Nhận diện và phản bác luận điệu sai trái, thù địch về hài hòa hóa pháp luật

Đặng Thị Hoài
Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
06:13, ngày 14-11-2025

TCCS - Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hài hòa hóa pháp luật là một xu hướng tất yếu, thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là một bài toán khó đòi hỏi các quốc gia phải tỉnh táo, linh hoạt đặt lợi ích quốc gia trong tương quan lợi ích quốc tế. Lợi dụng vấn đề trên, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng pháp luật Việt Nam chưa “hòa mình” vào dòng chảy của pháp luật quốc tế, hòng tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

Quang cảnh Đối thoại An ninh và Thực thi pháp luật Việt Nam - Hoa Kỳ lần thứ hai tại Washington D.C (Hoa Kỳ) _Ảnh: TTXVN tại Mỹ

Hài hòa hóa pháp luật: Lợi ích và thách thức

Hài hòa hóa pháp luật (legal harmonization hay harmonization of law) “là việc các quốc gia thống nhất các mục tiêu chung cần đạt được, sau đó mỗi quốc gia có quyền tự sửa đổi, ban hành pháp luật mới trong nước của mình để đạt được các mục tiêu chung đó”(1). Theo H.C. Gutteridge, Giáo sư Đại học Cambridge về luật so sánh, hài hòa hóa pháp luật không chỉ là quá trình thụ động sửa đổi pháp luật của quốc gia sao cho phù hợp, tương thích với pháp luật chung của khu vực và quốc tế, mà còn là quá trình chủ động thiết lập, xây dựng các luật mẫu và triển khai biện pháp khuyến khích các quốc gia khác tiếp cận và áp dụng các luật mẫu này(2).

Như vậy, hài hòa hóa pháp luật được hiểu là quá trình quốc gia tự nguyện sửa đổi, hoàn thiện pháp luật quốc gia theo các nguyên tắc, quy phạm của pháp luật quốc tế hoặc chủ động đề xuất các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và khuyến khích các quốc gia khác thừa nhận, áp dụng các nguyên tắc, quy phạm đó nhằm làm giảm đi sự khác biệt trong quy định pháp luật ở những lĩnh vực cụ thể giữa các quốc gia.

Các quốc gia có thể tiến hành hài hòa hóa pháp luật bằng nhiều phương thức khác nhau: Chủ động tham gia xây dựng, định hướng các quy phạm pháp luật quốc tế phù hợp với lợi ích, quan điểm của quốc gia mình; lựa chọn áp dụng, dẫn chiếu trực tiếp pháp luật quốc tế (chấp nhận); nội luật hóa (chuyển hóa) pháp luật quốc tế trở thành pháp luật quốc gia. Hài hòa hóa pháp luật không phải là quá trình “phủ định sạch trơn” pháp luật quốc gia, thay thế pháp luật quốc gia bằng pháp luật quốc tế, mà nó cho phép các quốc gia lưu giữ, bảo tồn những quy phạm pháp luật riêng có, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia mình.

Hài hòa hóa pháp luật đem lại những lợi ích, cơ hội to lớn cho các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, giúp “gia tăng tính dự đoán trước (predictability) và làm giảm tính không chắc chắn (uncertainty) của việc áp dụng pháp luật”(3). Ngoài ra, việc hài hòa hóa pháp luật quốc gia theo các chuẩn mực pháp lý chung trong khu vực và thế giới sẽ giúp Việt Nam tiếp cận dần với “luật chơi chung” của khu vực và thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Quá trình này còn giúp quan hệ kinh tế, cũng như quan hệ văn hóa - xã hội và quốc phòng - an ninh của Việt Nam ngày càng gắn kết với các thành viên khác trong khu vực và quốc tế.

Tuy nhiên, “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan”(4). Trong bối cảnh đó, luật pháp quốc tế có thể trở thành một công cụ để tạo “tính chính danh” cho các hành động can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Vì vậy, hài hòa hóa pháp luật cũng đưa lại những thách thức về gìn giữ giá trị bản sắc dân tộc, an ninh quốc gia, độc lập và chủ quyền của đất nước trong bối cảnh các quốc gia dễ bị cuốn vào vòng xoáy cọ xát, va chạm và xung đột về lợi ích, mục tiêu, tham vọng trong quá trình “hội nhập pháp luật”.

Xuất phát từ khía cạnh lợi ích quốc gia - dân tộc, các nước thường có xu hướng hài hòa hóa pháp luật một cách mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh doanh, thương mại, bảo vệ môi trường hơn là trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, dân chủ và chủ quyền. 

Lợi ích quốc gia luôn là điểm trọng yếu để dẫn dắt chính sách đối ngoại của các nước. “Yếu tố quan trọng nhất cho việc thực thi theo luật pháp vẫn là lợi ích của các nước”(5). Các quốc gia có thiện chí, chủ động trong hài hòa hóa pháp luật nước mình với pháp luật quốc tế hay không phụ thuộc phần nhiều vào việc luật pháp quốc tế có hài hòa với lợi ích, năng lực, mục tiêu, giá trị, bản sắc của quốc gia hay không. Hài hòa hóa pháp luật trong một thế giới đầy biến động và khó lường, khó dự đoán như hiện nay đòi hỏi các quốc gia phải hết sức tỉnh táo, thận trọng thay vì bằng mọi giá.

Nhận diện, phản bác những luận điệu xuyên tạc về hài hòa hóa pháp luật

Mặc dù hài hòa hóa pháp luật là một học thuyết đã được hình thành từ đầu thế kỷ XIX, được bàn luận rất sôi nổi trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhưng những nghiên cứu chuyên sâu về hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam còn hạn chế. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực phản động ra sức xuyên tạc chính sách, pháp luật của Việt Nam bằng những luận điệu vô căn cứ.

Ở khía cạnh hài hòa hóa pháp luật, các thế lực phản động xuyên tạc “Việt Nam không tuân thủ các điều ước quốc tế gia nhập, nhất là vi phạm Luật Nhân quyền quốc tế”(?!).

Các thế lực thù địch viện dẫn những điều khoản mang tính khuyến nghị/tùy nghi (không bắt buộc các thành viên tham gia Công ước phải thực hiện) trong UNCAC như: “hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp”; “áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt”; “thành lập cơ quan tình báo tài chính”… hòng vu cáo Việt Nam vi phạm các quy định của Công ước.

Các thế lực thù địch cố tình phủ nhận hoàn toàn tính độc lập tương đối của pháp luật quốc gia, tuyệt đối hóa pháp luật quốc tế, coi đó là “đẳng cấp chung” mà Việt Nam cần thay thế cho pháp luật của nước mình. Các thế lực thù địch đòi “sửa đổi” các chế định cơ bản về chính trị, kinh tế trong Hiến pháp hòng “bẻ lái” con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; đòi “sửa đổi” những quy định liên quan đến dẫn độ, truy nã, các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư pháp để dung túng cho những đối tượng lưu vong; đòi “quy định về tự do trên không gian mạng” để “nội công, ngoại kích” tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá; đòi “sửa đổi” quy định về “tự ứng cử” như các nước phương Tây để phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp…

Những luận điệu xuyên tạc về hội nhập pháp luật Việt Nam núp bóng luận điệu xuyên tạc về “tư duy đa phương”, “toàn cầu”, “tiến bộ” nhưng thực chất là đang cổ xúy cho cách thức hài hòa hóa pháp luật vô nguyên tắc, tạo cớ để xuyên tạc Việt Nam “không coi trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế” (?!), nhất là lợi dụng các vấn đề pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá nước ta.

Tuy nhiên, hài hòa hóa pháp luật phải căn cứ vào từng bối cảnh và khả năng đáp ứng cụ thể của đất nước trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng những chiều hướng, tác động thuận, nghịch của tình hình quốc tế. Bởi vậy, sẽ là huyễn hoặc mơ hồ khi cho rằng pháp luật quốc tế là tiêu chuẩn chung mà pháp luật quốc gia phải “hòa tan” vào bằng mọi giá.

Đại biểu Quốc hội chuyên trách thảo luận về nhóm lĩnh vực pháp luật, tư pháp tại Hội nghị đại biểu quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ 8, nhiệm kỳ khóa XV _Ảnh: TTXVN

Việt Nam chủ động, trách nhiệm trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật

Với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, trong những năm qua, Việt Nam tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế, tích cực hài hòa hóa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia. Kết quả, Việt Nam hai lần được bầu chọn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao. Điều đó thể hiện sự ghi nhận của bạn bè quốc tế đối với những chính sách, pháp luật và thành tựu thực tiễn của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trên các lĩnh vực.

Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, kể từ khi tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để phù hợp với các yêu cầu của Công ước, được đánh giá là một thành viên trách nhiệm và tích cực trong UNCAC. Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng trong thực tiễn càng là minh chứng thuyết phục cho nỗ lực đó của Đảng và Nhà nước ta…

Trong hợp tác quốc tế về pháp luật, Việt Nam “Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật. Nghiên cứu giải pháp gia tăng sự hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế luật pháp quốc tế”(6); “Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu”(7); “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế”(8). Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định một trong các nhiệm vụ và giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền là: “Chủ động tham gia, đóng góp vào việc xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự quốc tế, khu vực. Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; giải quyết hiệu quả các xung đột về thẩm quyền và pháp luật giữa Việt Nam và các quốc gia khác, bảo đảm tốt các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước Việt Nam”.

Khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”. Điều này thể hiện sự linh hoạt, tích cực hội nhập của Việt Nam trên tinh thần kiên định “hòa nhập nhưng không hòa tan”.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có tới 26 lần nhắc tới “điều ước quốc tế” tại 21 điều luật; đưa ra nhiều quy định để bảo đảm sự tương thích giữa văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể, Luật yêu cầu việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải “không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế” (Điều 5, Điều 156); đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định “phải căn cứ vào điều ước quốc tế” (Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 84); “Tổ chức nghiên cứu điều ước quốc tế” là trách nhiệm của cơ quan đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 85, Điều 97, Điều 112); Bộ Ngoại giao có trách nhiệm “cho ý kiến về sự tương thích của văn bản quy phạm pháp luật với điều ước quốc tế” (Điều 36, Điều 86); “Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan” là một trong những nội dung thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật (Điều 39, Điều 58, Điều 65, Điều 88, Điều 92, Điều 98, Điều 102); Việc thực hiện điều ước quốc tế là một trong những “trường hợp được xem xét điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh” (Điều 51); Quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có khả năng làm thay đổi “hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật” ở Việt Nam (Điều 115)… Có thể thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam được xây dựng hướng tới bảo đảm sự tương thích, hài hòa với pháp luật quốc tế, thể hiện sự tuân thủ nguyên tắc tận tâm, thiện chí (pacta sunt servanda) trong thực hiện pháp luật quốc tế.

Trên khía cạnh thực tiễn, Việt Nam ngày càng chủ động, tích cực tham gia xây dựng luật quốc tế. Năm 2016, qua hệ thống bầu cử của Đại hội đồng Liên hợp quốc, lần đầu tiên Việt Nam có đại diện tại Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) - cơ quan pháp lý quan trọng của Liên hợp quốc(9). Việt Nam chủ động đề xuất, đóng góp lý luận từ thực tiễn trong nước và các nước đang phát triển vào các báo cáo của Ủy ban Luật pháp quốc tế, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các nước đang phát triển và các nước nhỏ, như: Đề xuất đưa đề tài tác động của mực nước biển dâng vào luật quốc tế; tích cực đề xuất phương án kiện toàn các quy định của luật quốc tế về phòng, chống dịch bệnh và đưa ra sáng kiến thông qua Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh; tham gia các sáng kiến, cơ chế hợp tác thực chất về an ninh biển(10)…

Các phương thức hài hòa hóa pháp luật cũng được Việt Nam áp dụng một cách linh hoạt. Ở phương thức chấp nhận, Việt Nam cam kết áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần các quy định chung của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1967, Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật năm 1971, các cam kết quốc tế với Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Hiệp định Đối tác tToàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)… Ở phương thức chuyển hóa, Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật mới như Luật Bình đẳng giới năm 2006 nhằm thực hiện Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW). Để chuyển hóa nội dung Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966, Quốc hội Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật, như Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2023…

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chuyển hóa pháp luật quốc tế bằng sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều khoản trong hệ thống pháp luật hiện hành. Ví dụ, Việt Nam chỉnh sửa, bổ sung pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp luật kinh doanh, thương mại… để bảo đảm sự phù hợp, tương thích với các quy định của Hiệp định CPTPP, EVFTA. Chỉ trong 2 năm đầu gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (2006 - 2007), Việt Nam sửa đổi, bổ sung hơn 60 văn bản luật và hàng trăm nghị định, thông tư trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại, thuế, lao động, bảo hiểm,… để thực thi các cam kết với WTO. Quá trình này tiếp tục được đẩy mạnh trong giai đoạn hội nhập sâu rộng sau đó. Khi tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, Việt Nam đã chủ động xây dựng và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng các tiêu chuẩn cao. Cụ thể, để thực thi Hiệp định CPTPP, tính đến tháng 8-2024, Việt Nam đã ban hành 25 văn bản quy phạm pháp luật. Trong hai năm đầu thực thi Hiệp định EVFTA (2020 - 2022), đã có 9 văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung và ban hành. Việt Nam luôn tích cực, chủ động hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, thể hiện sự tôn trọng, trách nhiệm trong thực hiện pháp luật quốc tế tiến tới xây dựng một cộng đồng chung vì độc lập, hòa bình, thịnh vượng và phát triển.

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, có sự phát triển năng động, là chủ thể tích cực, đáng tin cậy và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh cục diện chính trị - an ninh - kinh tế thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang trải qua những biến động đa chiều, phức tạp, khó đoán định và chưa có tiền lệ, “luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn”(11), đòi hỏi Việt Nam phải có những bước đi thận trọng, khéo léo, phù hợp trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.

Nhìn vào thực tế áp dụng các điều ước quốc tế, có thể thấy, Việt Nam chỉ “áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện” (khoản 2 Điều 6, Luật Điều ước quốc tế năm 2016). Đồng thời, đối với những điều ước quốc tế đóng vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, là động lực cho các bước tiến hội nhập trong khu vực và quốc tế sẽ thường được ưu tiên áp dụng trực tiếp để tận dụng thời gian, tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập phát triển. Ví dụ, Nghị quyết số 71/2006/QH11, ngày 29-11-2006, của Quốc hội về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư”, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế.

Trong khi đó, phương thức áp dụng điều ước quốc tế bằng con đường nội luật hóa (chuyển hóa) được thực hiện khi nội dung của điều ước quốc tế chưa đủ rõ hoặc chưa đủ chi tiết; những vấn đề phức tạp mà việc áp dụng phải tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử - cụ thể. Hay việc thực hiện điều ước quốc tế còn tùy vào động thái của các bên trên nguyên tắc “có qua có lại”. Chẳng hạn, khi chấp nhận hiệu lực của Công ước về chống tra tấn của Liên hợp quốc năm 1984, Quốc hội Việt Nam đưa ra tuyên bố bảo lưu có nội dung như sau: “Không coi quy định tại khoản 2 Điều 8 của Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ. Việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc nguyên tắc có đi có lại”(12).

Hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam gắn với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo tồn giá trị bản sắc dân tộc, bảo đảm lợi ích của đất nước, của nhân dân như Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(13); “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc”(14).

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, trong hoạt động ngoại giao, phải trông vào thực lực quốc gia vì “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(15). Trong hài hòa hóa pháp luật, Việt Nam tận dụng được lợi thế, bảo vệ được lợi ích quốc gia khi chủ động tham gia tạo ảnh hưởng, gia tăng vị thế, uy tín của mình trong khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã, đang và sẽ luôn chủ động, tích cực, tăng cường sự hiện diện và tiếng nói trong các diễn đàn xây dựng luật pháp quốc tế để bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc mình, cũng như chủ động đóng góp tích cực vào sự phát triển, tiến bộ chung của luật pháp quốc tế./.

---------------------------

(1) Trần Thị Diệu Hương: Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật trong khu vực Asean, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 06 (334), T3-2017, tr. 9
(2) H.C.Gutterigde: Comparative Law – An introduction to the Comparative Method of Legal Study and Reasearch, Cambridge University Press, 1971, tr. 154
(3) Nguyễn Thanh Tú, (2015), Thuận lợi, khó khăn và lợi ích đối với Việt Nam trong tiến trình hài hòa pháp luật của khu vực Asean, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Hài hòa pháp luật trong xây dựng cộng đồng Asean những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam và kinh nghiệm từ EU, https://thuvien.quochoi.vn/sites/default/files/07_nguyenthanhtu_thuanloikhokhan.pdf
(4), (8), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 105, 164, 105
(5) Lê Hải Bình, Chu Minh Thảo: Trật tự quốc tế dựa trên luật lệ: Lý luận, thực tiễn và hàm ý chính sách đối với Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 54
(6), (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 154, 69
(9) GS, TS, Đại sứ Nguyễn Hồng Thao là người Việt Nam đầu tiên trúng cử thành viên Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) khóa 2017 - 2022 và tái đắc cử vào nhiệm kỳ 2023 - 2027 với số phiếu 145/193, đứng thứ 4 trong khu vực, chỉ sau ứng cử viên từ Ấn Độ, Thái Lan và Nhật Bản
(10) Tuệ Minh: Việt Nam tích cực đóng góp tại Khóa họp của Ủy ban Luật pháp quốc tế, Báo Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/viet-nam-tich-cuc-dong-gop-tai-khoa-hop-cua-uy-ban-luat-phap-quoc-te-post314900.html
(12) Nghị quyết số 83/2014/QH13 ngày 28-11-2014 của Quốc hội về việc Phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 73
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 375
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 4, tr. 126


Nhận diện ý đồ xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết” phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay

PGS, TS BÙI THỊ NGỌC LAN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
10:28, ngày 26-11-2025

TCCS - Để đấu tranh phản bác hiệu quả ý đồ xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết” của các thế lực thù địch, cần nghiên cứu sâu sắc các trước tác và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đó cũng là cơ sở bảo đảm cho tính đúng đắn, thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay.

1- Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, đang ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chúng dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chúng lớn tiếng phủ nhận, xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết” để phục vụ cho mưu đồ đen tối, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam. Chúng ngụy biện, V.I. Lê-nin đã khẳng định “quyền dân tộc tự quyết”, hà cớ gì mà Việt Nam không thực hiện? Từ đó, chúng lớn tiếng lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền của các dân tộc thiểu số; kích động một số cá nhân, nhóm người gây mất an ninh, trật tự, đòi thành lập cái gọi là nhà nước riêng, tách ra khỏi “thực thể quốc gia dân tộc” (từ dùng của V.I. Lê-nin) Việt Nam độc lập, thống nhất và phát triển.

Các luận điệu nêu trên của các thế lực thù địch, phản động hết sức nguy hiểm, thâm độc, cần kiên quyết bác bỏ:

Thứ nhất, nhận thức đúng đắn tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết”.

Nội dung “quyền dân tộc tự quyết”, theo tư tưởng của V.I. Lê-nin, là quyền làm chủ của mỗi quốc gia - dân tộc đối với vận mệnh của mình, quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của quốc gia - dân tộc. Theo V.I. Lê-nin, quyền dân tộc tự quyết gắn với việc các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ. Người viết: “các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ”(1). Theo V.I. Lê-nin, yêu sách đó hoàn toàn không đồng nghĩa với yêu sách đòi phân lập, phân tán, thành lập những quốc gia nhỏ. V.I. Lê-nin chỉ ra tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội khi đề cập vấn đề quyền dân tộc tự quyết, tạo điều kiện để các dân tộc liên hợp với nhau cùng phát triển, trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, cùng có lợi. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội có mục đích không những xóa bỏ tình trạng nhân loại bị chia thành những quốc gia nhỏ và xóa bỏ mọi trạng thái biệt lập giữa các dân tộc, không những làm cho các dân tộc gần gũi nhau, mà cũng còn nhằm thực hiện việc hợp nhất các dân tộc lại”(2). Quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ, có ý nghĩa quan trọng để các dân tộc bị áp bức thoát khỏi mọi ách áp bức dân tộc - điều này chỉ trở thành hiện thực khi mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công. Khẳng định điều này, V.I. Lê-nin viết: “Nhân loại chỉ có trải qua thời kỳ quá độ của chuyên chính của giai cấp bị áp bức, mới có thể xóa bỏ được các giai cấp, cũng giống như vậy, nhân loại chỉ có trải qua thời kỳ quá độ hoàn toàn giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức, nghĩa là thời kỳ các dân tộc được tự do phân lập, thì mới có thể đạt tới sự hợp nhất tất nhiên giữa các dân tộc”(3).

V.I. Lê-nin - Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới _Tranh: Tư liệu

Tuy nhiên, V.I. Lê-nin cũng chỉ ra yêu cầu đối với việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết:

Một là, phải đứng vững trên lập trường mác-xít, bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích của dân tộc với lợi ích của giai cấp công nhân trong giải quyết mối quan hệ dân tộc. Giai cấp công nhân không chỉ đấu tranh để giải phóng giai cấp mình, mà phải đấu tranh để giải phóng dân tộc bị áp bức. V.I. Lê-nin viết: “Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn, do đó, không những làm cho các dân tộc hoàn toàn bình quyền với nhau, mà còn thực hành quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức, tức là quyền tự do phân lập về mặt chính trị”(4).

Hai là, bảo đảm quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể. Điều này có nghĩa là việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải được đặt trong phạm vi quốc gia - dân tộc cụ thể, được xem xét trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể.  V.I. Lê-nin viết: “... những người mác-xít không thể bỏ qua được những nhân tố kinh tế mạnh mẽ đang sản sinh ra những xu hướng thành lập các quốc gia dân tộc. Điều đó có nghĩa là trong cương lĩnh của những người mác-xít, “quyền dân tộc tự quyết” đứng trên quan điểm lịch sử - kinh tế mà xét, không thể có nghĩa nào khác hơn là quyền tự quyết về chính trị, là quyền độc lập quốc gia, là sự thành lập quốc gia dân tộc”(5).

Ba là, không được lẫn lộn vấn đề quyền dân tộc tự quyết với việc xem xét vấn đề tách ra của một dân tộc. Điều này cần được nhìn nhận, xem xét đối với từng trường hợp riêng biệt, căn cứ vào lợi ích của toàn bộ sự phát triển xã hội và lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản vì chủ nghĩa xã hội. Theo V.I. Lê-nin, quyền dân tộc tự quyết là quyền của dân tộc bị áp bức bởi một dân tộc khác, chứ hoàn toàn không phải quyền của các dân tộc thiểu số trong một quốc gia, nhưng viện cớ tự quyết để tách ra thành lập nhà nước riêng, thành lập quốc gia riêng. Sự vi phạm nguyên tắc này sẽ làm tổn hại lớn đến lợi ích chung của đại đa số nhân dân trong một quốc gia - dân tộc thống nhất; đồng thời, làm tổn hại đến lợi ích của toàn xã hội và lợi ích của giai cấp công nhân trong sự nghiệp đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Không được lẫn lộn vấn đề quyền dân tộc tự quyết (nghĩa là hiến pháp nhà nước đảm bảo một phương thức giải quyết hoàn toàn tự do và dân chủ vấn đề phân lập) với vấn đề xem xét một dân tộc nào đó có nên tách ra không. Trong mỗi trường hợp riêng biệt vấn đề thứ hai này phải được đảng dân chủ - xã hội giải quyết một cách hoàn toàn độc lập, căn cứ vào lợi ích của toàn bộ sự phát triển xã hội và lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản vì chủ nghĩa xã hội”(6).

Bốn là, bảo đảm quyền dân tộc tự quyết phải trở thành nhiệm vụ của giai cấp công nhân đối với dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, nhất là đối với quốc gia - dân tộc thuộc địa bị áp bức. Ở đây, V.I. Lê-nin chỉ ra hai trường hợp: 1- Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khi nắm quyền thống trị, vì đặc quyền giai cấp, không chỉ áp bức các dân tộc khác, mà còn áp bức dân tộc ở chính nước mình. Chỉ rõ điều này, V.I. Lê-nin viết: “... các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến ở Tây Âu và nước Mỹ. Ở đó, các phong trào dân tộc tiến bộ tư sản đã kết thúc từ lâu rồi. Mỗi dân tộc “lớn” đó đều áp bức các dân tộc khác ở các thuộc địa và ở trong nước họ”(7). Như vậy, trong các nước tư bản chủ nghĩa, tình trạng áp bức dân tộc cũng chính là hệ quả của tình trạng áp bức giai cấp; 2- Trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, “... các cuộc chiến tranh xảy ra thường xuyên hơn, thế lực phản động mạnh lên, ách áp bức dân tộc và sự cướp bóc thuộc địa mạnh thêm và mở rộng thêm”(8). Bối cảnh đó tạo sự phát triển mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đòi quyền dân tộc tự quyết ở các nước thuộc địa.

Như vậy, trong cả hai trường hợp, quyền dân tộc tự quyết là nhu cầu chính đáng, cấp bách của dân tộc bị áp bức. Nhiệm vụ của giai cấp công nhân các dân tộc phải liên hợp lại, đoàn kết, giúp đỡ dân tộc bị áp bức trong việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết. V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Xét theo quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, thì vấn đề quyền tự quyết không có gì khó khăn cả... Trong chừng mực nào đó, khó khăn là ở chỗ, ở nước Nga giai cấp vô sản của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản của dân tộc đi áp bức đang đấu tranh và phải đấu tranh sát cánh bên nhau. Bảo vệ sự thống nhất của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản để tiến tới chủ nghĩa xã hội, chống lại mọi ảnh hưởng tư sản... của chủ nghĩa dân tộc, - đó là nhiệm vụ phải giải quyết”(9).

Thứ hai, V.I. Lê-nin - tấm gương mẫu mực trong đấu tranh phê phán, phản bác các nhận thức mơ hồ, các luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc vấn đề quyền dân tộc tự quyết.

Sinh thời, V.I. Lê-nin là tấm gương mẫu mực trong việc phê phán đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, hoặc cố tình xuyên tạc lý luận mác-xít về quyền dân tộc tự quyết, hòng kích động tâm lý ly khai dân tộc từ các tộc người thiểu số. Điều này được thể hiện tập trung trong tác phẩm “Về quyền dân tộc tự quyết” (năm 1914). Trong tác phẩm này, V.I. Lê-nin đã kiên quyết phê phán Rô-da Lúc-xăm-bua, mặc dù là một người mác-xít, nhưng do không nắm bắt đầy đủ các nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết, nhất là quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm thực tiễn nên đã “luôn sa vào những lập luận chung chung”, đưa ra lý lẽ trừu tượng, sáo rỗng, sai lầm về quyền dân tộc tự quyết. Điều này không những đã tác động tiêu cực đến nhận thức của một số người mác-xít, mà còn gây ra “cả một chiến dịch công kích của bọn cơ hội chủ nghĩa” đủ loại. Chúng đã lợi dụng quan điểm của bà để xuyên tạc, bóp méo lý luận mác-xít về quyền dân tộc tự quyết, nhằm phục vụ cho những mưu đồ chính trị đen tối.

Trong cuộc đấu tranh bảo vệ lý luận của chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc và quyền dân tộc tự quyết, V.I. Lê-nin nhấn mạnh, không được đánh tráo khái niệm, cố tình “bịa ra” định nghĩa trừu tượng, hay có “thái độ giả dối và hèn nhát”, hoặc lợi dụng, xuyên tạc vấn đề này vì mưu đồ chính trị. Ông viết: “... muốn hiểu thế nào là quyền dân tộc tự quyết, không phải bằng cách đem những định nghĩa pháp lý ra để chơi chữ, không phải bằng cách “bịa ra” những định nghĩa trừu tượng, mà bằng cách phân tích các điều kiện lịch sử - kinh tế của các phong trào dân tộc”(10).

Tóm lại, bằng lập luận khoa học, sắc bén, V.I. Lê-nin đã luận giải rõ ràng nội dung và nguyên tắc phải quán triệt khi thực hiện quyền dân tộc tự quyết theo lập trường của giai cấp công nhân. Từ tư tưởng của V.I. Lê-nin, rút ra hai kết luận quan trọng: Một là, quyền dân tộc tự quyết chỉ được đặt ra đối với các quốc gia - dân tộc bị áp bức bởi một quốc gia - dân tộc khác. Hai là, không thể đồng nhất quyền dân tộc tự quyết với quyền của các dân tộc thiểu số, không thể viện cớ tự quyết để đòi tách ra khỏi quốc gia - dân tộc độc lập thống nhất.

Vậy mà các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình lấp liếm, xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin, với mưu đồ làm cho nhân dân các dân tộc nhận thức mơ hồ, thậm chí sai lệch về quyền dân tộc tự quyết; từ đó, bị kích động, lôi kéo tham gia hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đòi ly khai làm tổn hại đến sự ổn định, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia - dân tộc độc lập, có chủ quyền.

2- Hiện nay, các thế lực thù địch không chỉ xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết”, mà còn lợi dụng triệt để “Tuyên ngôn về quyền của dân tộc bản địa” do Liên hợp quốc nêu ra vào năm 2007 và Hiến chương Liên hợp quốc nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị của chúng. Chúng thổi phồng vấn đề được đề cập trong Tuyên ngôn, đưa ra yêu sách đòi chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, dân tộc Chăm ở Nam Trung bộ, dân tộc Khmer ở khu vực Tây Nam Bộ,... là “dân tộc bản địa”, đòi “quyền dân tộc tự quyết” cho các tộc người, đòi thành lập cái gọi là nhà nước Đềga tự trị ở Tây Nguyên, vương quốc Chăm ở Nam Trung bộ, nhà nước Khmer Krôm ở Tây Nam bộ. Vụ khủng bố xảy ra ở huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk (ngày 11-6-2023) là kết quả của sự kích động của các thế lực phản động bên ngoài và một số kẻ tiếp tục lợi dụng vấn đề mà chúng gọi là “dân tộc bản địa”, “sắc tộc bản địa” để rêu rao rằng, truyền thống, luật lệ của “người bản địa”, “sắc tộc bản địa” ở Tây Nguyên đang bị triệt tiêu, từ đó kích động thù hằn giữa các dân tộc. Đối với khu vực Tây Bắc, các thế lực phản động tung tin người Mông từng có “tổ quốc riêng, vua riêng” để kích động thành lập cái gọi là “vương quốc Mông”. Đối với dân tộc Thái, chủ đề kích động của chúng gắn với cái gọi là vấn đề “xứ Thái tự trị” và mối liên kết giữa người Thái Việt Nam với người Thái ở các nước trong khu vực để “bảo vệ quyền lợi cho dân tộc Thái”... Mục đích của chúng nhằm kích động đồng bào các dân tộc đòi quyền tự quyết, quyền tự trị cho các dân tộc thiểu số, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực tế cho thấy, vấn đề “dân tộc bản địa” không chỉ bị các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, mà nhiều người, trong đó có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên, do chưa nhận thức được sự nguy hiểm trong luận điệu của các thế lực thù địch, đã sai phạm khi triển khai trong hoạt động thực tiễn. Do vậy, vấn đề này cần được nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh bác bỏ sự xuyên tạc nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam.

Thứ nhất, bác bỏ luận điệu thâm độc của các thế lực phản động, thù địch cài cắm thuật ngữ “dân tộc bản địa” ở Việt Nam.

Ở nước ta, “dân tộc bản địa”, hay “người bản xứ” chỉ là cách gọi do thực dân Pháp sử dụng khi xâm lược, với hàm nghĩa chỉ tất cả cộng đồng dân tộc Việt Nam (bao gồm cả người Kinh và các dân tộc thiểu số), hoàn toàn không gắn với việc định hình tộc người cụ thể. Các thế lực thù địch, phản động cũng hoàn toàn không nhắc đến quy định trong “Tuyên ngôn về quyền của dân tộc bản địa”, theo đó phần đầu của Tuyên ngôn nêu rõ, công nhận tình hình của các dân tộc bản địa là khác nhau tùy theo khu vực và quốc gia, cũng như công nhận rằng cần cân nhắc đặc điểm khác biệt giữa các quốc gia, khu vực và những nền tảng khác nhau về lịch sử và văn hóa. Đây chính là sự phản ánh nguyên tắc lịch sử - cụ thể mà V.I. Lê-nin từng đề cập. Do vậy, đòi hỏi thực hiện quyền của các dân tộc bản địa hoàn toàn thoát ly khỏi thực tiễn Việt Nam, quy định của văn kiện quốc tế phổ quát, hoàn toàn xa rời các nguyên tắc mà V.I. Lê-nin đã yêu cầu khi thực hiện quyền dân tộc tự quyết, nhất là nguyên tắc thực tiễn, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc về sự thống nhất giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc để cùng phát triển. Đây thực chất là luận điệu phản động, cực đoan quá khích của một số phần tử và một số tổ chức phản động cố tình đánh tráo khái niệm “dân tộc - quốc gia” với “dân tộc - tộc người”, để xuyên tạc, đánh đồng giữa quyền tự quyết của một dân tộc (tộc người) với quyền tự quyết của một quốc gia - dân tộc.

Thứ hai, nhận thức đúng về quyền dân tộc tự quyết và quyền của các dân tộc thiểu số.

Quyền của các dân tộc thiểu số là một trong những quyền cơ bản của con người, được khẳng định trong các văn kiện pháp lý quốc tế và xếp trong nhóm các quyền dân sự - chính trị. Tại Điều 1, khoản 2 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 khẳng định: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc...”. Quan hệ giữa các quốc gia được xác định trong Hiến chương Liên hợp quốc chính là quan hệ giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền; trong đó, dân tộc đa số và dân tộc thiểu số bình đẳng, cùng hợp thành một quốc gia - dân tộc có chủ quyền.

Việc các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, đánh tráo khái niệm giữa “quyền tự quyết của một quốc gia - dân tộc” với “quyền tự quyết của dân tộc thiểu số” là sự xa rời các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế.

3- Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất bao gồm 54 dân tộc. Đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam và được phát huy mạnh mẽ trong mọi thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhân dân các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, biểu hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền bình đẳng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ với cộng đồng quốc tế.

Trong lịch sử cũng như hiện tại, vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân các dân tộc Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực, nổi dậy đấu tranh đòi quyền dân tộc tự quyết để thoát khỏi ách áp bức tàn bạo của thực dân, đế quốc xâm lược. Ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam phát huy tinh thần đoàn kết một lòng xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc phồn vinh, hạnh phúc, thực hiện quyền bình đẳng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam với các quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế. Thực chất đó là thực hiện các quyền của dân tộc phù hợp với luật pháp quốc tế. Những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được trong tiến trình đổi mới là bằng chứng cho thấy, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta đã được phát huy hiệu quả và tạo ra động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, góp phần quan trọng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Khối đại diện 54 dân tộc Việt Nam diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 _Nguồn: nhandan.vn

Thứ hai, đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam độc lập, thống nhất.

Ở Việt Nam, các dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Hiện nay, phần lớn dân tộc thiểu số cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng giáp biên - những địa bàn khó khăn trong phát triển, nhưng lại có vị trí chiến lược của đất nước. Với đường lối, chiến lược của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng bào dân tộc thiểu số cùng với dân tộc đa số thực sự là chủ thể trực tiếp tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, giá trị văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc tiếp tục được bảo lưu, giữ gìn và phát huy, góp phần hình thành nên nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

 Khẳng định quyền của các dân tộc trong cộng đồng quốc gia dân tộc thống nhất, Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) quy định: 1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh thành tựu đã đạt được là không thể phủ nhận, vẫn còn một số hạn chế do nhiều yếu tố tác động (cả khách quan và chủ quan); vì vậy, trong không ít trường hợp, quyền của các dân tộc vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc, tác động đến sự vững mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là khó khăn về điều kiện tự nhiên, về trình độ phát triển không đồng đều giữa các nhóm dân tộc; việc cư trú xen kẽ giữa các tộc người vừa có mặt tích cực, vừa có tác động tiêu cực, nếu không chú ý giải quyết tốt tác động tiêu cực thì dễ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ tộc người. Đó còn là sai phạm trong triển khai thực hiện không hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở một số địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khiến cho đời sống đồng bào gặp nhiều khó khăn, chênh lệch giàu nghèo, phân hóa xã hội lớn; một bộ phận cán bộ quan liêu, xa dân, không kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân... làm ảnh hưởng lớn đến quan hệ giữa một bộ phận dân tộc thiểu số với chính quyền ở cơ sở và Nhà nước. Từ một số sai phạm, hạn chế nêu trên đã bị các thế lực phản động trong và ngoài nước cố tình xuyên tạc, thổi phồng, đánh tráo khái niệm giữa “quyền tự quyết của một quốc gia - dân tộc” với “quyền tự quyết của dân tộc thiểu số”, hòng kích động các tộc người thiểu số đòi ly khai với danh nghĩa thực hiện quyền dân tộc tự quyết, làm rạn nứt khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm thất bại mọi thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, quyền dân tộc tự quyết để chống phá cách mạng Việt Nam, một số giải pháp cơ bản sau đây cần được triển khai hiệu quả:

Một là, tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều biện pháp và hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp để nâng cao nhận thức về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, luật pháp quốc tế về dân tộc, về quyền dân tộc tự quyết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đồng bào các dân tộc thiểu số. Khi nhận thức đúng thì việc triển khai thực hiện mới hiệu quả và chính đồng bào dân tộc thiểu số sẽ là lực lượng tích cực, chủ động đấu tranh chống mọi sự xuyên tạc, kích động ly khai, gây thù hằn dân tộc của các thế lực thù địch.

Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích kinh tế, chính trị, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định trong giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc, dân tộc thiểu số với quốc gia và bảo đảm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tế cho thấy, nếu chỉ tuyên truyền lý thuyết chung chung thì sẽ không hiệu quả; do đó, việc bảo đảm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển là vấn đề quan trọng hàng đầu, quyết định tính chất, nội dung quan hệ giữa các dân tộc với nhau và các dân tộc thiểu số với quốc gia, là điều kiện để các dân tộc bình đẳng, đoàn kết và ổn định đất nước.

Ba là, rà soát, đánh giá hiệu quả hệ thống pháp luật, chính sách về dân tộc, về đại đoàn kết toàn dân tộc để phát hiện bất cập, lỗ hổng. Trên cơ sở đó, kịp thời bổ sung, hoàn thiện hoặc ban hành chính sách mới phù hợp theo hướng bảo đảm sinh kế cho đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm đồng bào được bình đẳng trong tiếp cận cơ hội việc làm, thu nhập, nguồn lực, thị trường, phúc lợi xã hội, thụ hưởng thành quả của công cuộc đổi mới; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm; phát huy tiềm năng, thế mạnh và nội lực của đồng bào các dân tộc thiểu số trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm quyền bình đẳng và nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử, kỳ thị đối với các dân tộc thiểu số cả về hình thức và thực tế. Có hình thức xử lý nghiêm khắc đối với hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc, quyền dân tộc tự quyết để gây thù hằn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bốn là, thẳng thắn đấu tranh với các quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc, hoạt động của thế lực thù địch lợi dụng vấn đề quyền dân tộc tự quyết, vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để kích động, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau.

Năm là, sử dụng linh hoạt, đồng bộ biện pháp, thường xuyên coi trọng công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề quyền dân tộc tự quyết, quyền của các dân tộc thiểu số hòng kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam./.

----------------

(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 27, tr. 327
(2), (3), (4) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 27, tr. 328, 328, 323
(5) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 25, tr. 308
(6) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 24, tr. 78
(7), (8) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 27, tr. 333, 323
(9) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 25, tr. 371
(10) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 25, tr. 303


Thông tin về việc tiếp tục thực hiện sáp nhập các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là chưa chuẩn xác

16:42, ngày 17-11-2025

TCCS - Thời gian gần đây, trên một số phương tiện truyền thông xã hội lan truyền thông tin về việc Việt Nam tiếp tục thực hiện sáp nhập từ 34 tỉnh, thành phố, xuống còn 16 tỉnh, thành phố (?!). Đây hoàn toàn là thông tin sai lệch, gây hoang mang dư luận, cần sớm nhận diện để chủ động có kế hoạch đấu tranh, ngăn chặn.

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ khảo sát tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Trị _Ảnh: baochinhphu.vn

Trước hết, cần khẳng định, hiện nay, Đảng, Quốc hội, Chính phủ không có chủ trương tiếp tục thực hiện sắp xếp, sáp nhập tỉnh, thành phố hoặc các đơn vị hành chính cấp xã. Thông tin sắp xếp từ 34 tỉnh, thành hiện nay còn 16 tỉnh, thành trong giai đoạn tới đây hoàn toàn không chính xác.

Ngày 12-6-2025, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Theo đó, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Cùng với sắp xếp đơn vị hành chính, từ ngày 1-7-2025, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã chính thức hoạt động ở tất cả các tỉnh, thành phố. Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu thành quả của quá trình “sắp xếp lại giang sơn” đầy quyết tâm đổi mới của Đảng ta, mà người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm.

Để bảo đảm sự liên tục, thông suốt và ổn định trong quá trình chuyển đổi, Quốc hội đã sửa đổi Hiến pháp, thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi), tạo hành lang pháp lý cho mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động hiệu quả. Luật đã phân định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu tổ chức bộ máy của từng cấp chính quyền, bảo đảm không trùng lắp, chồng chéo về nhiệm vụ, thẩm quyền của từng cấp, phù hợp với mô hình quản trị địa phương hiện đại. Đây là bước đi lớn, mang tính đột phá, mở đường cho việc xây dựng một bộ máy hành chính tinh gọn, hiện đại, vận hành linh hoạt theo yêu cầu của thời đại mới.

Cùng với việc ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi), các văn bản quy phạm pháp luật cũng cần được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế để tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong triển khai thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Thực tế cho thấy, do chưa xác định rõ được đơn vị hành chính chịu ảnh hưởng trực tiếp, nên địa phương còn có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc triển khai thực hiện lấy ý kiến nhân dân khi sắp xếp đơn vị hành chính các cấp chưa được đồng bộ, thống nhất. Do đó, Bộ Nội vụ xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn việc lấy ý kiến nhân dân về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính, nhằm thay thế Nghị định số 54/2018/NĐ-CP và Nghị định số 66/2023/NĐ-CP không còn phù hợp.

Việc này nhằm hướng dẫn việc lấy ý kiến cử tri đối với các trường hợp thông thường về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; không phải nhằm mục đích sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính các cấp như thông tin sai lệch lan truyền trong thời gian gần đây. Trong hồ sơ dự thảo Nghị định không có phụ lục kèm theo danh sách sắp xếp từ 34 tỉnh, thành phố xuống còn 16 tỉnh, thành phố, như một số phương tiện truyền thông xã hội đang lan truyền.

Thực tiễn sau 4 tháng vận hành cho thấy, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cơ bản thông suốt, hiệu quả, phục vụ ngày càng tốt hơn người dân và doanh nghiệp. Kết quả này đã khẳng định tính đúng đắn trong chủ trương của Đảng, Nhà nước ta. Ngoài mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, giảm chi ngân sách cho bộ máy, mở ra dư địa và không gian phát triển mới cho các địa phương, cuộc cách mạng về sắp xếp đơn vị hành chính các cấp còn hướng đến ổn định lâu dài hệ thống đơn vị hành chính. Chủ trương lớn này đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ nghiên cứu, cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi triển khai thực hiện.

Việc tổ chức lại địa giới hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương mới là yêu cầu khách quan và tất yếu của sự nghiệp phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ nhằm hướng đến quản trị địa phương hiện đại, kiến tạo phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước. “Đây là cơ hội quý báu để chúng ta đổi mới tư duy lãnh đạo, đổi mới phương thức quản lý nhà nước, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và tăng cường hiệu quả phục vụ nhân dân(1).

Quyết định “sắp xếp lại giang sơn” là bước đi lịch sử có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước, hoàn thiện thể chế và tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, hướng tới hoàn thiện một nền hành chính quản trị hiện đại, kiến tạo, gần dân, sát dân, vì nhân dân phục vụ, để mọi lợi ích thuộc về nhân dân. Mục tiêu lớn đòi hỏi cả hệ thống chính trị chuyển động mạnh mẽ, từ trạng thái “vừa chạy vừa xếp hàng” sang “hàng thẳng, lối thông, đồng lòng cùng tiến” và bây giờ là “bước đều, bước vững chắc” vào kỷ nguyên mới, như chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm./.

Trương Yến (tổng hợp)

------------------

(1) GS, TS Tô Lâm: "Quyết định “sắp xếp lại giang sơn” là bước đi lịch sử có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của đất nước", Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 30-6-2025, https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/quyet-dinh-sap-xep-lai-giang-son-la-buoc-di-lich-su-co-y-nghia-chien-luoc-danh-dau-mot-giai-doan-phat-trien-moi-cua-dat-nuoc

 


Đấu tranh, phản bác các luận điệu của thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, chống phá chủ trương của Đảng về đột phá hoàn thiện thể chế ở Việt Nam

PGS, TS VŨ VĂN PHÚC
Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
19:50, ngày 02-11-2025

TCCS - Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thế và lực của nước ta lớn mạnh; quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; tính tự chủ của nền kinh tế được cải thiện; tích lũy thêm kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Những kết quả nêu trên thể hiện thành công của đất nước trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan Triển lãm "Những thành tựu trong phát triển kinh tế tư nhân và các gian hàng trưng bày sản phẩm của các doanh nghiệp tư nhân" tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị _Nguồn: nhandan.vn

Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan luôn vận động, phát triển. Kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong đó có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), cũng luôn vận động, phát triển không ngừng. Do vậy, để đất nước phát triển nhanh và bền vững, theo định hướng XHCN, cần không ngừng hoàn thiện đồng bộ thể chế, trước hết là thể chế để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chủ trương này không thể hoàn thành trong một sớm, một chiều bởi chịu nhiều tác động cả tích cực và tiêu cực: 1- Bối cảnh tình hình thế giới và khu vực luôn biến động, thay đổi nhanh chóng, khó lường, tác động nhiều mặt, nhiều chiều, có cả thời cơ, thuận lợi, cả thách thức, khó khăn. Vì vậy, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể phải tìm ra điểm nghẽn, nút thắt cản trở việc hoàn thiện đồng bộ thể chế, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để đề ra giải pháp hoàn thiện phù hợp, đưa đất nước tiếp tục phát triển, tiến cùng, có mặt vượt trước các nước nhằm xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; 2- Do khoa học - công nghệ, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, nền kinh tế cũng phát triển không ngừng, thể chế cũ chưa bắt nhịp kịp thời với sự thay đổi kinh tế - xã hội, đòi hỏi tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thể chế. Đồng thời, lại xuất hiện nút thắt, điểm nghẽn mới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế cho sự phát triển cao hơn của nền kinh tế của đất nước... Đó là tính quy luật phát triển biện chứng của thế giới khách quan nói chung, của đất nước, của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam nói riêng.

Thực tiễn, luôn là tiêu chuẩn của chân lý, đã chứng minh: Đại hội XI của Đảng xác định hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN... là một trong ba đột phá chiến lược để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Đại hội XII của Đảng đề ra mục tiêu phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN theo giá trị phổ quát của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế với các định hướng cơ bản(1). Hội nghị Trung ương 5 khóa XII tiếp tục ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 3-6-2017, “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết này thể hiện một tầm nhận thức đầy đủ, toàn diện hơn về nội hàm, bước đi, lộ trình của quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; quan điểm định hướng cũng xác định rõ hơn định hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta và xác định rõ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: ba đột phá chiến lược vừa kế thừa ba đột phá chiến lược do Đại hội XI, XII của Đảng đề ra; vừa bổ sung, cụ thể hóa cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Vì vậy, cần tập trung đầu tư nguồn lực và đặc biệt chú trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, tạo sự chuyển biến về chất trong việc thực hiện ba đột phá chiến lược. Ba đột phá chiến lược mà Nghị quyết Đại hội XIII đề ra(2) có nhiều nhận thức mới về cách tiếp cận, mục đích và nội dung... trong đó, nội hàm đột phá chiến lược thứ nhất “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... có nhiều nội dung mới:

Thứ nhất, trong Văn kiện Đại hội XI, XII, đột phá chiến lược thứ nhất chỉ là “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...”, tức là mới chỉ đề cập đến hoàn thiện thể chế phát triển của lĩnh vực kinh tế. Đại hội XIII đề cập “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển...”, tức là thể chế phát triển toàn diện các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Ngay vấn đề “Hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...”cũng chứa đựng điểm mới: nếu ở Đại hội XII, việc hoàn thiện thể chế... nhằm nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế và quản lý nhà nước về kinh tế, Đại hội XIII nhấn mạnh mục đích “tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh”.

Thứ hai, Đại hội XIII bổ sung nội dung “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật”. Đây là một cách tiếp cận vấn đề mới, rất thực tế, một phương hướng hợp lý, tích cực nhằm phát triển kinh tế - xã hội đất nước nhanh và bền vững. Nội dung mới của đột phá chiến lược thứ nhất cần được nhận thức đầy đủ, toàn diện, thống nhất để triển khai thực hiện thành công nhằm đạt được mục tiêu do Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Nhìn tổng thể, kết quả các bước chuyển trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới ở Việt Nam có thể thấy:

Tư duy, nhận thức về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng phù hợp điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội trong nước và định chế quốc tế.

 Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhất là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tiếp tục được hoàn thiện, nhìn chung đã điều chỉnh các khía cạnh quan trọng nhất của hoạt động kinh doanh, thương mại, đầu tư..., bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại, đầu tư... Vai trò, hiệu quả, sức cạnh tranh của các thực thể trong nền kinh tế được nâng lên. Môi trường đầu tư và kinh doanh được cải thiện, bình đẳng và ngày càng thông thoáng hơn...

 Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế. Hầu hết loại giá được xác lập theo nguyên tắc thị trường, trừ một số hàng hóa - dịch vụ thiết yếu, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân; hạn chế bất cập của kinh tế thị trường nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước và thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, phát triển kinh tế - xã hội..., trên cơ sở nguyên tắc quản lý, điều tiết giá của Nhà nước.

Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc huy động và phân bổ nguồn lực gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội góp phần hạn chế, kiểm soát độc quyền, bảo đảm hoạt động cạnh tranh được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, công bằng và lành mạnh, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng, từng bước phù hợp với cơ chế thị trường.

Hội nhập quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu; thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược. Tích cực tham gia xây dựng thị trường Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); hoàn thiện quy định về thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết quốc tế; đàm phán, ký kết và thực hiện 17 hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.

Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá khái quát: “chúng ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Trong đó, xây dựng pháp luật có nhiều đổi mới, năng lực phản ứng chính sách được nâng cao, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh; công tác tổ chức thực hiện pháp luật ngày càng gắn kết hơn với xây dựng và hoàn thiện pháp luật; cải cách hành chính, chuyển đổi số được đẩy mạnh và có những kết quả nhất định; công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai bài bản, thường xuyên và đạt được nhiều kết quả với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực, qua đó giúp tăng cường một bước kỷ cương, trách nhiệm, tính nghiêm minh trong thực thi công vụ”(3).

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Những thành tựu vĩ đại đạt được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo: Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm... Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hoàn thành về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ...”(4). “... Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD”(5). Chỉ số hạnh phúc năm 2024 của Việt Nam tăng 11 bậc, xếp thứ 54/143.

Kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ XHCN có mối quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau, phát triển ngày càng vững chắc, trở thành trụ đỡ vững vàng cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới phồn vinh, hạnh phúc, trên nền tảng là nhân dân, “dân là gốc”, “dân là chủ”, “dân là trung tâm”; người dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn lực cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ngày càng được hiện thực hóa. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đòi hỏi tiếp tục phải đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và xử lý hài hòa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ và phát huy vị trí, vai trò của từng nhân tố này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(6). “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, nhân dân là chủ thể của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi công dân tích cực, chủ động tham gia vào công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, có ý thức thượng tôn pháp luật thì sẽ tạo nên sức mạnh của cả hệ thống chính trị để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”(7).

Sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng được củng cố và tăng cường: độc lập dân tộc luôn gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Qua 50 năm đất nước thống nhất, Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm vai trò quản lý hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa được bảo vệ vững chắc. An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, an toàn thông tin được tăng cường, môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước được giữ vững. Tiềm lực quốc phòng, an ninh được đầu tư, củng cố, tăng cường; xử lý linh hoạt, chủ động, hiệu quả tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền. Sức mạnh chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội, sức mạnh quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường... Sức mạnh tổng hợp cho phát triển đất nước được nâng lên, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào thành công của công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Du thuyền quốc tế cập Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long _Nguồn: nhiepanhdodoisong.vn

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế... đều có sự phát triển vượt bậc. Phát triển văn hóa, xã hội, con người có nhiều tiến bộ. Định hình hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đến năm 2024, có gần 99% số người lớn Việt Nam biết đọc, biết viết. Số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 20 lần trong gần 40 năm qua, phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2014... Chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ năm 2024 đạt khoảng 28,1%, tăng 1,3% so với năm 2023. Tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước được nâng lên. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được hình thành và phát triển, năm 2024 xếp thứ 56/119, tăng 2 bậc so với năm 2023; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2024 tăng 4 bậc so với năm 2022, xếp thứ 44/132. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong chính sách xã hội được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn; gắn kết kinh tế với xã hội, chính sách kinh tế với chính sách xã hội; an sinh xã hội, phúc lợi xã hội đạt kết quả tích cực; chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đối với người có công, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài... được thực hiện đồng bộ, đạt kết quả tích cực. Sức khỏe của nhân dân được quan tâm chăm sóc; nhiều thành tựu khoa học  kỹ thuật tiên tiến trên thế giới được áp dụng vào việc khám, chữa bệnh. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 94,1% năm 2024. Quản lý tài nguyên, đất đai được tăng cường, kiểm soát ô nhiễm môi trường được quan tâm, chú trọng huy động nguồn lực ứng phó với biến đổi khí hậu. Chỉ số phát triển bền vững (SDGs) của Việt Nam xếp thứ 54/166, tăng 1 bậc so với năm 2023.

Quan hệ đối ngoại được mở rộng, hội nhập quốc tế ngày càng hiệu quả. Việt Nam đã và đang thể hiện rõ, tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế... Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng cao. “Từ một đất nước chưa có tên trên bản đồ thế giới, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế... Lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, Việt Nam được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một câu chuyện thành công, một điểm sáng về xóa đói, giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân”(8). “Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 34 nước, trong đó có tất cả thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các nước lớn; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ chính trị, quốc phòng, an ninh phát triển sâu rộng, thực chất...

Việc tham gia các thỏa thuận hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế đa tầng nấc, nhất là 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã gắn kết Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, đưa Việt Nam lọt vào nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất thế giới từ năm 2019 đến nay, là một trong 10 quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất thế giới”(9).

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là lựa chọn mang tầm vóc lịch sử, là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, quy luật, xu thế phát triển chung của thời đại. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục - thể thao, quốc phòng - an ninh, đối ngoại của nước ta không ngừng nâng cao... Thành tựu sau 50 năm đất nước thống nhất mở ra cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế mới, tầm nhìn mới cho đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Sau 50 năm thống nhất, vị thế của đất nước chuyển từ nghèo nàn, lạc hậu đến nền kinh tế được đánh giá là điểm sáng của thế giới; chính trị - xã hội ổn định, môi trường đầu tư hấp dẫn, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(10).

Với quyết tâm cao nhất, hành động quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được giao theo tinh thần “Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng”, “vừa chạy vừa xếp hàng”, “Trung ương không chờ cấp tỉnh, cấp tỉnh không chờ cấp huyện, cấp huyện không chờ cơ sở”, bộ máy mới phải tốt hơn bộ máy cũ và đi vào hoạt động ngay, bảo đảm việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp thật sự “gần dân, sát dân, vì dân”, góp phần định hình mô hình quản trị quốc gia hiện đại, đủ năng lực dẫn dắt phát triển, đất nước ta đang thực hiện cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị với quyết tâm cao, hành động quyết liệt, hướng tới mục tiêu lớn, như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: việc sắp xếp đơn vị hành chính các cấp lần này “không chỉ đơn thuần là vấn đề điều chỉnh địa giới hành chính, mà còn là điều chỉnh không gian kinh tế; điều chỉnh về phân công, phân cấp, điều chỉnh về phân bổ và kết hợp các nguồn lực kinh tế”. Xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp; sáp nhập một số tỉnh, kết thúc hoạt động cấp huyện, tiếp tục sáp nhập cấp xã, mang lại nhiều thuận lợi:

Sau khi sáp nhập, hợp nhất một số tỉnh đã tạo ra không gian phát triển mới, tạo sự kết nối nguồn lực, liên thông, liên tục, trở thành cửa ngõ kết nối vùng, biên giới, nhiều địa phương có thêm lợi thế kết nối biển... Sau khi tiếp thu, triển khai chủ trương, đường lối, chính sách... của Trung ương, chủ trương, quy định của đảng bộ, chính quyền cấp tỉnh sẽ triển khai ngay xuống đảng bộ, chính quyền cơ sở, mà không cần qua cấp trung gian là cấp huyện.

Việc bỏ khâu trung gian là tổ chức đảng, chính quyền cấp huyện sẽ giúp giảm tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức cấp huyện, nghĩa là giảm được nguồn lực rất lớn đang chi cho cấp huyện cả nước hiện nay, dành nguồn lực này để tăng cường cho cấp tỉnh và cơ sở, một phần dành cho đầu tư phát triển đất nước, đầu tư cho người dân, như khám, chữa bệnh không mất tiền; chủ trương không thu học phí cho học sinh từ mầm non, mẫu giáo đến phổ thông trung học ở các trường công lập từ năm học 2025 - 2026.

Việc bỏ khâu trung gian là tổ chức đảng, chính quyền cấp huyện sẽ giúp tổ chức đảng, chính quyền cấp tỉnh trực tiếp định hướng, chỉ đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát sâu sát đến từng tổ chức đảng, chính quyền cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn). Tổ chức đảng, chính quyền cơ sở sẽ làm việc, báo cáo, xin ý kiến lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành... trực tiếp từ tổ chức đảng, chính quyền cấp tỉnh. Như vậy, mọi việc sẽ thông suốt từ cấp Trung ương, cấp tỉnh đến cơ sở.

Tổ chức đảng, chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn) là cấp gần dân, sát dân nhất cần được tăng cường đầu tư về nhân lực, vật lực, tài lực để phục vụ nhân dân tốt hơn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hơn. Đồng thời, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở tiếp thu và phản ánh ý kiến nhân dân kịp thời cho tổ chức đảng, chính quyền cấp tỉnh. Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ, đảng viên và nhân dân được giải quyết nhanh chóng, kịp thời...

Là cấp gần dân, sát dân nhất, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn) sẽ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” có kết quả trong thực tiễn...

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới. Đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới, đồng thời cũng có nhiều thách thức, trong đó mặt thách thức nổi trội hơn và thời cơ mới còn có thể xuất hiện trong khoảnh khắc giữa những thay đổi đột biến trong cục diện thế giới. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đem đến cơ hội mà những quốc gia đang phát triển, chậm phát triển có thể nắm bắt để đi trước đón đầu, phát triển vượt bậc.

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, khơi dậy ý chí tự lực, tự chủ, tự tin, tự cường, tự hào dân tộc, huy động sức mạnh toàn dân kết hợp với sức mạnh thời đại, con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ đạt được những kỳ tích (kỳ tích về một nước thuộc địa, nửa phong kiến đã chiến thắng hai đế quốc, thực dân hùng mạnh; kỳ tích về một nước từ bị bao vây, cấm vận thực hiện thành công công cuộc đổi mới với những thành tựu vĩ đại). Hiện nay là thời điểm ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sớm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Từ những vấn đề trên, có thể thấy, đây là thời điểm “hội tụ” tổng hòa lợi thế, sức mạnh để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới”(11).

***

Như vậy, thực tiễn bốn thập niên đổi mới đã chứng minh, việc Việt Nam kiên định, sáng tạo và từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn phát triển mới. Đây là minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời, là lời bác bỏ đanh thép đối với mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá chủ trương của Đảng về đột phá hoàn thiện thể chế ở Việt Nam./.

-----------------------

(1) Đó là: 1- Thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; 2- Hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và tổ chức sản xuất, kinh doanh; 3- Hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường; 4- Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển và bảo vệ môi trường; 5- Hoàn thiện thể chế nâng cao vai trò lãnh đạo của Ðảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế, tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp và của nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội; 6- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 337 – 338
(3) GS. TS. Tô Lâm: “Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1.049 (tháng 11-2024), tr. 4
(4) GS. TS. Tô Lâm: “Một số nhận thức cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tạp chí Cộng sản số 1.050 (tháng 11-2024), tr. 4
(5) GS. TS. Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản số 1.059 (4-2025), tr. 10
(6), (7) GS. TS. Tô Lâm: “Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tlđd, tr. 4, 6
(8) GS. TS. Tô Lâm: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới”, Tạp chí Cộng sản số 1.046 (tháng 9-2024), tr. 18 - 19
(9) GS. TS. Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tlđd, tr. 10
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 25
(11) GS. TS. Tô Lâm: “Một số nhận thức cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tlđd, tr. 4


Chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và hoàn thiện thể chế hiện nay

TS NGUYỄN TRỌNG PHÚ
Chuyên viên cao cấp, Văn phòng Đảng ủy Chính phủ
23:22, ngày 14-10-2025

TCCS - Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang triển khai sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, hoàn thiện thể chế, pháp luật, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nhằm tạo bước đột phá phát triển đất nước, các thế lực thù địch đã lợi dụng tiến trình này để gia tăng hoạt động chống phá. Chúng liên tục xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, hòng gieo rắc tâm lý hoài nghi, chia rẽ lòng dân, gây bất ổn về tư tưởng và dư luận xã hội. Vì thế, cần nhận diện rõ luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch; đồng thời, đề xuất giải pháp đấu tranh hiệu quả nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo nền tảng phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới.

1- Đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và hoàn thiện thể chế, pháp luật hiện đại, đồng bộ là hai nhiệm vụ chiến lược then chốt. Đây không chỉ là định hướng cốt lõi trong quản trị quốc gia, mà còn là yêu cầu cấp thiết để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, hoạt động hiệu quả, củng cố niềm tin chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, giữ vững ổn định xã hội trong thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số sâu rộng. Trong tiến trình đổi mới toàn diện và sâu sắc đó, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch càng có ý nghĩa cấp thiết. Điều đó là bởi, lợi dụng khó khăn bước đầu của quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, hoàn thiện thể chế, các thế lực thù địch đã tăng cường sử dụng công nghệ cao và không gian mạng để gieo rắc hoài nghi, xuyên tạc chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

Chủ trương cải cách tổ chức bộ máy và thể chế luôn được lãnh đạo cao nhất của Đảng quan tâm, chỉ đạo xuyên suốt. Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết định hướng; Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã xây dựng đề án liên quan; đồng thời, Quốc hội, Chính phủ cũng ban hành các nghị quyết, nghị định về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức cấp xã và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động được áp dụng chế độ, chính sách như công chức theo quy định của Chính phủ khi tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục đóng vai trò nền tảng pháp lý vững chắc, hỗ trợ quá trình rà soát, sửa đổi văn bản, bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp thực tiễn.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần khẳng định, tinh gọn tổ chức bộ máy và hoàn thiện thể chế, pháp luật phải là khâu đột phá, mở đường cho kiến tạo nền hành chính nhà nước hiện đại, minh bạch, hiệu quả. Đây là nền tảng vững chắc để nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, phát triển bền vững đất nước, khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính kiểm tra hoạt động của Trung tâm phục vụ hành chính công xã Mỹ Hiệp, tỉnh Đồng Tháp, ngày 21-7-2025 _Ảnh: TTXVN

Từ khi triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và cải cách thể chế đã thu được kết quả rõ rệt. Năm 2025 được xác định là năm bản lề, đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ: hàng nghìn đầu mối trung gian được giảm, hàng chục nghìn biên chế được tinh giản, ngân sách tiết kiệm đáng kể, chất lượng phục vụ nhân dân được nâng cao. Các bộ, ngành cũng đã tích cực rà soát chức năng, nhiệm vụ, giảm chồng chéo, nâng cao hiệu quả vận hành.

Công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy được tiến hành đồng bộ, nhưng có nơi, có lúc trong thực tiễn vận dụng xuất hiện một số khó khăn, cùng tâm lý e ngại thay đổi trong một bộ phận cán bộ đã tạo ra khoảng trống để các thế lực thù địch lợi dụng. Chúng phát tán nhiều luận điệu thù địch trên các kênh truyền thông nước ngoài, trên các nền tảng xã hội, tập trung vào xuyên tạc chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa... Tất cả đều mang tính xuyên tạc, che giấu ý đồ chính trị thâm độc hòng phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, gây hoài nghi và dao động trong nội bộ và Nhân dân.

Trong bối cảnh nêu trên, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái càng trở nên cấp thiết, trở thành nhiệm vụ tổng thể của toàn hệ thống chính trị. Việc nhận diện đúng bản chất các luận điệu chống phá, đồng thời khẳng định vai trò cốt lõi của cải cách tổ chức bộ máy và đổi mới thể chế sẽ góp phần củng cố vững chắc niềm tin xã hội, tạo nền tảng ổn định chính trị để phát triển đất nước bền vững.

2- Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn, điều kiện tiên quyết để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng trong sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước; góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc cải cách, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, hoạt động hiệu quả. Việc giữ vững nền tảng tư tưởng này là yếu tố cốt lõi củng cố niềm tin, tạo đồng thuận trong Đảng và Nhân dân, đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của hệ thống chính trị, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số.

Đảng ta khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc yêu cầu người cách mạng: “Giữ chủ nghĩa cho vững”(1).

Từ khi thành lập, Đảng ta luôn nhất quán xác định việc bảo vệ Đảng là nhiệm vụ thường xuyên, gắn chặt với các mặt công tác xây dựng Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng, nhằm bảo đảm sự trong sạch và vững mạnh của chính mình. Ngay từ tháng 10-1930, Đảng đã khẳng định: “Giải thích cho công nhân mục đích và đường lối của Đảng Cộng sản... Giải thích cho họ rằng, Đảng Cộng sản là Đảng của họ, vì vậy họ cần phải bảo vệ Đảng”(2). Đến Đại hội III năm 1960, Điều lệ Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Giữ gìn bí mật của Đảng, của Nhà nước và luôn luôn cảnh giác với âm mưu phá hoại của kẻ địch”. Tinh thần xuyên suốt nêu trên tiếp tục được cụ thể hóa trong thời kỳ đổi mới, như Nghị quyết số 35-NQ/TW, khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Đặc biệt, cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã góp phần quan trọng trong việc củng cố nhận thức lý luận, bồi dưỡng niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là tài liệu lý luận có giá trị định hướng lâu dài, thể hiện rõ sự gắn bó giữa nền tảng tư tưởng và thực tiễn cải cách, phát triển đất nước.

Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thì nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp thiết. Các thế lực thù địch lợi dụng tiến trình này để đẩy mạnh xuyên tạc trên không gian mạng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ các chủ trương, như sáp nhập tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, phân cấp, phân quyền... hòng làm xói mòn niềm tin chính trị, gây chia rẽ nội bộ và kích động tâm lý gây bất ổn xã hội.

Cần nhận thức rõ: cải cách tổ chức bộ máy và hoàn thiện thể chế không chỉ phản ánh về năng lực lãnh đạo cầm quyền, mà còn là biểu hiện của bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược và đổi mới của Đảng. Đây là bước đi tất yếu để xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; là điều kiện giữ vững ổn định, nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy phát triển bền vững.

Thành công của công cuộc cải cách phụ thuộc rất lớn vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là “bức tường thành” trước các luận điệu xuyên tạc, đồng thời tạo nên sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Có thể khẳng định: bảo vệ nền tảng tư tưởng và cải cách bộ máy, thể chế là hai nhiệm vụ thống nhất, không thể tách rời. Sự vững vàng về tư tưởng chính trị là điều kiện tiên quyết để cải cách thành công, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững, vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

3- Khi chúng ta tích cực triển khai chủ trương cải cách quan trọng về tinh gọn tổ chức bộ máy và đổi mới thể chế, pháp luật, các thế lực thù địch, phản động đã gia tăng hoạt động xuyên tạc, chống phá. Chúng lợi dụng một số bất cập trong triển khai công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy, hòng gieo rắc tâm lý hoài nghi, chia rẽ niềm tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, xuyên tạc hòng làm sai lệch bản chất, mục tiêu cao đẹp của các quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

Đối tượng chống phá vô cùng đa dạng, phức tạp, như những kẻ chuyên xuyên tạc tư tưởng xã hội chủ nghĩa;  những kẻ phản động lưu vong; những phần tử bất mãn, cơ hội, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các nhóm này đều chung ý đồ phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng tung ra các luận điệu thâm độc sau:

Tấn công trực tiếp vào công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy, gây chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết, hòng làm giảm niềm tin vào công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Các luận điệu này xuất hiện trên các kênh truyền thông thù địch, đặc biệt là khi có quyết định sáp nhập đơn vị hành chính hoặc tổ chức bộ máy, tấn công vào cách thức triển khai công cuộc sắp xếp, vào công tác cán bộ, đi ngược lại với chủ trương xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Từ tinh thần Kế hoạch số 04-KH/BCĐ, ngày 13-11-2024, của Ban Chỉ đạo Trung ương, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Kết luận số 121-KL/TW, ngày 24-1-2025, của Ban Chấp hành Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, có thể thấy việc cải cách tổ chức bộ máy được tiến hành công khai, minh bạch, đúng quy trình, có thảo luận và lấy ý kiến công khai từ các cấp có thẩm quyền, chỉ rõ yêu cầu, mục đích, hướng đi của công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy. Kết luận số 121-KL/TW chỉ rõ: Trong quá trình thực hiện, phải bám sát các nguyên tắc của Đảng, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp luật và yêu cầu thực tiễn; đồng thời, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp; xác định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương; “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; tăng cường quyền tự chủ, tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị gắn với nâng cao trách nhiệm giải trình của người đứng đầu, kiểm soát quyền lực chặt chẽ; tổ chức theo nguyên tắc một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính...

Nghị quyết số 190/2025/QH15, ngày 19-2-2025, của Quốc hội, quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, do Quốc hội ban hành quy định rõ nguyên tắc xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, thể hiện rõ phương thức quản trị quốc gia theo hướng toàn diện, hiện đại, hiệu quả, gắn kết hoạt động trong nước và quốc tế, cụ thể là: Bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp và bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan; không để gián đoạn công việc, không để chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực, địa bàn; không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội, người dân, doanh nghiệp; bảo đảm không làm gián đoạn việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong việc tiếp cận thông tin, thực hiện các quyền, nghĩa vụ và các thủ tục theo quy định của pháp luật... Điều này hoàn toàn trái ngược với luận điệu của các thế lực thù địch vẫn rêu rao là liên quan đến động cơ phe phái cá nhân hay nhóm lợi ích.

Xuyên tạc về quá trình sắp xếp hợp nhất bộ máy, tinh giản biên chế hòng hướng lái người đọc vào góc nhìn khác, như “thay vỏ mà không thay ruột”, “gây khó khăn cho người lao động”.

Luận điệu thâm độc này nhằm đánh lận con đen giữa việc triển khai chủ trương, chính sách mới, bảo đảm đổi mới sáng tạo, tính đột phá, với việc khẳng định một cách không có căn cứ về việc sắp xếp tổ chức bộ máy không làm tăng hiệu lực, hiệu quả của bộ máy. Đơn cử như việc quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở đặc khu theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương được thông qua ngày 16-6-2025. Việc hình thành đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm xã, phường, đặc khu là bước đi thể hiện tầm nhìn mới trong bối cảnh hướng tới tăng quyền cho địa phương. Cụ thể, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở đặc khu không chỉ giới hạn ở nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương cấp xã, mà được mở rộng theo hướng trao quyền nhiều hơn cho địa phương: “Việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho chính quyền địa phương ở đặc khu trong các văn bản quy phạm pháp luật khác phải bảo đảm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan nhà nước tại địa phương, bảo đảm linh hoạt, chủ động ứng phó khi có sự kiện, tình huống đột xuất, bất ngờ xảy ra nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên các vùng biển, hải đảo, phát huy lợi thế, tiềm năng kinh tế biển, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm thu hút người dân sinh sống, bảo vệ và phát triển hải đảo”.

Lo ngại về việc làm của một bộ phận người lao động là không thể tránh khỏi trong thời gian đầu của việc sắp xếp tổ chức bộ máy. Đương nhiên, việc sắp xếp tổ chức bộ máy sẽ có khó khăn bước đầu. Điều này là không thể tránh khỏi với mọi bước đi mang tính đột phá. Thực tế cho thấy việc sắp xếp, tinh giản tổ chức bộ máy được thực hiện theo các nguyên tắc công bằng, khách quan, minh bạch. Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thỏa đáng đối với cán bộ, công chức, người lao động chịu ảnh hưởng(3). Đây cũng là bước đi cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, loại bỏ tư tưởng trì trệ, kém hiệu quả và tạo động lực đổi mới toàn diện hệ thống hành chính quốc gia.

Tấn công vào chủ trương cải cách thể chế, pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phân cấp, phân quyền.

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới chỉ rõ: Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vấn đề lớn, phức tạp, lâu dài; những vấn đề thực tiễn đòi hỏi, đã rõ, được thực tiễn chứng minh là đúng, có sự thống nhất cao thì kiên quyết thực hiện; những vấn đề chưa rõ, còn nhiều ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, thực hiện thí điểm khi cơ quan có thẩm quyền cho phép; những chủ trương đã thực hiện, nhưng không phù hợp thì nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi kịp thời. Điều này cho thấy tầm nhìn vượt trước của Đảng ta, việc Đảng ta dự liệu về tính phức tạp, lâu dài của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, đồng thời hướng đến bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong triển khai. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố cốt lõi, bảo đảm luôn đi đúng con đường xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi cho quá trình xây dựng, thi hành pháp luật và tư pháp, bảo đảm thượng tôn pháp luật và quyền làm chủ của Nhân dân. Các nghị định về phân quyền, phân cấp mới được Chính phủ ban hành gần đây(4) là minh chứng rõ ràng cho thấy sự cải cách thể chế đang được triển khai mạnh mẽ, hướng tới một nền hành chính hiện đại, hiệu quả.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn xảo trá, cài cắm các vấn đề tiềm ẩn nguy cơ gây mâu thuẫn xã hội, như việc xuyên tạc thành tựu của Đảng và Nhà nước Việt Nam về thực hiện dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, xuyên tạc Việt Nam “vi phạm quyền con người”, “không có tự do dân chủ thực chất”, thông qua lợi dụng sự phát triển của chuyển đổi số, AI, IoT, Big Data để tạo dựng dữ liệu giả mạo, mạo danh chuyên gia, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo.

Mục tiêu của chúng là gây hoang mang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy không mới, nhưng các thủ đoạn này được thực hiện ngày càng tinh vi, đặc biệt là trên không gian mạng, núp bóng cái gọi là “phân tích chuyên sâu”, “tài liệu mật” để tạo hiệu ứng tâm lý tiêu cực. Thực tế, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm đầy đủ các quyền cơ bản: tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận, lập hội.... Mọi hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Nhà nước đều bị xử lý nghiêm.

4- Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đập tan các luận điệu xuyên tạc, chống phá tinh vi trên không gian mạng, cần triển khai đồng bộ và toàn diện giải pháp. Trong đó, cần sớm nghiên cứu, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành một văn bản tầm quốc gia về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Văn bản này cần xác định rõ mục tiêu, tầm nhìn, lộ trình và các giải pháp tổng thể, đồng bộ, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ.

Trong thời gian tới, để thực hiện ngày càng tốt hơn công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, một số giải pháp sau nên được cân nhắc:

Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao bản lĩnh chính trị và nhận thức đúng đắn

Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu, đồng thời chủ động, tự giác và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái chống phá Đảng và Nhà nước. Nỗ lực toàn diện này sẽ tạo dựng nền tảng tư tưởng vững chắc, bảo vệ vững vàng “trận địa” tư tưởng của Đảng, là tiền đề quan trọng để đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đại hội XIII và các nghị quyết, kết luận của Trung ương Đảng, hướng tới thành công Đại hội XIV của Đảng.

Đẩy mạnh tuyên truyền chủ động, đa chiều về chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về cải cách tổ chức bộ máy và đổi mới thể chế. Làm rõ ý nghĩa, mục tiêu, kết quả đạt được cùng khó khăn mà chúng ta đã và đang vượt qua, nhằm tạo đồng thuận sâu rộng, củng cố niềm tin trong Nhân dân.

Xây dựng chương trình, tài liệu giáo dục lý luận chính trị hấp dẫn, dễ tiếp thu, phù hợp với từng đối tượng, đặc biệt là cán bộ cơ sở, thanh niên và các tầng lớp nhân dân. Mục tiêu là nâng cao bản lĩnh chính trị, nhận thức đúng đắn và khả năng cảnh giác trước luận điệu sai trái, thù địch.

Thường xuyên tổ chức diễn đàn, hội thảo khoa học, tọa đàm đối thoại, tranh biện để trao đổi, làm rõ quan điểm đúng đắn, phản bác quan điểm sai trái về mặt lý luận, góp phần xây dựng nền tảng vững chắc về tư tưởng chính trị và nâng cao năng lực lý luận.

Giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Đống Đa, thành phố Hà Nội _Ảnh: TTXVN

Hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối của cấp ủy, chính quyền các cấp, thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa các cơ quan tuyên giáo, báo chí, truyền thông, cơ quan bảo vệ pháp luật và các ngành liên quan. Điều này bảo đảm phát hiện sớm, phân tích chính xác và xử lý kịp thời thông tin sai trái, xuyên tạc.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, đặc biệt là khung pháp lý về quản lý không gian mạng: Tiếp tục rà soát, bổ sung quy định của Luật An ninh mạng; hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Nghị quyết số 203/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và tổ chức thực hiện tốt các nghị định về phân cấp, phân quyền đối với chính quyền địa phương hai cấp. Mục tiêu là tạo hành lang pháp lý chặt chẽ, đồng bộ, bảo đảm môi trường mạng lành mạnh, an toàn cho hoạt động tư tưởng - chính trị.

Đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực chuyên môn: Trang bị công nghệ hiện đại và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, an ninh mạng. Đào tạo chuyên sâu về công nghệ số, phân tích thông tin và kỹ năng phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái trên không gian mạng.

Nâng cao nhận thức và phát huy vai trò toàn xã hội: Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận diện rõ bản chất, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch; đồng thời, hiểu đúng và sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là trong công cuộc đổi mới, cải cách tổ chức bộ máy và thể chế, pháp luật. Lan tỏa thông tin tích cực, điển hình tiên tiến và thành tựu phát triển đất nước nhằm củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận xã hội.

Đổi mới phương thức đấu tranh, truyền thông: Sử dụng linh hoạt hình thức truyền thông số, phù hợp với từng đối tượng, nền tảng. Chủ động cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời phản bác thông tin sai lệch, tạo “động lực tinh thần” cho xã hội. Đồng thời, thường xuyên cập nhật xu hướng công nghệ, phương thức đấu tranh, hoàn thiện giải pháp, nâng cao hiệu quả và tính bền vững để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông hiện đại trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data): Nhằm phát hiện sớm, giám sát, phân tích chuyên sâu thông tin sai lệch, tin giả trên mạng xã hội và nền tảng truyền thông số, từ đó nâng cao hiệu quả phòng ngừa và phản ứng nhanh.

Xây dựng hệ thống “ngân hàng dữ liệu” và “cẩm nang phản bác” trực tuyến: Hệ thống này cần khoa học, linh hoạt, dễ cập nhật, cung cấp thông tin chính thống, chính xác, kịp thời và lập luận phản bác sắc bén, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân tra cứu, tiếp cận thông tin.

Phát triển đa dạng chương trình truyền thông số có tính tương tác cao: Thiết kế phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Sử dụng hình thức truyền thông sáng tạo, đa phương tiện để lan tỏa hiệu quả thông điệp chính thống, nâng cao nhận thức, kỹ năng phân biệt thông tin đúng/sai cho cộng đồng.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phòng, chống thông tin sai lệch, xuyên tạc

Chủ động, tích cực tham gia các diễn đàn, cơ chế hợp tác quốc tế về an ninh mạng và chống thông tin giả mạo. Trao đổi kinh nghiệm, phối hợp xử lý thách thức xuyên biên giới về thông tin xuyên tạc, tin giả, góp phần bảo vệ an ninh tư tưởng và chính trị không chỉ trong nước, mà còn ở khu vực và toàn cầu.

Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này đòi hỏi sự đồng lòng, quyết tâm cao và phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, toàn xã hội. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm công cuộc cải cách tổ chức bộ máy và đổi mới thể chế, pháp luật đạt hiệu quả thực chất, đồng thời giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo động lực phát triển bền vững đất nước./.

-------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 280
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 2, tr. 183
(3) Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV “Về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025”; Nghị định số 178/2024/NĐ-CP “Về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị” và Nghị định số 67/2025/NĐ-CP “Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31-12-2024 của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị” của Chính phủ...
(4) Toàn văn 28 nghị định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền giữa Chính phủ và chính quyền địa phương 2 cấp. https://baochinhphu.vn/toan-van-28-nghi-dinh-ve-phan-quyen-phan-cap-phan-dinh-tham-quyen-giua-chinh-phu-va-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-102250613104134297.htm