Nhận diện và phản bác một số quan điểm sai trái, thù địch về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

GS, TS LÊ VĂN LỢI
Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
09:53, ngày 12-03-2024

TCCS - Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không ngừng ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng nhằm thực hiện mưu đồ “chuyển hóa” về nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Một trong những nội dung mà các thế lực này xuyên tạc, suy diễn, bôi nhọ nhiều nhất là những vấn đề liên quan đến xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hòng “hướng lái” hệ thống chính trị của nước ta theo hướng phát triển của các nước tư bản chủ nghĩa. Do đó, cần nhận diện rõ luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị để có những luận cứ đấu tranh phản bác xác đáng, thuyết phục.

Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Các quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tập trung vào những khía cạnh chủ yếu sau:

Một là, xuyên tạc, phủ nhận bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thời gian qua, trên nhiều diễn đàn khác nhau, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc rằng bản chất Nhà nước ta là “độc tài”, “toàn trị” trên cơ sở các luận điệu xuyên tạc, suy diễn, bôi nhọ hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta, như “chế độ một đảng của Việt Nam là trái với nguyên tắc pháp quyền, không thể phát huy được dân chủ mà chỉ mang tính độc tài, áp đặt”(!?); “Trước tình trạng cai trị độc tài, vô hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền, dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông”(!?); “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị - đảng chủ”(!?) và cáo buộc rằng thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay là “không phù hợp với chuẩn mực quốc tế”, “trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền” hay “Hiến pháp Việt Nam là không chính danh, chỉ là điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, toàn trị”(!?)...

Hai là, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, các thế lực thù địch, phản động không ngừng bôi nhọ, bóp méo, xuyên tạc việc thực hiện dân chủ ở nước ta, cho rằng ở Việt Nam không có dân chủ. Các thế lực thù địch còn ra sức xuyên tạc, kích động tư tưởng hoài nghi về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, xuyên tạc công tác bầu cử ở nước ta chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng Cộng sản đạo diễn. Các thế lực phản động nước ngoài đã câu dẫn, kích động các phần tử cơ hội chính trị trong nước thực hiện chiêu trò “tự ứng cử”, hô hào các hội nhóm dân chủ trên mạng xã hội ủng hộ cho các “nhà dân chủ” hòng gây rối, phá hoại bầu cử; đồng thời, rêu rao Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử. Ngoài ra, chúng còn lan truyền kịch bản “xếp ghế” cho nhân sự Quốc hội trên mạng xã hội, rêu rao rằng bầu cử chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”... Đây hoàn toàn là những luận điệu phản động, xảo trá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Ba là, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn đưa ra nhiều luận điệu sai trái hòng xuyên tạc, phủ nhận bản chất pháp quyền của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chẳng hạn như “nhà nước pháp quyền là giá trị của các nước tư bản, việc Việt Nam đặt lại vấn đề xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền là có hướng đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(!?) và “chỉ có nhà nước pháp quyền tư sản, không có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(!?), từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và cho rằng chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là “thiên đường vĩnh hằng”; và “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”, “đa đảng, đa nguyên là thành tố quan trọng nhất để xây dựng nên một quốc gia dân chủ” và “đa đảng sẽ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của nhân dân”(!?). Theo đó, những “nhà dân chủ” đòi Việt Nam sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sửa đổi thể chế Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình “tam quyền phân lập”.

Qua các luận điệu trơ trẽn đó, có thể thấy rõ mưu đồ của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là xuyên tạc, phủ nhận sự tồn tại và bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mưu toan “hướng lái” con đường phát triển của Việt Nam theo các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là xây dựng nhà nước theo mô hình của các nước tư bản, thực hiện “tam quyền phân lập”. Đây là âm mưu rất thâm độc hòng chống phá những vấn đề căn cốt của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Luận cứ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  Việt Nam

Việc các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn, bôi nhọ trên cơ sở các luận điệu phi lý, thiếu căn cứ hòng phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là điều không thể chấp nhận, thể hiện thông qua các vấn đề sau:

Một là, dân chủ là xu hướng phát triển tiến bộ của lịch sử loài người, nhưng nó không được quyết định bởi chế độ một đảng hay nhiều đảng mà tùy thuộc vào việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của giai cấp nào và hướng đến mục tiêu gì.

Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ mang tính phiến diện. Thực tiễn cho thấy, đất nước có dân chủ không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì hoạt động của đảng đó sẽ mang tính cục bộ và khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận để trở thành lực lượng lãnh đạo cho toàn xã hội. Ngược lại, nếu một đảng vừa đại diện cho lợi ích của đảng mình, giai cấp mình, vừa đại diện cho lợi ích của toàn xã hội thì chắc chắn đảng đó sẽ được nhân dân tin tưởng, ủy thác làm lãnh đạo xã hội. Điều đó là minh chứng xác thực để khẳng định rằng không phải đa đảng là dân chủ và một đảng là mất dân chủ.

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng chính trị một mặt phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mặt khác phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Trong các nước tư bản chủ nghĩa, có nhiều đảng chính trị, nhưng chỉ có những đảng của giai cấp tư sản là cầm quyền. Những đảng đó có thể khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể, nhưng về bản chất đều đại diện cho các nhóm khác nhau trong giai cấp tư sản và đều có mục tiêu duy trì, phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, của đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền vừa là sự lựa chọn của lịch sử, vừa là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho quyền làm chủ của nhân dân. Do vậy, luận điệu cho rằng việc Việt Nam duy trì chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo là mất dân chủ là cố tình lờ đi hoặc không hiểu bản chất chính trị của đảng hoặc cố tình quy chụp một cách thiếu thiện chí cho Việt Nam.

Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, trình độ dân chủ không tỷ lệ thuận với số lượng đảng phái chính trị. “Điển hình như ở Mỹ hiện nay có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng chúng ta không thể kết luận rằng ở Mỹ dân chủ hơn ở Hà Lan hay Na Uy”(1). Trên thế giới hiện nay có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là điều chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ. Vì thế, Việt Nam lựa chọn chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền cũng không phải là cá biệt, đi ngược lại xu thế chung của nhân loại như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn rêu rao và cáo buộc!

Hai là, dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng bổ sung, hoàn thiện. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt mục tiêu mang lại độc lập cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, giúp nhân dân có quyền làm chủ thực sự. Do đó, khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao mục tiêu xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân với phương châm “Bao nhiêu lợi ích đều vì nhân dân”.

Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc Sán Chỉ ở tỉnh Quảng Ninh _Ảnh: Tư liệu

Kế thừa và phát triển quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để xây dựng một nền dân chủ thực sự, được thực hiện trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…, thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra bằng các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ gắn liền với kỷ cương, kỷ luật và được thể chế hóa bằng pháp luật, bảo đảm bằng pháp luật.

Quan điểm về dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện đậm nét trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011): “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống, ở mỗi cấp, trên tất cả lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”(2). Như vậy, không thể tùy tiện quy chụp rằng Việt Nam không chú trọng đến dân chủ hoặc mất dân chủ bởi điều đó phản ánh không đúng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta xác định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(3).

Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, Đại hội XIII của Đảng đã tiến hành điều chỉnh, bổ sung một số điểm mới về tư duy xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân được thực thi trên thực tế. Đồng thời, xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt” để nhân dân làm chủ. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng trên cơ sở tổng kết lý luận, thực tiễn đã bổ sung, phát triển tư duy về phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những bổ sung, phát triển ấy một lần nữa khẳng định, mặc dù, trong mỗi giai đoạn lịch sử có những thay đổi về mô hình bộ máy nhà nước, nhưng sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính là nhận thức và hành động nhất quán về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong điều kiện mới.

Ba là, mô hình “tam quyền phân lập” có thể phù hợp ở các mức độ khác nhau với một số nước trên thế giới, nhưng không phù hợp với điều kiện và thể chế chính trị của Việt Nam. Việt Nam lựa chọn cách thức tổ chức quyền lực là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, không “tam quyền phân lập” mà kiên định nguyên tắc “quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”(4) và “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”(5). Đây là sự lựa chọn phù hợp với bối cảnh Việt Nam cũng như xu thế khách quan của thời đại, đúc rút từ thực tiễn hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới cũng như việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Chúng ta không phủ nhận những giá trị phổ quát của nhà nước pháp quyền, đó là tinh hoa trí tuệ nhân loại, mang tính quy luật, chứ không phải sản phẩm riêng có, độc quyền của chủ nghĩa tư bản. Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ, chưa có tiền lệ, đòi hỏi có sự nhận thức lý luận khoa học, sự vận dụng sáng tạo, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây chính là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo các giá trị phổ quát về nhà nước pháp quyền, song cũng gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nhà nước vô sản ở Việt Nam. Quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đánh dấu một bước tiến trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta thời kỳ đổi mới.

Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ sự khác biệt về chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản. Đó là: “pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(13). Do đó, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam.

Cán bộ ngành kiểm sát với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên _Nguồn: baovephapluat.vn

Như vậy, không thể lập luận rằng “xây dựng Nhà nước pháp quyền là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, không thể xuyên tạc ở Việt Nam “chỉ có đảng trị, không có pháp quyền”... Mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” cũng không phải là khuôn mẫu, tiến bộ về tự do, dân chủ, nhân quyền. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm bởi khi đưa ra luận điệu này, các đối tượng nhằm cố tình xuyên tạc, phủ nhận thể chế chính trị của Việt Nam cũng như phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; ca ngợi, cổ xúy và thúc đẩy mô hình nhà nước “tam quyền phân lập”, ca ngợi cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ, thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Mặt khác, việc tung ra luận điệu trên hòng làm méo mó bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội, làm giảm uy tín, vị thế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, không thể coi thường hoặc xem nhẹ các luận điệu sai trái đó.

Có thể khẳng định, các quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là rất nguy hiểm vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Do đó, cần nhận diện rõ các quan điểm này và có luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục để củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, nâng cao nhận thức, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng./.

---------------------

(1) Vũ Văn Hiền (Chủ biên): Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 1, tr. 143
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 tr. 84 – 85
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 174 - 175
(4) Khoản 3, Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(5) Khoản 1, Điều 8, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(6) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 29


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh mới

TS PHAN HẢI HỒ
Trưởng khoa Nhà nước và pháp luật, Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh
14:17, ngày 16-02-2024

TCCS - Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó lường thì nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch càng có ý nghĩa cấp thiết. 

Những tác động của bối cảnh mới đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mùa Xuân năm 1930 là dấu mốc lịch sử trọng đại, bước ngoặt quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc. Đến nay, suốt 94 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 38 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 33 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn phải đối mặt với nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá, công kích của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị. Không từ một thủ đoạn nào, bọn chúng ra sức gây nhiễu, tạo khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên, kích động, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng làm lung lạc niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Năm 1927, từ khi Đảng chưa ra đời, trong tác phẩm Đường Cách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khẳng định phải “giữ chủ nghĩa cho vững”(1), “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”(2) và chủ nghĩa chân chính, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Tháng 10-1930, trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Đảng ta chỉ rõ: “Giải thích cho công nhân mục đích và đường lối của Đảng Cộng sản trong các vấn đề liên quan đến cuộc sống của công nhân và thái độ đối với các sự kiện lớn diễn ra trong nước. Giải thích cho họ rằng, Đảng Cộng sản là Đảng của họ, vì vậy họ cần phải bảo vệ Đảng”(3). Đến năm 1960, tại Đại hội III, trong Báo cáo về việc sửa đổi Điều lệ Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhấn mạnh: “Bất cứ trong tình hình nào, nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi đảng viên là phải bảo vệ Đảng, bảo vệ vai trò lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng, tỉnh táo đề phòng và kiên quyết đấu tranh chống mọi mưu đồ đả kích hoặc làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng bất kỳ trên lĩnh vực nào, và núp dưới hình thức nào”(4). Như vậy, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán: “Bảo vệ Đảng là công tác thường xuyên, luôn luôn gắn chặt với các mặt công tác xây dựng đảng trong mọi giai đoạn cách mạng, để bảo đảm cho tổ chức của Đảng được trong sạch và vững mạnh”(5).

Thời gian gần đây, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(6). Đặc biệt, năm 2022, cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận được sự đánh giá cao, hưởng ứng tích cực của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân trong nước cũng như bạn bè, các chính đảng, chính trị gia và dư luận quốc tế. Cuốn sách trở thành tài liệu hết sức giá trị, phục vụ việc học tập, giáo dục lý luận chính trị, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hiện nay, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Song, cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường chúng ta kiên định đang và sẽ tiếp tục trải qua vô vàn khó khăn, thách thức. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra một trong những thách thức to lớn mà chúng ta phải đối mặt và giải quyết, đó là: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(7). Không những thế, lợi dụng tiến bộ của công nghệ thông tin, truyền thông trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nhiều biến động của tình hình thế giới, các thế lực thù địch càng ráo riết đẩy mạnh chống phá trên mọi mặt trận, trọng tâm là chĩa mũi nhọn tấn công chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng bằng hàng loạt âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Cụ thể:

Về đối tượng, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta vô cùng đa dạng, phức tạp, có thể phân chia thành ba nhóm chính: (i) Một bộ phận những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn trên thế giới, bài xích tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; (ii) Lực lượng phản động, tàn dư của chế độ ngụy quyền trước đây đang sinh sống, lưu vong ở nước ngoài kết hợp với một số đối tượng chống đối, bất mãn ở trong nước. Nhóm này có số lượng đông đảo, manh động và chống phá trực diện, quyết liệt nhằm thực hiện âm mưu phá hoại công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; (iii) Một bộ phận cán bộ, đảng viên bất mãn, cơ hội, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Về phương thức, thủ đoạn, trong bối cảnh mới, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường tập trung: phủ nhận, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như giá trị khoa học, thời đại, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên tất cả lĩnh vực, đặc biệt xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, như dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, biển, đảo; lợi dụng hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người dân tham gia các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội...

Về phương tiện, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch triệt để tận dụng công cụ truyền thông, báo chí, không gian mạng để đẩy mạnh hoạt động chống phá về tư tưởng. Chúng tăng cường thực hiện nhiều chiêu thức khác nhau, như xuất bản tài liệu, ấn phẩm sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi...; thành lập trang web, blog, các kênh phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt; tổ chức hội thảo, tọa đàm, hội thi... thậm chí núp bóng danh nghĩa yêu nước, bảo vệ dân chủ, nhân quyền, vì dân tộc, vì đất nước, thúc đẩy hình thành các hội, nhóm, tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, lợi dụng quá trình “chuyển đổi số”, các thế lực thù địch đã số hóa các dữ liệu không có thật, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Đảng, lãnh đạo Đảng và Nhà nước...; thiết lập cơ sở dữ liệu, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn (Big Data)... để tạo ra các dữ liệu, tài liệu giả theo kiểu “có giá trị như thật”, “minh chứng lịch sử”, “nguồn gốc của mọi nguồn gốc”, “tài liệu mật”... nhằm chống Đảng và Nhà nước ta.

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đạt nhiều kết quả tích cực

Thời gian qua, nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị, cùng với sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán xảy ra. Đó là minh chứng sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ; truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta. Càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản, để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đất nước tiếp tục đi lên, dân tộc phát triển cường thịnh, trường tồn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(8). Trong đó, phải kể đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được Đảng ta đặc biệt quan tâm, đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể:

Thứ nhất, chất lượng lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ngày càng được nâng cao. Nhờ vậy, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đúng đắn sách lược của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quán triệt rõ, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, đồng thời là trách nhiệm của toàn dân nhằm đấu tranh hiệu quả với những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần tạo nên sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị, kết hợp với sức mạnh của nhân dân. Trên cơ sở quán triệt nhận thức, tư duy, xác định rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của những quan điểm sai trái, thù địch đối với an ninh, trật tự, an toàn xã hội; nhận diện rõ các quan điểm sai trái, thù địch để có chủ trương, biện pháp chỉ đạo phù hợp; phân định được sự khác biệt của quan điểm sai trái, thù địch với nhận thức lệch lạc, phiến diện, ý kiến phê bình, nhưng thiếu xây dựng. Từ đó, có cách thức phản biện khoa học, phương thức đấu tranh phù hợp, giải pháp áp dụng phát huy hiệu quả cao.

Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an dự Ngày hội Văn hoá, thể thao và du lịch các dân tộc vùng Tây Nguyên lần thứ I năm 2023 _Nguồn: baokontum.com.vn

Thứ hai, sử dụng đa dạng giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Lấy giá trị thực tiễn làm phương thức đấu tranh, nhưng luôn bảo đảm tính khách quan, thuyết phục; đồng thời, sử dụng biện pháp đấu tranh mềm dẻo, cương quyết, nhưng dân chủ. Áp dụng biện pháp khoa học - kỹ thuật để nhận diện, đấu tranh và xử lý kịp thời thông tin vu khống, xuyên tạc, nội dung xấu, độc, luận thuyết sai trái (phủ nhận giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh...). Sử dụng hiệu quả công cụ pháp lý để bảo đảm tính tuân thủ, bình đẳng, khách quan trước pháp luật; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa làm công cụ về thể chế để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ ba, Đảng ta đã sử dụng các phương thức, giải pháp có tính bản lề, kết hợp “xây” và “chống”. Phương thức này bảo đảm các giá trị về tạo lập tinh thần cách mạng, có sự kết hợp với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, “xây” là chính và “chống” là quan trọng, cấp bách, đã được quan tâm, thường xuyên triển khai thực hiện. Xác định rõ trọng tâm, cốt lõi về mặt bản chất, Đảng ta đã trưởng thành từ nhân dân và “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”(9). Do vậy, bằng nhiều phương thức khác nhau, Đảng ta đã xây dựng được niềm tin của nhân dân theo tinh thần “Dân tin thì Đảng còn và ngược lại”. Quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, xây dựng và củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, Đảng ta đã dựa vào nhân dân, thông qua sự ủng hộ, bằng sức mạnh của nhân dân để hình thành tổ chức và lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua các diễn đàn, phương tiện truyền thông, người dân thẳng thắn bày tỏ quan điểm, tinh thần yêu nước, ủng hộ Đảng và chế độ. Trên các phương tiện truyền thông xã hội thời gian qua, nhiều tài khoản đã tham gia tích cực vào công tác này, như nhóm “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc” với 91.468 thành viên; trang “Chống luận điệu xuyên tạc” có 44.000 người thích, 48.000 người theo dõi; trang “Tiếng nói thế hệ trẻ” có 14.392 người thích, 15.224 người theo dõi; trang “Thông tin chống phản động” có 149.000 người thích, 190.000 người theo dõi; trang “Chống phản động” có 189.349 người thích, 229.136 người theo dõi(10)...

Thứ tư, kết hợp cùng lúc nhiều phương thức, giải pháp, như đấu tranh, phản bác với nêu gương; tuyên truyền, phổ biến với giáo dục ý thức cách mạng, chủ nghĩa yêu nước; đấu tranh, phản biện với chứng minh, đối chứng, so sánh (“chứng cứ thật, giá trị thật”); đấu tranh, phản biện với sử dụng biện pháp mạnh (“xử lý không có vùng cấm”, “không chấp nhận lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm”, “trục lợi chính sách”).

Thẳng thắn nhìn nhận hạn chế, bất cập 

Thời gian qua, nhận thức về vai trò, tầm quan trọng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, tổ chức đảng và một số vấn đề khác trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chưa sâu sắc. Công tác tuyên truyền chưa thường xuyên nên một bộ phận cán bộ, đảng viên lơ là, thiếu trách nhiệm, chưa thật sự coi trọng việc thực hiện nhiệm vụ được giao gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Một bộ phận cán bộ, đảng viên còn đùn đẩy, sợ trách nhiệm, lợi dụng kẽ hở để tư lợi, vi phạm quy định của Đảng và Nhà nước; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo kiểu “tha hóa trong bí mật”, tác động xấu bằng hành vi tham nhũng, trục lợi chính sách(11).

Một số phương thức, giải pháp chưa thực sự hiệu quả, còn nặng tính hàn lâm, kinh điển, khi triển khai còn mang tính rập khuôn, máy móc, hiệu quả chưa cao, chưa phù hợp với thực tiễn của từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Phương thức tuyên truyền, đấu tranh trực diện trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa kịp thời, thậm chí phản ứng chậm với hành vi tiêu cực, xuyên tạc; một số giải pháp thiếu tính cụ thể, chưa phản ánh những vấn đề thực tiễn bằng trực quan sinh động, chưa kịp thời phản biện, đấu tranh bằng tấm gương người thật, việc thật; các minh chứng về xây dựng và chỉnh đốn Đảng đôi khi chưa được cập nhật và phản ánh kịp thời nên tạo ra nhiều luồng dư luận, nhiều cách hiểu trái chiều khiến các thế lực thù địch có cơ hội xuyên tạc, bóp méo sự thật. Việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật của Nhà nước ở một số khâu, trong một số trường hợp còn chậm và cách thức triển khai chưa phù hợp(12).

Việc xây dựng “thế trận lòng dân” trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Vấn đề niềm tin của nhân dân đối với Đảng được xem là giá trị cốt lõi, quan trọng bậc nhất. Tuy nhiên, trên thực tiễn, một số nội dung, phương thức, giải pháp để “gieo niềm tin” từ nhân dân chưa đạt hiệu quả như mong muốn, như  nêu gương trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chưa thật sự nổi bật, chưa đủ sức lan tỏa để quần chúng “nghe, nói, tin và làm theo”; sự phối hợp của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn lỏng lẻo và thiếu hiệu quả. Trên cơ sở chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã thành lập Ban Chỉ đạo 35 và có sự phối hợp tương đối tốt; tuy nhiên, sự phối hợp này mới chỉ trong phạm vi hẹp, chưa có cơ chế ràng buộc rõ ràng nên hiệu quả phối hợp chưa cao.

Chưa phát huy được giá trị lịch sử của cha ông về bài học kinh nghiệm trong công tác tổ chức cán bộ. Việc nghiên cứu, học tập kinh nghiệm nước ngoài trong triển khai nhiệm vụ rất đáng khích lệ, song bên cạnh đó cũng cần nghiên cứu, tìm hiểu các giá trị được đúc kết từ truyền thống lịch sử dân tộc; từ đó, vận dụng linh hoạt, chọn lọc các phương thức, phù hợp với điều kiện và bối cảnh trong nước để việc triển khai đạt hiệu quả cao hơn. Chẳng hạn, Luật Hồi tỵ (1460 - 1497) Hồng Đức quy định 4 vấn đề của người đứng đầu địa phương là: “không được là người địa phương; không được lấy vợ là người địa phương; không được mua bán, nhận chuyển nhượng, tặng cho điền thổ ở địa phương; không được bổ nhiệm vợ, con, thân hữu làm quan ở địa phương”. Đây là những nội dung cần thiết, có nội dung phù hợp với tình hình phát triển ở nước ta hiện nay, song lại chưa được chọn lọc để đưa vào pháp luật hiện hành. Do vậy, thực tiễn đã xảy ra tình trạng “quyền anh quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây”, tạo điều kiện cho các thế lực phản động, thù địch lợi dụng để xuyên tạc, bôi nhọ...

Mặc dù Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, “về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, trong đó có chỉ đạo cụ thể về vấn đề hoàn thiện thể chế, chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia, song quá trình này vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn. Đặc biệt, việc số hóa dữ liệu về Đảng, Nhà nước và nhân dân còn chậm, thiếu rất nhiều cơ sở dữ liệu (do lạm dụng chế độ bảo mật, không đưa lên cơ sở dữ liệu quốc gia, ngành, địa phương hoặc thiếu trách nhiệm chia sẻ cơ sở dữ liệu,...) chính là kẽ hở để các thế lực thù địch số hóa các dữ liệu giả, dùng công nghệ số để tích hợp, phân tích, tạo ra các dữ liệu xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật... hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Đoàn viên, thanh niên tham gia buổi sinh hoạt định kỳ ở Câu lạc bộ "Lý luận trẻ" bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của Tỉnh đoàn Hà Nam _Ảnh: TTXVN

Tiếp tục hoàn thiện, bổ sung và đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân. Thời gian tới, để bảo đảm hiệu quả cao nhất, cần mạnh dạn hoàn thiện, bổ sung và đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch qua một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Cấp ủy, chính quyền các cấp và đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận diện rõ các quan điểm sai trái, thù địch để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát với tình hình thực tế. Phát huy vai trò nòng cốt của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự phối hợp của các đơn vị, địa phương. Xác định rõ, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, phản bác quan điểm sai trái thù địch không chỉ có bộ phận chuyên trách, mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn thể nhân dân. Ban Chỉ đạo 35 cần xây dựng và ban hành “Chiến lược quốc gia về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch”.

Hai là, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Đảng phải tự cường, thực sự trong sạch, vững mạnh trên tất cả các mặt về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ... để có khả năng tự bảo vệ mình. Do vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây và chống” trong xây dựng và thực hành đạo đức cách mạng; đẩy mạnh thực chất công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tránh việc triển khai theo kiểu hình thức.

Ba là, thực hiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bằng nhiều hình thức đa dạng, thiết thực, hiệu quả. Công tác này không được áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính, chủ quan, duy ý chí, mà phải dựa trên sự tự giác, có trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thông tin phản bác phải được phân tích, luận giải có lý lẽ, dựa trên cơ sở thực tiễn khách quan, tăng sức thuyết phục; nắm vững trình độ, nhu cầu, nguyện vọng, tâm lý của từng nhóm đối tượng để có phương thức phù hợp. Cụ thể: (i) Sử dụng “người thật, việc thật” đấu tranh với các quan điểm phản động, sai trái, thù địch; cùng với lấy phẩm chất, đạo đức, hành động đúng đắn, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên phản bác lại luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, vu khống...; (ii) Phân biệt “phản động” với “yêu nước” thông qua nhận thức, tư duy, hành động của từng cán bộ, đảng viên và nhân dân trên cơ sở xây dựng “tư duy mở” về “phản biện”, “trái chiều”, nhưng mang tính tích cực, theo đó chấp nhận tư duy phản biện, đối lập tích cực, không được nâng quan điểm hoặc chụp mũ, đồng thời cần nhận thức và xác định lại chính xác “nội dung tích cực, thể hiện lòng yêu nước”, tránh thực hiện phương thức đấu tranh không phù hợp, dễ bị thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc trở thành tiêu cực, “tự diễn biến, tự suy thoái”, có thể biến chuyển thành phản động; (iii) Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bằng việc nhận thức và áp dụng đúng đắn “nguyên tắc tập trung dân chủ” trong thực tiễn, tránh việc lợi dụng nguyên tắc này để áp dụng theo kiểu độc quyền, tập trung, nhưng không dân chủ.

Bốn là, chú trọng và nâng cao hiệu quả xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Để thực hiện tốt phương thức này, trong thời gian tới phải thực hiện đồng thời các vấn đề: Quán triệt rõ, nhân dân đóng vai trò chủ thể, vị trí trung tâm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Đảng không ngừng chăm lo, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; phổ biến, tuyên truyền, làm tốt công tác dân vận để nhân dân tin, hiểu, tự hào với đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Năm là, xây dựng phương thức “giá trị pháp lý - chuẩn mực cao nhất” làm nền tảng cho việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, bôi nhọ. Phương thức này muốn đạt hiệu quả cao nhất, thời gian tới cần thực hiện: Bảo đảm văn bản của Đảng phải đúng tinh thần Hiến pháp, pháp luật, không được cao hơn, vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật, theo đó, các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; thể chế hóa triệt để, đúng tinh thần, nội dung và cách thức từ văn bản của Đảng thành văn bản của Nhà nước. Dựa trên nền tảng này để tuyên truyền, giáo dục, đồng thời để áp dụng và xử lý theo quy định của Đảng và Nhà nước./.

--------------------------

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 280, 289
(3) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 2, tr. 181
(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 21, tr. 710 - 711
(5) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2005, t. 38, tr. 45
(6), (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 183, 108
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 104
(9) Khoản 2, Điều 4, Hiến pháp năm 2013
(10) Phạm Văn Giang: “Xây dựng thế trận lòng dân trong đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Tạp chí Phát triển nhân lực, 2022 - số 1 (07), tr. 7
(11) Chẳng hạn như chính bản thân người có trách nhiệm về công tác phòng, chống tham nhũng lại tham nhũng, gây phản ứng ngược trong đời sống xã hội.
(12) Đơn cử: Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị, “về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” đã gần 2 năm vẫn chưa được thể chế hóa bằng Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ nên thực tế hiệu quả về chủ trương của Đảng không được như kỳ vọng, dẫn đến tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức vẫn sợ trách nhiệm, đùn đẩy, các thế lực thù địch vẫn có cơ sở để xuyên tạc, vu khống.


Phê phán luận điệu xuyên tạc: Đổi mới ở Việt Nam là “đổi mới nửa vời” vì “không đổi mới chính trị”, “không hiệu quả”(?!)

TS ĐINH VĂN THỤY
Phó Viện trưởng Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
10:29, ngày 20-02-2024

TCCS - Trong những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, nhất là thông qua các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch thường xuyên rêu rao luận điệu, mặc dù Việt Nam tuyên bố đổi mới từ năm 1986, đến nay đã gần 40 năm, nhưng đổi mới ở Việt Nam là “đổi mới nửa vời” vì “không đổi mới chính trị”, “không hiệu quả”(?!). Những luận điệu trên hoàn toàn xuyên tạc và không thể phủ nhận được sự thật rằng, công cuộc đổi mới đồng bộ và toàn diện ở nước ta trên tất cả các lĩnh vực, trọng tâm là đổi mới kinh tế gắn với đổi mới chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay.

Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc, bóp méo, hòng phủ nhận thành quả to lớn của quá trình gần 40 năm đổi mới. Họ rêu rao rằng, Việt Nam chỉ bước đầu đổi mới về kinh tế, chứ không đổi mới chính trị. Vì kinh tế quyết định chính trị, nên khi kinh tế đổi mới mà chính trị không đổi mới thì dẫn tới chính trị trì trệ, lạc hậu, cản trở sự phát triển kinh tế. Do đó, Việt Nam cần đổi mới chính trị một cách mạnh mẽ, quyết liệt để phù hợp với kinh tế theo hướng thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như các nước tư bản chủ nghĩa đang áp dụng (!?).

Dã tâm của các thế lực thù địch hòng phủ nhận thành tựu của đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, tiến tới phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, từ đó hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, phê phán luận điệu cho rằng “đổi mới ở Việt Nam là đổi mới nửa vời vì không đổi mới chính trị”.

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam là đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực kinh tế và chính trị, bắt đầu từ đổi mới lĩnh vực kinh tế, trên cơ sở đổi mới kinh tế, từng bước đổi mới các lĩnh vực khác, trong đó có chính trị. Lộ trình thực hiện như vậy phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Theo C. Mác và Ph. Ăngghen, trong quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người, xét đến cùng thì kinh tế quyết định chính trị, “những quan niệm chính trị, pháp lý và những quan điểm tư tưởng khác và những hành vi do chúng quy định đều được rút ra từ các thực tế kinh tế là cơ sở của chúng”(1). “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,… đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế”(2).

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định bắt đầu đổi mới từ lĩnh vực kinh tế, lấy đổi mới kinh tế làm cơ sở, tiền đề, động lực để đổi mới chính trị là hoàn toàn đúng đắn. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VI về “Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay” chỉ rõ: “Không thể tiến hành cải cách hệ thống chính trị một cách vội vã khi chưa đủ căn cứ,... dẫn đến sự mất ổn định về chính trị, gây thiệt hại cho sự nghiệp đổi mới”(3). Nhận định trên là hoàn toàn đúng đắn, bởi lẽ đổi mới chính trị cần có cơ sở, điều kiện, tiền đề nhất định, không thể đổi mới một cách tùy tiện, vô nguyên tắc. Bài học từ cải tổ chính trị một cách vô nguyên tắc dẫn đến sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX vẫn còn nguyên giá trị.

Văn kiện Đại hội VII của Đảng khẳng định từ những năm đầu đổi mới: “Phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị”(4).

Tuy nhiên, chính trị, cũng như các nhân tố khác của thượng tầng kiến trúc, có sự độc lập tương đối và tác động trở lại đối với kinh tế, theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm. Do đó, đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới chính trị, một cách phù hợp để thúc đẩy kinh tế phát triển.

Đổi mới chính trị ở Việt Nam trọng tâm là đổi mới tư duy chính trị và hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay gồm các bộ phận cấu thành như: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trong đó, các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam chính là đổi mới các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị để có một hệ thống chính trị tinh gọn, chất lượng, hiệu lực, hiệu quả cao nhằm dẫn dắt lĩnh vực kinh tế và các lĩnh vực khác phát triển nhanh, bền vững theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Nhà máy đường của Công ty cổ phần đường Kon Tum _Ảnh: TTXVN

Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thể hiện ở việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để vừa phát huy vai trò, vị thế của Đảng, vừa phát huy vai trò, tính chủ động, tích cực của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị (Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội); đồng thời khắc phục được hai khuynh hướng sai lầm là Đảng “bao biện”, “làm thay” các bộ phận khác của hệ thống chính trị và Đảng “buông lỏng” sự lãnh đạo đối với các bộ phận khác của hệ thống chính trị. Cả hai khuynh hướng đó đều làm giảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng và hoạt động cả hệ thống chính trị. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Cùng với đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, việc đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước cũng được thực hiện một cách quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt, thể hiện nổi bật ở bước chuyển từ Nhà nước chuyên chính vô sản sang Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra sau khi công cuộc đổi mới kinh tế tiến hành và đạt được những thành tựu bước đầu, từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994); tiếp đó, các kỳ đại hội của Đảng ta đều khẳng định quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền. Từ Đại hội X (năm 2006) đến nay, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được coi là một đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đồng thời với đổi mới hai thành tố cấu thành quan trọng nhất trong hệ thống chính trị là Đảng và Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cũng có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, như: Phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị ngày càng hiệu quả; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân...

Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam còn thể hiện ở việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ví dụ, việc giảm số bộ và cơ quan ngang bộ, cắt giảm các tổng cục trong các bộ, tinh giản biên chế được thực hiện quyết liệt. Theo thống kê của Bộ Nội vụ, đến năm 2022, các bộ, ngành trung ương đã cắt giảm 17 tổng cục và tổ chức tương đương tổng cục; giảm 8 cục thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm 145 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm được 90% phòng trong vụ(5)

Như vậy, mặc dù còn một số hạn chế, song quá trình đổi mới chính trị ở nước ta được tiến hành đồng bộ, đi đôi với đổi mới kinh tế; vừa từng bước, thận trọng, bảo đảm nguyên tắc, vừa mạnh mẽ, quyết liệt, toàn diện, đạt được những thành tựu quan trọng, không hề “nửa vời” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Hai là, phê phán luận điệu cho rằng “vì không đổi mới chính trị nên đổi mới kinh tế ở Việt Nam không đạt hiệu quả, kinh tế Việt Nam phát triển chậm chạp”.

Đổi mới ở Việt Nam bắt đầu từ đổi mới kinh tế, bởi vì, xét đến cùng, kinh tế là lĩnh vực quan trọng nhất, quy định sự phát triển của xã hội loài người, như C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: “Chúng tôi cho rằng, những điều kiện kinh tế xét cho cùng quy định sự phát triển lịch sử”(6). Vì kinh tế là lĩnh vực quan trọng quy định sự phát triển của xã hội nên Đảng ta coi đổi mới kinh tế là trọng tâm, được khẳng định tại Đại hội VII: “Lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới các lĩnh vực khác, nhất là về dân chủ hoá xã hội, tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, các chính sách giáo dục, văn hóa, xã hội”(7). Nội dung cơ bản của đổi mới kinh tế ở nước ta là chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung ở một số nội dung sau: Chuyển đổi từ sản xuất hiện vật sang sản xuất hàng hóa; chuyển đổi từ nền kinh tế vận hành theo mệnh lệnh hành chính, kế hoạch, chỉ tiêu là chính sang nền kinh tế vận hành theo quy luật của thị trường là chính; chuyển đổi từ nền kinh tế đơn thành phần sang nền kinh tế đa thành phần; chuyển đổi từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở và hội nhập kinh tế thế giới; chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ... Những nội dung này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo điều kiện, tiền đề cho nhau, được triển khai đồng bộ. Do đó, quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam có cùng mục tiêu là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Sau gần 38 năm đổi mới, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Quan hệ đối ngoại về kinh tế giữa Việt Nam và các nước trên thế giới có bước phát triển vượt bậc. Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức kinh tế, ký kết nhiều hiệp định thương mại, cụ thể như gia nhập ASEAN năm 1995; ASEM năm 1996; APEC năm 1998; WTO năm 2007; CPTPP năm 2018; đăng cai thành công Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 2006 và 2017. Năm 2020, Việt Nam đã phê chuẩn và triển khai có hiệu quả Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA); tham gia ký Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó phần nhiều là hiệp định thuộc lĩnh vực kinh tế. Việc mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, các đối tác trên thế giới vừa khẳng định năng lực kinh tế của Việt Nam, vừa khẳng định sự công nhận của thế giới đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung, đối với phát triển kinh tế nói riêng.

Bốc, xếp hàng hóa xuất khẩu ở cảng Cái Mép Thị Vải (ảnh: Nguyễn Ngọc Cường) _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Sau gần 38 năm đổi mới, “đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển... bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi... Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên... vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao”(8). Trong những năm đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn ở mức cao. Từ một nước nghèo, kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên đứng trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, với quy mô GDP đạt 430 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 4.284 USD (năm 2023). Những thành tựu kinh tế vượt bậc đó có được một phần quan trọng là do quá trình đổi mới chính trị với những bước đi phù hợp, là tác nhân thúc đẩy đổi mới kinh tế tích cực, giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, không hề “chậm chạp”, “không hiệu quả” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ ba, phê phán luận điệu cho rằng “đổi mới chính trị ở Việt Nam là phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.

Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập vốn là một lý thuyết triết học, chính trị học, xã hội học xuất hiện từ thế kỷ XVIII, sau đó được giai cấp tư sản một số nước lựa chọn để đấu tranh chống lại giai cấp địa chủ phong kiến đang nắm quyền lực. Hiện nay, có nhiều nước lựa chọn thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tuy nhiên kết quả phát triển về kinh tế của các nước đó không hoàn toàn giống nhau, trong đó có những nước đang là nước lạc hậu, kém phát triển, thậm chí có một số nước đang lâm vào tình trạng bất ổn chính trị, chiến tranh xung đột liên miên. Có thể khẳng định, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là mô hình mẫu cho mọi quốc gia, dân tộc; sự phát triển kinh tế - xã hội không phụ thuộc vào nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay đa đảng lãnh đạo; hay nói cách khác, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Thực tế cũng chứng minh, không phải ở đâu có đa nguyên kinh tế là tất yếu có đa nguyên chính trị; không phải ở đâu có tự do kinh tế là tự nhiên sẽ có nền chính trị dân chủ… Như vậy, luận điệu về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thực tế trước và sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trở thành đảng cầm quyền cho đến năm 1988, ở Việt Nam đã hình thành và tồn tại nhiều đảng chính trị với ý thức hệ, tôn chỉ, mục đích hoạt động khác nhau, song đều thất bại. Các đảng này không thể hiện được vai trò đối với sự phát triển của đất nước nên không được đông đảo nhân dân ủng hộ, do đó không tồn tại được và tự giải tán. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, được đông đảo nhân dân Việt Nam tin tưởng và ủng hộ, nên đã lãnh đạo nhân dân giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực tiễn đã chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ uy tín và năng lực lãnh đạo đất nước; ngoài Đảng Cộng sản ra không có một lực lượng nào khác có đủ uy tín, năng lực lãnh đạo đất nước.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phù hợp với Việt Nam. Cổ xúy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam thực chất là thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng và nhân dân ta.

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được bắt đầu từ đổi mới kinh tế, trên cơ sở đổi mới kinh tế, từng bước đổi mới chính trị một cách phù hợp. Nhờ đổi mới chính trị nên đã xác lập hệ thống chính trị với mô hình, cơ cấu và cơ chế hoạt động phù hợp với nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đã xây dựng, vận hành nền kinh tế thị trường phù hợp với chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Điều đó chứng tỏ, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam đã và đang đi đúng quy luật phát triển./.

---------------

(1) C. Mác và Ph. Ăng ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t. 39, tr. 132
(2) C. Mác và Ph. Ăng ghen: Toàn tậpSđd, tr. 271
(3) Xem: Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 24-8-1989, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI), “Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-vi/nghi-quyet-so-07-nqtw-ngay-2481989-hoi-nghi-lan-thu-bay-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vi-mot-so-van-de-cap-bach-1108
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1991, tr. 54
(5) Xem: https://moha.gov.vn/tin-noi-bat/cat-giam-17-tong-cuc-sap-xep-hon-500-lanh-dao-quan-ly-48207.html (truy cập ngày 3-6-2023)
(6) C. Mác và Ph. Ăng ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t. 39, tr. 271
(7) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 269
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 65 - 66


Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội chính trị trong Đảng - Giá trị vận dụng trong cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của phần tử cơ hội chính trị hiện nay

PGS, TS NGUYỄN AN NINH
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
14:03, ngày 08-02-2024

TCCS - Chủ nghĩa cơ hội chính trị và phần tử cơ hội chính trị là mối nguy cơ đe dọa vị trí và vai trò của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội chính trị dưới mọi biến thể để giữ vững bản chất và sức mạnh của Đảng, để Đảng ta luôn xứng đáng với vai trò tiên phong, gương mẫu và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc đạt được những thắng lợi vẻ vang qua các thời kỳ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công nhân _Tranh: Tư liệu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội chính trị trong Đảng

Nhận diện chủ nghĩa cơ hội chính trị trong Đảng

Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng. Trong sự nghiệp đó, cảnh giác và chống chủ nghĩa cơ hội chính trị trong Đảng là một chủ đề tư tưởng lớn. Đặc biệt, trong bối cảnh tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, thì di sản tư tưởng này vẫn còn nguyên giá trị, ý nghĩa thời sự.  

Chủ nghĩa cơ hội chính trị và những kẻ cơ hội chính trị được Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi tên là “chủ nghĩa cơ hội”, “bọn hoạt đầu”(1) (vốn là một từ Hán - Việt, để chỉ biểu hiện tư tưởng của một tập hợp những kẻ giảo hoạt, vô nguyên tắc về chính trị và chỉ giỏi xoay xở kiếm lợi cá nhân). Họ không giữ vững lập trường giai cấp, không có chính kiến, vô nguyên tắc trong hành động, thường biện minh cho tư tưởng hoặc hành vi sai lầm bằng cái gọi là “linh hoạt”, “vì mục tiêu chung”, “vì lợi ích chung”,...; nhưng xét đến cùng, là gây hại cho cách mạng, làm hại uy tín chính trị của Đảng. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội ngang bằng với cuộc đấu tranh chống những kẻ thù lớn của cách mạng. Đó là “... những cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ mà các đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin trên thế giới đã trải qua nhằm chống lại chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa cơ hội”(2).

Đặc điểm của chủ nghĩa cơ hội chính trị là tồn tại trong nội bộ, xuất hiện từ những phần tử không vững vàng về lập trường, lý luận chính trị. Nguyên nhân của thực trạng trên là do tổ chức “... kỷ luật không nghiêm, tổ chức không khéo, để tụi hoạt đầu xen vào nhiều quá”(3). Kinh nghiệm xây dựng Đảng trong quá trình cách mạng và gần 4 thập niên đổi mới gần đây cũng xác nhận một vấn đề rằng, những kẻ cơ hội chính trị bị vạch mặt chính là những phần tử đã lợi dụng cơ hội để luồn lách vào những vị trí, cương vị trong Đảng.

Chủ nghĩa cơ hội chính trị được lý luận phân thành hai loại là tả khuynh và hữu khuynh. Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh về chính trị thường có các biểu hiện, như bốc đồng, say sưa với những thành tựu hay bước tiến của cách mạng, thường đề ra những mục tiêu, chương trình vượt quá điều kiện thực tế. Kết cục là nhân lực, vật lực và thời cơ đều bị hao phí. Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh lại thường xuất hiện khi cách mạng gặp khó khăn; vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Trước sự khó khăn, những người phạm... chủ nghĩa cơ hội thiếu đầu óc sáng suốt và thiếu năng lực khắc phục khó khăn, vì họ không biết dựa vào quần chúng và dựa vào Đảng, hoặc là họ không tin vào quần chúng, và không tin vào Đảng”(4). Trong trường hợp ấy, bọn họ thường tỏ ra bi quan chán nản. Nhưng cũng có khi đôi ba người trong bọn họ tỏ ra có “năng lực xuất chúng”, cho rằng có thể một mình “định đoạt cả giang sơn”. Lúc này, chủ nghĩa cơ hội chính trị là chủ nghĩa cá nhân.

Gốc tích của chủ nghĩa cơ hội chính trị, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết bắt nguồn từ sự nhạt nhòa về bản lĩnh chính trị do không chịu học tập lý luận Mác - Lê-nin để rèn luyện tư duy biện chứng, cách mạng và thực tiễn. Người làm công tác lãnh đạo, quản lý mà thiếu tư duy lý luận, sùng bái chủ nghĩa kinh nghiệm thì dễ làm nảy sinh tư duy cơ hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Lãnh đạo phải tôn trọng và phát huy ý chí tích cực và tinh thần sáng tạo của quần chúng, bảo vệ sự sinh trưởng của lực lượng mới. Khi sự vật mới trong xã hội vừa sinh ra, nếu không ra sức giúp đỡ, mà lại ngăn trở và đả kích nó, hoặc khi sự vật mới chưa chín muồi, nếu không dùng phương pháp đúng đắn để giúp nó nẩy nở, mà lại dùng những biện pháp nóng vội để miễn cưỡng thúc đẩy nó - như thế là làm hỏng những mầm mống mới, như thế đều là chủ nghĩa cơ hội, chứ không phải chủ nghĩa Mác”(5).   

Cái gốc và nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh những tư duy cơ hội về chính trị là chủ nghĩa cá nhân, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là: “Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác”(6).

Chống chủ nghĩa cơ hội là một cuộc đấu tranh về chính trị, tư tưởng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và làm tròn sứ mệnh với giai cấp và dân tộc

Thường xuyên quan tâm đến sự nghiệp xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò là người lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến cuộc đấu tranh chống biểu hiện cơ hội chính trị. Theo Người, chống cơ hội chính trị không chỉ là chữa một thứ bệnh có căn nguyên từ chủ nghĩa cá nhân trong một số người, mà còn là cuộc đấu tranh để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng. Năng lực lãnh đạo, uy tín chính trị của một đảng cộng sản trước hết xuất phát từ việc trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Theo đó, tư cách của một đảng và của một người cách mạng trước tiên là phải “Giữ chủ nghĩa cho vững”(7) và đấu tranh chống các thứ “bệnh tật” liên quan đến sự tồn vong của Đảng về chính trị.  

Bản chất của chủ nghĩa cơ hội chính trị, như tên gọi của nó, là biểu hiện của sự vô nguyên tắc về chính trị. Họ có thể nói “tràng giang đại hải” về một lợi ích chung chung nào đó, nhưng không bao giờ tuyên bố rõ ràng, rành mạch về lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét về người cơ hội chính trị: “Về lập trường, họ không rành mạch ai là bạn, ai là thù. Họ lưu luyến chế độ tư bản và phong kiến. Họ không ưa Liên Xô, không thích học tập chủ nghĩa Mác - Lênin”(8). Vì vậy, chống chủ nghĩa cơ hội chính trị trong Đảng trước hết là cần nghiêm túc học tập lý luận và kiên quyết bảo vệ sự trong sáng, tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Trong thực tế, lập trường chính trị và quan điểm về lợi ích là “thuốc thử” để xác định ai là kẻ cơ hội hay ai là người cách mạng chân chính. Do đặc điểm của chủ nghĩa cơ hội là luôn vô nguyên tắc về chính trị và xoay xở tìm kiếm lợi cá nhân, cho nên việc nhận ra những mục tiêu cá nhân trong những toan tính, phát ngôn có thể giúp vạch rõ “chân tướng” của kẻ cơ hội đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài”(9). Theo Người, những kẻ trong Đảng mà làm trái với các nguyên tắc đó chính là kẻ cơ hội chính trị! 

Tóm lại, trung thành với lý tưởng của Đảng, tận tụy với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, biểu hiện ra ở tiêu chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rất rõ: “tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng(10). Đây cũng là “thước đo” để đánh giá những hành vi, tư tưởng hoặc bản thân cá nhân có mắc vào chủ nghĩa cơ hội chính trị hay không.                     

Đảng lãnh đạo, nhân dân cùng tham gia chống chủ nghĩa cơ hội chính trị 

Chống chủ nghĩa cơ hội chính trị trong Đảng là một việc không hề dễ dàng vì tính chất trá hình, “lươn lẹo” của nó. Thêm nữa, nhiều kẻ cơ hội chính trị lại được “đánh bóng” bởi cương vị, được bảo vệ bởi quyền lực và biết cách che giấu những toan tính cá nhân dưới những “vỏ bọc” nào đấy. Nhưng với sự kiên quyết và có biện pháp đúng đắn, khoa học và cách mạng thì chúng ta vẫn có thể đấu tranh hiệu quả chống chủ nghĩa cơ hội chính trị.

Ở phương diện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những định hướng lớn. Đó là giữ nghiêm kỷ luật đảng, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức của Đảng để ngăn chặn những kẻ cơ hội chính trị. Một trong những biện pháp khoa học để ngăn chặn việc vô tình sa vào chủ nghĩa cơ hội do “kém về nhận thức lý luận”, là mỗi đảng viên phải nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Kẻ cơ hội chính trị thường có biểu hiện “không tin vào quần chúng”, nhưng chính quần chúng là người giúp Đảng nhận ra phần tử cơ hội chính trị trong nội bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được... Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(11)

Cán bộ, công chức ngành kiểm sát tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới đồng bào _Nguồn: baovephapluat.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của phần tử cơ hội chính trị hiện nay

Phương pháp luận để nhận diện những “biến thể mới” của chủ nghĩa cơ hội chính trị hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, chủ nghĩa cơ hội chính trị có nhiều biến thể mới; tuy vậy, nó vẫn có những điểm chung mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra dưới đây.

Trong lĩnh vực chính trị, đó là những kẻ mang danh đảng viên mà không tin vào lý tưởng của Đảng, không tin vào chủ nghĩa xã hội, không chịu học tập, nghiên cứu thấu đáo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nói và làm trái với đường lối của Đảng. Kết cục là mắc vào “những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị”(12) và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều đặc biệt nguy hiểm là, hoặc trá hình hoặc lợi dụng dân chủ trong Đảng, chúng tấn công vào nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng, với các luận điệu phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”... Một số kẻ có cương vị đã khiến cho mức độ tác hại của hành vi cơ hội chính trị càng trở nên nghiêm trọng, gây tâm lý bức xúc, tạo dư luận xấu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm mất uy tín của Đảng. Nhiều trường hợp cơ hội chính trị đã rất gần với phản bội lại lý tưởng của Đảng, đi ngược lại sự nghiệp cách mạng của dân tộc...

Ở lĩnh vực kinh tế, chủ nghĩa cơ hội chính trị thể hiện qua những hành vi lợi dụng chức quyền để lãng phí, tham ô, nhũng nhiễu; lợi dụng nguồn lực công để mưu lợi riêng. Nhiều vụ án kinh tế được xử lý gần đây cho thấy, các thủ đoạn cơ hội diễn ra mang tính muôn vẻ, nhưng đều xoay xung quanh cái trục là lợi ích cá nhân hay “lợi ích nhóm” ích kỷ của một số cá nhân. Những người này đã bị trừng trị thích đáng; nhưng ảnh hưởng của hành vi sai phạm đã gây hệ lụy, xuyên tạc hình ảnh người đảng viên, làm tổn hại uy tín, thanh danh của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán những kẻ này là: “Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””(13).     

Về tư tưởng, đạo đức, lối sống, những kẻ cơ hội chính trị có các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(14) về phát ngôn, hành động, lối sống. Dường như có một sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng ở những đối tượng này: Khi đã mắc vào chủ nghĩa cơ hội chính trị thì tác phong, lối sống của họ cũng có những biểu hiện thay đổi tương đương. Họ mắc phải lối sống “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”(15). Các biểu hiện của những kẻ cơ hội chính trị mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra là: “ham muốn vật chất”, “suy bì tị nạnh về chức quyền, đãi ngộ”, “cái gì hợp với lợi ích cá nhân của họ thì họ tán thành, cái gì không hợp thì họ phản đối”(16). Với những người này, việc giữ gìn phẩm chất và hình ảnh của “Đảng là đạo đức, là văn minh” dường như là công việc của người khác, chứ không phải là trách nhiệm hằng ngày của họ.

Định hướng về tổ chức và lực lượng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội chính trị hiện nay

Môi trường hoạt động của chủ nghĩa cơ hội chính trị chủ yếu diễn ra trong nội bộ của Đảng và hệ thống chính trị, và thường có sự liên hệ với quá trình xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách. Chủ nghĩa cơ hội chính trị có khi đẩy nhận thức chính trị tới những cực đoan: Hoặc tả khuynh hoặc hữu khuynh như đã trình bày ở trên; cả hai đều có hại cho sự nghiệp lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, muốn chống chủ nghĩa cơ hội chính trị trong Đảng thành công, thì trước hết phải bắt đầu từ quyết tâm của toàn Đảng. Chống chủ nghĩa cơ hội chính trị cần đến quyết tâm, vì đây là công việc “tự chỉ trích”, tự phê bình hạn chế, khuyết tật “từ bên trong và với bên trên”. Người nhận định: “... một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(17).

Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội chính trị phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Không phải ở đâu và bất kỳ lúc nào, sự phê bình trong tổ chức đảng ở các cấp đều đạt được mức độ mạnh mẽ, thẳng thắn và nghiêm khắc. Tình trạng e dè, nể nang, “dĩ hòa vi quý”, “giữ thế thủ” vẫn có thể diễn ra, đặc biệt là trong khi nhận định và phê phán các biểu hiện cơ hội chính trị. Đây là lĩnh vực “nhạy cảm”, cần đến bản lĩnh chính trị. Tuy vậy, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng định hướng cho chúng ta cách giải quyết vấn đề này. Người dạy: “Cách làm là: dựa vào: Lực lượng của dân,/ Tinh thần của dân(18). Theo đó, Đảng cần tổ chức, động viên nhân dân cùng tham gia, để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thành quả tích cực của công tác xây dựng Đảng. Dân ở đây là những người đang tham gia thực hiện và thụ hưởng thành quả của chính sách; trong họ, có nhiều trí thức, chuyên gia am hiểu nhiều lĩnh vực và có thể đưa ra những ý kiến tư vấn xác đáng cho quá trình xây dựng chính sách.   

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thường xuyên trau dồi nhận thức lý luận, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm cơ hội, sai trái

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một đảng cộng sản trước hết phụ thuộc vào nền tảng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lê-nin:  “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”(19). Đây cũng là “sức đề kháng” từ bên trong “cơ thể” Đảng, để có thể “miễn dịch” với những “căn bệnh” bị tiêm nhiễm trong đời sống chính trị phức tạp.

Một mặt, những phân tích lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những kinh nghiệm mà Đảng ta tổng kết được cho thấy rằng, chủ nghĩa cơ hội chính trị có một căn nguyên là do chủ thể chưa vững vàng về lý luận, “thiếu lý luận” và sùng bái chủ nghĩa kinh nghiệm; vì vậy, muốn đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội chính trị hiệu quả, trước hết phải tăng cường học tập nghiêm túc chủ nghĩa Mác - Lê-nin để trong Đảng “ai cũng hiểu” và “làm theo”.  

Mặt khác, chúng ta còn bắt gặp một thực tế là, không ít người còn “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(20). Với một vốn liếng nhận thức còn hạn chế như vậy, những người đó rất dễ sa vào chủ nghĩa cơ hội chính trị, hoặc tả khuynh, hoặc hữu khuynh.

Thêm vào đó, để nhận diện và đấu tranh với chủ nghĩa cơ hội chính trị trong Đảng, chủ thể cũng cần có năng lực và bản lĩnh về lý luận. Hiện nay, trên nhiều diễn đàn, chúng ta có thể gặp các biểu hiện cơ hội chính trị khá tinh vi theo kiểu: “chỉ cần dân giàu, nước mạnh, không cần đến chủ nghĩa xã hội(!)”. Ngay ở một số địa phương cũng có những tư tưởng “chạy theo thành tích” theo kiểu “đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế địa phương”, mà không quan tâm đầy đủ đến bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển bền vững,... Phụ họa cho những quan niệm sai trái và lệch lạc này là khá nhiều bài viết, ấn phẩm. Vì vậy, muốn nhận diện, đấu tranh hiệu quả với chủ nghĩa cơ hội chính trị, đòi hỏi chủ thể được trang bị một cơ sở lý luận vững chắc, đầy đủ.    

Chủ nghĩa cá nhân là “bệnh gốc của mọi thứ bệnh”, nên chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân hiện nay cũng là một phương diện cần được quan tâm để chống chủ nghĩa cơ hội chính trị có kết quả. Những biểu hiện đó đã được chỉ rõ, chẳng hạn như thói háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”...    

Vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay là giữ nghiêm kỷ luật, thường xuyên trau dồi và nâng cao nhận thức lý luận chính trị; phòng ngừa và đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, phê phán các quan điểm sai trái - tất cả phải là một chỉnh thể để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; từ đó, hình thành nên một “trận tuyến” nhiều tầng lớp và hiệu quả trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội chính trị ở Việt Nam dưới mọi biến thể, màu sắc khác nhau./.

----------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, các trang: 297, 308 và 311
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 66
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 311
(4), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 55, 54
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 156
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 280
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 464
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 290
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 605
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 335
(12) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 28
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 127
(14) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Sđd, tr. 32
(15) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Sđd, tr. 30
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 464
(17), (18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 301, 556
(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 289
(20) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Sđd, tr. 28


Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

TS TRẦN THỊ NHẪN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
16:56, ngày 30-01-2024

TCCS - Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không ngừng chống phá, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhận diện, bóc trần và đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch đó là việc làm rất cần thiết, qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt trọng đại của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đảng đã tự xác định vai trò là “đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng"(1). Đảng đã lãnh đạo nhân dân vùng lên đấu tranh xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến; khẳng định nền độc lập, tự do cho dân tộc bằng sự kiện ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong suốt 94 năm, Đảng luôn khẳng định “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”(2). Đảng cũng xác định rõ vị trí, vai trò là “cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(3) để thực hiện những cam kết chính trị và chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước lịch sử.

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được khẳng định rõ trong Hiến pháp - văn bản pháp luật cao nhất của đất nước: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam..., là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(4). Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được Nhà nước, xã hội, nhân dân công nhận và được hiến định, là sự ghi nhận những cống hiến của Đảng và khẳng định vai trò lãnh đạo tất yếu của Đảng trong mọi bước phát triển của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền đến nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chưa bao giờ ngừng chống phá, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Sự chống phá dưới mọi hình thức đó ngày càng tinh vi hơn, từ hình thức vũ trang, bán vũ trang nay chuyển sang núp dưới âm mưu "diễn biễn hòa bình”, nhất là sử dụng internet, các trang báo mạng phản động để đăng tải những nội dung chống phá, xuyên tạc, bóp méo sự thật về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 - mà thực chất, là xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng(?!). Họ cho rằng, Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã phủ nhận quyền lực của nhân dân trong việc lựa chọn đảng cầm quyền thông qua bầu cử, cũng như phủ nhận quyền lực của nhân dân trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, là trái với nguyên tắc của một thể chế nhà nước dân chủ(?!)

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn tập trung phê phán, thổi phồng các điểm tiêu cực, hạn chế trong đời sống kinh tế - xã hội, cố tình bôi đen, hạ thấp những thành tựu to lớn của đất nước đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng; đánh lạc hướng dư luận, gây tâm lý dao động, hoang mang trong nhân dân. Từ đó, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh việc kích động, lôi kéo, xúi giục việc chống phá Đảng, Nhà nước ta,...

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu, khách quan, từ mong muốn của nhân dân, đòi hỏi của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đảng nắm giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền bằng uy tín, năng lực mà không một đảng phái nào có thể thay thế được.

Từ nửa cuối thế kỷ XIX, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược và cai trị, trở thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Với truyền thống chống giặc ngoại xâm và tinh thần yêu nước nồng nàn, trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam xuất hiện các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp theo ý thức hệ phong kiến, tư sản và những cuộc đấu tranh tự phát của giai cấp công nhân. Mặc dù các phong trào đấu tranh diễn ra rất sôi nổi và liên tục ở khắp các địa phương, vùng, miền, nhưng cuối cùng đều thất bại.

Trước thực trạng khủng hoảng, bế tắc về con đường cứu nước, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có một tổ chức cách mạng tiên phong với đường lối đúng đắn để lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc đấu tranh giành độc lập. Trong quá trình bôn ba khắp năm châu, bốn bể tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cách mạng vô sản và khẳng định cách mạng muốn thành công, cần: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”(5). Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thông qua vai trò lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đã hội tụ đầy đủ những yếu tố cần thiết đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi khách quan của lịch sử đất nước.

Về tổ chức: Đảng “là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh”(6); có đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, sẵn sàng đấu tranh vì lý tưởng của Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lý luận cách mạng, khoa học, tiến bộ; là kim chỉ nam cho mọi hoạt động.

Về đường lối cách mạng: Ngay tại Hội nghị thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên, trong đó vạch ra mục tiêu, nhiệm vụ và con đường phát triển cho cách mạng Việt Nam, đó là: Tiến hành cuộc cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - một chế độ tốt đẹp, ưu việt nhất dành cho tất cả người dân Việt Nam. Đây là con đường cách mạng đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại.

Với ý nghĩa đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu, đã chấm dứt sự khủng hoảng về tổ chức lãnh đạo và đường lối cứu nước ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX. Trên thực tế, trước và sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trở thành Đảng cầm quyền cho đến năm 1988(7), ở Việt Nam đã hình thành và tồn tại nhiều đảng chính trị với ý thức hệ, tôn chỉ, mục đích hoạt động khác nhau, song đều thất bại. Trong bối cảnh các lực lượng, tổ chức, đảng phái khác trong xã hội đã bị thất bại, không đảm đương được vai trò lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, nên ngay khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, trước sóng gió “chấn động chính trị” cuối thập niên 80 - đầu thập niên 90 (thế kỷ XX) làm hàng loạt các đảng cộng sản bị mất vai trò cầm quyền, dẫn đến sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững vai trò cầm quyền, bản lĩnh, sáng suốt đề ra đường lối đổi mới đúng đắn.

Với năng lực, bản lĩnh và uy tín của một đảng mác-xít chân chính, được rèn luyện qua muôn vàn khó khăn, thử thách, Đảng đã lãnh đạo đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(8). Thực tiễn lịch sử cách mạng và những thành tựu vĩ đại đạt được đã chứng minh: “Ở Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có khả năng lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; lợi ích của nhân dân gắn liền với sự nghiệp của Đảng; mục đích, lý tưởng của Đảng cũng là ước mơ, nguyện vọng của nhân dân”(9).

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng với các già làng, trưởng bản và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc Tây Nguyên _Ảnh: TTXVN

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền, nghĩa là Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước lịch sử về sự phát triển của đất nước, của dân tộc, bảo đảm cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho người dân. Đảng phải đề ra được quan điểm, chủ trương, đường lối, chiến lược, định hướng lớn đúng đắn để xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời, phải làm cho quan điểm, chủ trương của Đảng được thực hiện hiệu quả trong thực tiễn. Muốn vậy, Đảng phải luôn nhất quán nguyên tắc “tập trung dân chủ”, mọi công việc trong Đảng đều phải được bàn bạc dân chủ theo quy định, nhưng khi quyết định thì thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tuân theo Cương lĩnh, nghị quyết, Điều lệ Đảng. Đảng cầm quyền trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng càng phải khẳng định được năng lực lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; đồng thời, phải bảo đảm “các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(10), không được “đứng trên”, “đứng ngoài” pháp luật, cũng không “độc đoán, chuyên quyền” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đảng lãnh đạo Nhà nước, phát huy mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước, nhưng không làm thay Nhà nước. Đảng lãnh đạo “bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật”(11). Nhà nước thể chế hóa mọi đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp và pháp luật, qua đó, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Sau mỗi kỳ đại hội Đảng, nghị quyết của Đảng sẽ được Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước triển khai bằng việc thể chế hóa thành các văn bản, quy định, bảo đảm triển khai thực hiện trong xã hội.

Trong điều kiện cầm quyền duy nhất ở Việt Nam, việc Đảng hoạt động theo nguyên tắc, Điều lệ Đảng và trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật chính là cơ sở vững chắc bảo đảm cho Đảng giữ vững bản chất, mục tiêu, lý tưởng; phòng, chống mọi nguy cơ độc quyền, thoái hóa, biến chất có thể xảy ra.

Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phát huy quyền làm chủ của nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đề cao dân chủ, tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Độc lập dân tộc, giải phóng con người, mang lại quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội cho tất cả người dân Việt Nam chính là mục tiêu, là lý tưởng phấn đấu của Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mặc dù trong điều kiện đất nước có chiến tranh, vô cùng khó khăn, thiếu thốn, nhưng Đảng vẫn luôn quan tâm đến quyền dân chủ cho nhân dân, như thực hiện người cày có ruộng, phổ thông giáo dục, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần… Vấn đề quyền con người, thực thi dân chủ được Đảng gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, khẳng định chủ quyền của quốc gia - dân tộc.

Trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước, mối liên hệ gắn bó với nhân dân, vấn đề dân chủ tiếp tục được Đảng đặc biệt chú trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng nêu rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”(12). Với nhận thức đúng đắn đó, Đảng luôn chú trọng lãnh đạo xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ phải được thực hiện trong toàn hệ thống chính trị thông qua cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.

Điểm cốt lõi của việc bảo đảm dân chủ là Đảng luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ”(13). Mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều bắt nguồn từ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, phục vụ nhân dân; thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(14).

Thày giáo mang quân hàm xanh _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ tư, Đảng luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(15). Việc Đảng cầm quyền duy nhất rất dễ dẫn đến tệ quan liêu, bảo thủ, trì trệ, do đó, đòi hỏi Đảng phải luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới, kiểm soát quyền lực lãnh đạo để xứng đáng với vai trò lãnh đạo, cầm quyền được lịch sử ghi nhận và nhân dân tin tưởng giao trọng trách.

Đảng “phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(16). Đây là một trong những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(17); đồng thời “không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(18).

Đảng không ngừng xây dựng, chỉnh đốn, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và giữ nghiêm kỷ luật đảng để giữ cho tổ chức đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cầm quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị và nhân dân; bảo đảm đủ năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu trong mọi hoàn cảnh, nhiệm vụ.

Đảng luôn coi trọng công tác tư tưởng, quan tâm phát triển đội ngũ đảng viên.  Không ngừng rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Đảng luôn đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng. Nâng cao năng lực lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng để tổ chức thực hiện thắng lợi trong thực tiễn.../.

-------------------

(1) Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 2, tr. 4
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011,  tr. 88
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 88
(4) Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 289
(6) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 5
(7) Đến năm 1988, sau khi Đảng Dân chủ Việt Nam (thành lập năm 1944) và Đảng Xã hội Việt Nam (thành lập năm 1946) tuyên bố tự giải tán, ở Việt Nam chỉ còn một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, t. I, tr.25
(9) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2023, tr. 369
(10) Khoản 3, Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tlđd
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr.196
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 84 - 85
(13) Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI, về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 192
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 672
(16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 33
(17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 33
(18) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 40 - 41