Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị - Định hướng chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
05:00, ngày 20-02-2026
TCCS - Đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với yêu cầu cấp thiết phải phát huy cao hơn nữa vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững. Ngày 7-1-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, thể hiện bước phát triển về tư duy lý luận và phương thức lãnh đạo của Đảng ta trong lĩnh vực văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển xứng tầm với nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới; xác định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc.
Tổng Bí thư Tô Lâm chúc tết Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội, ngày 16-2-2026 _Ảnh: TTXVN
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu đối với phát triển văn hóa đã có sự chuyển biến căn bản cả về tư duy lẫn phương thức tiếp cận. Văn hóa vừa phải bảo tồn, giữ gìn bản sắc, đồng thời phải thực sự trở thành trụ cột phát triển, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước. Tuy nhiên, những hạn chế, bất cập trong phát triển văn hóa, nhất là về thể chế, nguồn lực, môi trường và không gian phát triển ngày càng bộc lộ rõ; công nghiệp văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế; chênh lệch về mức độ tiếp cận và thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, nhóm xã hội khá lớn..., đặt ra nhiều thách thức đối với mục tiêu phát triển hài hòa và bền vững.
Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các nghị quyết, kết luận, chuyên đề trước đó, đồng thời tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” mang tính cấu trúc trong phát triển văn hóa, nhất là về thể chế, nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển mới cho nền văn hóa Việt Nam. Điểm nổi bật của Nghị quyết số 80-NQ/TW là sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy phát triển, thể hiện ở việc khẳng định vai trò trụ cột của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia, coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững, cho tương lai của dân tộc.
Cơ sở lý luận và thực tiễn ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam
Văn hóa trong tư duy lý luận của Đảng qua các thời kỳ
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao, coi trọng vị trí, vai trò, sức mạnh nội sinh của văn hóa; đặt văn hóa trong mối quan hệ hữu cơ với nhiệm vụ cách mạng, coi văn hóa là một mặt trận và xác lập những nguyên tắc nền tảng có ý nghĩa khai mở, có giá trị định hướng lâu dài cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam.
Trải qua các giai đoạn lịch sử, từ kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước đến thời kỳ hòa bình, độc lập, xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, đường lối văn hóa của Đảng tiếp tục được bổ sung, phát triển theo hướng toàn diện, gắn xây dựng văn hóa với xây dựng con người, phát triển kinh tế - xã hội và củng cố nền tảng tinh thần xã hội, khẳng định nhất quán vai trò trung tâm của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước.
Trong hệ thống lý luận của Đảng, văn hóa luôn được xác định là lĩnh vực có vị trí đặc biệt quan trọng, gắn bó hữu cơ với chính trị và kinh tế, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) đã đặt nền móng cho tư duy lý luận của Đảng về văn hóa với ba nguyên tắc cốt lõi: dân tộc, khoa học, đại chúng; quan điểm coi “mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận” nhấn mạnh yêu cầu tiến hành đồng thời cách mạng chính trị và cách mạng văn hóa, cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phong trào văn hóa, đã thể hiện tư duy lý luận tiến bộ và có giá trị khai mở đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam.
Trong thời kỳ đổi mới, tư duy của Đảng về văn hóa tiếp tục được phát triển theo hướng toàn diện và hiện đại hơn. Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… đã từng bước làm rõ vai trò của văn hóa và con người Việt Nam trong chiến lược phát triển đất nước, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; coi con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là mục tiêu cao nhất của phát triển, đồng thời khẳng định yêu cầu kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa. Tại Đại hội XIII, tư duy lý luận của Đảng về văn hóa tiếp tục được nâng lên một tầm cao mới: phát triển văn hóa, con người là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Lần đầu tiên Đảng đặt ra một cách có hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn và phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, cách tiếp cận đối với đầu tư cho văn hóa, cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực, cũng như mô hình quản trị văn hóa vẫn còn chưa thực sự đồng bộ, chưa tương xứng với vai trò, vị trí của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nâng tầm văn hóa không chỉ là lĩnh vực xã hội - tinh thần mà là trụ cột phát triển, gắn kết chặt chẽ phát triển văn hóa với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thực tiễn phát triển văn hóa và những “điểm nghẽn” đang đặt ra
Thực tiễn phát triển văn hóa Việt Nam những năm qua cho thấy, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa đã từng bước được thể chế hóa và tổ chức thực hiện, đạt nhiều kết quả quan trọng: Tư duy và nhận thức về vai trò của văn hóa tiếp tục có những bước phát triển mới; thể chế, chính sách được quan tâm, từng bước hoàn thiện; nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa được tăng cường; công nghiệp văn hóa trên đà phát triển; các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội, khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; hội nhập quốc tế về văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín, “sức mạnh mềm” của quốc gia.
Tuy nhiên, sự nghiệp phát triển văn hóa vẫn đang bộc lộ những hạn chế, bất cập. Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa ở một số cấp, ngành và địa phương tuy đã được cải thiện nhưng chưa thực sự đầy đủ, chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra trong bối cảnh phát triển mới. Trong thực tiễn hoạch định và thực thi chính sách, văn hóa nhiều khi vẫn bị xem là lĩnh vực “hậu cần”, chưa được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị; mối quan hệ giữa phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội chưa được xử lý hài hòa, dẫn đến tình trạng coi trọng tăng trưởng kinh tế trước mắt, trong khi đầu tư cho văn hóa còn dàn trải, thiếu trọng tâm, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và chưa tạo được cơ chế huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội.
Quá trình thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về văn hóa thành hệ thống pháp luật, chính sách cụ thể còn chậm, thiếu đồng bộ và chưa theo kịp những biến đổi nhanh chóng của đời sống xã hội, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Cơ chế, chính sách hiện hành chưa thực sự khơi dậy và phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân, đội ngũ trí thức và văn nghệ sĩ; chưa hình thành được môi trường và hệ sinh thái văn hóa thuận lợi để nuôi dưỡng, lan tỏa các giá trị tiến bộ, nhân văn, sáng tạo.
Ở một số nơi, môi trường văn hóa chưa thực sự lành mạnh; các chuẩn mực đạo đức, lối sống có mặt bị xói mòn. Một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đứng trước nguy cơ xuống cấp, mai một, trong khi công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản còn thiếu tính tổng thể, thiếu gắn kết chặt chẽ với phát triển bền vững và sinh kế của cộng đồng. Công nghiệp văn hóa và công nghiệp giải trí tuy được xác định là lĩnh vực có tiềm năng lớn, song phát triển chưa tương xứng với lợi thế, chưa trở thành ngành kinh tế quan trọng; năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ văn hóa Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế còn hạn chế, chưa hình thành được nhiều thương hiệu văn hóa có sức lan tỏa mạnh.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự bùng nổ của các nền tảng số xuyên biên giới, văn hóa Việt Nam đang đứng trước những thách thức mới, phức tạp và đa chiều hơn. Sự xâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm, giá trị và mô hình văn hóa ngoại lai, cùng với sự thay đổi nhanh chóng của không gian truyền thông, phương thức tiếp nhận và tương tác văn hóa, đang đặt ra những vấn đề cấp bách trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng các hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Trong bối cảnh đó, nếu thiếu một tầm nhìn chiến lược dài hạn và các giải pháp đồng bộ, kịp thời, nguy cơ “hòa tan” văn hóa, lệch chuẩn giá trị và suy giảm “sức đề kháng” văn hóa không chỉ là khả năng tiềm ẩn mà có thể trở thành thách thức hiện hữu đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Những hạn chế và thách thức trên cho thấy các “điểm nghẽn” trong phát triển văn hóa hiện nay không chỉ là vấn đề nguồn lực hay cơ chế quản lý đơn lẻ, mà phản ánh yêu cầu cấp thiết phải có một tầm nhìn chiến lược mới, đồng bộ và mang tính đột phá trong tư duy phát triển văn hóa; đột phá trong hành động nhằm tháo gỡ những nút thắt căn bản, giải phóng và phát huy mạnh mẽ nguồn lực văn hóa. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ra đời vừa đáp ứng yêu cầu tất yếu của thực tiễn, vừa thể hiện bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng về văn hóa.
Sân khấu hát bội giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện đại _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn
Đổi mới tư duy và nội dung đột phá trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
Đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước
Nghị quyết thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về văn hóa, trước hết ở việc đổi mới nhận thức một cách căn bản, toàn diện về vị trí, vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia. Nếu trong các nghị quyết trước đây, văn hóa chủ yếu được nhấn mạnh với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, thì ở Nghị quyết số 80-NQ/TW, văn hóa được đặt vào vị trí nền tảng, động lực then chốt, trụ cột phát triển, hệ điều tiết quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm của đời sống xã hội, thấm sâu vào mọi lĩnh vực phát triển, trở thành “sức mạnh mềm” của quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Phát triển văn hóa gắn chặt với xây dựng con người Việt Nam toàn diện trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Sự nghiệp phát triển văn hóa là của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng; đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai và phát triển bền vững của dân tộc.
Một điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng là việc Nghị quyết lần đầu tiên xác định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc và được đặt ở tầm quan điểm chỉ đạo chiến lược. Tại các nghị quyết chuyên đề về văn hóa trước đây, vấn đề đầu tư chủ yếu được đề cập tại nhiệm vụ, giải pháp. Đến Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc khẳng định quan điểm chỉ đạo chiến lược: “Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hóa, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt; nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế đóng vai trò then chốt, nhất là cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho văn hóa, thu hút, trọng dụng nhân tài. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa”; triển khai cụ thể vấn đề đầu tư cho văn hóa trong các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cho thấy sự chuyển biến quan trọng từ nhận thức đến hành động, khắc phục tình trạng coi đầu tư cho văn hóa chủ yếu là chi tiêu xã hội, phúc lợi, để xác định đó là đầu tư phát triển, đầu tư cho năng lực cạnh tranh và “sức mạnh mềm” quốc gia.
Về mục tiêu, tầm nhìn phát triển văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW bám sát mục tiêu chung của đất nước đến năm 2030 và năm 2045, đặc biệt là tầm nhìn về nền văn hóa xứng tầm với một quốc gia phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”, đồng bộ với các nghị quyết mới; trong đó, vừa có mục tiêu tổng quát cho từng giai đoạn, vừa có một số chỉ tiêu cụ thể được lượng hóa, làm cơ sở đánh giá, đo lường, điều chỉnh đặt trong bối cảnh mới và thể hiện rõ mục tiêu cụ thể của phát triển văn hóa.
Kế thừa nhất quán các quan điểm đã được xác lập trong các nghị quyết trước đây của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW tiếp tục khẳng định văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, điểm mới của Nghị quyết là cách tiếp cận mang tính mở và kiến tạo hơn, nhấn mạnh yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa; phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm và sức sáng tạo của các chủ thể văn hóa trong toàn xã hội. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần khắc phục những hạn chế về nguồn lực và cơ chế vận hành đã được chỉ ra trong thực tiễn, mà còn phản ánh sự điều chỉnh tư duy phù hợp với yêu cầu phát triển văn hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số ngày càng sâu sắc.
Như vậy, Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ bổ sung thêm các nội dung mới mà quan trọng hơn là định hình lại cách tiếp cận đối với phát triển văn hóa, coi văn hóa là một cấu phần trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia.
Các nội dung mới, mang tính đột phá so với các nghị quyết trước của Đảng
Thứ nhất, dấu ấn quan trọng nhất của Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện ở sự phát triển về nhận thức và định hướng hành động quyết liệt, khi văn hóa và con người được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển, qua đó tạo nền tảng tư tưởng cho đổi mới mô hình tăng trưởng. Văn hóa được khẳng định không chỉ là lĩnh vực tinh thần, mà còn là một thành tố cấu thành sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc xây dựng văn hóa và con người chỉ có thể đạt hiệu quả thực chất khi được tích hợp trực tiếp vào tư duy quản trị phát triển, gắn việc thực hiện các mục tiêu chiến lược và định hướng lớn với hệ thống thể chế, cơ chế và chính sách đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực thi. Văn hóa được nhận diện rõ ràng hơn trong mối liên hệ chặt chẽ với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại, xây dựng thương hiệu quốc gia, hệ sinh thái văn hóa mang bản sắc Việt Nam.
Trên nền tảng nhận thức đó, Nghị quyết xác định rõ yêu cầu xây dựng và triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa (dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học), hệ giá trị quốc gia (hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc), hệ giá trị gia đình (ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh), chuẩn mực con người Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo). Nếu các văn kiện trước đây chủ yếu dừng lại ở yêu cầu nghiên cứu, xây dựng, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt trọng tâm vào tổ chức triển khai đồng bộ, gắn kết chặt chẽ các hệ giá trị này với đời sống xã hội.
Thứ hai, Nghị quyết nhấn mạnh người dân là trung tâm trong thụ hưởng và sáng tạo văn hóa, bảo đảm đầy đủ quyền tiếp cận, quyền thụ hưởng và quyền sáng tạo văn hóa của nhân dân, hướng tới thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, nhóm xã hội, đặc biệt quan tâm đến các nhóm yếu thế. Cách tiếp cận này thể hiện rõ tư duy phát triển lấy con người làm trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển văn hóa.
Thứ ba, Nghị quyết đặt trọng tâm giải phóng sức sáng tạo văn hóa, coi đây là khâu đột phá để phát triển văn học, nghệ thuật và các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí. Điểm mới không chỉ nằm ở việc khẳng định quyền tự do sáng tạo, mà còn thể hiện qua yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách để khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tiềm năng sáng tạo của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và các chủ thể sáng tạo trong xã hội, tạo ra các tác phẩm, sản phẩm văn hóa có giá trị cao, xứng tầm với nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thứ tư, Nghị quyết lần đầu tiên tiếp cận phát triển văn hóa theo hướng xây dựng hệ sinh thái văn hóa, gắn kết chặt chẽ văn hóa với các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đây là bước phát triển mới trong tư duy, vượt ra khỏi cách tiếp cận đơn ngành, cục bộ, hướng tới sự phát triển cộng sinh, bền vững giữa văn hóa và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Thứ năm, Nghị quyết đề cập một cách toàn diện mối quan hệ giữa không gian văn hóa thực và không gian văn hóa số, coi đây là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hình thành xã hội số và kinh tế số. Việc xây dựng quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số, nâng cao năng lực thẩm mỹ cho người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, thể hiện tư duy chủ động, thích ứng với những biến đổi sâu sắc của đời sống văn hóa trong thời đại số.
Thứ sáu, Nghị quyết đặt ra yêu cầu định vị và phát triển các sản phẩm văn hóa mang thương hiệu quốc gia, đẩy mạnh xuất khẩu văn hóa, góp phần xây dựng và gia tăng “sức mạnh mềm” quốc gia. Nghị quyết đã có bước tiến quan trọng, chuyển từ quảng bá đơn thuần sang phát triển có chiến lược các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có giá trị gia tăng cao.
Thứ bảy, Nghị quyết tiếp cận tài nguyên văn hóa theo hướng toàn diện và hiện đại hơn, coi di sản văn hóa là trung tâm và tài nguyên văn hóa số là thế mạnh mới; đặt vấn đề gắn bảo tồn với phát triển bền vững, qua đó biến di sản thành tài sản, đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Thứ tám, Nghị quyết đề ra chủ trương tập trung phát triển có trọng tâm, trọng điểm một số lĩnh vực công nghiệp văn hóa có lợi thế cạnh tranh, hình thành các tập đoàn công nghiệp văn hóa, các tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc gia và quốc tế, hoàn thiện hạ tầng văn hóa quốc gia (bao gồm hạ tầng thiết chế, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số), tạo nền tảng cho phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ chín, Nghị quyết xác định một số chương trình, đề án trọng điểm nhằm cụ thể hóa các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược, bảo đảm tính khả thi và tính hành động cao trong tổ chức thực hiện. Việc xác định rõ các chương trình, đề án trọng điểm ngay trong Nghị quyết thể hiện tư duy chỉ đạo quyết liệt, gắn chặt giữa hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện.
Đại sứ Pháp tại Việt Nam trải nghiệm viết thư pháp tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám _Nguồn: nhandan.vn
Những định hướng lớn về nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa trong giai đoạn mới
Một là, đột phá về thể chế, quản trị và nguồn lực cho phát triển văn hóa.
Một trong những định hướng đột phá quan trọng của Nghị quyết số 80-NQ/TW là yêu cầu đổi mới căn bản thể chế, cơ chế, chính sách và mô hình quản trị văn hóa theo hướng kiến tạo phát triển, lấy hiệu quả và tính bền vững làm thước đo. Nghị quyết nhấn mạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, văn học, nghệ thuật và công nghiệp văn hóa theo hướng đồng bộ, hiện đại, tạo môi trường thuận lợi để khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa.
Điểm mới có ý nghĩa chiến lược là việc chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang tư duy “quản trị” văn hóa, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, gắn với việc xây dựng và công khai minh bạch các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình quản lý. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa, mà còn tạo điều kiện giải phóng sức sáng tạo của các chủ thể văn hóa trong khuôn khổ pháp luật và chuẩn mực xã hội.
Cùng với đó, Nghị quyết đặt ra yêu cầu bảo đảm nguồn lực đầu tư tương xứng cho phát triển văn hóa, coi đây là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa vai trò trụ cột của văn hóa trong phát triển đất nước. Xác định tỷ lệ chi ngân sách cho văn hóa bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa, ưu tiên các thiết chế văn hóa quy mô quốc gia ngang tầm khu vực và quốc tế. Đồng thời đẩy mạnh các mô hình hợp tác công - tư, xã hội hóa đầu tư văn hóa, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ trong huy động và sử dụng nguồn lực, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả trong thời gian qua.
Hai là, trọng tâm xây dựng con người, môi trường văn hóa và hệ sinh thái văn hóa.
Nghị quyết xác định xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là mục tiêu trung tâm, xuyên suốt của phát triển văn hóa. Trên cơ sở triển khai đồng bộ các hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, hiện đại, trong đó các giá trị tốt đẹp của dân tộc được bồi đắp, lan tỏa và trở thành nền tảng cho sự phát triển bền vững xã hội.
Một điểm nhấn quan trọng là yêu cầu xây dựng “thế trận văn hóa” gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh gay gắt về giá trị, ảnh hưởng văn hóa. Văn hóa được xác định không chỉ là “sức mạnh mềm”, mà còn là “lá chắn tinh thần”, góp phần nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những tác động tiêu cực, lệch chuẩn và các biểu hiện xâm nhập văn hóa không phù hợp.
Bên cạnh đó, Nghị quyết tiếp cận phát triển văn hóa theo hướng xây dựng hệ sinh thái văn hóa, coi người dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là trung tâm thụ hưởng các giá trị và thành quả văn hóa. Việc gắn kết chặt chẽ văn hóa với giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, kinh tế, môi trường và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội tạo nền tảng cho sự phát triển cộng sinh, bền vững, qua đó khẳng định vai trò điều tiết và dẫn dắt của văn hóa trong phát triển quốc gia.
Ba là, phát triển công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế về văn hóa.
Nghị quyết xác định phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là một trong những hướng đột phá quan trọng để đưa văn hóa trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Trọng tâm của định hướng này là việc hình thành và phát triển các chuỗi giá trị văn hóa - sáng tạo dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, từ khâu sáng tạo, sản xuất đến phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa.
Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong sáng tạo, sản xuất và phân phối văn hóa không chỉ mở rộng không gian phát triển văn hóa Việt Nam, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa trên thị trường khu vực và quốc tế. Đồng thời, Nghị quyết đặt ra yêu cầu xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia và các nền tảng số dùng chung, tạo nền tảng cho sự phát triển đồng bộ, hiện đại của văn hóa.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, gắn phát triển văn hóa với xây dựng và lan tỏa thương hiệu quốc gia. Việc xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa mang bản sắc Việt Nam cùng với triển khai chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới được xác định là giải pháp quan trọng nhằm gia tăng “sức mạnh mềm” quốc gia, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh mạnh mẽ về giá trị, ảnh hưởng của văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW có ý nghĩa như một tuyên ngôn chính trị - văn hóa, thể hiện quyết tâm của Đảng trong phát huy sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam, xây dựng hệ giá trị bền vững, củng cố nền tảng tinh thần của xã hội, gia tăng “sức mạnh mềm” quốc gia. Việc tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nghiệp và toàn xã hội. Chỉ khi các quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Nghị quyết được cụ thể hóa bằng chương trình, kế hoạch hành động thiết thực, với tinh thần đổi mới, sáng tạo và quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, văn hóa Việt Nam mới thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nguồn lực nội sinh, ngọn đuốc soi đường và động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.