Đấu tranh phản bác một số luận điệu xuyên tạc, sai trái phủ nhận lý luận về đường lối đổi mới
TCCS - Lý luận về đường lối đổi mới là thành quả phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng, có giá trị định hướng sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Chính vì vậy, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc lý luận về đường lối đổi mới. Việc nhận diện và đưa ra những luận cứ đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc; làm rõ bản chất khoa học, cách mạng và thực tiễn của lý luận về đường lối đổi mới là yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Phản bác luận điệu xuyên tạc cho rằng việc phát triển lý luận về đường lối đổi mới là biểu hiện “thay đổi nền tảng tư tưởng” của Đảng
Đại hội XIV của Đảng xác định: “Lý luận về đường lối đổi mới là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhân dân là trung tâm, là chủ thể; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(1). Đây là sự khái quát có ý nghĩa lý luận sâu sắc, đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam và phương thức hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới.
Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch cố tình quy kết việc tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới là biểu hiện của sự “thay đổi nền tảng tư tưởng”(?!). Những luận điệu xuyên tạc tinh vi, núp dưới vỏ bọc “phân tích lý luận”, “đổi mới tư duy”, nhưng thực chất nhằm đánh tráo bản chất vấn đề hòng làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Sự thật là, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”(2). Chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là một hệ thống giáo điều, khép kín, bất biến. Ph. Ăng-ghen từng chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(3). Các luận điệu xuyên tạc cố tình đồng nhất phát triển lý luận với phủ định nền tảng, đồng nhất bổ sung nhận thức với dao động lập trường, từ đó dựng lên sự đối lập giả tạo giữa lý luận về đường lối đổi mới với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi đó, thực tế chỉ rõ lý luận về đường lối đổi mới được hình thành trên cơ sở kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Vì vậy, việc hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới không phải là “thay nền”, mà là làm sáng rõ hơn sức sống và giá trị thực tiễn của nền tảng tư tưởng của Đảng.
Sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn; đồng thời cũng xuất hiện nhiều vấn đề mới, phức tạp, chưa từng có tiền lệ về mô hình phát triển, thể chế, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát triển con người, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế... đòi hỏi phải được nhận thức, lý giải và khái quát ở tầm lý luận. Việc tiếp tục tổng kết thực tiễn, bổ sung và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới là đòi hỏi khách quan của thực tiễn. Điều đó thể hiện năng lực tự đổi mới của một Đảng cách mạng trước yêu cầu phát triển của đất nước; phấn đấu “đến năm 2025, trên cơ sở tổng kết 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 50 năm thống nhất đất nước, cần hoàn thiện cơ bản hệ thống lý luận về đường lối đổi mới; đến năm 2030,… bổ sung, làm phong phú và tiến thêm một bước để hoàn thiện hơn nền tảng tư tưởng của Đảng; và đến năm 2045,… thì chúng ta sẽ có một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, khoa học và hiện đại về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”(4). Đại hội XIV của Đảng cũng khẳng định: “Việc tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 40 năm đổi mới có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện, đặc biệt góp phần vào sự phát triển về nhận thức lý luận của Đảng, vào việc hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta”(5). Như vậy, việc hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới là yêu cầu nội tại của quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng và của chính thực tiễn đổi mới, làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng luôn tươi mới và giàu sức sống.
Phản bác luận điệu đối lập lý luận về đường lối đổi mới với chủ nghĩa xã hội
Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc khi cho rằng, lý luận về đường lối đổi mới “xa rời” mục tiêu xã hội chủ nghĩa (?!). Sự thật là, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng không phải là sự rời bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa; mà đó là kết quả của quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về con đường, mô hình và phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh mới.
Các văn kiện của Đảng luôn nhất quán khẳng định: Đổi mới là đổi mới tư duy, cơ chế, chính sách và phương thức phát triển, không phải thay đổi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(6). Luận điểm trên khẳng định rất rõ, trong lý luận về đường lối đổi mới, kiên định mục tiêu và đổi mới phương thức không đối lập nhau, mà thống nhất với nhau. Đổi mới không phải là rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, mà là tìm ra những hình thức, bước đi và cơ chế phù hợp hơn để hiện thực hóa mục tiêu ấy trong điều kiện mới.
Các thế lực thù địch cố tình xem kinh tế thị trường là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, từ đó xuyên tạc Việt Nam phát triển kinh tế thị trường tức là “từ bỏ” chủ nghĩa xã hội (?!). Đây là cách lập luận phiến diện, bởi kinh tế thị trường là thành quả phát triển chung của văn minh nhân loại; bản chất xã hội của nó không do bản thân cơ chế thị trường quyết định, mà do chế độ chính trị - xã hội, vai trò của Nhà nước và mục tiêu phát triển chi phối.
Chính vì vậy, việc Đảng xác lập mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự sao chép con đường tư bản chủ nghĩa, mà là bước phát triển sáng tạo trong nhận thức về phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mô hình đó vừa tôn trọng các quy luật của thị trường để giải phóng sức sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất, vừa bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và định hướng phát triển vì con người, tiến bộ và công bằng xã hội. Từ thực tiễn đổi mới, Đảng khẳng định “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta”(7), đồng thời là “thành quả lý luận quan trọng của Đảng, sự đúc kết từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới”(8), đồng thời là “thành quả lý luận quan trọng của Đảng, sự đúc kết từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới”(9).
Cũng từ cách tiếp cận đó, phát triển kinh tế tư nhân không phải là biểu hiện “tư bản hóa” nền kinh tế. Việc Đảng xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” nhằm khơi thông nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam luôn được đặt trong chỉnh thể của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, kinh tế hợp tác, tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và hướng tới mục tiêu vì một Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Trong lý luận về đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế không phải là hòa tan; phát triển kinh tế tư nhân không phải là thay đổi bản chất chế độ; vận dụng cơ chế thị trường không phải là phủ định định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng ta nhận thức rõ rằng, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là bỏ qua những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản, mà là “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa”(10). Đây là cách tiếp cận biện chứng, khoa học: vừa kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, vừa kế thừa có chọn lọc những thành tựu của văn minh nhân loại để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Do đó, việc phản bác các luận điệu xuyên tạc không chỉ nhằm bảo vệ thành tựu của công cuộc đổi mới, mà còn khẳng định một chân lý có ý nghĩa phương pháp luận: Kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa không đồng nghĩa với bất biến về mô hình và phương thức phát triển.
Mô hình nông nghiệp kết hợp du lịch trải nghiệm góp phần quảng bá sản phẩm OCOP và phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Tây Ninh _Ảnh: TTXVN
Phản bác luận điệu phủ nhận cơ sở khoa học và giá trị thực tiễn của lý luận về đường lối đổi mới
Các thế lực cũng cố tình đồng nhất lý luận về đường lối đổi mới với những điều chỉnh chính sách đơn lẻ; tách lý luận khỏi quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và hoạch định đường lối của Đảng.
Trước hết, cơ sở khoa học của lý luận về đường lối đổi mới thể hiện ở chính quá trình hình thành của nó. Lý luận ấy không nảy sinh từ ý chí chủ quan, càng không phải sự áp đặt từ bên ngoài, mà được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thông qua quá trình tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận của Đảng trong suốt tiến trình đổi mới. V.I. Lê-nin từng chỉ rõ: “không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(11). Từ thực tiễn đổi mới, Đảng đã từng bước khái quát, phát triển thành hệ thống quan điểm có giá trị định hướng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Bởi vậy, việc quy kết lý luận về đường lối đổi mới là sự “chắp vá” hay “hợp thức hóa thực tiễn” (?!) thực chất là sự cố tình phủ nhận quá trình chuyển hóa thực tiễn đổi mới thành lý luận khoa học, có khả năng soi sáng, dẫn dắt và điều chỉnh thực tiễn.
Cơ sở khoa học ấy còn thể hiện ở tính hệ thống của lý luận về đường lối đổi mới. Đây không phải là sự lắp ghép cơ học của những điều chỉnh chính sách riêng lẻ, mà là một hệ thống nhận thức chỉnh thể bao quát những vấn đề cốt lõi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Từ quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển; vị trí trung tâm, vai trò chủ thể của nhân dân; sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho đến mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với ba trụ cột nền tảng, các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa, phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội và các mối quan hệ lớn mang tính quy luật... Một hệ thống lý luận đã xác lập được mục tiêu, chủ thể, mô hình, cấu trúc và phương thức phát triển như vậy không thể chỉ là sự “chắp vá” hay những phản ứng tình thế trước thực tiễn. Cách quy kết này bộc lộ tư duy phiến diện, cố tình phủ nhận giá trị khoa học hệ thống lý luận của Đảng.
Bên cạnh đó, giá trị khoa học của lý luận về đường lối đổi mới chính là ở phương pháp hình thành và phát triển của nó: xuất phát từ thực tiễn, tổng kết thực tiễn, đối chiếu với thực tiễn, bổ sung nhận thức và tiếp tục kiểm nghiệm trong thực tiễn. Do đó, không thể lấy tính mở của lý luận về đường lối đổi mới để phủ nhận tính khoa học của lý luận ấy. Một lý luận khoa học không phải là hệ thống khép kín, nhất thành bất biến, mà phải có khả năng nhận thức những vấn đề mới, tự bổ sung từ thực tiễn và tiếp tục định hướng thực tiễn ở trình độ cao hơn. V.I. Lê-nin khẳng định: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”(12). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn: “công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”(13). Vì thế, việc Đảng yêu cầu “đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách”(14) thể hiện thái độ khoa học, cầu thị và biện chứng trước sự vận động không ngừng của đời sống xã hội.
Các thế lực thù địch thường lợi dụng những khó khăn, hạn chế và vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển đất nước để quy kết rằng lý luận về đường lối đổi mới không có giá trị thực tiễn (?!). Đây là một sự đánh tráo, xuyên tạc bản chất của lý luận đổi mới, bởi giá trị của một hệ thống lý luận không chỉ được đo bằng việc nó giải quyết được mâu thuẫn, khó khăn của thực tiễn, mà trước hết ở việc cung cấp năng lực nhận diện đúng vấn đề, chỉ ra phương hướng giải quyết và cơ sở để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chính sách. Một lý luận không còn khả năng giải thích thực tiễn, không được bổ sung từ thực tiễn mới là lý luận giáo điều, xơ cứng. Việc không ngừng hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới cho thấy Đảng không né tránh những vấn đề phát sinh, mà chủ động nâng cao năng lực nhận thức và năng lực lãnh đạo trước yêu cầu phát triển mới của đất nước. Lý luận về đường lối đổi mới không đứng ngoài thực tiễn, mà trực tiếp tham gia định hướng chính sách và giải quyết những vấn đề mới do thực tiễn phát triển đất nước đặt ra.
Thực tiễn 40 năm đổi mới là sự kiểm nghiệm sinh động và thuyết phục nhất đối với giá trị của lý luận về đường lối đổi mới. Từ tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, Việt Nam đã vươn lên đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế”(15). Những kết quả ấy không chỉ bác bỏ luận điệu phủ nhận giá trị thực tiễn của lý luận về đường lối đổi mới, mà còn khẳng định lý luận ấy đã và đang phát huy vai trò định hướng đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.
Những luận điệu xuyên tạc cho rằng phát triển lý luận về đường lối đổi mới là “thay đổi nền tảng tư tưởng”, đối lập đổi mới với chủ nghĩa xã hội hoặc phủ nhận cơ sở khoa học và giá trị thực tiễn của lý luận về đường lối đổi mới thực chất là cách đánh tráo giữa phát triển sáng tạo với phủ định nền tảng, giữa đổi mới phương thức với thay đổi mục tiêu, giữa yêu cầu hoàn thiện lý luận với sự phủ nhận lý luận. Đấu tranh phản bác các luận điệu ấy không chỉ nhằm bảo vệ một thành quả lý luận đặc biệt quan trọng của Đảng, mà còn là bảo vệ năng lực phát triển sáng tạo của nền tảng tư tưởng trong điều kiện lịch sử mới; qua đó củng cố cơ sở chính trị - tư tưởng - lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới./.
----------------------
(1) (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 76, 81
(3) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t. 36, tr. 796
(4) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 278 - 279
(5) (6) (15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 5, 25 - 26, 20
(7) Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 16-5-2021, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam
(8) Lê Văn Lợi (chủ biên): Nghiên cứu, tổng kết, góp phần hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 113
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 84
(10) (11) (12) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 6, tr. 30, 167
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 283
(15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 181-182
Thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam - Minh chứng khẳng định uy tín quốc gia và bác bỏ các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền
TCCS - Bảo đảm quyền con người là giá trị cốt lõi của tiến bộ xã hội, đồng thời là tiêu chí quan trọng khẳng định uy tín, vị thế của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn nỗ lực bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tuy nhiên, một số thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn cố tình tìm cách phủ nhận, đưa ra luận điệu sai trái, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền Việt Nam. Việc tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, củng cố uy tín quốc gia và chủ động đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền.
Tổng Bí thư Tô Lâm đến thăm và tặng quà cho học sinh Trường Phổ thông cơ sở Nguyễn Đình Chiểu và Trường Phổ thông cơ sở Xã Đàn, ngày 1-6-2025 _Ảnh: TTXVN
Nhận diện luận điệu sai trái, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam
Thời gian qua, ở Việt Nam, vấn đề nhân quyền luôn nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia, tổ chức và cá nhân. Bên cạnh nhiều đánh giá khách quan mang tính xây dựng, hợp tác, ghi nhận, vẫn tồn tại một số chủ thể thường xuyên đưa ra những nhận định phiến diện, thiếu khách quan, như: Một số cơ quan chính phủ phương Tây; một số cơ quan truyền thông và tổ chức phi chính phủ thiếu thiện chí; các tổ chức, cá nhân chống đối trong nước và lưu vong ở nước ngoài. Các chủ thể này thường sử dụng nhiều hình thức như công bố báo cáo, bảng xếp hạng, bài viết, chiến dịch truyền thông và hoạt động vận động chính sách nhằm tác động đến dư luận quốc tế và quá trình hoạch định chính sách của một số quốc gia đối với Việt Nam. Nhìn tổng thể, các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền Việt Nam thường xoay quanh một số nội dung chủ yếu, như: Luận điệu xuyên tạc thực thi dân chủ, bảo đảm quyền con người; hạ thấp và phủ nhận các thành tựu bảo đảm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ở Việt Nam; quy kết Việt Nam “thiếu hợp tác”, “thiếu minh bạch”, “không tuân thủ các cơ chế nhân quyền quốc tế”(?!)…
Những luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói trên tuy khác nhau về cách thể hiện, nhưng đều có điểm chung là tiếp cận phiến diện, thiếu khách quan, tách rời bối cảnh lịch sử và các điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam; cố tình xuyên tạc nhằm mục đích hạ thấp, bôi nhọ uy tín, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu sự ổn định và phát triển của đất nước; làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Vì vậy, việc tiếp cận vấn đề từ thực tiễn sinh động của những thành tựu bảo đảm quyền con người có ý nghĩa quan trọng nhằm khẳng định uy tín quốc gia, qua đó bác bỏ các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền.
Thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam thời gian qua
Xuyên suốt các giai đoạn cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan điểm nhất quán “con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”(1), “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu"(2). Với những nỗ lực bền bỉ, thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh vực nhân quyền, tiêu biểu như:
Một là, hoàn thiện thể chế và thiết chế bảo đảm quyền con người
Về phương diện thể chế, sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc (năm 1977), Việt Nam đã từng bước tham gia hầu hết các Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người và tích cực nội luật hóa, hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được xem là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến về bảo vệ quyền con người khi dành trọn Chương II (36 điều) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời, nội dung liên quan đến quyền con người còn được quy định ở nhiều điều khoản khác. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Trên nền tảng hiến định, hệ thống pháp luật về quyền con người được xây dựng và hoàn thiện mạnh mẽ đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho việc tôn trọng, bảo đảm quyền con người. Quá trình xây dựng pháp luật luôn tuân thủ nguyên tắc “Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bình đẳng giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công khai, minh bạch”(3). Báo cáo tổng hợp của Liên hợp quốc phục vụ cơ chế UPR lần thứ IV (năm 2024), các bên liên quan ghi nhận: Việt Nam đã phê chuẩn phần lớn các công ước quốc tế cốt lõi về quyền con người và tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý trong nước phù hợp với chuẩn mực quốc tế(4).
Các thiết chế bảo đảm quyền con người được xây dựng và cũng cố ngày càng hoàn thiện. Hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được phân công, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ trong việc bảo đảm quyền con người. Quốc hội tăng cường chức năng giám sát tối cao đối với việc thực thi quyền con người. Chính phủ tổ chức thực thi pháp luật, ban hành các chương trình, chiến lược quốc gia về giảm nghèo, bảo vệ trẻ em, chuyển đổi số, phát triển bền vững,…Hệ t hống tòa án được cải cách theo hướng bảo đảm nguyên tắc xét xử độc lập, công bằng, khách quan, minh bạch, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Viện kiểm sát tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội tham gia giám sát, phản biện xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Hệ thống ban chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ và các địa phương được kiện toàn, hoạt động hiệu quả. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý cho người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế luôn được chú trọng. Nội dung quyền con người được đưa vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân và tích cực truyền thông trong đời sống xã hội nhằm nâng cao nhận thức về nhân quyền cho mọi tầng lớp nhân dân.
Hai là, thành tựu bảo đảm các quyền dân sự, chính trị. Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) vào ngày 24-9-1982. Kể từ đó đến nay, Việt Nam không ngừng nỗ lực nội luật hóa và nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế. Những thành tựu nổi bật có thể kể đến như:
Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân. Điều 28 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của địa phương và cả nước”. Trên thực tế, nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua nhiều hình thức đa dạng, như: Thực hiện cơ chế dân chủ ở cơ sở; tiếp xúc cử tri; giám sát và phản biện xã hội; bầu cử và ứng cử để lựa chọn những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp… Việc tổ chức bầu cử luôn được tiến hành công khai, dân chủ, đúng pháp luật. Việt Nam duy trì tỷ lệ cử tri tham gia các cuộc bầu cử rất cao, riêng tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử Quốc hội khóa XV đạt 99,6%. Bên cạnh đó, cơ chế lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo luật, chính sách quan trọng ngày càng được mở rộng. Điển hình như trong đợt lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 vào năm 2025, đã có hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và tỷ lệ tán thành đạt 99,75%(5).
Các quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tiếp cận thông tin,… ngày càng được bảo đảm. Môi trường báo chí, truyền thông và không gian mạng ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Việt Nam hiện có hệ thống báo chí đa dạng về loại hình, cùng với sự phát triển nhanh chóng của mạng internet và các phương tiện truyền thông xã hội, tạo ra không gian rộng mở để người dân tự do ngôn luận, trao đổi thông tin, bày tỏ quan điểm, tham gia phản biện xã hội. Tính đến năm 2025, mạng 4G phủ sóng đạt 99,48% dân số; 5G có vùng phủ lên 90,2%, Internet băng rộng cố định xếp hạng 11 thế giới, băng rộng di động xếp hạng 17 thế giới(6); số người sử dụng mạng internet tại Việt Nam đạt hơn 78 triệu người (gần 80% dân số)(7). Trong chuyển đổi số, Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực: Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) năm 2024 Việt Nam được xếp hạng 71/193 quốc gia, thuộc nhóm “rất cao” của chỉ số này; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) Việt Nam xếp hạng 44/133 quốc gia. Những thành tựu to lớn này tạo điều kiện quan trọng để bảo đảm các quyền tự do cá nhân, đồng thời đặt nền móng quan trọng cho công cuộc chuyển đổi số, thúc đẩy sự phát triển của quốc gia và phát triển con người toàn diện.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng và Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, được khẳng định rõ trong các định hướng, quan điểm của Đảng và thể chế hóa trong hệ thống pháp luật. Điều 24, Hiến pháp 2013 khẳng định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Trên thực tế, đời sống tôn giáo ở Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng. Hiện nay, cả nước có hơn 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo. Có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động với gần 28 triệu tín đồ(8), hơn 54.000 chức sắc, hơn 144.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự(9). Mỗi năm, hàng nghìn lễ hội và sinh hoạt tôn giáo được tổ chức công khai, thu hút đông đảo chức sắc, tín đồ trong và ngoài nước tham gia.
Về việc các báo cáo đánh tráo khái niệm, tôn vinh những kẻ phạm tội, bị xử lý theo pháp luật Việt Nam thành những “nhà báo độc lập”, “nhà đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” nhằm xuyên tạc bản chất vụ việc và gây sức ép chính trị. Cần khẳng định rằng, không chỉ riêng Việt Nam, mà ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi con người, mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; những đối tượng phạm tội đều phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Thời gian qua, ở Việt Nam, việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các cá nhân lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân luôn được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng và các quyền của người bị buộc tội. Các vụ, việc đều được xử lý công khai, minh bạch, có sự tham gia của luật sư và cơ chế giám sát theo quy định, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của đông đảo người dân. Vì vậy, việc nghiêm trị những kẻ cố tình thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, chống đối Đảng, Nhà nước Việt Nam không thể gọi là “bắt bớ, giam giữ nhà hoạt động nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”,… Những cáo buộc này không phản ánh đúng bản chất của đời sống chính trị, xã hội ở Việt Nam.
Ba là, thành tựu bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.
Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) vào ngày 24-9-1982. Từ đó đến nay, việc bảo đảm các quyền này ngày càng được tăng cường và đạt nhiều kết quả nổi bật, tiêu biểu như:
Thành tựu về giảm nghèo và nâng cao mức sống. Thời gian qua, Việt Nam được coi là mô hình thành công của thế giới trong nỗ lực xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, đất nước ta đã vượt lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia đang phát triển. Trong những năm qua, bất chấp những trở ngại toàn cầu, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân khoảng 6,2%. Đặc biệt tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02% là điểm sáng về tăng trưởng kinh tế, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, xếp thứ 32 nền kinh tế trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao(10). Tăng trưởng kinh tế luôn gắn kết chặt chẽ với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Nhà nước luôn ưu tiên bố trí nguồn lực cho an sinh xã hội và phát triển con người. Các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Nhờ vậy, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn quốc giảm từ 4,2% năm 2020 xuống còn 1,3% năm 2025. Các chính sách xã hội, an sinh được triển khai mạnh mẽ nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhóm dễ bị tổn thương. Năm 2025, Việt Nam cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước. Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên đạt trên 3,5 triệu người, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Chỉ tính riêng năm 2024, Việt Nam đã xuất khẩu trên 9,18 triệu tấn gạo với kim ngạch 5,75 tỷ USD, góp phần bảo đảm an ninh lương thực trên thế giới. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công nhận Việt Nam là “một trong những quốc gia thành công nhất thế giới trong giảm nghèo đa chiều”; Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá: “Việt Nam là thí dụ xuất sắc về thành công trong giảm nghèo, với tiến bộ ở giáo dục, y tế, bình đẳng giới và an sinh xã hội"(11).
Thành tựu về giáo dục, y tế, lao động - việc làm, văn hóa, xã hội đều đạt được những bước tiến nổi bật, ấn tượng. Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên phạm vi toàn quốc vào năm 2010, hiện tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 - 60 ở mức khoảng 98%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ biết chữ trung bình trên toàn cầu. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc tiểu học đạt 98,7%. Hệ thống giáo dục tiếp tục mở rộng, tạo cơ hội học tập cho mọi người dân. Đặc biệt, đã thực hiện miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Năm 2025, số người tham gia bảo hiểm y tế đạt 96,46 triệu người (95,2% dân số); 100% hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được Nhà nước hỗ trợ bảo hiểm y tế. Tuổi thọ trung bình đạt 74,8 tuổi. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức thấp, khoảng 2,22%(12). Phát triển văn hóa, con người và xã hội “đạt kết quả rất quan trọng, nhiều mặt tiến bộ”(13). Báo cáo Phát triển con người năm 2025 ghi nhận Việt Nam đã thăng hạng vượt bậc về Chỉ số Phát triển con người (HDI), đạt 0,766 điểm, tăng 14 bậc so với xếp hạng năm ngoái, từ vị trí vị trí 107 lên vị trí 93/193 quốc gia và duy trì vững chắc trong nhóm nước có phát triển con người cao. Chỉ số xếp hạng về bình đẳng giới năm 2025 của Việt Nam xếp thứ 74/148 quốc gia, tăng 13 bậc so với năm 2021(14).Chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam liên tục được cải thiện, Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2025 công bố Việt Nam đứng thứ 46/143 quốc gia. Chỉ số phát triển bền vững (SDGs) xếp thứ 61/167 quốc gia. Khảo sát của Internations cho thấy, “Việt Nam lọt vào top năm quốc gia tốt nhất cho người nước ngoài năm 2025"(15). Trong bảng xếp hạng năm 2026 vừa được trang thông tin Retraite sans Frontières của Pháp công bố, Việt Nam vinh dự nằm trong danh sách 10 quốc gia đáng sống nhất thế giới dành cho người nghỉ hưu, nhờ chi phí sinh hoạt hợp lý, điều kiện sống ngày càng cải thiện và hệ thống hạ tầng, y tế có nhiều tiến bộ. Đánh giá về nhân quyền Việt Nam, Quyền điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam Ramla Khalidi khẳng định: “Việt Nam đã thể hiện vai trò tiên phong trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người"(16).
Bốn là, trách nhiệm quốc gia trong hợp tác quốc tế về nhân quyền.
Việt Nam không chỉ nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế mà còn tích cực, chủ động và có nhiều đóng góp thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên thế giới.
Trên diễn đàn quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện là quốc gia cầu thị, sẵng sàng đối thoại, tích cực hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia, tổ chức quốc tế để cùng xây dựng giải pháp phát triển tối ưu trên lĩnh vực nhân quyền. Điều này thể hiện rõ ở việc Việt Nam luôn chú trọng tham gia vào các chu kỳ UPR của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc. Đến nay, Việt Nam đã tham gia 4 chu kỳ UPR (năm 2009, 2014, 2019 và 2024), ở mỗi chu kỳ Việt Nam đều thể hiện thiện chí và nỗ lực cam kết thực hiện các khuyến nghị đã chấp thuận. Ở chu kỳ 4 năm 2014, Việt Nam đã chấp thuận 271/320 khuyến nghị các nước đưa ra, đạt tỷ lệ 84,7%, khẳng định mong muốn và quyết tâm của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, đồng thời, thể hiện tính minh bạch và sẵn sàng đối thoại, hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia, tổ chức quốc tế quốc tế về vấn đề nhân quyền.
Được sự tín nhiệm của bạn bè quốc tế, Việt Nam đã và đang đồng thời đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong các cơ chế, diễn đàn của Liên hợp quốc như: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ (2008 - 2009, 2020 - 2021); Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77; Hội đồng khai thác Liên minh Bưu chính thế giới nhiệm kỳ 2022 - 2025; Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023 - 2027; Hội đồng Chấp hành cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ nhiệm kỳ 2025 - 2027… Đặc biệt, ngày 14-10-2025, Việt Nam được tái đắc cử vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026 - 2028 với 180/193 phiếu ủng hộ, cao nhất trong số các ứng cử viên đại diện cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương; đồng thời, là quốc gia duy nhất trong khu vực tiếp tục đảm nhiệm vị trí này sau nhiệm kỳ 2023 - 2025 (từ khi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc được thành lập (năm 2006), Việt Nam ba lần trúng cử vào Hội đồng này: nhiệm kỳ 2014 - 2016; 2023 - 2025 và 2026 - 2028). Kết quả này khẳng định sự ghi nhận và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và nỗ lực thúc đẩy bảo vệ quyền con người của Việt Nam, đồng thời là bằng chứng không thể bác bỏ về uy tín, trách nhiệm và năng lực đóng góp của Việt Nam đối với tiến trình nhân quyền toàn cầu.
Năm là, sự lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định mọi thành tựu bảo đảm quyền con người.
Nhìn tổng thể, những thành tựu trong bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam là kết quả của sự lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đặt con người ở vị trí trung tâm, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thành tựu bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đạt được được nhân dân đồng tình, bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả nhân quyền Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng cần khẳng định rằng, ở Việt Nam, chế độ xã hội và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là do lịch sử và nhân dân Việt Nam lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam, phù hợp với nguyên tắc “quyền tự quyết của mỗi dân tộc” được pháp luật quốc tế ghi nhận. Vì vậy, việc đánh giá, quy kết, áp đặt về thể chế nhất nguyên chính trị là “không có dân chủ”, “vi phạm nhân quyền” rõ ràng là phiến diện, thiếu thiện chí, không phản ánh đúng thực tế và trái với luật pháp quốc tế. Dân chủ, nhân quyền không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng, mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội. Với Việt Nam, nhân quyền không phải là khẩu hiệu chính trị mà là giá trị gắn liền với phát triển toàn diện con người và bảo vệ chủ quyền dân tộc. Việt Nam luôn khẳng định, mọi hành vi lợi dụng nhân quyền để can thiệp nội bộ, phá hoại an ninh, trật tự đều là hành vi vi phạm nhân quyền, đi ngược lại Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Quyền con người là lĩnh vực rộng lớn và đa chiều. Với tinh thần cầu thị, trách nhiệm, Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh triển khai các giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống, đồng thời từng bước khắc phục những hạn chế còn tồn tại; phấn đấu đạt mục tiêu “đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc"(17). Đảng ta khẳng định: “Đến năm 2045: Việt Nam trở thành quốc gia hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc - đó là lời thề trước lịch sử và trước nhân dân"(18). Đó cũng chính là lời thề và cam kết của Đảng về việc không ngừng bảo đảm, nâng cao quyền con người. Những thành tựu trên là minh chứng sống động khẳng định rõ nỗ lực, trách nhiệm, uy tín của Việt Nam trong bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, biến các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền Việt Nam trở nên lạc lõng, vô căn cứ.
Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến nhanh chóng, phức tạp; yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới ngày càng cao; cùng với sự gia tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống và các hoạt động lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” chống phá Việt Nam, việc tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần củng cố uy tín quốc gia và chủ động đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền.
Việt Nam luôn coi bảo đảm quyền con người là bản chất, mục đích của chế độ xã hội chủ nghĩa (Trong ảnh: Chăm sóc trẻ sơ sinh bằng thiết bị y tế hiện đại) _Nguồn: Tư liệu
Các giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trong giai đoạn mới, cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về quyền con người gắn với xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật theo hướng dân chủ, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Gắn hoàn thiện pháp luật với việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm mọi quyền lực nhà nước được kiểm soát hiệu quả. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Phát huy dân chủ, mở rộng sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định và giám sát chính sách, qua đó tạo nền tảng pháp lý và thể chế vững chắc cho việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Hai là, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.
Tăng trưởng kinh tế bền vững, bao trùm là điều kiện vật chất quan trọng để bảo đảm các quyền con người. Do vậy, cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân. Đồng thời, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền; quan tâm hỗ trợ các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.
Ba là, bảo đảm các quyền dân sự, chính trị và phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội.
Tăng cường bảo vệ thực chất các quyền dân sự, chính trị, kịp thời phòng ngừa và xử lý các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hội nhập quốc tế, bảo đảm quyền tham gia và hưởng thụ đời sống văn hóa của người dân. Đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo hướng công bằng, bao trùm, bảo đảm cơ hội học tập suốt đời và thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa các vùng, miền. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng ứng phó với các rủi ro xã hội mới.
Bốn là, nâng cao nhận thức về quyền con người cho cán bộ, đảng viên, nhân dân và truyền thông tích cực chống các luận điệu sai trái.
Thực hiện hiệu quả việc giáo dục quyền con người trong chương trình giáo dục quốc dân. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực thực thi quyền con người trong hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về quan điểm, chính sách, pháp luật và các thành tựu bảo đảm quyền con người. Chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, nâng cao năng lực của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong nhận diện và phản bác các thông tin sai trái, thiếu khách quan về quyền con người, góp phần củng cố niềm tin xã hội và bảo vệ uy tín quốc gia.
Năm là, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế về quyền con người.
Tiếp tục thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế và tích cực tham gia có trách nhiệm vào các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc. Tăng cường đối thoại, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia và tổ chức quốc tế trên tinh thần xây dựng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và tôn trọng sự khác biệt. Thông qua hợp tác quốc tế, Việt Nam có thể tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm và tri thức toàn cầu nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người, đồng thời góp phần thúc đẩy các giá trị nhân quyền tiến bộ trên thế giới.
Những thành tựu trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đã tạo cơ sở thực tiễn vững chắc để khẳng định uy tín quốc gia và bác bỏ các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền. Trong thời gian tới, việc tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, đồng thời bác bỏ đanh thép, thuyết phục các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền./.
---------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. II, tr. 56
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 121
(3) Khoản 4, Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025
(4) United Nations, Human Rights Council Working Group on the Universal Periodic Review (2024): Summary of stakeholders’ submissions on Viet Nam (tạm dịch: Tóm tắt các ý kiến đóng góp của các bên liên quan về Việt Nam), https://digitallibrary.un.org/record/4040513/files/A_HRC_WG.6_46_VNM_3-EN.pdf
(5) Diệu Anh: Trên 280 triệu lượt ý kiến góp ý vào dự thảo Nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 2013, Báo điện tử Chính phủ, ngày 6-6-2025, https://baochinhphu.vn/tren-280-trieu-luot-y-kien-gop-y-vao-du-thao-nghi-quyet-sua-doi-hien-phap-nam-2013-102250606110105076.htm
(6) PV: Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Chuyển viễn thông từ hạ tầng kết nối sang hạ tầng năng lực số, Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ, ngày 11-1-2026, https://mst.gov.vn/bo-truong-nguyen-manh-hung-chuyen-vien-thong-tu-ha-tang-ket-noi-sang-ha-tang-nang-luc-so-197260111081033648.htm
(7) Vũ Hải Quang: Chuyển đổi số Báo chí - Truyền thông: Xu thế tất yếu trong thời đại số - Góc nhìn từ Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo điện tử VTC News, ngày 19-6-2025, https://vtcnews.vn/chuyen-doi-so-bao-chi-truyen-thong-xu-the-tat-yeu-trong-thoi-dai-so-goc-nhin-tu-dai-tieng-noi-viet-nam-ar949730.html
(8) Hương Việt: Tự do tôn giáo ở Việt Nam được tôn trọng và bảo đảm, Báo Nhân dân, ngày 13-3-2026, https://nhandan.vn/tu-do-ton-giao-o-viet-nam-duoc-ton-trong-va-bao-dam-post948088.html
(9) Đỗ Phú Thọ: Luận điệu xuyên tạc lố bịch về quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam, Báo Nhân dân, ngày 10-2-2026, https://nhandan.vn/luan-dieu-xuyen-tac-lo-bich-ve-quyen-tu-do-ton-giao-o-viet-nam-post942374.html
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 283 - 284
(11) Trung Hà: Thủ đoạn xuyên tạc nhân quyền Việt Nam dưới vỏ bọc “chứng cứ quốc tế”, Báo Nhân dân, ngày 14-11-2025, https://nhandan.vn/thu-doan-xuyen-tac-nhan-quyen-viet-nam-duoi-vo-boc-chung-cu-quoc-te-post922954.html
(12) Cục Thống kê - Bộ Tài chính: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội trong quý IV và năm 2025, https://www.nso.gov.vn/en/data-and-statistics/2026/01/socio-economic-situation-in-the-fourth-quarter-and-2025/?utm_source=chatgpt.com
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 50
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 310
(15) Tô Ngọc: Top 5 quốc gia tốt nhất cho người nước ngoài năm 2025 có tên Việt Nam, https://www.qdnd.vn/du-lich/diem-den/top-5-quoc-gia-tot-nhat-cho-nguoi-nuoc-ngoai-nam-2025-co-ten-viet-nam-848185
(16) Đỗ Hùng Việt: Dấu ấn Việt Nam trong năm đầu tiên đảm nhiệm cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, Báo ảnh TTXVN, ngày 28-2-2024, https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/tin-tuc/dau-an-viet-nam-trong-nam-dau-tien-dam-nhiem-cuong-vi-thanh-vien-hoi-dong-nhan-quyen-lien-hop-quoc-nhiem-ky-2023-2025-361164.html
(17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 25
(18]) Minh Đạo: Lời thề trước nhân dân, Báo Nhân dân, ngày 4-9-2025,https://nhandan.vn/loi-the-truoc-nhan-dan-post905771.html
Phản bác luận điệu xuyên tạc về tổ chức chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam
TCCS - Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang hai cấp là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng, Nhà nước, đã được chứng minh trong thực tiễn triển khai gần một năm qua. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không ngừng tìm cách xuyên tạc, bóp méo chủ trương này, hòng gây hoang mang dư luận, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Việc nhận diện đúng bản chất các luận điệu chống phá, đồng thời khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp sẽ góp phần củng cố vững chắc niềm tin xã hội, tạo nền tảng ổn định chính trị để phát triển bền vững đất nước.
Việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị thời gian qua, trọng tâm là chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang mô hình hai cấp, là chủ trương lớn, đúng đắn và nhất quán của Đảng, Nhà nước ta nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Tuy nhiên, gần một năm qua, kể từ khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được thực hiện thống nhất trên toàn quốc (từ ngày 1-7-2025), các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã không ngừng xuyên tạc, chống phá.
Các thế lực thù địch rêu rao rằng, việc bỏ cấp huyện sẽ làm suy yếu hệ thống chính trị, giảm vai trò và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của cấp cơ sở; quy chụp sự đổi mới này sao chép máy móc mô hình nước ngoài, là sự “sắp xếp cơ học”, cộng gộp các đơn vị hành chính một cách khiên cưỡng; chủ trương này thiếu cơ sở khoa học, từ đó gây quá tải cho cấp xã, trong bối cảnh cán bộ không đủ năng lực; làm suy yếu cơ chế giám sát, tiềm ẩn nguy cơ lạm quyền và thiếu minh bạch (?!)... Đây đều là những quan điểm sai trái, cố tình phá hoại cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị.
Sự thật là, yêu cầu tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng là sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh: “Phải cải tiến bộ máy nhà nước của ta hiện còn rất xộc xệch, và giảm bớt những món chi tiêu của nó để cải thiện đời sống của quần chúng lao động, và để khôi phục, dù là dần dần, nền kinh tế của ta”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(2). Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận qua hơn 80 năm xây dựng đất nước, Đảng ta khẳng định quyết tâm: “Tiếp tục thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính, giảm cấp hành chính trung gian phù hợp với thực tiễn, mở rộng không gian phát triển, tăng cường nguồn lực của địa phương”(3).
Chủ trương đổi mới tổ chức chính quyền địa phương cũng là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận qua 40 năm đổi mới đất nước; được thực hiện thí điểm, đánh giá, rút kinh nghiệm và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới. Việc chuyển đổi này không chỉ đáp ứng đúng đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam, mà còn hoàn toàn phù hợp với xu thế quản trị địa phương hiện đại trên thế thế giới.
Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã chỉ rõ: Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Như vậy, đây là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có lộ trình, bước đi phù hợp. Trong quá trình thực hiện, chúng ta cầu thị, tiếp thu có chọn lọc các thông tin phản hồi; kiên định với các quyết sách đã xác định trên cơ sở giữ vững lập trường, quan điểm. Các cấp ủy, tổ chức đảng và nhân dân cả nước chung sức, đồng lòng, quyết tâm tiếp tục đưa công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đạt kết quả theo đúng kế hoạch đã đề ra.
Đảng ta khẳng định, muốn phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, bộ máy nhà nước phải được tổ chức phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả và tận tâm phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh phát triển mới, yêu cầu cắt giảm tầng nấc trung gian, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhằm kiến tạo không gian và động lực phát triển đã trở thành xu thế tất yếu, là đòi hỏi khách quan của thực tiễn. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khoa học - kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, một tổ chức bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, thiếu linh hoạt sẽ trở thành rào cản đối với sự phát triển đất nước.
Do vậy, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nói chung, tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp nói riêng là yêu cầu cấp thiết, là cơ sở, điều kiện quan trọng để Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm sự minh bạch, hiệu quả trong quản lý nhà nước. Việc không tổ chức cấp huyện là tái cấu trúc mô hình, tổ chức bộ máy để mở rộng không gian, tăng cường nguồn lực, tăng hiệu quả quản lý.
Người dân làm thủ tục tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Lý Nhân, tỉnh Ninh Bình _Ảnh: TTXVN
Để bảo vệ vững chắc thành quả của cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, nhất là luận điệu sai trái về tổ chức thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, đổi mới, nâng cao nhận thức chính trị, tăng cường “lá chắn tư tưởng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để phòng tránh, khắc phục biểu hiện dao động, hoài nghi về hiệu quả của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để thấy rõ ý chí, quyết tâm chính trị to lớn của Đảng đối với việc tổ chức, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp là vì hạnh phúc của nhân dân, đem lại lợi ích lâu dài cho đất nước, góp phần thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Cần nhận thức rõ việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không phải là “cắt giảm cơ học”, mà là tái cấu trúc bộ máy theo hướng tinh gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, phục vụ nhân dân tốt hơn. Khi nhận thức thông suốt, niềm tin của người dân sẽ có cơ sở khoa học vững vàng, tạo ra “sức đề kháng” của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.
Hai là, tích cực, chủ động đấu tranh phản bác kịp thời, hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên các mặt trận, nhất là trên không gian mạng; lấy “cái đẹp dẹp cái xấu”; chủ động, tích cực “đi trước một bước”. Mỗi cán bộ, đảng viên là một “thông tín viên” tích cực, kịp thời phát hiện, nhận diện, phân tích, đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch. Việc kịp thời thông tin về kết quả bước đầu đạt được từ cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp hiện nay là minh chứng sống động và thuyết phục để phản bác những luận điệu xuyên tạc.
Ba là, cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, đúc kết bài học kinh nghiệm; từ đó nhân rộng những mô hình hay, cách làm hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Công khai, minh bạch kết quả thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, nhất là những điển hình tiên tiến để nhân dân thấy rõ lợi ích thiết thực của cuộc cách mạng, như giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ nhân dân, gần dân; tạo môi trường thông thoáng để phát triển kinh tế - xã hội, làm giàu chính đáng, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân. Qua đó, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đồng thời, thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, vướng mắc, những bất cập, mâu thuẫn phát sinh để có giải pháp khắc phục kịp thời, triệt để, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng “khoảng trống thông tin” để xuyên tạc, chống phá.
Bốn là, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trong chấp hành nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, nói và làm theo nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nghiêm túc trong triển khai tổ chức và bảo vệ chủ trương thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tư tưởng cục bộ, lợi ích nhóm, tâm lý e ngại thay đổi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Khi đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng, thống nhất về lập trường, quan điểm, hành động quyết liệt, tạo nên những hiệu quả rõ ràng trong thực tiễn, phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn sẽ góp phần đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, chống phá về thực hiện chính quyền địa phương hai cấp.
Những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch không thể phủ nhận việc tổ chức thực hiện chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam là bước đi tất yếu, hợp quy luật của tiến trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta do Đảng lãnh đạo, nhằm xây dựng bộ máy tinh gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. Sau gần 1 năm thực hiện chủ trương lớn trên, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo về sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp, qua đó kịp thời đánh giá toàn diện, khách quan, chỉ ra những kết quả, hạn chế, nguyên nhân, đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới./.
-----------------
(1) V.I.Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, t. 45, tr. 247
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 21
(3) Kết luận số 121-KL/TW, ngày 24-1-2025, của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, về Tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
Chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng khi các thế lực thù địch lợi dụng thành tựu khoa học, công nghệ để chống phá Đảng, Nhà nước ta
TCCS - Hiện nay, sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại nhiều thời cơ, vận hội mới để phát triển đất nước, nhưng cũng đặt ra thách thức trong quản lý nhà nước và xã hội; đặc biệt, khi các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng mặt trái từ sự phát triển khoa học, công nghệ để tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Do đó, phải nhanh chóng nhận diện, kiên quyết đấu tranh với phương thức, thủ đoạn, ý đồ chống phá của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra sự kết nối mạnh mẽ giữa thế giới thực với thế giới ảo, tạo sự lan truyền thông tin nhanh chóng; đồng thời, tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội của quốc gia. Sự biến đổi nhanh chóng về tính chất lực lượng sản xuất của xã hội từ sự tác động của khoa học, công nghệ, ranh giới ngày càng mờ đi giữa thế giới thực và thế giới ảo, cộng với tốc độ lan truyền nhanh chóng của thông tin đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với quy mô, cường độ ngày càng lớn, kết hợp với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt... Bên cạnh việc kiên trì thực hiện mưu đồ chống phá theo phương pháp truyền thống, như rải truyền đơn, tập hợp lực lượng biểu tình, nói xấu Đảng, Nhà nước ta trên một số địa phương cụ thể, chúng đẩy mạnh hoạt động truyền bá, xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng, thông qua nền tảng mạng xã hội, như Facebook, Tiktok, Youtube, Instagram, Twitter..., hòng hướng lái người đọc, tạo tác động tâm lý tới tư tưởng, nhận thức của một bộ phận quần chúng, thậm chí là cán bộ, đảng viên. Lợi dụng sự thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ, các vấn đề xã hội phát sinh từ tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, như phân hóa giàu - nghèo, thất nghiệp, lạm phát, gia tăng bất bình đẳng xã hội... chúng không ngừng gieo rắc tâm lý hoài nghi vào đời sống cộng đồng. Từ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều loại vũ khí thế hệ mới được tạo ra, như vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô-bốt tác chiến,... với tính năng vượt trội, mức độ sát thương lớn gấp nhiều lần so với vũ khí thế hệ trước, các thế lực thù địch lợi dụng để truyền bá quan điểm “vũ khí luận”, mưu toan tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí hiện đại, hòng khuếch trương sức mạnh khoa học và quân sự của chủ nghĩa tư bản(1)...
Mục tiêu của các đối tượng phản động, cơ hội chính trị là làm nhiễu loạn thông tin trong xã hội, hòng tạo ra tác động về tâm lý, hướng lái về tư tưởng để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng tận dụng tối đa phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, phương tiện trực tuyến, diễn đàn, hội nghị quốc tế, sự kiện chính trị, xã hội trong nước,... để xuyên tạc, truyền bá quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch; bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng dưới nhiều hình thức, chiêu bài khác nhau, hướng đến việc đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập...
Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng thông qua việc ban hành văn bản định hướng về chủ trương, chính sách, pháp luật. Đặc biệt, theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, sống còn của công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Trước thay đổi của thực tiễn, qua nghiên cứu cho thấy, việc bám sát tinh thần và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW là yêu cầu rất cấp thiết. Đại hội XIII của Đảng cũng một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ: Tăng cường quản lý và phát triển loại hình truyền thông, thông tin trên internet, thực hiện triệt để việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng. Để cụ thể hóa, Đảng, Nhà nước và cơ quan có trách nhiệm đã ban hành các văn bản, như Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”; Luật An ninh mạng; Luật An toàn thông tin mạng; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-7-2023, của Chính phủ, về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng” (sửa đổi, bổ sung Nghị định số 27/2018/NĐ-CP); triển khai thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội; Cẩm nang phòng, chống tin giả, tin sai sự thật trên không gian mạng; nhiều văn bản khác có liên quan;... để giúp cho tổ chức và cá nhân không vi phạm quy định, hay vô tình bị lợi dụng, tiếp tay cho các thế lực thù địch.
Nhận diện thủ đoạn lợi dụng mặt trái của sự phát triển khoa học - công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để chống phá
Lợi dụng triệt để ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cùng sự bùng nổ truyền thông, triệt để lợi dụng mặt trái của sự phát triển khoa học, công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng để tung thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, phản động. Đây là phương thức được các thế lực thù địch sử dụng thường xuyên, liên tục, nhưng cao điểm thường tập trung vào dịp nước ta có sự kiện lớn về chính trị, như các kỳ đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; chuyến thăm hữu nghị của người đứng đầu các quốc gia khác đến Việt Nam, đặc biệt là các nước lớn... Các thế lực thù địch cũng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ việc Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên quyết đấu tranh, làm rõ, xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật... Cụ thể, các thế lực thù địch tập trung truyền bá, xuyên tạc vào các vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, các thế lực thù địch truyền bá thông tin sai trái phủ nhận tính đúng đắn, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; bịa đặt, gán ghép, vu cáo, bôi nhọ hình ảnh các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ lãnh đạo chủ chốt đất nước qua các thời kỳ hòng hạ bệ uy tín, chia rẽ khối đoàn kết trong Đảng và đại đoàn kết toàn dân tộc... Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, một trong những phương thức nguy hiểm được các đối tượng sử dụng là bề ngoài thì tham gia đóng góp ý kiến vào các bản dự thảo văn kiện đại hội Đảng, dự thảo sửa đổi luật..., nhưng bên trong thì chúng xuyên tạc nội dung, cổ xúy “dân chủ đa nguyên”, tung ra các luận điệu thâm độc hòng thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa cương lĩnh, Hiến pháp; “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; đòi thực hiện “tam quyền phân lập”...
Thứ hai, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề phức tạp, đang “nóng” hiện nay là tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; việc Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên quyết đấu tranh, làm rõ, xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật,... để xuyên tạc, bôi nhọ thông qua trang mạng xã hội dưới dạng “thâm cung bí sử” để gợi sự tò mò, kích động, gây chia rẽ đoàn kết trong Đảng. Bên cạnh đó, lợi dụng cái gọi là “vấn đề dân chủ, tôn giáo, nhân quyền” để truyền bá, vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, nhân quyền bị chà đạp thông qua cái gọi là “tù nhân lương tâm” để cổ xúy cho đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Thứ ba, các thế lực thù địch ở nước ngoài, núp bóng danh nghĩa cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, viết cái gọi là “tâm thư” với lời lẽ kích động, xúi giục gây rối, lồng ghép vào lời lẽ, hình ảnh thể hiện ý đồ quy chụp Đảng và Nhà nước ta “bán nước, biển, đảo cho nước ngoài”?!... Ngoài ra, thông qua mạng xã hội, đặc biệt là tính năng livestream, trao đổi trực tiếp trên mạng xã hội, các thế lực thù địch thường xuyên tổ chức đăng tải, tán phát video phỏng vấn theo hướng kích động đối tượng bất mãn trong nước, cơ hội chính trị, thù hằn chế độ, nhằm mục đích gây rối, gây áp lực với hệ thống chính trị các cấp; đưa ra yêu sách đòi tự do lập hội, nhóm, mà thực chất là phát triển, tập hợp lực lượng chống đối.
Thứ tư, các thế lực thù địch thường sử dụng nhiều cách thức để thực hiện hành vi tuyên truyền, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta dựa trên những thành tựu khoa học, công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, cụ thể:
Các thế lực thù địch tạo lập trang web, blog hoặc lập tài khoản cá nhân, nhóm hoặc fanpage mạng xã hội, như Facebook, Youtube, Twitter... hoặc diễn đàn tạo lập trên mạng xã hội để thực hiện hành vi truyền bá, xuyên tạc, định hướng dư luận theo quan điểm, tư tưởng lệch lạc, phản động. Theo thống kê, hiện nay đã có hàng nghìn hội nhóm, trang phản động mới xuất hiện trên mạng xã hội, trong đó đáng chú ý là “Việt Tân”, “Dân Luận”, “Đại Kỷ nguyên”, “Hóng biến”, “Việt Nam Cộng hòa”; “Người Việt Online”, “Chân dung quyền lực”, “Nhật ký yêu nước”, “Dân làm báo”... Các thế lực thù địch tung tin, phát tán thông tin xuyên tạc với số lượng rất lớn trên internet, mạng xã hội, blog cá nhân, kênh tin tức chống phá của nước ngoài. Theo đó, các đối tượng phản động, chống đối thường núp dưới cái gọi là tổ chức “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”, “chống tham nhũng”... để truyền bá, xuyên tạc đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng, thành tựu của Việt Nam về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”... Mặt khác, sử dụng số đối tượng thoái hóa, biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, bị kỷ luật dẫn đến bất mãn để thành lập các hội, fanpage... làm cơ quan ngôn luận, tuyên bố ủng hộ, thậm chí làm “cố vấn” cho hoạt động của hội, nhóm “dân chủ” trên mạng. Ở phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong giai đoạn hiện nay, thủ đoạn lợi dụng mạng xã hội để phát tán rộng rãi tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung xấu, độc, phản động, tuyên truyền, kích động người dân cổ xúy cho phong trào “bất tuân dân sự”, kích động gây rối trật tự hoặc đòi thể hiện quan điểm, quyền giám sát đối với cơ quan, lực lượng thực thi công vụ (phổ biến nhất là đòi giám sát lực lượng cảnh sát giao thông) hòng tạo hiệu ứng chống đối cán bộ; từ đó, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống phá chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết giữa Đảng và nhân dân.
Các thế lực thù địch tìm kiếm, tập hợp số nhân sĩ, trí thức mà chúng gọi là có tư tưởng, quan điểm “cấp tiến”, thực chất là có cách nhìn lệch chuẩn để viết bài, sử dụng cái gọi là “uy tín khoa học” hòng hướng lái dư luận, truyền thông; tạo lập ra một mạng lưới truyền thông rộng khắp để viết, đăng tải bài lên mạng xã hội hoặc diễn đàn học thuật với nội dung hướng lái dư luận, trong đó có dạng thức lợi dụng xung đột ở các khu vực trên thế giới, cóp nhặt thông tin từ báo chí, nguồn tin nước ngoài, đặc biệt là Mỹ và phương Tây để biến thành tin bài của mình với nội dung một chiều, phiến diện.
Cùng với đó, một hướng khác mà các thế lực thù địch tập trung khai thác, hòng hướng lái, tác động tiêu cực đến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, trong đó có đường lối đối ngoại và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, như cổ xúy cho các trường phái, học thuyết kinh tế của phương Tây, tìm cách phản bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mưu toan đối lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh; hòng khuấy động làn sóng tẩy chay quốc gia với nhiều dạng thức, nhiều góc độ, trong đó có hàng hóa, con người của quốc gia đó. Đáng chú ý, các thế lực thù địch lợi dụng một số người trước đó được nhiều người biết đến, tung ra những bài viết xuyên tạc, tiềm ẩn hậu quả khó lường. Bài viết của các đối tượng nêu trên sau khi được đăng tải công khai trên trang web, blog hay tài khoản mạng xã hội của bản thân họ thì gần như ngay lập tức được các thế lực thù địch, phản động lấy lại để đăng tải, thậm chí “tài trợ” để tạo dựng ngọn cờ, tạo dư luận, tập hợp lực lượng chống đối.
Các thế lực thù địch sử dụng thư điện tử (e-mail), mạng xã hội Facebook, Twitter, Telegram, Whatsapp... để trao đổi thông tin và cài cắm thông tin xuyên tạc, chống phá. Các thế lực thù địch thường tổng hợp tin tức, sự kiện, tình hình từ bài báo được đăng tải trên kênh chính thống, sau đó thêm thắt, chèn thông tin xấu, độc với cách diễn đạt tạo vẻ bề ngoài khách quan, dần dần cài cắm thông tin, hình ảnh không hề liên quan đến sự kiện, tình huống, lợi dụng sự mất cảnh giác của người đọc từ thông tin với vẻ bề ngoài khách quan đã được tung ra trước đó. Lợi dụng hiệu ứng lan truyền nhanh chóng của mạng xã hội, chúng cài cắm vào các công cụ “chạy” quảng cáo trên trang mạng xã hội để tăng cường hiệu quả phát tán thông tin xấu, độc. Lợi dụng tâm lý của người đọc ít kiểm chứng thông tin và thời gian kiểm chứng thông tin không nhiều do số lượng khổng lồ của thông tin trên không gian mạng, khi người dùng truy cập thông qua đường dẫn (link) được đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội sẽ dễ dàng “mắc mưu”, bị dẫn dắt và bị động trong việc tiếp nhận thông tin đó.
Các thế lực thù địch lợi dụng công cụ ChatGPT để xuyên tạc, chống phá. Phần mềm ChatGPT (Chat Generative Pre-training Transformer) là công cụ Chatbot AI do công ty nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI) OpenAI tạo ra, phát hành năm 2022. Phần mềm này được xem như một trong những đột phá về mặt công nghệ khi có thể trò chuyện, trả lời lưu loát, đầy đủ các câu hỏi đưa ra, nhưng cũng có thể bị lợi dụng với ý đồ xấu. Khi ChatGPT ra mắt, thay vì tìm kiếm thông tin trên Google, câu hỏi của người dùng khi hỏi thông qua phần mềm này sẽ được trả lời chỉ sau vài giây. Lợi dụng khả năng trả lời nhanh của ChatGPT, các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng để cắt ghép, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vấn đề chính trị của đất nước thông qua nhiều trang mạng phản động, thù địch, như BBC News tiếng Việt, Đài Châu Á Tự do (RFA), Việt Tân... Cụ thể, bằng thủ đoạn đặt câu hỏi không đầy đủ, thiếu hợp lý, chúng cố tình “gài bẫy” câu trả lời của phần mềm này. Các đối tượng chụp ảnh lại màn hình phần mềm với câu trả lời lệch lạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước ta để đưa lên internet nhằm mục đích tuyên truyền, xuyên tạc. Điển hình như chúng thêm thắt từ ngữ, sửa câu hỏi, sửa cách hỏi, biến đổi thành câu trả lời cụt ý, thiếu hoặc sai trái hòng hướng lái, đánh lừa người đọc, từ đó mượn cớ xuyên tạc,... để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Sau đó, mượn trào lưu sử dụng ChatGPT trên mạng, các thế lực thù địch thổi phồng, tung tin ChatGPT là trí tuệ, hiện đại nên đã đưa ra câu trả lời khách quan, chính xác.
Công trình thanh niên số hóa di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia Ga Bố Trạch giúp người dân, du khách và thế hệ trẻ hiểu sâu hơn về giá trị lịch sử quê hương _Ảnh: TTXVN
Một số vấn đề đặt ra đối với công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thời gian tới
Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được kết quả tích cực, góp phần làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, lưu vong. Tuy nhiên, lợi dụng mặt trái của sự phát triển khoa học, công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm hơn rất nhiều. Để công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch đạt hiệu quả, một số giải pháp sau nên được cân nhắc:
Thứ nhất, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm nguy cơ, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước để chủ động làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại âm mưu, ý đồ của chúng. Công tác nắm tình hình về phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng, vấn đề mà chúng thường sử dụng để thực hiện hành vi chống phá là rất cần thiết. Mặt khác, bởi sự thay đổi về phương thức, hành vi của nhiều đối tượng nên phải nhanh chóng cập nhật, ưu tiên cho những biện pháp đấu tranh mới, hiệu quả hơn, như đấu tranh trên không gian mạng, tận dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội, xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, có kiến thức, bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực định hướng dư luận tốt... Chỉ khi có nội dung và cách thức đấu tranh phù hợp thì mới có thể chủ động làm tốt công tác phòng ngừa từ xa, không để các quan điểm sai lầm, lệch lạc có thể phát tán, gây hậu quả xấu cho xã hội.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm cho nhân dân nhận diện được âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng của các thế lực thù địch, qua đó nâng cao nhận thức, tạo tâm lý cảnh giác, thận trọng, chọn lọc khi tiếp cận mọi luồng thông tin. Về bản chất, mục đích các đối tượng hướng đến là làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng. Các đối tượng cơ hội chính trị, phản động luôn tìm kiếm cách thức để thực hiện âm mưu, ý đồ xuyên tạc. Vì thế, phương thức, thủ đoạn mới này cần được thông tin kịp thời để người dân sớm nhận diện, tránh gây hậu quả đáng tiếc, nhất là trong bối cảnh thông tin đa chiều, phức tạp như hiện nay, khi đó chính quần chúng nhân dân sẽ giúp cơ quan chức năng vạch trần, lên án hành vi sai trái đó.
Thứ ba, cùng với việc đấu tranh với các luận điệu sai trái, cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến rộng rãi chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để quần chúng nhân dân có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trước hết, cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần thực hiện nghiêm Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”; tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau. Trên cơ sở thống nhất về tư tưởng, quan điểm sau khi đã luận giải, làm rõ, sử dụng hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch,... để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.
Thứ tư, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xây dựng đội ngũ chuyên gia tài năng làm nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - xem đây là vấn đề then chốt, có tính nguyên tắc bắt buộc. Thực tế, chỉ khi nào chúng ta phát triển được đội ngũ chuyên gia tài năng trên lĩnh vực này thì công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch mới hiệu quả./.
--------------------
(1) Xem: Nguyễn Đình Bắc: “Đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để chống phá Đảng và Nhà nước”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, ngày 8-6-2020, http://tapchiqptd.vn/vi/binh-luan-phe-phan/dau-tranh-voi-thu-doan-loi-dung-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-de-chong-pha-dang-va-nha-nuoc/15578.html
Nhận diện và phản bác luận điệu sai trái, thù địch về hài hòa hóa pháp luật
TCCS - Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hài hòa hóa pháp luật là một xu hướng tất yếu, thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là một bài toán khó đòi hỏi các quốc gia phải tỉnh táo, linh hoạt đặt lợi ích quốc gia trong tương quan lợi ích quốc tế. Lợi dụng vấn đề trên, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng pháp luật Việt Nam chưa “hòa mình” vào dòng chảy của pháp luật quốc tế, hòng tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam.
Quang cảnh Đối thoại An ninh và Thực thi pháp luật Việt Nam - Hoa Kỳ lần thứ hai tại Washington D.C (Hoa Kỳ) _Ảnh: TTXVN tại Mỹ
Hài hòa hóa pháp luật: Lợi ích và thách thức
Hài hòa hóa pháp luật (legal harmonization hay harmonization of law) “là việc các quốc gia thống nhất các mục tiêu chung cần đạt được, sau đó mỗi quốc gia có quyền tự sửa đổi, ban hành pháp luật mới trong nước của mình để đạt được các mục tiêu chung đó”(1). Theo H.C. Gutteridge, Giáo sư Đại học Cambridge về luật so sánh, hài hòa hóa pháp luật không chỉ là quá trình thụ động sửa đổi pháp luật của quốc gia sao cho phù hợp, tương thích với pháp luật chung của khu vực và quốc tế, mà còn là quá trình chủ động thiết lập, xây dựng các luật mẫu và triển khai biện pháp khuyến khích các quốc gia khác tiếp cận và áp dụng các luật mẫu này(2).
Như vậy, hài hòa hóa pháp luật được hiểu là quá trình quốc gia tự nguyện sửa đổi, hoàn thiện pháp luật quốc gia theo các nguyên tắc, quy phạm của pháp luật quốc tế hoặc chủ động đề xuất các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và khuyến khích các quốc gia khác thừa nhận, áp dụng các nguyên tắc, quy phạm đó nhằm làm giảm đi sự khác biệt trong quy định pháp luật ở những lĩnh vực cụ thể giữa các quốc gia.
Các quốc gia có thể tiến hành hài hòa hóa pháp luật bằng nhiều phương thức khác nhau: Chủ động tham gia xây dựng, định hướng các quy phạm pháp luật quốc tế phù hợp với lợi ích, quan điểm của quốc gia mình; lựa chọn áp dụng, dẫn chiếu trực tiếp pháp luật quốc tế (chấp nhận); nội luật hóa (chuyển hóa) pháp luật quốc tế trở thành pháp luật quốc gia. Hài hòa hóa pháp luật không phải là quá trình “phủ định sạch trơn” pháp luật quốc gia, thay thế pháp luật quốc gia bằng pháp luật quốc tế, mà nó cho phép các quốc gia lưu giữ, bảo tồn những quy phạm pháp luật riêng có, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia mình.
Hài hòa hóa pháp luật đem lại những lợi ích, cơ hội to lớn cho các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, giúp “gia tăng tính dự đoán trước (predictability) và làm giảm tính không chắc chắn (uncertainty) của việc áp dụng pháp luật”(3). Ngoài ra, việc hài hòa hóa pháp luật quốc gia theo các chuẩn mực pháp lý chung trong khu vực và thế giới sẽ giúp Việt Nam tiếp cận dần với “luật chơi chung” của khu vực và thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Quá trình này còn giúp quan hệ kinh tế, cũng như quan hệ văn hóa - xã hội và quốc phòng - an ninh của Việt Nam ngày càng gắn kết với các thành viên khác trong khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan”(4). Trong bối cảnh đó, luật pháp quốc tế có thể trở thành một công cụ để tạo “tính chính danh” cho các hành động can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Vì vậy, hài hòa hóa pháp luật cũng đưa lại những thách thức về gìn giữ giá trị bản sắc dân tộc, an ninh quốc gia, độc lập và chủ quyền của đất nước trong bối cảnh các quốc gia dễ bị cuốn vào vòng xoáy cọ xát, va chạm và xung đột về lợi ích, mục tiêu, tham vọng trong quá trình “hội nhập pháp luật”.
Xuất phát từ khía cạnh lợi ích quốc gia - dân tộc, các nước thường có xu hướng hài hòa hóa pháp luật một cách mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh doanh, thương mại, bảo vệ môi trường hơn là trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, dân chủ và chủ quyền.
Lợi ích quốc gia luôn là điểm trọng yếu để dẫn dắt chính sách đối ngoại của các nước. “Yếu tố quan trọng nhất cho việc thực thi theo luật pháp vẫn là lợi ích của các nước”(5). Các quốc gia có thiện chí, chủ động trong hài hòa hóa pháp luật nước mình với pháp luật quốc tế hay không phụ thuộc phần nhiều vào việc luật pháp quốc tế có hài hòa với lợi ích, năng lực, mục tiêu, giá trị, bản sắc của quốc gia hay không. Hài hòa hóa pháp luật trong một thế giới đầy biến động và khó lường, khó dự đoán như hiện nay đòi hỏi các quốc gia phải hết sức tỉnh táo, thận trọng thay vì bằng mọi giá.
Nhận diện, phản bác những luận điệu xuyên tạc về hài hòa hóa pháp luật
Mặc dù hài hòa hóa pháp luật là một học thuyết đã được hình thành từ đầu thế kỷ XIX, được bàn luận rất sôi nổi trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhưng những nghiên cứu chuyên sâu về hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam còn hạn chế. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực phản động ra sức xuyên tạc chính sách, pháp luật của Việt Nam bằng những luận điệu vô căn cứ.
Ở khía cạnh hài hòa hóa pháp luật, các thế lực phản động xuyên tạc “Việt Nam không tuân thủ các điều ước quốc tế gia nhập, nhất là vi phạm Luật Nhân quyền quốc tế”(?!).
Các thế lực thù địch viện dẫn những điều khoản mang tính khuyến nghị/tùy nghi (không bắt buộc các thành viên tham gia Công ước phải thực hiện) trong UNCAC như: “hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp”; “áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt”; “thành lập cơ quan tình báo tài chính”… hòng vu cáo Việt Nam vi phạm các quy định của Công ước.
Các thế lực thù địch cố tình phủ nhận hoàn toàn tính độc lập tương đối của pháp luật quốc gia, tuyệt đối hóa pháp luật quốc tế, coi đó là “đẳng cấp chung” mà Việt Nam cần thay thế cho pháp luật của nước mình. Các thế lực thù địch đòi “sửa đổi” các chế định cơ bản về chính trị, kinh tế trong Hiến pháp hòng “bẻ lái” con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; đòi “sửa đổi” những quy định liên quan đến dẫn độ, truy nã, các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư pháp để dung túng cho những đối tượng lưu vong; đòi “quy định về tự do trên không gian mạng” để “nội công, ngoại kích” tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá; đòi “sửa đổi” quy định về “tự ứng cử” như các nước phương Tây để phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp…
Những luận điệu xuyên tạc về hội nhập pháp luật Việt Nam núp bóng luận điệu xuyên tạc về “tư duy đa phương”, “toàn cầu”, “tiến bộ” nhưng thực chất là đang cổ xúy cho cách thức hài hòa hóa pháp luật vô nguyên tắc, tạo cớ để xuyên tạc Việt Nam “không coi trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế” (?!), nhất là lợi dụng các vấn đề pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá nước ta.
Tuy nhiên, hài hòa hóa pháp luật phải căn cứ vào từng bối cảnh và khả năng đáp ứng cụ thể của đất nước trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng những chiều hướng, tác động thuận, nghịch của tình hình quốc tế. Bởi vậy, sẽ là huyễn hoặc mơ hồ khi cho rằng pháp luật quốc tế là tiêu chuẩn chung mà pháp luật quốc gia phải “hòa tan” vào bằng mọi giá.
Đại biểu Quốc hội chuyên trách thảo luận về nhóm lĩnh vực pháp luật, tư pháp tại Hội nghị đại biểu quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ 8, nhiệm kỳ khóa XV _Ảnh: TTXVN
Việt Nam chủ động, trách nhiệm trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật
Với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, trong những năm qua, Việt Nam tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế, tích cực hài hòa hóa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia. Kết quả, Việt Nam hai lần được bầu chọn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao. Điều đó thể hiện sự ghi nhận của bạn bè quốc tế đối với những chính sách, pháp luật và thành tựu thực tiễn của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trên các lĩnh vực.
Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, kể từ khi tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để phù hợp với các yêu cầu của Công ước, được đánh giá là một thành viên trách nhiệm và tích cực trong UNCAC. Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng trong thực tiễn càng là minh chứng thuyết phục cho nỗ lực đó của Đảng và Nhà nước ta…
Trong hợp tác quốc tế về pháp luật, Việt Nam “Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật. Nghiên cứu giải pháp gia tăng sự hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế luật pháp quốc tế”(6); “Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu”(7); “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế”(8). Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định một trong các nhiệm vụ và giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền là: “Chủ động tham gia, đóng góp vào việc xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự quốc tế, khu vực. Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; giải quyết hiệu quả các xung đột về thẩm quyền và pháp luật giữa Việt Nam và các quốc gia khác, bảo đảm tốt các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước Việt Nam”.
Khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”. Điều này thể hiện sự linh hoạt, tích cực hội nhập của Việt Nam trên tinh thần kiên định “hòa nhập nhưng không hòa tan”.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có tới 26 lần nhắc tới “điều ước quốc tế” tại 21 điều luật; đưa ra nhiều quy định để bảo đảm sự tương thích giữa văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể, Luật yêu cầu việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải “không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế” (Điều 5, Điều 156); đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định “phải căn cứ vào điều ước quốc tế” (Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 84); “Tổ chức nghiên cứu điều ước quốc tế” là trách nhiệm của cơ quan đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 85, Điều 97, Điều 112); Bộ Ngoại giao có trách nhiệm “cho ý kiến về sự tương thích của văn bản quy phạm pháp luật với điều ước quốc tế” (Điều 36, Điều 86); “Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan” là một trong những nội dung thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật (Điều 39, Điều 58, Điều 65, Điều 88, Điều 92, Điều 98, Điều 102); Việc thực hiện điều ước quốc tế là một trong những “trường hợp được xem xét điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh” (Điều 51); Quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có khả năng làm thay đổi “hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật” ở Việt Nam (Điều 115)… Có thể thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam được xây dựng hướng tới bảo đảm sự tương thích, hài hòa với pháp luật quốc tế, thể hiện sự tuân thủ nguyên tắc tận tâm, thiện chí (pacta sunt servanda) trong thực hiện pháp luật quốc tế.
Trên khía cạnh thực tiễn, Việt Nam ngày càng chủ động, tích cực tham gia xây dựng luật quốc tế. Năm 2016, qua hệ thống bầu cử của Đại hội đồng Liên hợp quốc, lần đầu tiên Việt Nam có đại diện tại Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) - cơ quan pháp lý quan trọng của Liên hợp quốc(9). Việt Nam chủ động đề xuất, đóng góp lý luận từ thực tiễn trong nước và các nước đang phát triển vào các báo cáo của Ủy ban Luật pháp quốc tế, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các nước đang phát triển và các nước nhỏ, như: Đề xuất đưa đề tài tác động của mực nước biển dâng vào luật quốc tế; tích cực đề xuất phương án kiện toàn các quy định của luật quốc tế về phòng, chống dịch bệnh và đưa ra sáng kiến thông qua Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh; tham gia các sáng kiến, cơ chế hợp tác thực chất về an ninh biển(10)…
Các phương thức hài hòa hóa pháp luật cũng được Việt Nam áp dụng một cách linh hoạt. Ở phương thức chấp nhận, Việt Nam cam kết áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần các quy định chung của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1967, Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật năm 1971, các cam kết quốc tế với Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Hiệp định Đối tác tToàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)… Ở phương thức chuyển hóa, Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật mới như Luật Bình đẳng giới năm 2006 nhằm thực hiện Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW). Để chuyển hóa nội dung Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966, Quốc hội Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật, như Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2023…
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chuyển hóa pháp luật quốc tế bằng sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều khoản trong hệ thống pháp luật hiện hành. Ví dụ, Việt Nam chỉnh sửa, bổ sung pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp luật kinh doanh, thương mại… để bảo đảm sự phù hợp, tương thích với các quy định của Hiệp định CPTPP, EVFTA. Chỉ trong 2 năm đầu gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (2006 - 2007), Việt Nam sửa đổi, bổ sung hơn 60 văn bản luật và hàng trăm nghị định, thông tư trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại, thuế, lao động, bảo hiểm,… để thực thi các cam kết với WTO. Quá trình này tiếp tục được đẩy mạnh trong giai đoạn hội nhập sâu rộng sau đó. Khi tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, Việt Nam đã chủ động xây dựng và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng các tiêu chuẩn cao. Cụ thể, để thực thi Hiệp định CPTPP, tính đến tháng 8-2024, Việt Nam đã ban hành 25 văn bản quy phạm pháp luật. Trong hai năm đầu thực thi Hiệp định EVFTA (2020 - 2022), đã có 9 văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung và ban hành. Việt Nam luôn tích cực, chủ động hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, thể hiện sự tôn trọng, trách nhiệm trong thực hiện pháp luật quốc tế tiến tới xây dựng một cộng đồng chung vì độc lập, hòa bình, thịnh vượng và phát triển.
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, có sự phát triển năng động, là chủ thể tích cực, đáng tin cậy và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh cục diện chính trị - an ninh - kinh tế thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang trải qua những biến động đa chiều, phức tạp, khó đoán định và chưa có tiền lệ, “luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn”(11), đòi hỏi Việt Nam phải có những bước đi thận trọng, khéo léo, phù hợp trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
Nhìn vào thực tế áp dụng các điều ước quốc tế, có thể thấy, Việt Nam chỉ “áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện” (khoản 2 Điều 6, Luật Điều ước quốc tế năm 2016). Đồng thời, đối với những điều ước quốc tế đóng vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, là động lực cho các bước tiến hội nhập trong khu vực và quốc tế sẽ thường được ưu tiên áp dụng trực tiếp để tận dụng thời gian, tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập phát triển. Ví dụ, Nghị quyết số 71/2006/QH11, ngày 29-11-2006, của Quốc hội về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư”, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế.
Trong khi đó, phương thức áp dụng điều ước quốc tế bằng con đường nội luật hóa (chuyển hóa) được thực hiện khi nội dung của điều ước quốc tế chưa đủ rõ hoặc chưa đủ chi tiết; những vấn đề phức tạp mà việc áp dụng phải tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử - cụ thể. Hay việc thực hiện điều ước quốc tế còn tùy vào động thái của các bên trên nguyên tắc “có qua có lại”. Chẳng hạn, khi chấp nhận hiệu lực của Công ước về chống tra tấn của Liên hợp quốc năm 1984, Quốc hội Việt Nam đưa ra tuyên bố bảo lưu có nội dung như sau: “Không coi quy định tại khoản 2 Điều 8 của Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ. Việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc nguyên tắc có đi có lại”(12).
Hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam gắn với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo tồn giá trị bản sắc dân tộc, bảo đảm lợi ích của đất nước, của nhân dân như Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(13); “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc”(14).
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, trong hoạt động ngoại giao, phải trông vào thực lực quốc gia vì “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(15). Trong hài hòa hóa pháp luật, Việt Nam tận dụng được lợi thế, bảo vệ được lợi ích quốc gia khi chủ động tham gia tạo ảnh hưởng, gia tăng vị thế, uy tín của mình trong khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã, đang và sẽ luôn chủ động, tích cực, tăng cường sự hiện diện và tiếng nói trong các diễn đàn xây dựng luật pháp quốc tế để bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc mình, cũng như chủ động đóng góp tích cực vào sự phát triển, tiến bộ chung của luật pháp quốc tế./.
---------------------------
(1) Trần Thị Diệu Hương: Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật trong khu vực Asean, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 06 (334), T3-2017, tr. 9
(2) H.C.Gutterigde: Comparative Law – An introduction to the Comparative Method of Legal Study and Reasearch, Cambridge University Press, 1971, tr. 154
(3) Nguyễn Thanh Tú, (2015), Thuận lợi, khó khăn và lợi ích đối với Việt Nam trong tiến trình hài hòa pháp luật của khu vực Asean, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Hài hòa pháp luật trong xây dựng cộng đồng Asean những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam và kinh nghiệm từ EU, https://thuvien.quochoi.vn/sites/default/files/07_nguyenthanhtu_thuanloikhokhan.pdf
(4), (8), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 105, 164, 105
(5) Lê Hải Bình, Chu Minh Thảo: Trật tự quốc tế dựa trên luật lệ: Lý luận, thực tiễn và hàm ý chính sách đối với Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 54
(6), (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 154, 69
(9) GS, TS, Đại sứ Nguyễn Hồng Thao là người Việt Nam đầu tiên trúng cử thành viên Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) khóa 2017 - 2022 và tái đắc cử vào nhiệm kỳ 2023 - 2027 với số phiếu 145/193, đứng thứ 4 trong khu vực, chỉ sau ứng cử viên từ Ấn Độ, Thái Lan và Nhật Bản
(10) Tuệ Minh: Việt Nam tích cực đóng góp tại Khóa họp của Ủy ban Luật pháp quốc tế, Báo Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/viet-nam-tich-cuc-dong-gop-tai-khoa-hop-cua-uy-ban-luat-phap-quoc-te-post314900.html
(12) Nghị quyết số 83/2014/QH13 ngày 28-11-2014 của Quốc hội về việc Phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 73
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 375
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 4, tr. 126