Tự chủ chiến lược về khoa học công nghệ - nhân tố cốt lõi trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước
TCCS - Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, sinh thời rất quan tâm đến vai trò của khoa học kỹ thuật (KHKT) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chiều dài của lịch sử, sự phát triển trong tư duy lý luận và quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực KHKT, khoa học công nghệ (KHCN) và ngày nay, mục tiêu chiến lược về tự chủ công nghệ ngày càng được hoàn thiện. Quan điểm về “tự chủ KHCN” phát triển từ việc tự vận hành thiết bị sang chiến lược chủ động “tiếp thu, hấp thụ, làm chủ” công nghệ tiên tiến để rút ngắn khoảng cách, tiến tới tự chủ trong các lĩnh vực chiến lược.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về KHKT không chỉ là một di sản quý báu mà còn mang giá trị định hướng chiến lược trong bối cảnh hiện nay. Tầm nhìn của Người về vai trò then chốt của KHKT trong sự nghiệp xây dựng đất nước được tiếp nối và nâng lên một tầm cao mới. Trước hết, Người coi khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp và là động lực của tiến bộ xã hội. Người viết: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao nǎng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi"(1). Người từng nói: “máy móc ngày càng tinh xảo, nếu không có trình độ vǎn hóa và kỹ thuật thì không thể điều khiển được"(2). Phân tích này cho thấy, đối với Người, tự chủ không phải là việc sở hữu cỗ máy, mà là có khả năng “điều khiển được” cỗ máy đó. Điều này đòi hỏi một yêu cầu tất yếu là phải “nâng cao trình độ kỹ thuật".
Bên cạnh đó, nền tảng trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khoa học chính là sự đề cao con người, nhất là đội ngũ trí thức. Người kế thừa quan điểm của ông cha ta: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước kém và suy, cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo việc gây dựng nhân tài, bồi đắp nguyên khí”. Người từng viết: “Kiến thiết cần có nhân tài"(3) và khẳng định rằng lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang. Từ đó, Người nhiều lần khẳng định rằng để xây dựng nước nhà, chúng ta càng ngày càng cần nhiều trí thức tốt. Đảng và Chính phủ cần quý trọng những người trí thức của nhân dân, vì nhân dân; “Đảng và Chính phủ vừa phải giúp đỡ cho thế hệ trí thức ngày nay càng ngày càng tiến bộ, vừa phải ra sức đào tạo thêm trí thức mới”, những trí thức “chính tâm và thân dân”(4). Quan điểm này đặt nền móng cho việc coi trọng đội ngũ trí thức khoa học, xem họ là hạt nhân của sự nghiệp tự chủ và phát triển.
Kế tục truyền thống coi trọng vai trò của trí thức, Hội nghị Trung ương 7 khóa X khẳng định, trong thời đại ngày nay, “đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng”(5) tạo nên sức mạnh của nước nhà. Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm khoa học không phải là mục đích tự thân, mà là công cụ để giải phóng sức lao động, nâng cao đời sống nhân dân và xây dựng đất nước hùng cường, đồng thời quan điểm của Người về “tự chủ” gắn liền với năng lực làm chủ của con người. Người cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng các thể chế, thiết chế khoa học, giáo dục và mở rộng giao lưu, hợp tác với nước ngoài, cho thấy một tư duy tự chủ, chủ động tiếp thu tinh hoa thế giới, chứ không phải là tự chủ khép kín, biệt lập.
Mục tiêu chiến lược về tự chủ công nghệ ngày càng được hoàn thiện
Kế thừa các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã có những bước chuyển tư duy mạnh mẽ về vai trò của KHKT, KHCN trong sự phát triển của đất nước. Trong giai đoạn đầu của cách mạng (1930 - 1954), các văn kiện của Đảng (Đại hội I năm 1935, Đại hội II năm 1951) tập trung vào nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là cách mạng giải phóng dân tộc. Do bối cảnh lịch sử và mục tiêu ưu tiên trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và giành độc lập, các vấn đề về phát triển KHKT chưa được ưu tiên trọng tâm. Sau khi đất nước thống nhất, Đại hội V (tháng 3-1982) đề ra các chủ trương xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. KHKT được nhấn mạnh trong bối cảnh này với trọng tâm là phát triển công nghiệp nặng và nông nghiệp. Sau năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đại hội III (1960) của Đảng xác định KHKT là một trong ba cuộc cách mạng (cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa); trong đó, cách mạng KHKT là “then chốt". Quan điểm này được tiếp tục khẳng định tại Đại hội IV (1976) với trọng tâm là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu, chủ yếu dựa vào sự viện trợ và chuyển giao công nghệ từ các nước xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn 1954 - 1975 (Đại hội III, IV), tư duy về KHKT mang tính tuyến tính và từ trên xuống. Đảng và Nhà nước xác định các mục tiêu kinh tế kế hoạch hóa (ví dụ: công nghiệp nặng) và KHKT được huy động như một công cụ để phục vụ các mục tiêu đã định sẵn đó. Chính cơ chế quản lý hành chính, bao cấp trong KHKT này đã tạo ra những rào cản lớn về tính chủ động và sáng tạo, mà sau này các nghị quyết thời kỳ đổi mới phải tập trung tháo gỡ.
Đại hội VI của Đảng (1986) khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, bao gồm cả “đổi mới tư duy” về KHKT, khi nhận thức rõ sự kìm hãm của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu. Quá trình này bắt đầu làm rõ chức năng quản lý nhà nước, tách bạch khỏi các hoạt động nghiên cứu, nhằm giải phóng năng lực sáng tạo. Tiếp đó, Đại hội VII (1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước, đặt nền móng lý luận quan trọng, xác định giáo dục và KHKT là “nền tảng và động lực” cho sự phát triển. Mười năm sau đổi mới, trước yêu cầu cấp bách của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Ban Chấp hành Trung ương (Khóa VIII) ban hành Nghị quyết số 02-NQ/HNTW (1996). Đây là văn kiện mang tính bước ngoặt, lần đầu tiên khẳng định mạnh mẽ “thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu” và gắn liền KHKT với giáo dục. Việc nâng KHKT và giáo dục lên tầm “quốc sách hàng đầu” định vị vai trò tối quan trọng của lĩnh vực này, tạo sự chính danh để ưu tiên đầu tư, đánh dấu sự chuyển dịch của KHKT từ vai trò “phục vụ” sang vai trò “nền tảng” của sự phát triển quốc gia.
Tiếp nối tư duy đó, Đảng nhận thức rõ, “quốc sách” không thể thành công nếu thiếu chủ thể thực hiện. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về “hiền tài", Nghị quyết số 27-NQ/TW (2008, khóa X) được ban hành, tập trung vào “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Khi đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và gia nhập WTO, một mô hình tăng trưởng mới dựa trên chất lượng trở nên cấp thiết. Đại hội XI của Đảng xác định phát triển KHKT là một trong ba đột phá chiến lược. Để cụ thể hóa, Nghị quyết số 20-NQ/TW (2012, khóa XI) ra đời, chính thức nâng tầm KHKT từ “quốc sách hàng đầu” lên thành một “đột phá chiến lược” của toàn bộ sự nghiệp phát triển. Quan điểm này được thể chế hóa ở mức độ cao nhất trong Hiến pháp 2013 (Điều 65): “Phát triển KHCN là quốc sách hàng đầu; KHCN giữ vai trò then chốt...". Cùng với đó, Luật KHKT 2013 được ban hành, cập nhật các quan điểm mới, bắt đầu nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp và manh nha các quy định về đổi mới sáng tạo.
Đại hội XIII (2021) của Đảng đánh dấu một bước phát triển vượt bậc trong tư duy, thể hiện qua sự thay đổi tinh tế về thuật ngữ. Báo cáo Chính trị đặt “thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng” lên hàng đầu. Sự xuất hiện của “đổi mới sáng tạo” ở vị trí ưu tiên cho thấy sự thay đổi căn bản, đó là KHKT tự nó là chưa đủ, mà chỉ có đổi mới sáng tạo mới là quá trình biến phát minh thành “giá trị thương mại” và “sức cạnh tranh” cho nền kinh tế. Chiến lược 2021 - 2030 cũng khẳng định “khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” là “động lực chính để tăng trưởng". Để thực hiện điều này, Đại hội XIII nhấn mạnh việc thay đổi căn bản về thể chế, chuyển từ “cơ chế” (các quy định riêng lẻ) sang “thể chế” (toàn bộ hệ thống pháp luật, quy tắc thị trường). Điều này cho thấy nhận thức phải “thay đổi cả hệ điều hành” chứ không chỉ “cài đặt thêm phần mềm". Đồng thời, chuyển đổi mô hình quản lý tài chính sang “đặt hàng, dựa vào kết quả cuối cùng” và lấy “doanh nghiệp làm trung tâm", đánh dấu sự thay đổi căn cốt về mặt lý luận so với các mô hình trước đây.
Thế giới đang bước vào một giai đoạn biến động sâu sắc, được định hình bởi những thay đổi mang tính thời đại, nơi KHCN không còn là yếu tố hỗ trợ mà trở thành động lực chính của tăng trưởng và là thước đo sức mạnh quốc gia. Trong bối cảnh đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo (AI) có bước phát triển đột phá và cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt. Đánh giá vấn đề này, tại dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV, Đảng ta khẳng định, đối với Việt Nam, đây vừa là thời cơ tốt nhất để bứt phá, vừa là thách thức mang tầm chiến lược khi nguy cơ tụt hậu vẫn còn hiện hữu, bắt nguồn từ năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế còn yếu và hạn chế khi chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi. Trước yêu cầu cấp bách của “kỷ nguyên vươn mình phát triển bứt phá, giàu mạnh, hùng cường”, việc xây dựng và thực thi tự chủ chiến lược về KHCN được xác định là “đột phá quan trọng hàng đầu". Đây không chỉ là khẩu hiệu, mà là một học thuyết phát triển toàn diện của Đảng ta trong thời gian tới. Sự thay đổi này không chỉ mang tính tiệm tiến mà là đột phá, với động lực chính là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là “khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo có bước phát triển đột phá”, như Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị nhận định, đây là “thời cơ tốt nhất” để Việt Nam, với tư cách là một quốc gia đi sau, có thể tận dụng các tiến bộ công nghệ để thực hiện các bước nhảy vọt, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước tiên tiến.
Chính vì thế, trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV, Đảng ta xác định tầm nhìn chiến lược cho đất nước trong “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Đây là thời điểm bản lề để Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thoát khỏi sự phụ thuộc vào các yếu tố truyền thống (như lao động giá rẻ, tài nguyên thô) và dựa vào các động lực mới là KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bên cạnh cơ hội, kỷ nguyên mới cũng đặt ra những thách thức chiến lược vô cùng gay gắt. Về đối ngoại, đó là “cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt". Cuộc cạnh tranh này không chỉ diễn ra giữa các cường quốc mà còn tác động trực tiếp đến mọi quốc gia, định hình lại chuỗi cung ứng toàn cầu, luật chơi kinh tế và cả an ninh quốc gia. Về nội tại, thách thức lớn nhất của Việt Nam, như Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam chỉ rõ, là “nguy cơ tụt hậu” vẫn còn rất lớn. Nguồn gốc sâu xa của nguy cơ này xuất phát từ “năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế còn yếu". Nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp. Hạn chế được Nghị quyết 57-NQ/TW thẳng thắn chỉ ra là “chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi".
Từ đó có thể thấy rõ, “nguy cơ tụt hậu” chính là hệ quả, là biểu hiện bên ngoài, trong khi “yếu kém về năng lực tự chủ chiến lược", nhất là tự chủ về KHCN, mới là nguyên nhân gốc rễ. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu, một quốc gia không tự chủ về công nghệ lõi sẽ không thể tự chủ về kinh tế, và tất yếu sẽ bị tụt hậu. Do đó, tự chủ chiến lược về KHCN không còn là một lựa chọn mà trở thành yêu cầu bắt buộc, là con đường tất yếu, là “đột phá quan trọng hàng đầu” và “động lực chính” để Việt Nam phá vỡ sự phụ thuộc, vượt qua thách thức và hiện thực hóa khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới của toàn dân tộc.
Phát triển toàn diện 5 trụ cột cơ bản
Tự chủ chiến lược về khoa học công nghệ là một học thuyết phát triển toàn diện, bao gồm năm nội hàm cơ bản, có quan hệ biện chứng, cấu thành một chiến lược tổng thể của quốc gia, đó là tự chủ, tự lực, tự cường, tự tin và tự hào.
Trụ cột thứ nhất là tự chủ - chuyển đổi từ chưa làm chủ sang trạng thái làm chủ công nghệ. Trụ cột này xác lập năng lực chủ động hoạch định chính sách, lựa chọn công nghệ và định hình lộ trình phát triển của đất nước, bảo đảm không bị phụ thuộc vào các thế lực bên ngoài, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược với quyết sách là chuyển đổi từ trạng thái "chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi" sang vị thế "làm chủ công nghệ" (theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW). Điều này đòi hỏi tự chủ khoa học công nghệ cần tập trung vào các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp bán dẫn, công nghệ lượng tử, thông tin di động 5G/6G và các công nghệ mới nổi khác, qua đó biến lợi thế đi sau thành lợi thế dẫn dắt trong một số phân khúc công nghệ mới, hướng tới tự cường để củng cố vị thế quốc gia trên trường quốc tế và tham gia định hình luật chơi trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trụ cột thứ hai là tự lực - xây dựng năng lực nội sinh làm nền tảng. Tự lực được định nghĩa là khả năng tự kiến tạo, nuôi dưỡng và phát huy toàn diện các yếu tố sản xuất của một quốc gia. Trong kỷ nguyên mới, các yếu tố quan trọng nhất chính là con người (nhân tài), chủ thể (doanh nghiệp) và cơ chế (thể chế). Trong đó, tự lực về con người là đột phá của mọi đột phá. Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định rõ yêu cầu xây dựng “nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài". Chiến lược này không chỉ tập trung vào giáo dục đại trà mà đặc biệt ưu tiên các ngành “khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ", đồng thời yêu cầu “nâng cao năng lực công nghệ, trí tuệ nhân tạo” ngay từ bậc phổ thông, bảo đảm nguồn cung nhân lực chiến lược. Trong tự lực về chủ thể kinh tế, nếu nhân tài là “hạt giống", thì doanh nghiệp là “mảnh đất” để hạt giống đó nảy mầm. Nghị quyết số 68-NQ/TW tạo ra sự thay đổi mang tính cách mạng, khi xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” và là “lực lượng tiên phong trong phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số", bao gồm cả việc làm chủ AI. Điều này thể hiện sự dịch chuyển chiến lược, coi doanh nghiệp tư nhân là chủ thể trung tâm của đổi mới. Tự lực về cơ chế, để kết nối “nhân tài” (Nghị quyết số 71-NQ/TW) với “chủ thể” (Nghị quyết số 68-NQ/TW). Dự thảo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đưa ra giải pháp “ban hành cơ chế, chính sách giao, đặt hàng khu vực tư nhân tham gia vào các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trọng điểm...” và “phát triển công nghiệp quốc phòng - an ninh”, đây là cầu nối để huy động nguồn lực tư nhân giải quyết các bài toán chiến lược quốc gia. Ba trụ cột này tạo thành một “tam giác chiến lược” không thể tách rời, kiến tạo năng lực nội sinh cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Trụ cột thứ ba là tự cường - nâng cao năng lực an ninh và sức mạnh quốc gia. Đây là khía cạnh an ninh và phòng thủ của tự chủ chiến lược. Nếu tự lực là xây dựng sức mạnh nội tại, thì tự cường là khả năng bảo vệ sức mạnh đó và bảo vệ chủ quyền quốc gia trong một thế giới đầy biến động. Trong kỷ nguyên mới, nội hàm tự cường hội tụ, đồng nhất giữa an ninh công nghệ, an ninh số, quốc phòng - an ninh và an ninh năng lượng. Tự cường trên không gian mạng là “yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời", đồng nghĩa với việc “bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng” và “an ninh dữ liệu". Bởi lẽ, trong kỷ nguyên số, dữ liệu là tài nguyên và không gian mạng là lãnh thổ. Tự cường về công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phải khắc phục bằng được hạn chế “chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi” với chủ trương phải “từng bước tự chủ về công nghệ", xác định rõ danh mục ưu tiên gồm trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp bán dẫn, IoT và 5G/6G. Đó là tự cường về an ninh quốc gia và năng lượng. Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam tiếp tục khẳng định mục tiêu “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ". Dự thảo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cũng cụ thể hóa điều này bằng các đề án chiến lược, bao gồm phát triển “công nghiệp quốc phòng, an ninh” theo hướng “tự lực, tự cường” và “lưỡng dụng” (vừa phục vụ quốc phòng, vừa phục vụ dân sinh), đồng thời bảo đảm “an ninh năng lượng” dài hạn thông qua việc khởi động lại các dự án chiến lược như “điện hạt nhân"… Sự hội tụ giữa an ninh và công nghệ là đặc điểm nổi bật nhất của nội hàm tự cường, trong đó an ninh quốc gia gắn kết chặt chẽ với an ninh công nghệ.
Trụ cột thứ tư là tự tin - khẳng định vị thế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Tự tin là sự chuyển hóa năng lực nội sinh (tự lực) và khả năng chống chịu (tự cường) thành vị thế và sức mạnh cạnh tranh thực tế trên trường quốc tế. Đây là bước chuyển chiến lược từ tư duy “tham gia” sang “chủ động tham gia” và “định hình luật chơi". Đó là tự tin trong cạnh tranh công nghệ. Sự tự tin này được đo lường bằng các mục tiêu định lượng đầy tham vọng, so sánh trực tiếp với quốc tế. Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phải “thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN” về nghiên cứu và phát triển AI, đồng thời sở hữu các “doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến". Tự tin trong cạnh tranh thể chế, theo đó, phải đưa “thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh” bằng cách xây dựng hệ thống pháp luật “tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến". Mục tiêu này được cụ thể hóa trong Dự thảo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đó là phấn đấu đến 2030, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam “thuộc nhóm 3 quốc gia hàng đầu của ASEAN”. Tự tin trong định hình luật chơi, chuyển dịch chiến lược từ “tham gia” sang “chủ động tham gia” và “định hình luật chơi” toàn cầu như Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam ghi nhận. Nghị quyết số 66-NQ/TW cũng yêu cầu Việt Nam phải “tham gia tích cực vào việc xây dựng thể chế và pháp luật quốc tế". Cải cách thể chế pháp lý theo chuẩn mực quốc tế (Nghị quyết số 66-NQ/TW) chính là điều kiện tiên quyết để thu hút các nguồn lực cần thiết cho tự lực (Nghị quyết số 71-NQ/TW) và tự cường (Nghị quyết số 57-NQ/TW), từ đó xây dựng sự tự tin về vị thế quốc gia.
Trụ cột thứ năm là tự hào - hiện thực hóa khát vọng và giá trị dân tộc. Tự hào là động lực tinh thần, là hệ giá trị và là mục tiêu tối thượng của tự chủ chiến lược. Nó kết nối di sản quá khứ ("trí tuệ Việt Nam") với các mục tiêu tương lai ("khát vọng dân giàu, nước mạnh,... sánh vai với các cường quốc năm châu"), biến các mục tiêu kinh tế - kỹ thuật thuần túy thành sứ mệnh của cả dân tộc. Đó là tự hào về trí tuệ Việt Nam với niềm tin vào năng lực nội sinh và giá trị con người. Nghị quyết số 57-NQ/TW nêu rõ quan điểm “phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam". Đây chính là nguồn lực tinh thần vô giá, được “khơi dậy” cùng với “tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc” để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển. Tự hào về khát vọng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, như Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam nhấn mạnh, trọng tâm trong thời gian tới là “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc". Khát vọng “phồn vinh, hạnh phúc” này không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà được định lượng hóa bằng các mục tiêu cụ thể, thể hiện sự giàu mạnh và hiện đại của quốc gia, như dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV khẳng định, “phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao (với GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP) và tới năm 2045, trở thành nước có thu nhập cao".
Năm nội hàm này tạo nên một vòng tuần hoàn chiến lược khép kín. “Tự hào” với khát vọng phồn vinh và niềm tin vào trí tuệ Việt Nam là động lực tinh thần khởi đầu, thúc đẩy hành động “tự chủ” đối với các hạ tầng nền tảng, trong đó có khoa học công nghệ; xây dựng “tự lực” đối với nhân tài, doanh nghiệp và “tự cường” đối với an ninh, công nghệ lõi. Khi có tự chủ chiến lược, năng lực nội sinh và khả năng chống chịu, Việt Nam sẽ có được sự “tự tin", có vị thế quốc tế, khả năng định hình luật chơi. Sự tự tin này sẽ giúp quốc gia đạt được các mục tiêu về mặt vật chất, biến khát vọng phồn vinh, hạnh phúc thành hiện thực. Khi đó, niềm “tự hào” dân tộc lại càng được củng cố, tạo ra động lực mới cho chu kỳ phát triển tiếp theo mà ở đó, tự chủ chiến lược về KHCN chính là trung tâm vận hành của vòng tuần hoàn này.
Đột phá về thể chế, thu hút nhân tài, làm chủ công nghệ
Để hiện thực hóa nội hàm của tự chủ chiến lược về KHCN, Việt Nam cần tập trung vào các giải pháp sau.
Một là, đột phá về thể chế. Đột phá về thể chế được xác định là “điều kiện tiên quyết” và “đột phá của đột phá", giữ vai trò then chốt nhằm giải quyết triệt để các “nút thắt, điểm nghẽn có tính hệ thống” đang cản trở hoạt động quản lý KHCN. Để thực hiện thành công, giải pháp hàng đầu là phải thay đổi căn bản tư duy quản lý, đòi hỏi sự dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” để chủ động chuyển sang tư duy “kiến tạo phát triển", tích cực “mở đường, khơi thông mọi nguồn lực". Song song đó, việc cấp thiết là tập trung xây dựng và hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các lĩnh vực công nghệ mới, phi truyền thống như AI, chuyển đổi số, công nghệ tài chính, dữ liệu lớn và tài sản mã hóa. Một trụ cột quan trọng khác là xây dựng cơ chế chính sách chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu, cụ thể là kiến nghị ban hành “chính sách miễn trừ trách nhiệm” đối với các thử nghiệm công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới khi xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan, không tư lợi. Hỗ trợ tinh thần này, cần sớm triển khai cơ chế thử nghiệm (sandbox) linh hoạt, chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm", đồng thời phải giao “quyền tự chủ” đầy đủ, toàn diện về tổ chức, nhân sự, tài chính và chuyên môn cho các tổ chức KHCN và cơ sở giáo dục đại học công lập, một cách thực chất và không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính.
Hai là, giải pháp về nguồn nhân lực và thu hút nhân tài được xác định là một trong những “nội dung trọng tâm, cốt lõi” để giải quyết dứt điểm những hạn chế về nhân lực. Cần thực hiện “đột phá phát triển giáo dục và đào tạo” ngay trong nước. Đột phá này được cụ thể hóa bằng việc tái cơ cấu mạnh mẽ, tập trung đào tạo các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ, phấn đấu đạt ít nhất 35% người học theo đuổi các lĩnh vực then chốt này, như dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV nêu. Các mục tiêu định lượng đến 2030 cũng được đề xuất, bao gồm đào tạo ít nhất 6.000 nghiên cứu sinh và 20.000 người học chương trình tài năng. Cùng với nỗ lực đào tạo trong nước, các văn kiện thống nhất cao về sự cấp thiết phải “xây dựng cơ chế đặc thù” và “có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài". Những cơ chế này cần vượt khỏi khuôn khổ thông thường, đặc biệt là kiến nghị ban hành “chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo". Hơn nữa, để tạo đà bứt phá hội nhập, cần trao quyền “tự quyết định” đầy đủ cho các cơ sở giáo dục đại học, cho phép họ chủ động “tuyển dụng, thuê giảng viên, bổ nhiệm nhân tài từ nước ngoài” một cách linh hoạt, phù hợp thông lệ quốc tế.
Ba là, huy động nguồn lực và xác định các chủ thể trong tự chủ chiến lược về KHCN. Chiến lược mới về huy động nguồn lực và xác định chủ thể mang đến một sự thay đổi căn bản, chuyển trọng tâm từ việc chỉ dựa vào đầu tư công sang huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, đặc biệt là từ khu vực tư nhân. Bước đi này khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” và được xác định là “lực lượng tiên phong trong phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số". Để hiện thực hóa vai trò này, một trong những giải pháp đột phá nhất được kiến nghị là cơ chế “nhà nước đặt hàng". Theo đó, cần “ban hành cơ chế, chính sách giao, đặt hàng khu vực tư nhân” tham gia thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trọng điểm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia. Đáng chú ý, cơ chế này còn được đề xuất mở rộng cho cả lĩnh vực “phát triển công nghiệp quốc phòng - an ninh", cho thấy sự tin tưởng và giao phó trách nhiệm lớn lao. Về mặt tài chính, để tạo bệ đỡ cho các nỗ lực này, Nhà nước cần hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên biệt, tập trung nguồn vốn cho khởi nghiệp sáng tạo, ươm tạo công nghệ và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số.
Bốn là, làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, “tiến tới tự lực, tự chủ, tự cường về KHCN", nhằm khắc phục triệt để tình trạng “chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi” hiện nay. Để thực hiện được mục tiêu tham vọng này, giải pháp tập trung vào hai trụ cột chính. Thứ nhất, chiến lược đặt mục tiêu “từng bước làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ số” được xem là then chốt của tương lai, bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), công nghiệp bán dẫn, công nghệ lượng tử và thông tin di động thế hệ 5G/6G thông qua “cơ chế đặc biệt trong nghiên cứu, tiếp cận, mua các công nghệ, học hỏi các công nghệ tiên tiến của nước ngoài", cho thấy một cách tiếp cận thực dụng để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách công nghệ. Bên cạnh đó, để tạo nền tảng vật chất kỹ thuật vững chắc cho toàn bộ nỗ lực tự chủ, giải pháp yêu cầu phải “xây dựng, hoàn thiện hạ tầng số” quốc gia một cách mạnh mẽ, đồng thời “phát triển đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, trung tâm dữ liệu lớn” phục vụ cho quá trình phát triển đất nước./.
---------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 1996, tr. 77-78.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2011, t.4, tr. 50.
(3)Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2011, t.10, tr. 378.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 1996, t.8, tr. 214, 216.
(5) Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06-8-2008, “về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.
Ban Chủ nhiệm Chương trình Khoa học và công nghệ đặc biệt cấp quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 họp phiên thứ nhất  (21/05/2026)
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì họp chuyên đề về công nghệ chiến lược của Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số  (18/03/2026)
Cơ chế, chính sách đột phá để phát triển công nghệ chiến lược ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới  (16/01/2026)
Khai mạc Hội nghị Bộ trưởng số ASEAN (ADGMIN) lần thứ sáu  (15/01/2026)
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- An ninh phi truyền thống trong bối cảnh toàn cầu: Thách thức và định hướng chính sách của Việt Nam hiện nay
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Hoạt động của lãnh đạo đảng và nhà nước
Hội nghị công bố thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031 -
Hoạt động của lãnh đạo đảng và nhà nước
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính: Chuyển từ “gánh nặng già hóa” sang “cơ hội phát triển kinh tế” -
Hoạt động của lãnh đạo đảng và nhà nước
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương -
Hoạt động của lãnh đạo đảng và nhà nước
Lễ trao Giải thưởng Sách quốc gia 2025: Tôn vinh các tác phẩm có giá trị cao