Xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới

TS HỒ SỸ NGỌC
Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
09:59, ngày 15-05-2026

TCCS - Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, biến động địa - chính trị và thách thức toàn cầu ngày càng gia tăng, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết đối với Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định rõ nhiệm vụ xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế mới, nhằm tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và những trụ cột cấu thành mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.

Cơ sở lý luận và thực tiễn đặt ra yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế mới

Việc xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế mới là cần thiết, nhằm định hình quỹ đạo đóng góp của các yếu tố cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Xét về bản chất, lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế của các học giả kinh tế(1) nhằm giải thích tăng trưởng (biến phụ thuộc) của một nền kinh tế được tạo ra từ yếu tố đầu vào (biến độc lập) như thế nào, qua đó làm rõ vai trò và mối quan hệ giữa các yếu tố này. Tựu trung, sự phát triển của lý thuyết tăng trưởng cho thấy xu hướng chuyển dịch từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa trên tiến bộ công nghệ, năng suất nhân tố tổng hợp và yếu tố nội sinh của nền kinh tế.

Việc nhận diện đúng, đầy đủ và khoa học về vị trí và đóng góp của các yếu tố của tăng trưởng kinh tế cũng như mối quan hệ giữa chúng là bước đi “căn bản” trong việc xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình dân tộc.

Phân tích thực tiễn cho thấy, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn sau đổi mới (năm 1986) với cách gọi thường nhật là “mô hình tăng trưởng theo chiều rộng” chủ yếu dựa vào gia tăng số lượng yếu tố đầu vào, như vốn, lao động và tài nguyên, thậm chí “thâm dụng các yếu tố đầu vào” trong giai đoạn 1991 - 2010 mà ít đề cập thay đổi của yếu tố công nghệ; nền kinh tế phụ thuộc lớn vào việc gia tăng vốn đầu tư (đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư công); hiệu quả sử dụng vốn rất thấp (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) giai đoạn 2006 - 2010 đạt mức 6,1 lần, trong khi giai đoạn 1996 - 2000 là 4,5 lần)(2), để gia tăng một đơn vị đầu ra (tổng sản phẩm quốc nội (GDP)) nền kinh tế Việt Nam cần sử dụng một lượng vốn đầu tư rất lớn. Điều đó phản ánh sự lãng phí và kém hiệu quả trong sử dụng nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư công.

Đoàn công tác của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” do đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương làm Trưởng đoàn đã có buổi khảo sát tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển của Samsung Việt Nam_Ảnh: cscltw.dcs.vn

Chính vì vậy, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Văn kiện Đại hội XI(3) năm 2011 của Đảng được xác định: “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững” là tất yếu khách quan khi “dư địa” của vốn, đất đai và tài nguyên không còn là lợi thế.

Trong giai đoạn 2011 - 2025(4), quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu dựa vào sử dụng hiệu quả yếu tố đầu vào (vốn, lao động, năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) có tính yếu tố “đột phá” về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo) đã đạt được những kết quả quan trọng: 1- Từ mức trung bình 33,58% trong giai đoạn 2011 - 2015, tỷ lệ đóng góp của TFP đã bứt phá lên mức 45,21% trong giai đoạn 2016 - 2020, vượt xa mục tiêu chiến lược đề ra và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định trong những năm 2021 - 2025 bất chấp tác động tiêu cực từ đại dịch toàn cầu; 2- Với sự thúc đẩy mạnh mẽ từ chuyển đổi số, kinh tế số và ứng dụng khoa học, công nghệ, đóng góp của TFP tiệm cận ngưỡng 50% vào năm 2025, đóng vai trò là động lực then chốt giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng; 3- Quy mô nền kinh tế Việt Nam tính theo GDP danh nghĩa năm 2025 đã tăng gấp hơn ba lần (từ 135 tỷ USD năm 2011, GDP đã tăng lên 514 tỷ USD năm 2025); 4- Thu nhập bình quân đầu người đã tăng vượt bậc, từ khoảng 1.400 USD năm 2011 lên 5.026 USD năm 2025; Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm của Việt Nam trong giai đoạn đạt khoảng 6% (8,02% năm 2025).

Tuy nhiên, tăng trưởng dựa vào gia tăng vốn, lao động vẫn tiếp tục, sử dụng ngày càng “bão hòa” và kém hiệu quả (so với giai đoạn 2011 - 2015 (hệ số 5,58 lần) và 2016 - 2020 (hệ số 6,13 lần), giai đoạn 2020 - 2025 là giai đoạn có hệ số ICOR cao nhất (tiệm cận 6,5 lần) trong vòng 15 năm qua). Điều này phản ánh sự “bão hòa” nhất định của mô hình tăng trưởng kinh tế cũ và đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn xã hội.

Từ thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thời gian qua cho thấy, mô hình hiện hành đã bộc lộ giới hạn nội tại, nhất là về hiệu quả sử dụng nguồn lực và động lực tăng trưởng dài hạn. Điều đó đặt ra yêu cầu xác lập một mô hình tăng trưởng kinh tế mới, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, dựa trên nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, mô hình tăng trưởng kinh tế mới của Việt Nam cần được cấu thành bởi những trụ cột mang tính nền tảng và có khả năng dẫn dắt phát triển trong giai đoạn tới.

Hình thành những trụ cột của mô hình tăng trưởng kinh tế mới

Trên cơ sở nhận diện giới hạn nội tại của mô hình tăng trưởng kinh tế hiện hành, mô hình tăng trưởng kinh tế mới phải được cấu thành bởi những trụ cột mang tính nền tảng, có khả năng dẫn dắt và bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế trong giai đoạn tới. Đột phá về thể chế phát triển có tính “bao trùm” nhằm loại bỏ rào cản, nút thắt hiện hữu, từ đó giải phóng nguồn lực. Đổi mới, cải cách thể chế từng bước tháo gỡ “nút thắt”, “khơi thông” nguồn lực, như đất đai, lao động, vốn.

Trọng tâm tập trung vào các đột phá lớn gắn với bốn nghị quyết lớn(5) của Đảng đề cập các vấn đề “cốt lõi”, như hội nhập quốc tế, thực thi pháp luật, khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế tư nhân). Bốn nghị quyết trên là “bộ tứ trụ cột” (minh bạch, thực thi, đơn giản hóa thủ tục kinh doanh,…) kết hợp với các nghị quyết số 70, 71, 72, 79(6) nhằm hiện thực hóa kết cấu hạ tầng và năng lượng bảo đảm “mạch máu” vận hành, phát huy nhân tố con người chất lượng và sức khỏe bền bỉ, khơi thông dẫn dắt “đầu tư mồi” của vốn nhà nước giúp Việt Nam định hình mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Như vậy, “đột phá” về thể chế phát triển được xác định là “đột phá của đột phá”, đóng vai trò là “mảnh ghép” lớn để giải phóng mọi nguồn lực xã hội. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ định hướng về việc tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế: Tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế; xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới; xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Từ Văn kiện Đại hội XIV, các nghị quyết trụ cột, chiến lược, quan trọng của Đảng, xuất phát từ bối cảnh hiện nay của tình hình thế giới, khu vực, một số vấn đề sau về xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam cần được cân nhắc:

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác lập là động lực chính, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của tăng trưởng kinh tế. Trong mô hình tăng trưởng mới, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là một yếu tố thúc đẩy, mà còn là một biến nội sinh quyết định bản chất và tốc độ tăng trưởng. Thay vì coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một yếu tố ngoại sinh, độc lập với hệ thống kinh tế như trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển (Solow), cách tiếp cận học thuật hiện đại (đặc biệt là các mô hình tăng trưởng nội sinh Lucas) coi tri thức và công nghệ là sản phẩm của hoạt động kinh tế có chủ đích. Trong bối cảnh Việt Nam, việc chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa vào tích lũy vốn và lao động sang mô hình dựa vào biến nội sinh khi hoạt động đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), giáo dục, đổi mới sáng tạo được tích hợp trực tiếp vào hàm sản xuất. Đột phá không chỉ là sự gia tăng tuyến tính của năng suất, mà là sự thay đổi cấp số nhân của hiệu suất đầu tư, tạo ra hiệu ứng lan tỏa trên toàn bộ nền kinh tế.

Việc xác lập khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo như một “khâu đột phá” có tính chất chiến lược, là xu thế tất yếu để Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa trên tài nguyên sang kinh tế tri thức. Trên phương diện học thuật, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò là “nhân tố” trung tâm thúc đẩy năng suất lao động, biến tri thức thành lực lượng sản xuất trực tiếp thông qua việc tối ưu hóa cấu trúc vận hành và quy trình chế tạo. Trong thực tiễn, sự tích hợp của trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học và tự động hóa vào chuỗi giá trị nông nghiệp, công nghiệp không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mà còn tạo ra giá trị thặng dư mới. Do đó, hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là động lực “cốt lõi” để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hiện đại hóa toàn diện nền kinh tế hướng tới phát triển nhanh và bền vững.

Sản xuất linh kiện điện tử tại công ty Trách nhiệm hữu hạn 4P (Hưng Yên), dự án có vốn đầu tư lớn, công nghệ tiên tiến, khả năng tham gia sâu chuỗi liên kết khu vực và toàn cầu_Ảnh: TTXVN

Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là nền tảng vật chất quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Phát triển kết cấu hạ tầng “đi trước một bước” là yêu cầu tiền đề nhằm tạo ra không gian phát triển mới và tháo gỡ “điểm nghẽn” của nền kinh tế. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng và viễn thông đồng bộ đóng vai trò là khung xương sống, giúp giảm chi phí logistics, tăng cường kết nối liên vùng và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đây chính là nền tảng vật chất tất yếu để chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại, bảo đảm tính bứt phá, nhanh, nhưng vẫn duy trì sự ổn định và bền vững cho nền kinh tế quốc gia. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông (đường cao tốc, cảng biển, hàng không...)(7) được mở rộng, kết cấu hạ tầng điện lưới được hiện đại hóa và phủ sóng gần 100%, trong khi mạng lưới viễn thông băng rộng đã trở nên phổ biến, trở thành nền tảng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai. Bên cạnh đó, việc cải thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật và số đã làm giảm chi phí hậu cần, tăng cường kết nối liên vùng, thu hút mạnh mẽ dòng vốn FDI giúp Việt Nam nâng cao năng suất và cạnh tranh (như một biến số nội sinh trong xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế trong dài hạn).

Phát huy nhân tố con người với tư cách là trung tâm, chủ thể và động lực của phát triển giữ vai trò quyết định đối với thành công của mô hình tăng trưởng mới. Các mô hình tăng trưởng nội sinh đã luận chứng tri thức, giáo dục, kỹ năng của con người là biến số nội sinh, quyết định trực tiếp đến năng suất và đổi mới sáng tạo. Con người là nhân tố cốt lõi, đóng vai trò chủ thể sáng tạo và vận hành tư liệu sản xuất hiện đại. Với kỹ năng, trí tuệ và kinh nghiệm, người lao động chuyển hóa tri thức thành giá trị vật chất, quyết định tốc độ và chất lượng của mô hình tăng trưởng kinh tế. Việc đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao chính là chìa khóa để tối ưu hóa năng suất và bảo đảm sự phát triển bền vững trong kỷ nguyên số. Do đó, khơi dậy lòng yêu nước và khát vọng phát triển không chỉ là yếu tố tinh thần, mà còn là động lực thực tiễn để thúc đẩy tích lũy vốn nhân lực; một khi khát vọng về xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng được khơi dậy, người Việt Nam sẽ chủ động học hỏi, nâng cao trình độ và đóng góp tích cực vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, giúp nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh canh của nền kinh tế.

Như vậy, việc xác lập mô hình kinh tế Việt Nam được luận giải trên cơ sở kết hợp giữa nền tảng lý luận kinh tế và thực tiễn phát triển đất nước, gắn với quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về tăng trưởng và phát triển, cơ cấu lại gắn với đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, chuyển đổi mô hình nông nghiệp sạch và xây dựng nông thôn mới và hiện đại. Đó là sự kết hợp đồng bộ giữa yếu tố đầu vào, như vốn, lao động và TFP (khơi thông nguồn lực), cải cách thể chế (đồng bộ, bao trùm), đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (động lực trực tiếp) và phát huy “nhân tố” con người với tư cách là chủ thể sáng tạo, tạo nền tảng cho Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng vươn mình trong giai đoạn mới./.

------------------

(1) D. Ricardo: Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa (Người dịch: Nhóm dịch thuật Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh), Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2005; Robert M. Solow: Growth Theory: An Exposition (Tạm dịch: Lý thuyết tăng trưởng: Sự luận giải), tái bản lần 2, Oxford University Press. ISBN 978-0195012958; R. E. Lucas: “On the mechanics of Economic Development” (Tạm dịch: Cơ chế phát triển kinh tế), Journal of Monetary Economics.22:3–42,doi:10.1016/0304-3932(88)90168-7.S2CID 15487577, 19881...
(2) Kinh tế Việt Nam, Thời báo kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005 - 2024, Hội Nhà báo Việt Nam
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 107
(4) Tổng Cục thống kê, Niên giám Thống kê qua các năm 2005, 2010, 2015, 2020 và 2024, Nxb. Thống kê
(5) Đó là: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới”; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, về “Phát triển kinh tế tư nhân”; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, về “Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”
(6) Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20-8-2025, của Bộ Chính trị, về “Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, của Bộ Chính trị, về “Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”; Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 7-9-2025, của Bộ Chính trị, về “Giải pháp đột phá trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”; Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6-1-2026, của Bộ Chính trị, về “Phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới”…
(7) Theo Thông báo số 493/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ ngày 18-9-2025, Thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ 20 Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải, cả nước có 2.476km đường cao tốc và mục tiêu đưa vào khai thác trên 3.000km đường bộ cao tốc năm 2025