Hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới và những vấn đề đặt ra trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

GS, TS TỪ THỊ LOAN
Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long

15:43, ngày 12-01-2026

TCCS - Hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người là nền tảng tinh thần vững chắc, thể hiện chiều sâu phát triển của một quốc gia. Gần 40 năm lãnh đạo đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta không ngừng thúc đẩy việc hình thành hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam. Bối cảnh hiện nay với nhiều tác động đa chiều đang đặt ra yêu cầu mới trong xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam, hướng tới tương lai bền vững và thịnh vượng của đất nước.

Học sinh tỉnh Hưng Yên tặng hoa Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi tiếp xúc cử tri 3 xã Kiến Xương, Lê Lợi, Quang Lịch _Ảnh: TTXVN

Những chuyển biến trong xây dựng và phát triển hệ giá trị văn hóa Việt Nam qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới

Những chuyển biến trong xây dựng và phát triển hệ giá trị văn hóa

Thời kỳ đổi mới đã mở ra cơ hội thuận lợi để tiếp tục phát triển hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Trên phương diện tích cực, chuyển biến được biểu hiện tập trung nhất ở hai xu hướng chính sau:

Xu hướng thứ nhất, tiếp tục kế thừa và phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc: Trong bối cảnh đổi mới, nhiều giá trị văn hóa truyền thống được giữ vững, hồi sinh hoặc chuyển hóa theo hướng tích cực, trở thành điểm tựa cho sự phát triển, cụ thể là:

Giá trị yêu nước, tự lực, tự cường tiếp tục là các giá trị cốt lõi thể hiện tinh thần dân tộc: Với tác động của đại dịch COVID-19, thiên tai..., tinh thần đoàn kết dân tộc và trách nhiệm cộng đồng của người Việt Nam được khơi dậy mạnh mẽ. Các chương trình, như “Toàn dân ủng hộ phòng, chống dịch”, “ATM gạo”, “Chuyến xe nghĩa tình”, phong trào “Tấm lòng mùa dịch”... là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa yêu nước trong thời bình. Bên cạnh đó, chủ đề lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự lực, tự cường luôn được thể hiện phong phú qua phim, ảnh, sân khấu, sự kiện văn hóa, cuộc thi tìm hiểu lịch sử... Lễ hội truyền thống, nghi lễ dân gian cũng góp phần duy trì ý thức nguồn cội, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc, tiêu biểu là lễ hội đền Hùng, hội Gióng, lễ hội Hai Bà Trưng, lễ hội đền Trần...

Giá trị nhân văn, nhân ái được củng cố trong đời sống xã hội: Tinh thần “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách” vẫn là sợi dây liên kết cộng đồng mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam, kể cả khi quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng. Hoạt động thiện nguyện, bảo vệ người yếu thế, người khuyết tật, trẻ em vùng khó khăn... nhận được sự chung tay từ nhiều tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà giáo... Các chương trình, như “Cặp lá yêu thương”, “Mái ấm cho em”, “Điều ước thứ 7”... là biểu hiện cụ thể của những giá trị nhân văn trong xã hội Việt Nam.

Giá trị hiếu học, trọng tri thức tiếp tục được phát huy mạnh mẽ: Từ xưa đến nay, người Việt Nam luôn có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, coi trọng giáo dục. Các hoạt động tri ân nhà giáo, hoạt động tôn vinh học vấn trong gia đình, dòng họ được duy trì đều đặn, thường xuyên. Hoạt động khuyến học, khuyến tài ngày càng lan tỏa rộng khắp trong cả nước. Hoạt động tôn vinh “đạo học” được chú trọng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đền thờ danh nhân văn hóa Chu Văn An, Nguyễn Bình Khiêm, Lê Quý Đôn,... Hiện nay, xu hướng phát triển giáo dục khai phóng, giáo dục STEM, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực đang được triển khai sâu rộng. Nhiều mô hình “trường học hạnh phúc”, trường tư thục theo hướng nhân bản, sáng tạo đã được xã hội hưởng ứng.

Kết hợp hài hòa giữa giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại: Người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ ngày càng có ý thức giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện sự trân trọng áo dài, âm nhạc dân tộc, phục dựng lễ hội, tham gia du lịch di sản...; đồng thời, tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, hình thành lối sống văn minh, song vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam. Sự trỗi dậy của các trào lưu “Việt hóa” thời trang, thiết kế, ẩm thực, như thiết kế về áo dài, thương hiệu phở Việt, cafe Việt... đang ngày càng vươn xa trên trường quốc tế. Nhiều nghệ sĩ trẻ kết hợp thành công chất liệu dân tộc với âm nhạc hiện đại, tạo được tiếng vang và thu hút đông đảo công chúng trong và ngoài nước.

Sân khấu hát bội giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện đại _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Xu hướng thứ hai, hình thành giá trị văn hóa mới phù hợp với yêu cầu của thời đại: Bước sang thời kỳ đổi mới, Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ từ một xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, hiện đại, hội nhập sâu rộng với thế giới. Sự bùng nổ của công nghệ, truyền thông kỹ thuật số, toàn cầu hóa, đô thị hóa tạo ra điều kiện sống, làm việc và giao tiếp hoàn toàn khác trước, đòi hỏi hệ giá trị văn hóa dân tộc không chỉ giữ gìn giá trị truyền thống, mà còn bổ sung, làm giàu và chuyển hóa để phù hợp với tính đa dạng của hệ giá trị toàn cầu cũng như yêu cầu phát triển.

Gia tăng giá trị tự do, dân chủ, văn minh, tiến bộ của nhân loại: Nhận thức và hành động về quyền con người, quyền công dân, quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin, phản biện xã hội..., được nâng lên rõ rệt. Người Việt Nam ngày càng ý thức hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong cộng đồng. Văn hóa đối thoại dần phát triển qua diễn đàn, mạng xã hội, báo chí, giáo dục đại học, phong trào thanh niên... Việc công khai vụ việc tiêu cực, chiến dịch chống bạo lực học đường, bảo vệ quyền lợi học sinh, sinh viên, sự tham gia tích cực của người dân vào vấn đề xã hội ngày càng trở nên phổ biến.

Giá trị công bằng, minh bạch, pháp quyền được coi trọng: Trong đời sống xã hội, giá trị minh bạch, tuân thủ pháp luật ngày càng được đề cao. Đây là sự chuyển biến cần thiết để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tinh thần đấu tranh chống tiêu cực được lan tỏa.

Giá trị sáng tạo, khát vọng đổi mới và vươn lên ngày càng rõ nét: Xã hội Việt Nam đang chứng kiến sự bùng nổ của các ngành, nghề sáng tạo, như thiết kế, truyền thông, công nghệ, nghệ thuật số, đổi mới sáng tạo... Xuất hiện ngày càng nhiều mô hình kết hợp văn hóa với công nghệ, như phim hoạt hình, trò chơi trực tuyến về lịch sử Việt Nam, ứng dụng đọc sách tiếng Việt cho trẻ em... Sự ra đời của sản phẩm văn hóa sáng tạo, như phim truyện, triển lãm số về di sản, bảo tàng ảo, phim 3D, trải nghiệm văn hóa, nghệ thuật sử dụng công nghệ thực tế tăng cường (AR), thực tế ảo (VR) hay sân khấu thực cảnh... Nhiều tác phẩm đạt giải cao tại các liên hoan phim quốc tế..., thể hiện khát vọng làm mới truyền thống để đáp ứng nhu cầu của công chúng hiện đại.

Giá trị tự chủ, tự cường, tinh thần khởi nghiệp lan rộng: Chính phủ đã phát động phong trào “Quốc gia khởi nghiệp”, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng khởi nghiệp (startup), trường đại học có không gian đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ, văn hóa, giáo dục.

Trong lĩnh vực giáo dục, giá trị tự học, tự chủ ngày càng được đề cao, thay thế dần lối học thụ động. Các hoạt động khuyến học, khởi nghiệp trong trường học, phong trào STEM, tư duy số..., đều hướng tới xây dựng và củng cố các giá trị tự chủ, tự lập trong học tập và phấn đấu vươn lên.

Tinh thần hội nhập quốc tế, thích ứng với khoa học, công nghệ, chuyển đổi số được lan tỏa: Một giá trị mới nổi lên mạnh mẽ là năng lực thích ứng với toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển của khoa học, công nghệ. Giới trẻ Việt Nam tiếp cận, thích nghi nhanh chóng với không gian mạng, việc học tập, làm việc xuyên biên giới và các xu hướng toàn cầu. Tư duy đa văn hóa, ngoại ngữ, năng lực thích ứng cao, kỹ năng giao tiếp xuyên văn hóa..., ngày càng trở thành giá trị bắt buộc đối với công dân thế hệ mới. Tác phẩm văn hóa số mang tính toàn cầu, như phim ngắn Việt đoạt giải quốc tế, bảo tàng ảo..., góp phần mang giá trị văn hóa Việt Nam đến với thế giới trên nền tảng công nghệ.

Coi trọng giá trị phát triển bền vững, sống xanh, sống hài hòa với thiên nhiên: Tình trạng đô thị hóa quá mức, biến đổi khí hậu cực đoan, ô nhiễm môi  trường nghiêm trọng ở nhiều nơi khiến xã hội ngày càng đề cao giá trị về bảo vệ môi trường sinh thái, sống xanh, kinh tế xanh, du lịch xanh, tiêu dùng bền vững. Hoạt động văn hóa, nghệ thuật góp phần cổ vũ lối sống này qua nhiều chiến dịch truyền thông, festival văn hóa môi trường, nghệ thuật vì thiên nhiên.

Trên phương diện tiêu cực, những năm gần đây với sự phân tầng xã hội, sự thay đổi cơ cấu gia đình, cộng đồng và công việc khiến hệ giá trị văn hóa Việt Nam bị thử thách nghiêm trọng, biểu hiện ở một số mặt sau:

Sự suy giảm và mai một giá trị văn hóa truyền thống: Lối sống cá nhân vị kỷ, hưởng thụ, vô cảm xuất hiện ở một bộ phận cư dân. Các giá trị, như hiếu nghĩa, thủy chung, tôn trọng người già, tôn sư trọng đạo, trọng chữ tín vốn là nền tảng ứng xử truyền thống, đang dần bị xem nhẹ. Các lễ hội truyền thống đang dần bị suy giảm tính linh thiêng, tôn nghiêm, giá trị giáo dục đạo đức, trao truyền văn hóa, cố kết cộng đồng, mà dần nặng yếu tố thương mại, thậm chí biến tướng. Hiện tượng sa đà vào hình thức, lễ vật mà không coi trọng bản chất, nghi lễ, đức tin phản ánh sự mai một giá trị truyền thống.

Sự tiếp nhận thiếu chọn lọc giá trị văn hóa bên ngoài: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhiều giá trị văn hóa mới được du nhập, nhưng vấn đề đặt ra là cần bảo vệ giá trị truyền thống tốt đẹp. Trên trang mạng xã hội, bên cạnh nội dung văn hóa tích cực góp phần truyền cảm hứng, giáo dục cộng đồng, cũng xuất hiện hiện tượng phản văn hóa, nội dung độc hại, phản cảm, vi phạm thuần phong, mỹ tục.

Xu hướng gia tăng giá trị vật chất, thực dụng, bề ngoài: Một bộ phận xã hội đang có xu hướng đánh giá con người qua sự giàu có, địa vị, hình thức bề ngoài, thay vì đạo đức, tài năng và cống hiến. Một số hiện tượng lệch chuẩn trong giao tiếp ứng xử xuất hiện, như bạo lực học đường, bạo lực gia đình, ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng, thiếu tôn trọng người lớn tuổi, giáo viên...

Sự thương mại hóa và giải trí hóa giá trị văn hóa: Nhiều giá trị văn hóa bị biến thành công cụ kiếm lời, vụ lợi, bóp méo bản chất, như nghi lễ biến thành trò diễn phục vụ thị hiếu của một số người; di sản bị biến dạng, làm mới để phục vụ khách du lịch... Một số chương trình truyền hình, game show thiên về giải trí nhất thời, thiếu tính giáo dục và thẩm mỹ, làm lệch chuẩn thị hiếu cộng đồng. Nhiều video clip, phim ngắn trên mạng xã hội cổ xúy hài nhảm, câu chuyện giật gân, câu khách, chạy theo thị hiếu tầm thường...

Những chuyển biến trong xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam

Thời kỳ đổi mới cũng chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam, có thể quy về biểu hiện chính sau:

Coi trọng khả năng tự quyết, tự do lựa chọn, phát triển bản thân: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và đa dạng hóa các giá trị, chuẩn mực, người Việt Nam, nhất là người trẻ, ngày càng đề cao khả năng tự quyết, cái tôi độc lập, sở thích, phong cách sống riêng. Thay vì “sống theo kỳ vọng xã hội”, nhiều người theo đuổi mục tiêu “sống là chính mình”, chân thật, có đam mê, biết tự chăm sóc và cân bằng. Sự phát triển của giáo dục khai phóng, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục giới tính, mô hình đào tạo kỹ năng sống, chỉ số trí tuệ cảm xúc (EQ) - quản lý cảm xúc, kỹ năng công dân số là bước tiến lớn giúp định hình con người Việt Nam hiện đại.

Đề cao tinh thần độc lập, dám nghĩ, dám làm, tự thân lập nghiệp: Nếu trong thời kỳ bao cấp, “an phận”, “ổn định”, “làm công ăn lương” là giá trị phổ biến, thì nay tinh thần tự chủ, dám nghĩ, dám làm, thậm chí mạo hiểm, “nhảy việc” trở thành xu hướng phổ biến. Trong giới trẻ, khát vọng làm giàu chính đáng, vươn ra thế giới, xây dựng thương hiệu Việt đang được khuyến khích. Nhiều nghệ sĩ Việt Nam từng bước hội nhập thành công sân chơi quốc tế...

Đề cao tinh thần năng động, đổi mới sáng tạo: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giá trị năng động, đổi mới sáng tạo của con người Việt Nam ngày càng trở thành một trong những động lực then chốt cho sự phát triển đất nước, tạo thành một làn sóng đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật. Từ chỗ là những người quen sống trong môi trường tập thể, thụ động, đến nay đã xuất hiện một lớp người trẻ tự tin làm chủ công nghệ, hội nhập quốc tế, có tư duy phản biện và tư duy số hóa. Người dân Việt Nam, đặc biệt ở khu vực đô thị, liên tục tìm tòi mô hình kinh doanh mới, ứng dụng chuyển đổi số vào dịch vụ, sản xuất nông nghiệp, du lịch cộng đồng... Nhiều khởi nghiệp công nghệ do người Việt Nam sáng lập đã tạo được dấu ấn toàn cầu nhờ tư duy đổi mới và khả năng tận dụng công nghệ tiên tiến. Nhiều nghệ sĩ trẻ đã chuyển hướng sang sáng tạo nội dung trên nền tảng số, đưa âm nhạc dân tộc, tranh vẽ truyền thống hay múa đương đại đến với đông đảo công chúng, nhất là người trẻ.

Kế thừa và phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp: Các giá trị truyền thống, như hiếu học, cần cù, nhân ái, thủy chung, tinh thần cộng đồng tiếp tục được phát huy trong điều kiện mới. Trong thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, đội ngũ y bác sĩ, giáo viên, thanh niên tình nguyện vẫn thể hiện rõ giá trị “hy sinh thầm lặng”, “vượt khó”, “vì cộng đồng”. Người dân Việt Nam luôn là những người nhân ái, nghĩa tình, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, “chia ngọt sẻ bùi” trong khó khăn, hoạn nạn.

Trang bị kiến thức về hội nhập quốc tế, khả năng hội nhập với khu vực và thế giới: Một thế hệ công dân Việt Nam mới đang được hình thành. Đó là những người năng động, giỏi ngoại ngữ, làm chủ công nghệ, kết nối toàn cầu, có tư duy toàn diện. Đây là điều kiện nền tảng để đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo vệ lợi ích quốc gia và xây dựng “sức mạnh mềm” văn hóa Việt Nam. Nhiều trí thức trẻ người Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong các tổ chức toàn cầu; nhiều nghệ sĩ, nhà làm phim, lập trình viên Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế. Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định mình, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào hoạt động giáo dục, quản lý, khoa học, văn hóa ngày càng cao, dần xóa bỏ định kiến về giới, góp phần giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới.

Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Những vấn đề đặt ra và giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam

Để phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, một số vấn đề sau nên được nhận diện:

Một là, hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam đã được đề cập trong các văn kiện của Đảng, nhưng cần tiếp tục cụ thể hóa trong bối cảnh mới.

Hai là, việc xây dựng con người Việt Nam chưa đồng bộ, chưa toàn diện, chủ yếu là trang bị kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn; chưa chú trọng đúng mức về đạo đức, nhân cách, thể lực, tâm hồn, ý thức công dân, lý tưởng sống. Việc giáo dục giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống vẫn nặng tính lý thuyết, rập khuôn, thiếu thực tế.

Ba là, tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệnh trong phát triển văn hóa và con người giữa vùng, miền, dân tộc, bộ phận dân cư khiến việc xây dựng hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người quốc gia gặp nhiều thách thức. 

Bốn là, sự xung đột giữa giá trị truyền thống và hiện đại, bảo vệ độc lập, chủ quyền với yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng... làm phức tạp hóa việc xây dựng hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam. Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống; mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; cần thấu hiểu đầy đủ và tôn trọng sự đa dạng văn hóa để hệ giá trị được xây dựng, ban hành và triển khai đi vào thực tiễn cuộc sống.

Năm là, thách thức mới xuất hiện trong thời đại số, cuộc sống số, xã hội số làm cho việc quản lý của cơ quan nhà nước bên cạnh những thuận lợi cũng đối mặt với nhiều thách thức. Không gian mạng không chỉ là nơi phổ biến giá trị văn hóa tốt đẹp, mà còn có thể bị lợi dụng để lan truyền sản phẩm độc hại, tạo ra “vùng mù văn hóa”, “vùng xám đạo đức” mà con người rất dễ bị thao túng bởi phản giá trị, biểu hiện lệch chuẩn, thông tin giả, xấu, độc.

Việc xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam là công việc khó khăn, lâu dài, cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện và thiết thực, mang tính cốt yếu như sau:

Thứ nhất, ban hành hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới, làm cơ sở để thể chế hóa thành văn bản quy phạm pháp luật, lồng ghép trong chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, con người... Từ đó, tiếp tục cụ thể hóa thành bộ tiêu chí xây dựng giá trị văn hóa và con người theo từng lĩnh vực, từng ngành, nghề, lứa tuổi để triển khai trong toàn xã hội, trở thành nền tảng cho chuẩn mực, hành vi, ứng xử. 

Để giám sát, đánh giá hiệu quả của bộ tiêu chí xây dựng giá trị văn hóa và con người theo từng lĩnh vực, từng ngành, nghề, lứa tuổi cần xây dựng bộ chỉ số đo lường các nhóm, như chỉ số về đạo đức - nhân cách; chỉ số về mức độ gắn bó với giá trị dân tộc; chỉ số về năng lực sáng tạo và hội nhập; chỉ số về mức độ hài lòng với môi trường văn hóa; chỉ số về tinh thần công dân và trách nhiệm xã hội... Các chỉ số này cần được tích hợp vào hệ thống thống kê quốc gia, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển bền vững.

Thứ hai, đẩy mạnh hoạt động đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm phát triển con người toàn diện về đức - trí - thể - mỹ. Tiếp tục đẩy mạnh việc lồng ghép giáo dục đạo đức, phẩm chất, kỹ năng sống, văn hóa ứng xử vào môn học, hoạt động ngoại khóa, hướng nghiệp. Chú trọng giáo dục khai phóng, tư duy phản biện gắn với thực tiễn Việt Nam. Xây dựng hệ thống đánh giá năng lực học sinh, sinh viên vừa dựa trên đánh giá của nhà trường, trên cơ sở tư duy lô-gic, vừa gắn với trách nhiệm xã hội, tinh thần công dân, ý thức cống hiến.

Thứ ba, phát huy vai trò của hoạt động truyền thông và văn hóa - nghệ thuật như công cụ đắc lực trong xây dựng và hoàn thiện các hệ giá trị. Nâng cao chất lượng truyền thông về giá trị văn hóa tốt đẹp, tôn vinh tấm gương tiêu biểu, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong hệ thống chính trị và xã hội. Phát huy vai trò của đội ngũ văn nghệ sĩ trong việc lan tỏa giá trị tích cực, kết hợp với hình thức thể hiện hiện đại, gần gũi giới trẻ.

Thứ tư, tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Mỗi “thiết chế xã hội” đóng vai trò riêng, nhưng cùng hướng đến một mục tiêu chung là xây dựng giá trị văn hóa nhân văn, văn minh, tiến bộ và hội nhập để có một thế hệ công dân mới có đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh văn hóa và khát vọng phát triển.

Thứ năm, nâng cao năng lực quản lý và định hướng văn hóa trên không gian mạng, môi trường số. Nhà trường cần chú trọng nội dung giáo dục công dân số, văn hóa số, giúp giới trẻ hiểu về an toàn mạng. Tăng cường vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát, giám sát nội dung trên trang mạng, đồng thời tích cực phát triển nền tảng văn hóa số và nghệ thuật số của Việt Nam.

Thứ sáu, giảm bất bình đẳng về xây dựng giá trị văn hóa và con người giữa vùng, miền, dân tộc, bộ phận dân cư. Tăng cường đầu tư cho giáo dục, văn hóa, nâng cao dân trí ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm công bằng trong tiếp cận tri thức và giá trị sống. Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, tuyên truyền viên, vai trò của người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số trong quá trình triển khai./.