu đất đai sẽ mang tính phi lịch sử và giống như việc tiếp cận tài sản trong môi trường chân không.

Hai là, sự đặc biệt về mức độ và phạm vi ảnh hưởng của quyền sở hữu đất đai.

Trong quá trình sinh tồn và lao động, sản xuất, các thành viên trong xã hội dù là chủ thể quản lý, sản xuất, kinh doanh hay là người dân bình thường, đều liên quan trực tiếp tới vấn đề đất đai - với tư cách là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt hay là cương vực quốc gia, lãnh thổ, không gian sinh tồn của các dân tộc. Với ý nghĩa đó, mối quan hệ giữa con người với con người liên quan tới đất đai là một trong những mối quan hệ thường xuyên, thiết thân với mọi thành viên trong xã hội, và việc giải quyết mối quan hệ này là một trong những vấn đề hệ trọng với mọi quốc gia. Lịch sử giải quyết các quan hệ xã hội liên quan tới đất đai của loài người từ thời cổ đại đến nay luôn chứng kiến những bối cảnh phức tạp, khi công khai, khi âm thầm. Chế độ sở hữu đất đai, quyền sở hữu đất đai luôn được xác lập dựa trên những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định. Vì thế, việc bảo hộ quyền sở hữu đất đai của các quốc gia cũng là vấn đề thực tiễn lịch sử. Quan hệ đất đai không thể vượt ra ngoài khuôn khổ chế độ chính trị, con đường phát triển của xã hội và ý chí của giai cấp cầm quyền. Lô-gíc tất yếu đó là bằng chứng thép khẳng định cho tính tương thích giữa quan hệ sở hữu đất đai với chế độ chính trị - xã hội tương ứng.

Ba là, sự đặc biệt về tính chính trị, tính thiêng liêng của quyền sở hữu đất đai.

Ngay sau khi chuyển hóa thành tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, không gian sinh tồn, cương vực quốc gia, đất đai là sự kết tinh bởi trí tuệ, sức lực của những tập đoàn người dưới những chế độ chính trị nhất định. Công cuộc khẩn hoang hay phòng, chống thiên tai không thể là của một số ít người, của một thế hệ, mà là của các thế hệ nối tiếp nhau. Với tính chất đó, quyền sở hữu vốn đã mang tính chất xã hội rộng khắp, lại mang ý nghĩa chính trị, tính thiêng liêng sâu sắc. Bất kỳ sự hy sinh chính nghĩa nào của các thế hệ đi trước để bảo vệ bờ cõi, chế ngự thiên nhiên, đều rất thiêng liêng và là trách nhiệm, bổn phận đối với các thế hệ tiếp nối trong xã hội.

Trong cấu trúc quyền sở hữu đất đai, có đầy đủ quyền năng để các chủ thể được giao quyền có thể sử dụng và khai thác lợi ích từ đất đai. Vì thế, trong xã hội hiện đại, đôi khi người ta lầm tưởng, đồng nhất quyền sở hữu và quyền sử dụng, từ đó không nhận biết đủ sâu sắc về tính chính trị, tính thiêng liêng của quyền sở hữu đất đai. Mọi kết tinh hao phí sức lao động của con người đều thiêng liêng, nhưng đối với đất đai, sự kết tinh đó lớn hơn gấp nhiều lần so với các loại tài sản khác. Tính thiêng liêng của quyền sở hữu đất đai, vì thế, cũng tăng lên gấp bội.

Có thể thấy, tính chất đặc biệt của quyền sở hữu đất đai nổi bật hơn cả là, ngay từ tiền đề hình thành, nó đã thuộc về xã hội và do tính xã hội quy định. Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội từ trong bản chất của nó, song, đối với các loại tài sản thông thường, quyền sở hữu có thể thuộc về tư nhân và thể hiện tính chất tư nhân. Việc khai thác lợi ích của quyền sở hữu tài sản thông thường có thể được thực hiện một cách đầy đủ trong cấu trúc quyền sở hữu tư nhân. Trái lại, đối với quyền sở hữu đất đai, việc khai thác lợi ích của quyền sở hữu này chỉ có thể thực hiện được một cách đầy đủ trong cấu trúc quyền sở hữu xã hội, đầy đủ hơn cả là ở tính chất toàn dân của quyền sở hữu.

Sở hữu toàn dân về đất đai là phương thức để thực hiện một cách đầy đủ quyền tài sản và hưởng dụng lợi ích lớn nhất từ quyền sở hữu. Trong cấu trúc quyền sở hữu tư nhân về đất đai, lợi ích và sự hưởng dụng lợi ích từ quyền sở hữu vẫn có thể được thực hiện, tuy nhiên đó không phải là lợi ích lớn nhất, chưa phải là sự tối đa hóa lợi ích, bởi vì, với quyền sở hữu này, hàng loạt quyền mang tính lịch sử của các thế hệ người đã bị tước bỏ. Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, không những các quyền sở hữu của thế hệ hiện tại được bảo hộ, mà các quyền sở hữu của các thế hệ từ trong lịch sử cũng được tôn trọng. Như vậy, tính chất đặc biệt của quyền sở hữu đất đai lại được thể hiện rõ hơn so với bất kỳ loại hình tài sản nào và các quyền sở hữu tài sản thông thường nào.

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý - đó là phương thức đúng đắn và hiệu quả nhất đối với sự phát triển của đất nước (Trong ảnh: Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông phía đông thành phố Hà Nội) _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một trong những tiền đề vững chắc cho việc thực hiện chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Lịch sử phát triển của xã hội loài người từng chứng kiến những nấc thang khác nhau gắn với các chế độ sở hữu ruộng đất khác nhau. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, quyền sở hữu ruộng đất và nô lệ thuộc về chủ nô. Trong chế độ phong kiến, quyền sở hữu ruộng đất chủ yếu thuộc về tầng lớp địa chủ và quý tộc, người dân mặc dù được tự do hơn chế độ chiếm hữu nô lệ trước đó, song có quyền sở hữu đất đai rất hạn chế. Chế độ tư bản chủ nghĩa tiến bộ hơn chế độ phong kiến ở chỗ, người dân được tự do hơn, quyền sở hữu tài sản đa dạng hơn. Tuy nhiên, quyền sở hữu đất đai thuộc về tư nhân tạo cơ sở kinh tế cho sự phân phối dựa trên quyền sở hữu và thúc đẩy sự phân hóa về kinh tế. Sự phân hóa về kinh tế, đến lượt nó, dẫn tới sự phân hóa về cơ hội thụ hưởng các thành tựu phát triển của xã hội. Mặc dù chế độ tư nhân tư bản chủ nghĩa bao gồm trong nó sở hữu tư nhân về đất đai đã tạo ra những thành tựu văn minh vật chất và văn minh tinh thần rất cao, song, từ trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa vẫn ẩn chứa nhiều mâu thuẫn mà nhân loại còn tiếp tục phải nỗ lực giải quyết. Xã hội tư bản chủ nghĩa, như vậy, xét theo quan điểm lịch sử, không phải là đích cuối cùng trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Sở hữu tư nhân về đất đai trong xã hội tư bản chủ nghĩa đương đại chưa là tiền đề để nhân dân thực sự làm chủ. Việc tuyên bố chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được thực thi ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa là mang nặng tính hình thức, thiếu đi nền tảng kinh tế vững chắc toàn diện, trong đó có các quyền sở hữu của người dân về đất đai.

Như ở trên đã chỉ ra, trong sở hữu tư nhân về đất đai, tính chất lịch sử - xã hội của sự hình thành đất đai bị làm lu mờ đi. Thực chất, chủ nghĩa tư bản không đặt trọng tâm vào vấn đề này, các nhà tư bản chỉ quan tâm tới lợi nhuận và sự hiện hữu lợi ích từ các quyền tư nhân. Tính chất lịch sử, sự thiêng liêng của đất đai nếu không đem lại lợi nhuận sẽ bị gạt ra ngoài quá trình sản xuất. Xét về khía cạnh xã hội của vấn đề, lợi ích như vậy chưa phải là lớn nhất đối với các quyền sở hữu tư nhân về đất đai.

Ở trình độ phát triển đầy đủ nhất, sở hữu toàn dân về đất đai đem lại sự thụ hưởng và khai thác lợi ích lớn nhất, toàn diện nhất. Mỗi thành viên trong xã hội đều có quyền lợi và trách nhiệm đối với hình thức sở hữu này. Đây là tiền đề để các thành viên trong xã hội có được cơ sở kinh tế để thực hiện quyền làm chủ của mình. Theo cách tiếp cận như vậy, sở hữu toàn dân về đất đai là cơ sở kinh tế của chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - hình thức dân chủ cao và toàn diện nhất, trong đó người dân trở thành chủ thể đích thực của nền dân chủ. Diễn đạt theo cách khác, sở hữu toàn dân về đất đai là cơ sở vững chắc cho việc xây dựng chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là phương thức để thực hiện con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sở dĩ như vậy là vì, việc hướng tới xác lập chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa chính là hướng tới xác lập chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - chế độ xã hội mà trong đó, nhân dân thực sự làm chủ, là chủ và lợi ích của quá trình phát triển là của nhân dân, do nhân dân định đoạt. Cần có nhiều nội dung để đạt được trình độ phát triển như vậy, nhưng nhất định không thể thiếu phương thức sở hữu toàn dân về đất đai. Sở hữu toàn dân về đất đai là nguyên tắc, là căn cứ vững chắc để bảo đảm đúng định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển. 

Bác bỏ luận điệu đòi bỏ quy định sở hữu toàn dân về đất đai

Tại Đại hội XIII, Đảng ta đề ra nhiều chủ trương mới đối với sự phát triển đất nước và tháo gỡ những vướng mắc của quá trình phát triển, trong đó có những vướng mắc về thể chế quản lý đất đai và giải quyết quan hệ đất đai. Đảng ta chủ trương tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế về quản lý, sử dụng đất đai cho phù hợp với tình hình phát triển mới. Cụ thể hóa tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16-6-2022, “Về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao”, trong đó nêu rõ quan điểm: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Trước tình hình nêu trên, lợi dụng một số hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện quản lý và sử dụng đất đai, các thế lực thù địch ra sức truyền bá các luận điệu sai trái, đòi bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân.

Trước hết, cần thấy rõ rằng, luận điệu đòi bỏ quy định sở hữu toàn dân về đất đai không nằm ngoài mưu đồ thâm độc của các thế lực thù địch là gây chia rẽ trong tư tưởng, nhận thức của nhân dân về sự đúng đắn, khoa học của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Họ biết rằng, xóa bỏ được quan điểm sở hữu toàn dân về đất đai sẽ góp phần xóa bỏ cơ sở vững chắc của việc thực hiện chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Khi đất đai được tư nhân hóa sẽ dẫn tới tình trạng đầu cơ, các thế lực có thể thâu tóm, tích tụ đất đai ở một số ít thành viên trong xã hội và do đó, làm gia tăng sự phân hóa, rối loạn xã hội, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Từ đó, gây hoang mang, chia rẽ trong nội bộ nhân dân, gieo rắc nghi ngờ và làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng từng bước tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Có thể nói, âm mưu đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không nằm ngoài tổng thể chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, hòng phá hoại sự phát triển của đất nước ta. Không những thế, việc kêu gọi tư nhân hóa đất đai còn là thủ đoạn để xóa nhòa lịch sử, làm phai nhạt truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Các thế lực thù địch muốn lợi dụng vấn đề đất đai để tạo ra những “điểm nóng” phức tạp, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ các tôn giáo, gây rối loạn, bất ổn ở nhiều nơi. Từ đó, tạo cớ để móc nối với các phần tử cơ hội, phản động ở trong nước cũng như các phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài, gây dựng thanh thế và đánh lạc hướng dư luận quốc tế, làm giảm sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với sự phát triển ổn định của Việt Nam. Luận điệu đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của các thế lực thù địch còn nhằm mục đích gây hoang mang trong một bộ phận người dân đang chịu tác động không mong muốn trong quá trình huy động nguồn lực đất đai cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, lợi dụng sự hiểu biết chưa thấu đáo của một số ít người dân đối với chính sách, pháp luật về đất đai của Nhà nước để gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Trong những luận điệu xuyên tạc và đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, các thế lực thù địch viện dẫn một số ít hạn chế, yếu kém và sai phạm của cán bộ, công chức nhà nước trong quản lý, sử dụng đất đai, hay một vài hiện tượng khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện kéo dài của nhân dân về đất đai... để xuyên tạc rằng, chính chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã gây ra những hệ lụy như vậy. Họ thực hiện các kỹ nghệ thổi phồng một số hiện tượng cá biệt để xuyên tạc bản chất của vấn đề, nhập nhèm giữa biểu hiện và nội dung của sự việc, đánh đồng một số hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về đất đai với bản chất của cả hệ thống chính trị. Không dừng lại ở đó, họ còn tranh thủ lợi dụng một số “điểm nóng” trong quản lý, sử dụng đất đai do lịch sử để lại, đất đai liên quan đến cơ sở tôn giáo, tâm linh để câu móc với các phần tử bất mãn chế độ, các phần tử cơ hội ở trong nước cũng như lưu vong ở nước ngoài, lôi kéo các đài phát thanh, các kênh truyền thông xã hội vào vòng xoáy mập mờ, nhằm tạo ra cơn bão nhiễu thông tin và các cú sốc truyền thông, kích động gây bức xúc trong dư luận xã hội. Với nhiều thủ đoạn như vậy, họ cố tình làm phức tạp tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta.

Gượng gạo thay các luận điệu đang ra sức kêu gọi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai! Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước là bằng chứng đanh thép bác bỏ các luận điệu này. Trong giai đoạn vừa qua, xảy ra hiện tượng một số ít cán bộ, công chức mắc sai phạm trong quản lý đất đai, là do bản thân cán bộ, công chức đó không thực hiện đúng nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Thực tế cho thấy, ở nơi nào, khi nào vận dụng đúng nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, tách bạch rõ quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, thì ở đó, khi đó có sự phát triển ổn định và sự tin tưởng của nhân dân. Điều đó có ý nghĩa rất rõ ràng rằng, sở hữu toàn dân về đất đai là một chế độ sở hữu tiến bộ và toàn diện, phù hợp với sự phát triển của xã hội Việt Nam mà không thể bác bỏ, không thể thay đổi. Vì vậy, các thế lực thù địch dù có cố gắng đưa ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc về vấn đề này thì cũng sẽ bị vạch trần và bác bỏ một cách triệt để./.


Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và sự vận dụng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

TS LÊ THỊ LIÊN
Viện trưởng, Viện Nghiên cứu chính sách tôn giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ
09:50, ngày 28-11-2023

TCCS - Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là cơ sở lý luận và phương pháp luận để Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng giải quyết tốt vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng gặp mặt Đoàn đại biểu chức sắc, chức việc các tôn giáo, dân tộc thiểu số, nhân sĩ, trí thức, cá nhân tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh _Ảnh: TTXVN

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền căn bản của con người, nhưng quyền đó phải gắn chặt và đồng hành cùng với lợi ích của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Do vậy, quyền ấy chỉ có giá trị đích thực khi nó gắn với độc lập dân tộc, nước không được độc lập thì tôn giáo không được tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đấu tranh cho độc lập dân tộc chính là đấu tranh cho quyền độc lập, tự do của các tôn giáo, chính vì vậy, đấu tranh giành độc lập cho nước nhà cũng là trách nhiệm của cá nhân và tổ chức tôn giáo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân phải được tôn trọng và bảo đảm dựa trên cơ sở tôn trọng đức tin tôn giáo của mỗi người và không ai được xâm phạm, ép buộc, cản trở quyền đó. Dù thế giới quan khác nhau, niềm tin khác nhau, song không vì thế mà đối đầu, nghi kỵ, ngược lại phải tôn trọng niềm tin của mỗi người(1). Đấy chính là lý do mà ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) (ngày 3-9-1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tuyên bố “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”.

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về công tác tôn giáo” (Nghị quyết số 25), Đảng đưa quan điểm “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”. Quan điểm này được thể hiện cụ thể trong vấn đề theo đạo và truyền đạo “Mọi công dân đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới trong việc mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Từ nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng đến thực tiễn hiện nay cho thấy Việt Nam luôn quan tâm chăm lo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. 95% người dân Việt Nam có tín ngưỡng, tôn giáo. Riêng tôn giáo có 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, hơn 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; khoảng 58 nghìn chức sắc; 148 nghìn chức việc hoạt động ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước(2). Hoạt động tôn giáo, lễ hội tôn giáo diễn ra quanh năm và trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội, như lễ Phật đản của Phật giáo và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội; lễ Giáng sinh, Phục sinh của Công giáo, Tin lành; Tết Chôl Ch-nam Th-mây của đồng bào Khơ-mer; Tháng lễ Ra-ma-đan của cộng đồng Hồi giáo (Islam) và Ra-mư-oăn của cộng đồng Hồi giáo Bà-ni...

Tư tưởng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của tín đồ tôn giáo. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên và chính quyền phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào theo đạo, làm cho họ “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”(3). Tinh thần của Người đã nâng cao sự nhận thức về đoàn kết dân tộc trong đồng bào theo tôn giáo khi đưa mối quan hệ biện chứng giữa “Kính Chúa, Yêu Nước” và chuyển tải tinh thần đó cho phù hợp với thời đại và niềm tin tôn giáo của tín đồ, chức sắc tôn giáo. Tư tưởng của Người đã được các ngành, các cấp liên quan cụ thể hóa trong công tác hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo đúng chính sách, pháp luật, ủng hộ tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó đồng hành cùng dân tộc, đậm chất nhân văn của các tôn giáo. Cụ thể Phật giáo xác định đường hướng hành đạo “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, Công giáo “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; Tin lành với đường hướng “Sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; Cao đài với đường hướng “Nước Vinh Đạo Sáng”...

Có thể thấy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là cam kết chính trị của người đứng đầu nhà nước với người dân về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa là quan điểm xuyên suốt mà Đảng ta đã bảo vệ và kế thừa trong công tác tôn giáo. Tư tưởng này luôn là định hướng cho cán bộ làm công tác tôn giáo nhận thức đúng, khách quan về giá trị tôn giáo, chấn chỉnh nhận thức sai lệch, tả khuynh của một số cán bộ đối với tôn giáo trong thời điểm lúc bấy giờ và trong thực hiện công tác tôn giáo hiện nay.

Đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết tôn giáo - dân tộc

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm và kiên trì thực hiện đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân theo tinh thần “Đoàn kết Lương - Giáo”. Người luôn xem đồng bào các tôn giáo là một phần không thể tách rời của cộng đồng dân tộc và một lực lượng quan trọng của cách mạng. Điều đó không chỉ có tác dụng khuyến khích đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia cách mạng, mà còn đập tan những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc gây chia rẽ người cộng sản với đồng bào theo tôn giáo của các thế lực phản động. Từ giá trị của tư tưởng ấy của Người, Đảng ta khẳng định và phát triển trong Nghị quyết số 25: “Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo” và được thực thi, lan tỏa trong đời sống tôn giáo ở khắp mọi miền Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định các quan điểm trên trong công tác tôn giáo: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật”(4).

Để thực hiện đoàn kết lương - giáo, Người luôn cố gắng làm cho đồng bào hiểu rằng, đức tin tôn giáo và lý tưởng cộng sản có nhiều điểm tương đồng. “Đường lối và mục đích của Chính phủ nhằm ba mục tiêu sau đây: (1) Giải phóng nhân dân khỏi đói, khỏi rét (khổ sở) và khỏi dốt; (2) Đem lại cho nhân dân sự tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng; (3) Bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc”(5). Người luôn tìm và chỉ ra những giá trị đạo đức, văn hóa dân tộc với triết lý của tôn giáo để vận động, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo đi theo cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Học tập và làm theo tư tưởng của Người, Đảng ta lấy “Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(6). Làm cho đồng bào các tôn giáo tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, ủng hộ và đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng như ngày nay.

Đề cao vai trò của nhân sĩ, trí thức, chức sắc các tôn giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng đắn về vai trò xã hội và đạo đức của tôn giáo đối với một bộ phận người dân, đặt biệt Người luôn kính trọng và ca ngợi những vị chức sắc (Giáo chủ) các tôn giáo: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(7). “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(8). Với tư tưởng đó, trong lần gặp với đại biểu các tôn giáo năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò của tôn giáo trong công cuộc giải phóng dân tộc, Người nói: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã”(9) dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng, lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào theo tôn giáo.

Vận dụng tư tưởng ấy của Người, Đảng ta đưa thành quan điểm trong Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo, trong đó nêu rõ: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Coi công tác vận động chức sắc, tín đồ là một công tác trọng yếu trong công tác dân vận. Trong công tác đối với chức sắc tôn giáo, người chỉ rõ cần tranh thủ sự ủng hộ của hàng giáo sĩ, đặc biệt là hàng ngũ giáo sĩ cao cấp bằng việc mời họ tham gia cách mạng với một thái độ thực sự cầu thị, chân tình, tin cậy lẫn nhau; tạo điều kiện để các giáo sĩ vừa hoàn thiện sứ mệnh với đạo, vừa hoàn thành nghĩa vụ của người công dân, khơi dạy tinh thần dân tộc của người theo đạo. Phải coi công tác vận động chức sắc tôn giáo là công tác trí thức, bởi đội ngũ chức sắc vừa là người có “thần quyền”, vừa có “phẩm cách và phương pháp” của một người trí thức.

Với tinh thần cầu thị, thái độ chân thành Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức theo tôn giáo, trong đó có các giáo sĩ Công giáo tham gia kháng chiến, ủng hộ cách mạng. Sự có mặt của các vị nhân sĩ, trí thức, chức sắc Công giáo, như Nguyễn Mạnh Hà, Ngô Tử Hạ, Vũ Đình Tụng, Hồ Đắc Ghi, Nguyễn Thành Vĩnh, các linh mục Phạm Bá Trực, Nguyễn Bá Luật..., đặc biệt là các giám mục Lê Hữu Từ, Hồ Ngọc Cẩn có tác dụng to lớn trong việc động viên, khích lệ người Công giáo tham gia kháng chiến, kiến quốc và hạn chế việc lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.

Kế thừa và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đưa việc tranh thủ, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trở thành quan điểm và nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác tôn giáo qua các thời kỳ cách mạng và xây dựng đất nước. Đặc biệt vận động, tạo điều kiện để các vị chức sắc, tín đồ tham gia đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, thành viên các tổ chức chính trị - xã hội đại diện tiếng nói của khối tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến nay, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 15 nhiệm kỳ xây dựng và phát triển, từ khóa I đến khóa XV đều có chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia. Riêng khóa XV có 5 chức sắc trúng cử đại biểu Quốc hội. Được giáo hội giới thiệu, nhân dân lựa chọn bầu vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là những người ưu tú, có nhiều đóng góp trong công tác lập pháp và sự nghiệp xây dựng đất nước, luôn thể hiện rõ trách nhiệm người đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân nói chung, của đồng bào theo tôn giáo nói riêng. Trên tinh thần đấy, từ năm 2016 đến năm 2022, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã 3 lần gặp mặt, biểu dương các chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tổ chức tôn giáo tiêu biểu có đóng góp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương thường xuyên có những cuộc gặp gỡ, đối thoại, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo góp phần thúc đẩy tôn giáo ngày càng đồng hành, gắn bó với đất nước.

Nhân dân xem múa rồng nhang đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung - lễ hội lớn nhất trong năm của Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh trong đêm trung thu _Nguồn: thanhnien.vn

Phát huy giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo

Trong ứng xử với tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận và phát huy những giá trị tích cực của các tôn giáo, lấy đó làm điểm chung để đoàn kết tôn giáo, dân tộc. Người luôn tìm những giá trị nhân văn của các tôn giáo để cổ vũ, khích lệ chức sắc và đồng bào theo tôn giáo phát huy giá trị đó vào xây dựng đạo đức xã hội. Người đánh giá cao lòng bác ái, đức hy sinh của những vị sáng lập ra tôn giáo, sáng lập giá trị chân - thiện - mỹ trong triết lý tôn giáo với mục đích chung là mưu cầu hạnh phúc cho con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của người Công giáo. Mười điều răn của Chúa quy lại thành hai điều “Kính Chúa - Yêu Người” được Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể hóa tinh thần yêu người thành yêu nước một cách tài tình, để người Công giáo gắn bó với quê hương, đất nước. Người coi các biểu tượng tôn giáo chính là văn hóa, là niềm tin của tín đồ cần giữ gìn. Trong kháng chiến Người căn dặn không nên vì tiêu thổ kháng chiến mà phá gác chuông nhà thờ, trừ khi giáo dân nhận rõ việc đó là bảo vệ địa phương và tán thành. Trước khi làm việc ấy phải làm lễ rước thánh giá đi nơi khác cho trọng thể(10). Tư tưởng của Người được Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo vệ và phát triển thành quan điểm trong Nghị quyết số 25, “Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân”. Trong báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 tại Đại hội XIII của Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển những quan điểm lớn của Đảng về tôn giáo, đặc biệt là phát triển quan điểm mới là phát huy nguồn lực tôn giáo vào các hoạt động cụ thể của xã hội “Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”(11). Từ tư tưởng đó, trong công tác tôn giáo, các cấp, các ngành đã vận dụng và phát huy giá trị đạo đức, văn hóa tôn giáo trong việc sống hiếu thảo, trung thực, nhân ái, hướng tới điều lành, tránh xa điều ác góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Khơi dậy đóng góp tích cực của tôn giáo trong các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện, nhân đạo. Hiện nay, cả nước có 300 trường, lớp mầm non, 2 nghìn lớp học tình thương, 12 cơ sở dạy nghề; 500 cơ sở khám, chữa bệnh do cá nhân, tổ chức tôn giáo thành lập và điều hành; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội đang nuôi dưỡng 12 nghìn các đối tượng cần trợ giúp(12), góp phần cùng nhà nước chăm lo đời sống cho người dân còn khó khăn.

Kiên quyết chống việc lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân

Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực cực đoan, thù địch luôn tìm cách chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng dưới nhiều hình thức khác nhau; tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để lôi kéo, kích động tín đồ các tôn giáo nhằm mục tiêu chống phá Việt Nam từ bên trong, phá hoại thành quả cách mạng của dân tộc. Trước thực trạng đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao đóng góp của tôn giáo cho cách mạng, nhưng kiên quyết chống việc lợi dụng tôn giáo, lợi dụng lòng tin của tín đồ để phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người luôn giáo dục cán bộ rằng bản chất của tín đồ là tốt, nếu có ai đó thiếu kiên định không đi cùng dân tộc, thì chỉ là do người xấu lôi kéo nên phải có thái độ khoan hồng, độ lượng với những người lầm đường lạc lối. Phải làm cho quần chúng hiểu rõ thái độ của Đảng và Nhà nước ta không chống tôn giáo, mà chỉ chống lợi dụng tôn giáo, chống chế độ người bóc lột người. Tư tưởng của Người đã trở thành quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong công tác tôn giáo được thể hiện trong Nghị quyết số 25: “Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia”. Quan điểm trên tạo ra môi trường ổn định, lành mạnh cho các hoạt động tôn giáo thuần túy của người dân. Thực tế chứng minh Việt Nam chưa từng xẩy ra mâu thuẫn, xung đột, chiến tranh tôn giáo như các nước trong khu vực và trên thế giới và thành quả của công tác tôn giáo chính là điểm đến Việt Nam an toàn, hấp dẫn và thân thiện cho các hội nghị, hội thảo lớn về tôn giáo tầm quốc tế, khu vực trong nhiều năm qua.

Trong công tác đấu tranh với những biểu hiện sai trái của tín đồ các tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ phải kiên trì, sát dân, hiểu dân để vận động dân. Phải giải thích để đồng bào hiểu âm mưu thâm độc của kẻ thù lợi dụng tôn giáo, lợi dụng niềm tin của người dân để phản nước, hại dân, làm hại tôn giáo. Chỉ có cách mạng mới là con đường giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, trong công tác tôn giáo hiện nay Đảng ta yêu cầu “Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn. Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng” (Nghị quyết số 25). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ “Xử lý hài hòa các vấn đề dân tộc, tôn giáo, bức xúc xã hội, không để xẩy ra các “điểm nóng”. Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự, gây bức xúc trong dự luận, củng cố niềm tin của nhân dân”(13) .

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng của Người về tôn giáo là giá trị chính trị lớn đã và đang được Đảng, Nhà nước vận dụng triệt để và sáng tạo trong công tác tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Tư tưởng ấy được nhân dân ta học tập nâng cao nhận thức và vận dụng để góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước./.

----------------------

(1) Xem: Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm, Nxb. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr. 73
(2) Ban Tôn giáo Chính phủ: Báo cáo Tổng kết tình hình, công tác năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2020 của ngành quản lý Nhà nước về tôn giáo

(3) Xem: Ngô Hữu Thảo: Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác - Lê-nin đến thực tiễn Việt Nam, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012, tr. 74
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 272
(5) Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm, Sđd, tr. 74
(6) Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, “Về công tác tôn giáo”
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 95
(8) Lê Hữu Nghĩa - Nguyễn Đức Lữ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2003, tr. 285
(9) Báo Cứu quốc, ngày 14-1-1946
(10) Xem: Lê Hữu Nghĩa - Nguyễn Đức Lữ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Sđd, tr. 271
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 272
(12) Ban Tôn giáo Chính phủ: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam (sách trắng), Nxb. Tôn giáo, 2023, tr. 93 - 94
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 281


Cổ xúy “chọn bên”: Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị nhằm chống phá đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

NGUYỄN THỊ HOA
Tạp chí Cộng sản
09:27, ngày 23-11-2023

TCCS - Thời gian vừa qua, lợi dụng tình hình, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, khó lường, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại ráo riết tuyên truyền luận điệu cho rằng Việt Nam cần dựa vào nước này, nước khác để phát triển. Đằng sau những “kiến nghị”, “đề xuất” của các nhóm tự cho là “nhà hoạt động dân chủ”, “các tổ chức xã hội dân sự” dưới danh nghĩa cái gọi là “người yêu nước”, có “tâm huyết”, có “trách nhiệm” với vận mệnh quốc gia - dân tộc, là những âm mưu, hành động nhằm chống phá đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Đằng sau âm mưu cổ xúy “chọn bên”

Lâu nay, chính sách đối ngoại của Việt Nam là một trong những mục tiêu tấn công của các thế lực thù địch, phản động. Ngoài việc bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất các vấn đề, các sự kiện, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam, họ còn cổ xúy cho cái gọi là “chọn bên”, rằng Việt Nam cần dựa vào nước này để chống nước khác. Gần đây, trước những biến động lớn của đời sống quốc tế liên quan đến cạnh tranh giữa các cường quốc, nhất là cuộc xung đột tại U-crai-na, các phần tử phản động lại rộ lên các chiêu bài cũ, liên tục rêu rao “giảng dạy” cho Việt Nam về chính sách ngoại giao với các nước, đặc biệt là mối quan hệ với các nước lớn, cho rằng đây là cơ hội lịch sử nghìn năm có một để “Việt Nam vươn ra khỏi vòng kim cô”, rằng đây là lúc “thoát Trung, bài Nga”, sớm “đưa Việt Nam hội nhập vào thế giới tự do, văn minh và tiến bộ của phương Tây, đúng với vị trí mà thế giới mong đợi(?!)”. Thậm chí, trên các trang facebook của họ còn xuất hiện cái gọi là “thoát Trung luận” với những luận điểm cổ xúy cho việc chọn bên. Họ cho rằng Việt Nam cần dựa vào Mỹ và các nước phương Tây để vừa phát triển kinh tế, vừa “ngăn chặn hiểm họa từ nước khác”.

Một số quan điểm cho rằng, Mỹ đang muốn lôi kéo Việt Nam vào liên minh chống Trung Quốc do Mỹ đứng đầu, muốn Việt Nam gia nhập “Bộ tứ kim cương mở rộng” nhằm tăng cường sức ép đối với Trung Quốc. Không chỉ đưa ra những luận điểm “bài”, “thoát”, mà họ còn cho rằng cần thiết lập “đồng minh” với các nước lớn, quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam, nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, họ hô hào rằng, chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc; không liên minh quân sự thì mất lãnh thổ, chủ quyền ở Biển Đông; Việt Nam nên liên minh quân sự với các nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh để được hỗ trợ tối đa về mặt quân sự, kể cả đưa vũ khí trang bị, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Thậm chí, có ý kiến còn cổ xúy cho quan điểm không liên minh quân sự là đúng trong trường hợp nhằm chống nước khác, nhưng sẽ không đúng đối với trường hợp để bảo vệ Tổ quốc; rằng cần có cách tiếp cận mới và sớm điều chỉnh quan điểm chỉ đạo này. Họ cho rằng, vì mục đích bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì chẳng những cần thiết mà thậm chí nên chủ động liên minh trước với các nước thật sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Thông qua thủ đoạn thâm độc này, họ tìm cách tác động đến dư luận, để qua đó hướng lái chính sách đối ngoại, hòng đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo lệ thuộc, từ đó làm chệch hướng sự nghiệp cách mạng mà Việt Nam đang thực hiện.

Thực tế, chiêu trò xuyên tạc chính sách đối ngoại, cho rằng Việt Nam không “dứt khoát” trong quan hệ quốc tế, kích động Việt Nam phải thể hiện lập trường, phải chọn bên, là một thủ đoạn thường xuyên được các thế lực thù địch, phản động tìm cách phát tán, cho thấy một sự nhận thức lệch lạc, thiếu hiểu biết, thiếu khách quan, suy diễn một chiều, mơ hồ về chính trị, xuyên tạc vô căn cứ đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Thực chất của những hoạt động trên cũng chỉ nhằm thông qua sự can thiệp từ bên ngoài hòng lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta.

Chọn bên hay chọn lợi ích quốc gia - dân tộc?

Thực tiễn lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy, giữa các nước lớn, nhất là giữa các cặp quan hệ, luôn tồn tại mâu thuẫn và khác biệt sâu sắc về lợi ích. Khi giữa các cường quốc có sự đối địch, chia phe, cạnh tranh ảnh hưởng sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khó xử đối với các nước vừa và nhỏ trong việc phải “chọn bên”. Bởi lẽ, không phải cứ chọn bên là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc, khi mà tham vọng lợi ích của các cường quốc thường vượt quá giới hạn luật pháp quốc tế và đi ngược lại lợi ích chung của nhân loại, đề cao lợi ích của mình để xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và giá trị lợi ích của họ. Thậm chí, kể cả khi lợi ích của họ có sự hội tụ nhất định ở một vài điểm, khía cạnh nào đó, họ cũng sẵn sàng mặc cả trên lưng các nước khác.

Việc chọn bên mà không tính và không lường hết được những toan tính chiến lược đó sẽ chỉ tạo ra sự phân cực, chia rẽ mới, gây thảm họa cho chính quốc gia đó. Và khi chọn bên, tham gia liên minh thì cái giá phải trả là gì? An ninh chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc phải chăng sẽ được bảo đảm bằng những lời hứa, cam kết? Điều chắc chắn, đó là phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc của mình với cường quốc khi tham gia liên minh. Đó là điều không thể khác trong quan hệ quốc tế. Do vậy, dựa vào một quốc gia nào đó cho dù là “nước phát triển”, hay “cường quốc” thì chẳng những không giải quyết được vấn đề, mà còn khiến tình hình thêm căng thẳng và phức tạp.

Thế nhưng, không ít người ngộ nhận rằng, lựa chọn đứng về “bên” nào sẽ quyết định tương lai, số phận của quốc gia đó. Bài học lịch sử cho thấy, một số nước do không giữ được độc lập, tự chủ, nên phải tìm chỗ dựa hoặc cầu viện vào thế lực bên ngoài, bị cuốn vào guồng quay của những toan tính nước lớn mà không dễ gì thoát khỏi, để đất nước rơi vào thảm cảnh loạn ly bởi các cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Các cuộc “cách mạng màu”, hay còn gọi là “cách mạng dân chủ” trên thế giới trong những năm qua là hệ quả của việc quốc gia, khu vực không bảo đảm độc lập, tự chủ, để các lực lượng bên ngoài thao túng, can thiệp khi xảy ra khủng hoảng, khiến nút thắt của những xung đột, mâu thuẫn, đối kháng nội bộ càng thêm rối ren.

Lựa chọn chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trước hết là quyền của mỗi quốc gia. Không một ai, với tư cách, danh nghĩa gì được phép tước bỏ, xâm phạm quyền đó, hoặc lợi dụng để ép buộc quốc gia khác phải đi theo mô hình, giá trị của họ. Việc chọn bên hay không chọn bên, đều phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước, phải bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc; dựa vào sức mình là chính, luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ; không thể ảo tưởng, trông chờ, phó thác hoàn toàn vào bất cứ “bên”, “liên minh” nào, nhất là ngày nay, xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trên thế giới ngày càng chiếm vai trò chủ đạo.

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, nhất là trong thời điểm biến động sâu sắc về địa - chính trị hiện nay, sự cạnh tranh cũng như điều chỉnh chính sách của các nước lớn khác trước rất nhiều so với giai đoạn trước, chứa đựng nhiều nhân tố khó dự báo. Việc các nước lớn đều theo đuổi các tầm nhìn khác nhau về cấu trúc khu vực, xúc tiến mở rộng tập hợp lực lượng, gia tăng ảnh hưởng thông qua các sáng kiến khu vực, hình thành các liên minh tay ba, tay tư, sử dụng “quyền lực mềm” nhằm lôi kéo sự ủng hộ của các nước thông qua các quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại, chuyển giao công nghệ, viện trợ,... đặt các nước vừa và nhỏ trước ranh giới của sự “chọn bên”. Duy trì chính sách độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trở thành một bài toán nan giải đối với các nước.

Một thực tế khác cũng cần nói đến là, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, vừa là đối thủ, vừa là đối tác của nhau. Quan hệ tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước tạo nên một mạng lưới đan xen phức tạp, chồng chéo, khiến việc giữ độc lập, tự chủ, tránh chọn bên của các nước ngày càng trở thành một thách thức.

Thực tế này đòi hỏi các nước nhỏ càng phải phát huy cao nhất tinh thần độc lập, tự chủ; vừa kiên định trong lập trường, vừa hết sức khôn khéo, mềm dẻo trong đấu tranh vì lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, tránh xung đột, đối đầu; đồng thời, phải tính đến không gian phát triển, không tự bó buộc mình vào vị trí bất lợi cho đất nước trong bối cảnh cục diện quan hệ quốc tế còn nhiều bất định; sự vận động của cấu trúc quyền lực thế giới mới đang có nhiều đảo chiều, biến đổi.

Trong bối cảnh đó, cân bằng quan hệ để tránh tối đa những mâu thuẫn, bất lợi, rủi ro, leo thang thành cuộc đối đầu, xung đột toàn diện; tối đa hóa không gian hợp tác, tối ưu hóa lợi ích an ninh, phát triển là sự lựa chọn của hầu hết các nước trong khu vực hiện nay. Đối với các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), lập trường của hầu hết các nước là không “chọn bên” trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn. Đây là vấn đề cốt lõi, sinh tử của các nước, bởi sự “chọn bên” có thể dẫn đến sự phân hóa, chia rẽ mới trong khu vực, biến khu vực thành “sân khấu tranh chấp địa - chính trị”. Thực tế đó đòi hỏi các nước triển khai chính sách linh hoạt, tránh xung đột, đối đầu. Đây được cho là sự lựa chọn tối ưu nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia, bảo vệ chủ quyền đất nước, duy trì thế tự chủ chiến lược, thể hiện khát vọng một ASEAN tự cường, trung lập, hòa bình, ổn định, củng cố “vai trò trung tâm” trong bối cảnh tác động chiến lược ngày càng gia tăng giữa các nước lớn.

Việc một số quốc gia xích lại gần bên nọ, bên kia là điều tự nhiên; liên minh để bảo đảm an ninh, phát triển là điều dễ hiểu, song hầu hết các nước không muốn bị ép buộc phải chọn bên. Hơn lúc nào hết, việc chọn bên trong thời điểm cao trào xung đột nước lớn, giống như việc “đổ thêm dầu vào lửa”, tạo thế đối trọng giữa các bên, mâu thuẫn giữa các trục liên minh cũng vì thế gia tăng, làm tổn hại đến chính lợi ích của các nước. Do vậy, quan điểm cổ xúy “chọn bên” chỉ là ảo tưởng, phi thực tế, phi căn cứ. Lợi ích quốc gia - dân tộc mới chính là sự lựa chọn phù hợp, bất biến, bền vững. Việt Nam cũng như nhiều nước trong khu vực, luôn thấu hiểu rõ điều này. Uy-li-am Chong, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (SAS - Yusof Ishak) có trụ sở tại Xin-ga-po, khi nói về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bài viết “Mạnh mẽ và tinh tế: Cách tiếp cận của Việt Nam để đối phó với sự cạnh tranh của các cường quốc”, trên trang mạng Thinkchina ngày 10-5-2021 đã cho rằng: “Nếu quyền tự quyết trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn là khả năng tối đa hóa lợi ích từ cả hai cường quốc trong khi áp dụng các chính sách phòng ngừa rủi ro để duy trì quan hệ, thì Việt Nam là một điển hình kinh điển của nghệ thuật đó, có thể giúp các quốc gia Đông Nam Á khác nhân rộng chính sách này một cách hữu hiệu”.

Lễ thượng cờ ASEAN nhân dịp kỷ niệm 56 năm Ngày thành lập ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2023) và kỷ niệm 28 năm Ngày Việt Nam gia nhập ASEAN (28-7-1995 - 28-7-2023) tại Hà Nội _Nguồn: qdnd.vn

Việt Nam không chọn bên, mà chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển

Thứ nhất, trong lịch sử cách mạng và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam nhất quán không “chọn bên”.

Có thể khẳng định, đường lối đối ngoại xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở đó luôn kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, không phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ được kết tinh từ trong lịch sử, thể hiện ý chí tự cường của một dân tộc nhỏ trước các thế lực ngoại xâm hùng mạnh. Tinh thần độc lập, tự chủ thể hiện trong những văn kiện đầu tiên của Đảng giai đoạn tổng khởi nghĩa giành chính quyền với tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp từ ngoài vào”(1). Tư tưởng độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và định hình các hoạt động đối ngoại của Việt Nam, được phát huy cao độ trong quá trình đấu tranh cách mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ của Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao, mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong suốt chiều dài lịch sử, trước những biến đổi của thời đại, sự chênh lệch tương quan lực lượng giữa Việt Nam và các nước khác, nhưng Việt Nam đã bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc của mình chính là nhờ kiên trì theo đuổi mục tiêu và nguyên tắc độc lập, tự chủ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động, chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Trước các biến cố chao đảo của thời cuộc, giữa những dao động, ngả nghiêng của lòng người, của niềm tin về tương lai của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, Việt Nam vẫn vững vàng, kiên tâm trên con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; trên cơ sở đánh giá lại cục diện thế giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong tình hình mới, giữ vững độc lập, tự chủ, đưa đất nước đi lên.

Trong thời kỳ Đổi mới, vận dụng sáng tạo quan điểm độc lập, tự chủ, Việt Nam đã thực hiện chính sách đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, tránh phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào. Qua các kỳ Đại hội, đường lối đối ngoại đã được bổ sung và hoàn chỉnh. Từ chỗ “Việt Nam muốn là bạn”, đến “Việt Nam sẵn sàng làm bạn”, và hiện nay “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhất quán, có tầm quan trọng xuyên suốt, mang ý nghĩa sống của Việt Nam trên con đường đổi mới.

Xuyên suốt lịch sử cách mạng đấu tranh cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự với cường quốc, không đứng về bên nọ để chống bên kia. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, phát huy nội lực, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, thực hiện chính sách đối ngoại vì hòa bình, tự vệ, chính nghĩa, nhân văn, nhân đạo, để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Những gì thuộc về chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao, bất khả xâm phạm. Đây là vấn đề bất biến, cốt lõi, chính yếu, thường trực, không thể đánh đổi hay nhân nhượng, không thể để nước ngoài thao túng, quyết định vận mệnh của đất nước. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. 

Trong những thời kỳ lịch sử cách mạng, Việt Nam có lúc bị kẹt giữa những toan tính của các nước lớn, song chúng ta vẫn vượt qua được những thách thức hiểm nghèo, bảo toàn được thành quả cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, khi cạnh tranh giữa các nước lớn có nguy cơ chia rẽ thế giới theo những lằn ranh mới, quyết liệt và sâu sắc hơn, tác động trực tiếp và nhiều chiều đến quan hệ quốc tế, Việt Nam vẫn kiên vững chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, không ngả theo bên nọ để chống bên kia. Hiếm có quốc gia nào có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn như Việt Nam(2); và có quan hệ ngoại giao với 192 trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Việt Nam đã gắn kết và đan xen lợi ích với nhiều quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh. Quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định. Việt Nam chủ động thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác; tích cực hội nhập quốc tế ngày một toàn diện, sâu rộng Trong bối cảnh thế giới và khu vực đan xen nhiều thách thức khó lường, Việt Nam phát huy vai trò là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm đổi mới là minh chứng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Việt Nam.

Như vậy, quan điểm cho rằng Việt Nam cần dựa vào nước ngoài để gia tăng sức mạnh bảo vệ, phát triển đất nước là không có cơ sở, ảo tưởng, phi thực tế.

Thứ hai, Việt Nam chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển

Bối cảnh quốc tế hiện nay có nhiều biến động phức tạp, bất lường. Cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vực và trên thế giới ngày càng quyết liệt trên nhiều lĩnh vực, diễn ra dưới nhiều hình thức, với quy mô, phạm vi ngày càng mở rộng, tính đối kháng ngày càng gay gắt, nội dung ngày càng phức tạp, do đó tính khốc liệt cũng ngày một gia tăng, không gian và thời gian là vô cùng, không có giới hạn, đôi khi mang dáng dấp một cuộc chiến tranh lạnh. Các nước lớn vừa đấu tranh, vừa thỏa hiệp, kéo theo đó là những tập hợp lực lượng mới manh nha, những “sáng kiến” chiến lược được hình thành, những điều ước mà đằng sau đó là những liên minh, liên kết... ra đời, nhiều khi đặt các nước phải thể hiện rõ lập trường, tham gia hay không tham gia, tham gia như thế nào để đạt được lợi ích tối ưu cho đất nước. Thế giới dường như ngày càng có xu hướng phân tuyến rõ ràng. Việt Nam - một quốc gia thành viên ASEAN có vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế quan trọng trong khu vực, là đối tượng quan tâm của các nước lớn. Do vậy, trong quan hệ hợp tác với Việt Nam, các nước đều hàm ý muốn lôi kéo Việt Nam tham gia những sáng kiến, tập hợp lực lượng mà họ “dàn xếp”, thông qua “sức mạnh mềm” viện trợ, đầu tư, phát triển... Bối cảnh đó đòi hỏi Việt Nam xác định nguyên tắc, lợi ích và cách ứng xử với các nước trên cơ sở lợi ích chung; lựa chọn đối sách có lợi cho đất nước, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cần thấy rõ rằng, trong quan hệ quốc tế, hợp tác và đấu tranh là hai mặt song hành; trong quan hệ đối tác - đối tượng có sự đan xen, chuyển hóa. Phương châm này giúp chúng ta tận dụng cơ hội hợp tác; đồng thời, thấy rõ hơn sự khác biệt về lợi ích để tìm các giải pháp đưa quan hệ phát triển, không bỏ lỡ cơ hội hợp tác, nhưng cũng không lơ là, mất cảnh giác. Mục tiêu cơ bản, lâu dài trong nhận thức và vận dụng quan điểm về đối tác, đối tượng của Đảng ta là nhằm tăng cường đoàn kết, mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với bè bạn quốc tế, khai thác mặt đối tác, ngăn ngừa, hạn chế, thu hẹp mặt đối tượng. Do vậy, không thể cho rằng, đối tác chỉ là để hợp tác và đối tượng chỉ là để đấu tranh. Với nhận thức mới như vậy, trong môi trường quốc tế ngày càng “phẳng”, sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng sâu sắc, đa chiều..., Việt Nam đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, cả song phương và đa phương, với cả những nước có yếu tố đối tượng của chúng ta. Đối với các vấn đề bất đồng, nhất là trong quan hệ với các nước lớn, nước láng giềng, Việt Nam tìm cách xử lý khôn khéo, tránh đối đầu, tránh “chọn bên”, song kiên quyết, kiên trì giữ vững nguyên tắc; đối thoại, hợp tác để xử lý các khác biệt, bất đồng, bảo đảm hài hòa lợi ích, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, với tầm nhìn chiến lược là phục vụ mục tiêu an ninh, hòa bình, phát triển của đất nước. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị Quân chính toàn quân ngày 20-12-2022: “Kịp thời nhận diện, xử lý đúng đắn, hài hòa, linh hoạt đối tác, đối tượng quốc phòng, không để bị động, bất ngờ; ngăn ngừa nguy cơ xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc, không “chọn bên”(3).

Thời gian qua, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp; cuộc cạnh tranh, thậm chí có lúc lên tới mức đối đầu giữa các nước lớn hiện nay đang đặt nhân loại trước những hiểm họa khôn lường, khó dự đoán. “Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta”(4).Trong điều kiện tình hình thế giới vô cùng nhạy cảm, phức tạp hiện nay, Việt Nam kiên trì thực hiện chính sách “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy và đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, là thượng sách để giữ vững hòa bình đất nước, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam đã phát huy sức mạnh “Ngoại giao cây tre”: mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo, nhưng rất bản lĩnh, kiên định, như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (năm 2016) và tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc năm 2921, góp phần giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm. Cứng mà không gãy, đa phương mà không phụ thuộc, “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua bằng sự uyển chuyển, khéo léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, song cũng kiên trì, kiên quyết trong ứng xử những vấn đề thuộc về nguyên tắc “bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế”, không chỉ khai thông “thế khó” của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, mà còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế đất nước, góp phần bảo vệ và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiễn cán bộ, chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 5 và Đội công binh số 2 lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Abye _Nguồn: vietnamplus.vn

Với truyền thống văn hóa giữ nước hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, trọng lẽ phải, chính nghĩa, là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác trong giải quyết những vấn đề an ninh đang nổi lên, đóng góp vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì nền hòa bình bền vững của nhân loại.

Như vậy, quan điểm cổ xúy cho việc “chọn bên” hoàn toàn đi ngược lại  với đường lối, chủ trương của Đảng, trái chiều với lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng ta không chọn bên mà chọn chính nghĩa, lẽ phải. Trong bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) ngày 12-5-2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nêu rõ: “Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng”. Chọn chính nghĩa là chọn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển của đất nước ta. Chọn lẽ phải là chọn hòa bình và phát triển thịnh vượng của thế giới.

Chúng ta chọn hòa bình bởi Việt Nam đã trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến chống xâm lược, các thế hệ người Việt Nam đã đổ bao xương máu để giành và giữ nền độc lập, tự do dân tộc, sự vẹn toàn của bờ cõi, chủ quyền đất nước, nhưng Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, khát vọng hòa bình cũng chính là khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và ngày nay là khát vọng phồn vinh, hạnh phúc, tự cường.

Chúng ta chọn phát triển, hợp tác vì đó là sự lựa chọn hợp lẽ, vì mục tiêu phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phù hợp với xu hướng chung của tất cả các nước trên thế giới. Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Khát vọng phát triển của đất nước gắn liền với khát vọng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của cả khu vực và thế giới.

Sự lựa chọn đó của Việt Nam phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Và chỉ có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại mới có thể bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đưa đất nước phát triển hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc./.

-----------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 5, tr. 136
(2) Việt Nam có 5 đối tác chiến lược toàn diện, đó là Trung Quốc (nâng cấp quan hệ năm 2008), Nga (năm 2012), Ấn Độ (năm 2016), Hàn Quốc (năm 2022), Mỹ (năm 2023).
(3) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 177 
(4) Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, https://vtv.vn/chinh-tri/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-be-mac-hoi-nghi-trung-uong-8-khoa-xiii-20231008162333305.htm