Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc
TCCS - Trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc xây dựng đội ngũ trí thức, trong đó có đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự đặt ra những yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Bởi, đây là lực lượng nòng cốt trong công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đồng thời giữ vai trò then chốt trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị trong kỷ nguyên mới.
Cơ sở xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất, xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Hình thức lao động của con người được chia thành hai loại: 1- Lao động sản xuất sáng tạo ra của cải vật chất và 2- Lao động sản xuất sáng tạo ra những giá trị tinh thần. Theo C. Mác, trí thức là những người sáng tạo tinh thần, sản xuất tinh thần. Đó là quá trình tư duy, nhận thức về thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người. Công việc sáng tạo tinh thần có ý nghĩa quan trọng với việc sản xuất vật chất. Bởi vì, không có sự nhận thức đúng đắn các quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy thì con người không thể tiến hóa, phát triển ngày càng văn minh. Trí thức là bộ phận tinh hoa của xã hội, có trình độ học vấn, đại diện cho trí tuệ và tiến bộ xã hội. Ph. Ăng-ghen khẳng định: “... để điều hành bộ máy hành chính và toàn bộ nền sản xuất xã hội, hoàn toàn không cần những lời nói suông, mà cần những trí thức vững vàng”(1). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về trí thức, từ thực tiễn đấu tranh của phong trào cách mạng vô sản Nga, V. I. Lê-nin nhận thấy: “những trí thức với tính cách là một tầng lớp đặc biệt trong những xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại”(2). V. I. Lê-nin dùng thuật ngữ “trí thức”, “giới trí thức” không những để chỉ các học giả, mà còn bao hàm “...tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc, khác với những đại biểu của lao động chân tay”(3). Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa đòi hỏi nhân dân phải tiến hành nhiều lao động sáng tạo lịch sử. Trong sự nghiệp vĩ đại đó không thể không có sự tham gia của tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa; bởi theo V. I. Lê-nin nếu: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được(4).
Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V. I. Lê-nin về trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức, đánh giá đúng việc trọng dụng, cũng như sử dụng có hiệu quả đội ngũ trí thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”(5) và “Để xây dựng nước nhà, chúng ta cần càng ngày càng nhiều trí thức tốt”(6).
Hội nghị Trung ương 7 khóa X ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6-8-2008, “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” xác định rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức hiện nay. Trong đó nhấn mạnh: “Trí thức Việt Nam là lực lượng sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững”(7). Đây là lần đầu tiên, Đảng ta đưa ra quan niệm về trí thức với sự nhất quán trong việc đánh giá cao vai trò của trí thức, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với lực lượng cách mạng quan trọng của đất nước. Đó cũng là những định hướng quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ trí thức, trong đó có đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự lớn mạnh, đủ sức đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ hai, xuất phát từ thực trạng xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay.
Là một bộ phận của đội ngũ trí thức Việt Nam, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X khẳng định: “Ðội ngũ trí thức trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là lực lượng nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”(8). Xét về cơ cấu, đội ngũ trí thức quân đội bao gồm đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân; cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong các học viện, nhà trường, các trung tâm, viện nghiên cứu chuyên ngành của quân đội,… có trình độ học vấn đại học, sau đại học; có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, trực tiếp tham gia nghiên cứu, phát triển khoa học quân sự Việt Nam. Với những ưu thế về trình độ học vấn, năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, trình độ quản lý, chỉ huy,… đội ngũ trí thức quân đội thực sự là nguồn lực đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự, trong những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chức năng các cấp trong quân đội thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chú trọng chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự đã có bước phát triển về cả số lượng và chất lượng; số cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư của quân đội không ngừng tăng. Trong các giai đoạn của cách mạng, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự luôn mang trong mình tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, gắn bó với quân đội và đơn vị; có ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhệm vụ theo cương vị, chức trách được giao. Trong giai đoạn mới, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự đã có những đóng góp tích cực trong việc xây dựng những luận cứ khoa học góp phần hoạch định Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, đội ngũ này đã trở thành lực lượng trực tiếp tham gia nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc triển khai đường lối của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Trong một số nhiệm vụ cụ thể, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự luôn đi đầu trong nghiên cứu, tiếp thu, phổ biến, ứng dụng và phát triển tri thức quân sự, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, đây là lực lượng tiên phong trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận; chủ động, tích cực đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; trong đó có luận điệu “phi chính trị hóa” quân đội, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.
Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự vẫn còn một số hạn chế, như số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự chưa đáp ứng đủ so với yêu cầu xây dựng quân đội; trình độ ngoại ngữ và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế; độ tuổi bình quân của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự còn cao so với mặt bằng của đội ngũ trí thức Việt Nam; cơ cấu còn mất cân đối về ngành, nghề, giới tính... khiến việc trọng dụng, phát huy tiềm năng sáng tạo của trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự còn hạn chế. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học ở một số cơ quan, học viện, nhà trường chưa thực sự xuất phát từ thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; số lượng chuyên gia đầu ngành chưa nhiều; tính gắn kết giữa khoa học kỹ thuật với ứng dụng thực tiễn chưa cao; một số ít trí thức, cán bộ có trình độ học vấn cao còn thiếu tự tin khi tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, chưa thường xuyên tìm tòi, học hỏi, trau dồi kiến thức chuyên môn; công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với hệ thống chính sách trọng dụng, đãi ngộ có thời điểm chưa tương xứng... Những hạn chế, bất cập này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự và sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là một trong những tiền đề quan trọng để dân tộc phát triển trong kỷ nguyên vươn mình: “Sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của Quân đội nhân dân Việt Nam góp phần quan trọng giữ vững hòa bình, ổn định đất nước, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học, mở rộng quan hệ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”(9); hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: đến năm 2030: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
“Cục diện thế giới đang có sự chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng và phân tuyến mạnh. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều thách thức mới, có tính chất phức tạp hơn. Các nước lớn và các trung tâm quyền lực điều chỉnh chính sách, tiếp tục vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, thỏa hiệp, song cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn. Xung đột, chiến tranh diễn ra ở nhiều khu vực, phức tạp hơn, không loại trừ nguy cơ chiến tranh lan rộng”(10). Các yếu tố an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh, an toàn không gian mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến theo chiều hướng phức tạp hơn. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và khu vực Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động, nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột.
Đối với nước ta, sau 40 năm đổi mới, thế và lực ngày càng được tăng cường, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. Song, nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội với những âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện hơn. Những yếu tố tác động đó đặt ra yêu cầu mới đối với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong nghiên cứu, nắm bắt, đánh giá, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý linh hoạt, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Việc xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện đồng bộ Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự Việt Nam, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia... và nhiều nghị quyết, kết luận, văn bản pháp luật về quân sự, quốc phòng, đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận, hoàn thiện đường lối, chính sách quốc phòng, nghệ thuật quân sự Việt Nam. Theo đó, việc xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, cùng dân tộc trên con đường phát triển, phồn vinh, độc lập, ấm no, tự do, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới, là tất yếu khách quan.
Giải pháp góp phần xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong giai đoạn cách mạng mới.
Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về “nâng cao, thống nhất nhận thức trong các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ trí thức”(11), Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cấp đẩy mạnh công tác giáo dục, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong thời kỳ mới. Trọng tâm là làm rõ và thống nhất nhận thức về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được xác định trong Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24-11-2023, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới”; Đề án số 1853/ĐA-TM, của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, “Về xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội giai đoạn 2023 - 2030 và những năm tiếp theo”...
Trong quá trình tổ chức thực hiện, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho công tác xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự.
Hai là, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý của cấp ủy và chỉ huy các cấp đối với công tác xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự.
Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong tình hình mới. Thực tiễn cho thấy, ở đâu cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy thực sự quan tâm, coi trọng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, ở đó đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự mới có điều kiện phát huy đầy đủ năng lực sáng tạo, đóng góp thiết thực vào sự trưởng thành của đơn vị, của quân đội.
Theo đó, quán triệt Nghị quyết số 45-NQ/TW, các cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên ở từng cơ quan, đơn vị cần chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện với định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và khâu đột phá cụ thể, gắn với đặc điểm đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự của đơn vị. Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng chất lượng, số lượng, cơ cấu và công tác xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự, cần nghiên cứu, lựa chọn phương thức tổ chức, quản lý phù hợp, tránh áp dụng máy móc mô hình quản lý hành chính, qua đó khơi dậy và phát huy cao nhất năng lực cống hiến, tạo môi trường thuận lợi để trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự rèn luyện, phát triển và trưởng thành.
Ba là, tiếp tục quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự gắn với chính sách trọng dụng, đãi ngộ.
Đây là hai mặt thống nhất biện chứng của công tác xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Vấn đề này cần thực hiện đồng bộ ở cả tầm vĩ mô và vi mô gắn với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và đặc thù của từng cơ quan, đơn vị. Theo đó, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thực hiện có hiệu quả việc tuyển chọn và đưa cán bộ, trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài; đặc biệt, chú trọng ngay từ khâu tuyển chọn đầu vào đối với học sinh, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở các cơ sở đào tạo trong và ngoài quân đội. Đồng thời, có chính sách thu hút nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao vào công tác ở những ngành, lĩnh vực mà quân đội có nhu cầu. Thực hiện tốt chế độ, chính sách, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nhất là điều kiện làm việc, chính sách hỗ trợ trong giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hoàn thiện các tiêu chuẩn chức danh khoa học cho đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự.
Khen thưởng, tôn vinh kịp thời những trí thức có thành tích xuất sắc trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học; động viên những trí thức có chức danh khoa học, học vị cao trong thời gian được kéo dài tuổi phục vụ theo quy định để phát huy sự cống hiến, đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Đối với các đơn vị cơ sở trong toàn quân, cần chủ động đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng, giáo dục đội ngũ cán bộ, trí thức; coi trọng bồi dưỡng kinh nghiệm thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cho đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trẻ. Các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu quân đội căn cứ vào nội dung, yêu cầu, lĩnh vực đào tạo cần tập trung đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, trực tiếp góp phần phát triển đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự.
Bốn là, phát huy tinh thần tích cực, sáng tạo, tự phấn đấu, tự rèn luyện của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự.
Trên cơ sở ý thức rõ vị trí, vai trò, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự cần thường xuyên nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực tự nghiên cứu, tự học tập để không ngừng tích lũy kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn công tác. Đồng thời, bồi đắp, phát huy những phẩm chất tốt đẹp, nhất là lòng yêu nước, tính tích cực xã hội, tính nhân văn, đạo đức, lối sống trên cơ sở chức trách, nhiệm vụ được giao; tích cực rèn luyện bản lĩnh khoa học, gắn công tác nghiên cứu với hoạt động thực tiễn.
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đội ngũ trí thức luôn được Đảng ta đánh giá cao và xác định là một trong những lực lượng nòng cốt quyết định sự phát triển bền vững của đất nước. Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự có đóng góp quan trọng góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, việc xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự vững mạnh cả về số lượng, chất lượng trở thành nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài./.
----------------------------
(1) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 22, tr. 432
(2) V. I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 8, tr. 300
(3) V. I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 372
(4) V. I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 36, tr. 217
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 184
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 378
(7) Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 91
(8) Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Sđd, tr. 83
(9) Xem: Trần Việt Khoa: “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 23-9-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1110402/xay-dung-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-cach-mang%2C-chinh-quy%2C-tinh-nhue%2C-hien-dai-dap-ung-yeu-cau%2C-nhiem-vu-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc.aspx
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng (Tài liệu sử dụng tại Đại hội đảng bộ cấp xã, cấp tỉnh và tương đương), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr. 23
(11) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 120
Tổng Bí thư Tô Lâm: Hành động theo phương châm “5 vững”, xây dựng quân đội trong tình hình mới  (05/12/2025)
Lực lượng vũ trang Quân khu 7 là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn  (27/07/2025)
- Nâng cao tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn mới
- Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”*
- Sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân - “Điểm tựa” vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Thanh thiếu niên hai nước tiếp tục viết nên những trang mới của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc bằng trí tuệ, tinh thần tiên phong sáng tạo, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với tương lai đất nước*
- Nâng cao sức hấp dẫn tuyển sinh của các trường đại học ở Hà Nội từ góc độ quản trị trải nghiệm người học
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm