Sắc lệnh số 65/SL: Thông điệp thời đại từ một văn kiện văn hóa - pháp lý
TCCS - Ngày 23-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 65/SL về việc bảo tồn cổ tích trong toàn quốc. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt nền móng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Dù chỉ 6 điều ngắn gọn, Sắc lệnh đã thể hiện tầm nhìn sâu sắc và tiến bộ: coi di sản văn hóa là cội nguồn của dân tộc, là nền tảng tinh thần không thể tách rời trong sự nghiệp kiến thiết đất nước độc lập, tự do.
Hình thành khung tư tưởng - pháp lý cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa
Mùa thu năm 1945, Việt Nam vừa giành lại độc lập sau gần một thế kỷ bị đô hộ. Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời giữa muôn vàn khó khăn: thù trong giặc ngoài, nạn đói và nạn dốt hoành hành, nền kinh tế kiệt quệ. Giữa hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, nhiều di tích lịch sử, đình chùa, thành quách, lăng tẩm bị tàn phá hoặc có nguy cơ bị mai một theo thời gian. Với tầm nhìn chiến lược và ý thức sâu sắc về vai trò của văn hóa trong công cuộc dựng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời dành sự quan tâm đặc biệt cho việc bảo tồn di sản dân tộc. Với Sắc lệnh số 65/SL, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt viên gạch đầu tiên cho công tác bảo tồn di sản Việt Nam - một tầm nhìn vượt thời gian, hướng về tương lai của dân tộc. Có thể nói, Sắc lệnh số 65/SL là một quyết định thể hiện bản lĩnh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ nhưng đã biết trân trọng và bảo vệ “hồn cốt” của mình.
Sắc lệnh số 65/SL là một văn bản có cấu trúc chặt chẽ, phản ánh đầy đủ những nội dung cốt lõi của công tác bảo tồn di sản văn hóa. Từng điều khoản ngắn gọn cho thấy một hệ thống tư duy thống nhất: từ nhận thức về tầm quan trọng của di sản đến tổ chức bộ máy, thiết lập cơ sở pháp lý, bảo đảm nguồn lực và trách nhiệm thực thi.
Ngay ở phần mở đầu, Sắc lệnh xác định rõ vị trí và ý nghĩa của công tác bảo tồn trong công cuộc kiến thiết quốc gia: “Xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”(1). Ở đây, “cổ tích” không mang nghĩa là một thể loại văn học dân gian, mà được hiểu theo phạm vi pháp lý đương thời là toàn bộ các di sản vật chất có giá trị lịch sử, tôn giáo, mỹ thuật và khảo cổ - tức là những dấu tích vật chất của nền văn hóa dân tộc cần được gìn giữ. Cụm từ “rất cần” thể hiện mức độ cấp thiết của việc bảo vệ tài sản do các thế hệ đi trước để lại. Trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, việc đặt “bảo tồn cổ tích” song hành cùng các nhiệm vụ phục hưng đất nước cho thấy tầm nhìn chiến lược của Chính phủ lâm thời: coi di sản không chỉ là quá khứ, mà là nền tảng tinh thần của tương lai. Đây cũng là biểu hiện sớm của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa: văn hóa là hồn cốt dân tộc, là sức mạnh nội sinh của độc lập.
Từ nhận thức đó, Sắc lệnh chuyển sang xác lập thiết chế chịu trách nhiệm thực thi. Điều 1 của Sắc lệnh quy định: “Đông phương Bác cổ học viện (Vietnam Oriental Institute) có nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam”. Điều 2 nhấn mạnh: “Đông phương Bác cổ học viện từ nay sẽ thay thế Pháp quốc Viễn đông Bác cổ học viện (Ecole Francaise d’ Extrême-Orient)”(2). Hai điều khoản này không chỉ là quy định hành chính, mà còn là tuyên bố chủ quyền văn hóa đầu tiên của nhà nước cách mạng. Quyền nghiên cứu, bảo tồn và quản lý di sản chính thức trở lại trong tay người Việt Nam, thay cho cơ quan do thực dân Pháp lập ra trước đó. Như vậy, Sắc lệnh không chỉ đặt nền tảng pháp lý cho công tác bảo tồn, mà còn khẳng định chủ quyền dân tộc trong lĩnh vực tinh thần - văn hóa, mở đầu cho kỷ nguyên người Việt Nam làm chủ di sản của chính mình.
Sau khi khẳng định chủ quyền, Sắc lệnh thể hiện rõ thái độ lập pháp chín chắn và thực tiễn khi không phủ nhận hoàn toàn nền pháp lý cũ. Điều 3 quy định: “Những luật lệ về việc bảo tồn cổ tích vẫn để nguyên như cũ”(3). Đây là cách xử lý mềm dẻo, cho thấy tư duy kế thừa có chọn lọc của Chính phủ lâm thời. Trong khi xóa bỏ những yếu tố nô dịch của chế độ thực dân, Nhà nước vẫn giữ lại những quy phạm có giá trị khách quan để duy trì sự ổn định pháp lý. Cách làm này thể hiện một trình độ quản trị hiện đại, kế thừa để phát triển, chứ không đoạn tuyệt cực đoan với quá khứ.
Sau bước khẳng định về thể chế và pháp lý, Sắc lệnh đi vào nội dung cốt lõi nhất: quy định bảo vệ di sản khỏi sự xâm hại và phá hủy. Điều 4 nêu rõ: “Cấm phá hủy những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá huỷ những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử chưa được bảo tồn”(4).
Nếu các điều trước mang tính tổ chức và quản lý, điều khoản 4 này mang giá trị tuyên ngôn. Ở đây, mệnh lệnh “cấm phá huỷ” không chỉ là yêu cầu hành chính mà còn là một chuẩn mực đạo đức, văn hóa. Với cách nhìn của một dân tộc vừa giành lại chủ quyền, bảo vệ di sản cũng chính là bảo vệ cốt cách của dân tộc, chống lại sự đứt gãy của lịch sử. Chính từ tinh thần ấy, có thể coi Điều 4 là tuyên ngôn đầu tiên về “quyền sống” của di sản văn hóa Việt Nam.
Trên nền tảng nhận thức và quy phạm đó, Sắc lệnh tiếp tục đặt ra cơ chế để bảo đảm thực thi. Điều 5 quy định: “Chính phủ vẫn công nhận nguyên tắc những khoản trợ cấp hàng năm của toàn quốc, của mỗi kỳ, mỗi tỉnh cho Đông phương Bác cổ học viện”(5).
Trong điều kiện kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, việc cam kết ngân sách cho công tác bảo tồn di sản thể hiện một bước tiến tư duy đáng kể: bảo tồn không chỉ là khẩu hiệu tinh thần, mà phải được bảo đảm bằng nguồn lực vật chất và cơ chế tài chính cụ thể. Điều này cho thấy tầm nhìn quản trị dài hạn của Nhà nước mới, đặt nền móng cho nguyên tắc đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển.
Kết cấu của Sắc lệnh khép lại bằng một điều khoản thể hiện rõ tinh thần cộng đồng trách nhiệm của các bộ, ngành đối với công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Điều 6 viết: “Các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ quốc gia giáo dục chiếu Sắc lệnh này thi hành”(6).
Sự phân công này phản ánh tư duy quản lý liên ngành ngay từ thời điểm sơ khai của Nhà nước Việt Nam mới: bảo tồn di sản không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa, mà còn liên quan tới giáo dục, tài chính, an ninh, pháp luật và hành chính nhà nước. Từ đó, bảo tồn được nhìn nhận như một chính sách công tổng hợp, có ý nghĩa quốc gia, gắn liền với an ninh văn hóa và chủ quyền tinh thần của dân tộc.
Có thể khẳng định, với 6 điều ngắn gọn nhưng bao quát, Sắc lệnh số 65/SL đã hình thành một khung tư tưởng - pháp lý cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa. Văn bản này vừa là sản phẩm của trí tuệ lập quốc, vừa là tuyên ngôn về bản lĩnh văn hóa dân tộc: giữa gian khổ của buổi đầu độc lập, dân tộc Việt Nam vẫn biết bắt đầu công cuộc kiến thiết từ việc giữ lấy hồn cốt của mình.
Từ ý nghĩa tư tưởng, pháp lý đến giá trị thời đại
Trước hết, về phương diện tư tưởng, Sắc lệnh số 65/SL thể hiện quan điểm có tính nền tảng: muốn xây dựng quốc gia vững mạnh, phải bắt đầu từ bản sắc văn hóa. Văn hóa không chỉ là phần trang sức tinh thần, mà là cội nguồn của độc lập dân tộc, là nền móng để một quốc gia tự khẳng định mình trong lịch sử. Khi khẳng định “việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”, Chính phủ lâm thời đã đặt văn hóa lên vị trí trung tâm của công cuộc phục hưng dân tộc. Bảo tồn di sản, vì thế, không phải là sự hoài niệm quá khứ mà là giữ cho dân tộc có gốc rễ, có linh hồn và có sức đề kháng trước mọi biến động của thời đại. Trong hoàn cảnh hậu thuộc địa, khi đất nước vừa thoát khỏi ách nô lệ về chính trị, tư tưởng đó càng trở nên sâu sắc: một dân tộc chỉ thật sự tự do khi giành được cả tự do về văn hóa. Đó là tư tưởng khai phóng, hiện đại và tiến bộ, vượt xa giới hạn của thời điểm năm 1945.
Tiếp theo, về phương diện pháp lý, Sắc lệnh số 65/SL là văn bản pháp quy đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về bảo tồn di sản văn hóa, mở đầu cho toàn bộ hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này. Từ Sắc lệnh ấy, dòng chảy pháp lý về di sản được hình thành và không ngừng hoàn thiện qua các nghị định, thông tư của Chính phủ, để rồi kết tinh thành Luật Di sản Văn hóa năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009, Luật Di sản văn hóa năm 2024. Có thể nói, Sắc lệnh số 65/SL là “hạt giống đầu tiên” của nền lập pháp văn hóa Việt Nam, đặt cơ sở cho nguyên tắc quản lý, bảo vệ di sản bằng pháp luật - một tư duy pháp trị tiến bộ, thể hiện rõ bản chất của Nhà nước pháp quyền cách mạng từ buổi đầu lập quốc.
Không chỉ dừng lại ở giá trị tư tưởng và pháp lý, Sắc lệnh số 65/SL còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Với quy định “cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu, cung điện, lăng tẩm...”, văn bản này không chỉ điều chỉnh hành vi, mà còn tác động đến nhận thức cộng đồng, gieo vào lòng người dân ý thức rằng gìn giữ di sản là nghĩa vụ công dân và là hành động yêu nước cụ thể. Từ đó, nhiều phong trào bảo vệ, trùng tu di tích, bảo quản cổ vật được khởi xướng, lan tỏa trong nhân dân và được duy trì cho đến hôm nay. Như vậy, Sắc lệnh không chỉ là một mệnh lệnh hành chính của Nhà nước, mà còn là một lời hiệu triệu toàn xã hội, biến việc bảo tồn thành phong trào của toàn dân.
Ở bình diện rộng hơn, Sắc lệnh số 65/SL còn thể hiện tầm nhìn phát triển vượt thời đại. Tám mươi năm trước, khái niệm “kinh tế di sản”, “du lịch văn hóa” hay “sáng tạo từ truyền thống” chưa hình thành, nhưng tinh thần của các khái niệm ấy đã được manh nha trong Sắc lệnh này. Bằng việc xem di sản là một phần trong “công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”, Chính phủ lâm thời khẳng định di sản là nguồn lực tinh thần, vật chất cho sự phát triển đất nước. Tư duy này đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong chiến lược phát triển bền vững: lấy văn hóa làm nền tảng, lấy di sản làm động lực sáng tạo.
Tám thập niên đã trôi qua kể từ ngày Sắc lệnh số 65/SL được ban hành, nhưng những giá trị của Sắc lệnh vẫn nguyên vẹn tính thời sự. Giữ gìn quá khứ là để kiến tạo tương lai; phát triển phải gắn liền với bản sắc; văn hóa không đứng sau chính trị hay kinh tế mà song hành cùng sự hưng thịnh của quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ phai nhạt, Sắc lệnh số 65 như một lời nhắc nhở về căn tính dân tộc, về trách nhiệm gìn giữ ký ức trước làn sóng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nó khẳng định, hiện đại không có nghĩa là đánh mất gốc rễ; hội nhập không đồng nghĩa với hòa tan. Chính ở điểm đó, giá trị tư tưởng của Sắc lệnh số 65 vẫn mang tính định hướng cho các chính sách văn hóa đương đại.
Sắc lệnh số 65/SL thực sự là văn kiện có giá trị đặc biệt trong lịch sử lập quốc - vừa đặt nền móng cho tư tưởng bảo tồn di sản, vừa mở đường cho hệ thống pháp luật văn hóa Việt Nam. Hơn cả một văn bản hành chính, đó là tuyên ngôn văn hóa chính trị của nhà nước non trẻ về bản lĩnh dân tộc và ý chí tự cường. Trong bối cảnh hiện nay, khi di sản đang trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững, Sắc lệnh số 65/SL càng cho thấy tính tiên phong và giá trị trường tồn của nó. Việc hoàn thiện khung khổ pháp lý về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa là nhiệm vụ tất yếu để tiếp nối tinh thần đó, biến di sản thành “sức mạnh mềm” của quốc gia trong thời kỳ hội nhập.
Với giá trị đặc biệt về tư tưởng, lịch sử và pháp lý, Sắc lệnh số 65/SL cùng các sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được công nhận là Bảo vật quốc gia(7) - một minh chứng sống động cho tầm vóc và sức lan tỏa của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh trong hành trình dựng nước và giữ nước./.
----------------------------
(1), (2), (3), (4), (5), (6) Xem: Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Sac-lenh-65-an-dinh-nhiem-vu-Dong-duong-bac-co-hoc-vien-35914.aspx
(7) Ngày 22-12-2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2469/QĐ-TTg công nhận Tập Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1945 - 1946 (trong đó có Sắc lệnh số 65) là Bảo vật quốc gia
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần dân tộc và vận dụng đối với sinh viên Việt Nam hiện nay  (12/09/2025)
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa ở Việt Nam hiện nay  (31/07/2025)
- Tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Tổng Bí thư Tô Lâm: Khơi dậy khát vọng cống hiến, vươn lên của dân tộc bằng tri thức và sáng tạo
- Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú kiểm tra công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng
- Phấn đấu đưa Khánh Hòa trở thành cực tăng trưởng quốc gia, thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm kinh tế biển hiện đại
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm