Ấn tượng kinh tế Việt Nam năm 2025, tạo nền tảng bứt phá năm 2026
10:48, ngày 10-02-2026
TCCS - Trong bối cảnh kinh tế thế giới bước vào giai đoạn mới với nhiều bất định, kinh tế Việt Nam năm 2025 nổi lên như một điểm sáng hiếm hoi với tăng trưởng ấn tượng. Những kết quả nổi bật không chỉ phản ánh hiệu quả của điều hành chính sách quyết liệt, linh hoạt, mà quan trọng hơn là cho thấy nền tảng mới đang được kiến tạo từ cải cách thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân... Trên nền tảng đó, mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 tuy còn nhiều thách thức nhưng không thiếu cơ sở hiện thực. Vấn đề then chốt đặt ra là làm thế nào để biến “đà phục hồi” thành “quỹ đạo bứt phá” bền vững, vượt qua "bẫy thu nhập trung bình" và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.
Tổng Bí thư Tô Lâm dự lễ khởi công xây dựng Nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam do Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel) đầu tư _Ảnh: TTXVN
Kinh tế Việt Nam năm 2025: Ấn tượng và nền tảng
Trong bối cảnh kinh tế thế giới bước vào trạng thái “bình thường mới” dù còn mong manh và phân hóa, cơ hội và rủi ro, thách thức đan xen, kinh tế Việt Nam năm 2025 là điểm sáng của thế giới với tăng trưởng “ấn tượng”, tạo “nền tảng” cho đà tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030, với năm điểm sáng nổi bật.
Với quyết tâm chính trị cao, tinh thần khẩn trương, dấu ấn của 9 quyết sách chiến lược, 99 luật, nghị quyết, 377 nghị định - nhiều nhất từ trước đến nay, bước chuyển đột phá về thể chế, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và sự phát triển của các mô hình kinh tế mới. Nhờ dấu ấn điều hành quyết liệt, linh hoạt, nhất quán và sự phối hợp đồng bộ chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô, kinh tế Việt Nam năm 2025 đã đạt được “tam giác” mục tiêu tăng trưởng bứt phá trên 8%, ổn định vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội.
Một là, top 10 quốc gia tăng tăng trưởng cao nhất thế giới, thuộc 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật về tăng trưởng và ổn định vĩ mô (theo Báo cáo B-Ready của Ngân hàng Thế giới (WB), tháng 10-2025), động lực tăng trưởng lan tỏa cả từ phía cung và phía cầu và tăng trưởng cao của nhiều đầu tàu kinh tế.
Về phía cung, giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, cao nhất trong 3 khu vực và cao nhất trong vòng 7 năm, đóng góp chủ đạo 3,37 điểm % (43% trong tăng trưởng chung), trong đó, xây dựng tăng 9,62% (đóng góp 7,3%); công nghiệp chế biến - chế tạo tăng 9,97%, cao nhất giai đoạn 2019 - 2025, đóng góp 2,44 điểm % (tương đương 30,5%); dịch vụ tăng 8,62% và đóng góp cao nhất với 3,69 điểm % (tương đương 46%) vào mức tăng trưởng chung; nông, lâm, thủy sản dù chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ song vẫn duy trì là bệ đỡ vững chắc của nền kinh tế, với mức tăng trưởng khá 3,78%, cao nhất trong vòng 7 năm, đóng góp 0,44 điểm % (tương đương 5,5%) vào mức tăng trưởng chung.
Về phía cầu, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,95%, đóng góp 4,98 điểm % (tương đương 61%) vào mức tăng trưởng chung nhờ hiệu quả của các chính sách kích cầu, xúc tiến du lịch và sự bứt phá của thương mại điện tử. Trong đó, tổng mức bán lẻ tăng 9,2% (loại trừ yếu tố giá tăng 6,7%); khách quốc tế đạt kỷ lục 21,2 triệu lượt (tăng 20,4%); thương mại điện tử tăng 20% (quy mô khoảng 32 tỷ USD, chiếm 43% quy mô kinh tế số). Tích lũy tài sản (đầu tư) tăng 8,68%, đóng góp 3,05 điểm % (tương đương 38%) vào mức tăng trưởng chung nhờ tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 12,1%, cao nhất trong vòng 8 năm, trong đó đầu tư công tăng 26,6% đóng góp 1,9 điểm % (tương đương 23% vào tăng trưởng GDP), đầu tư tư nhân tăng 8,4%, và giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% (thuộc top 20 quốc gia thu hút FDI lớn nhất thế giới).
Về xuất khẩu ròng, quy mô xuất - nhập khẩu hàng hóa đạt kỷ lục 930 tỷ USD, gấp 1,7 lần năm 2020, thuộc top 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Cán cân thương mại hàng hóa dịch vụ thặng dư 9,8 tỷ USD, đóng góp gần 2% vào mức tăng trưởng chung.
Quy mô kinh tế tăng nhanh, chất lượng tăng trưởng và đời sống dân sinh được cải thiện tích cực: Quy mô kinh tế ước đạt 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, chính thức trở thành quốc thu nhập trung bình cao. Năng suất lao động tăng 6,83% (cao hơn mục tiêu 5,4%); đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 47%, vượt mục tiêu là 45%; thu nhập bình quân người lao động đạt 8,4 triệu đồng/tháng năm 2025, gấp 1,5 lần năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống còn 1,3% (từ 4,4% năm 2021); hoàn thành cơ bản mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước và “chiến dịch Quang Trung” về xây mới, sửa chữa nhà ở sau bão lũ cơ bản đạt kế hoạch thần tốc đề ra.
Hai là, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 3,31%. Lạm phát cơ bản tăng 3,21% so với cùng kỳ năm 2024, thấp hơn mức tăng của lạm phát tổng thể (3,31%), chủ yếu là do tăng giá của các nhóm ngoài lõi, trong khi áp lực cầu kéo còn thấp, phần khác là do vòng quay tiền còn chậm (0,65 lần, tương đương năm 2024 và thấp hơn mức trước dịch 0,75 lần), dù cung tiền M2 tăng khá cao (khoảng 15,7%, cao hơn mức tăng 10,6% năm 2024). Nợ công năm 2025 ước ở mức 36% GDP, thâm hụt ngân sách 3,6% GDP, thấp hơn nhiều so với ngưỡng trần của Quốc hội; nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ tương đương 24% thu ngân sách nhà nước (dưới ngưỡng 25% theo quy định). Thị trường tài chính phục hồi mạnh dù vẫn còn rủi ro, thách thức. Chỉ số VNIndex tăng 40,9%, mức cao nhất trong vòng 8 năm; giá trị phát hành mới trái phiếu doanh nghiệp đạt 580,6 nghìn tỷ USD, tăng 34,3% so với năm 2024; nguồn cung nhà ở và nhà ở xã hội có sự gia tăng đáng kể.
Ba là, hoạt động doanh nghiệp khởi sắc: Năm 2025 đánh dấu số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao gần gấp hơn 1,3 lần số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; khoảng 3.200 hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên hơn 1 triệu. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã và đang tham gia các chương trình, dự án lớn của quốc gia, phát triển nhà ở xã hội, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đạt kết quả bước đầu.
Bốn là, thu ngân sách nhà nước tăng mạnh nhờ đà tăng trưởng tích cực của sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu; giải ngân đầu tư công đạt kỷ lục: Thu ngân sách nhà nước năm 2025 tăng 29,7% và vượt 34,7% dự toán, phản ánh sự phục hồi mạnh của sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu, cùng với việc mở rộng cơ sở thuế và tăng thu từ nhà đất, thương mại điện tử, nền tảng số... trong khi vẫn duy trì chính sách tài khóa mở rộng có trọng điểm. Tổng quy mô hỗ trợ (giãn, hoãn, giảm thuế phí, tiền sử dụng đất…) khoảng 250 nghìn tỷ đồng, thực chi gần 80 nghìn tỷ đồng. Chi ngân sách nhà nước tăng 31,2%, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 38,3% nhờ giải ngân đầu tư công đạt 850 nghìn tỷ đồng, đạt 83,7% kế hoạch, tăng 26,6% (hay 189 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối), cao nhất trong vòng 8 năm.
Năm là, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả nổi bật được các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao: Năm 2025, Việt Nam tổ chức thành công nhiều sự kiện đối ngoại quan trọng, như Lễ mở ký Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng, Diễn đàn Tương lai ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh P4G lần thứ 4 và Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội; nâng số đối tác chiến lược toàn diện lên 14 quốc gia; tham gia tích cực các cơ chế đa phương và thúc đẩy đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới với Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC)…, qua đó mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch và khoa học, công nghệ, nâng cao vị thế quốc tế và huy động nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững thời gian tới. Việt Nam đứng thứ 2 ASEAN về đầu tư khởi nghiệp trí tuệ nhân tạo (AI); xếp thứ 55 thế giới và thứ 5 ASEAN về hệ sinh thái khởi nghiệp; đứng thứ 6/40 về chỉ số AI; giữ vị trí 44/139 thế giới và thứ 3 ASEAN về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII); hệ số tín nhiệm quốc gia chỉ còn cách mức Đầu tư 1 bậc (theo đánh giá của S&P và Fitch); chỉ số hạnh phúc xếp thứ 46/143 thế giới và thứ 2 ASEAN, tăng 8 bậc so với năm 2024; top 10 điểm đến du lịch hấp dẫn và quốc gia thân thiện nhất thế giới…
Lắp ráp xe buýt ở nhà máy của Công ty cổ phần Kim Long Motor Huế _Ảnh: TTXVN
Thách thức còn tiềm ẩn
Bên cạnh những thách thức hiện hữu còn tiềm ẩn những vấn đề khó đoán định (đặc biệt là rủi ro địa - chính trị và căng thẳng thương mại - công nghệ; áp lực lạm phát và lãi suất còn cao, rủi ro nợ công và rủi ro phi truyền thống) thách thức đà tăng trưởng bền vững, đó là:
Một số động lực tăng trưởng chưa đồng đều: Sức cầu tiêu dùng vẫn thấp hơn mức trước dịch. Xuất khẩu hàng hóa đang chậm lại; thặng dư thương mại hàng hóa chỉ bằng 75% năm 2023 - 2024, trong khi nhập siêu dịch vụ còn cao. Đầu tư chưa thực sự bứt phá, tăng trưởng đầu tư tư nhân chỉ bằng khoảng 60% mức tăng trước dịch; vốn FDI đăng ký mới giảm 12,2% so cùng kỳ, cho thấy cần tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư - kinh doanh.
Chất lượng tăng trưởng cải thiện song chưa đạt kỳ vọng: Năng suất lao động năm 2025 tăng khá 6,83%, nhưng bình quân giai đoạn 2021 - 2025 ước chỉ tăng khoảng 5%, khá xa mục tiêu 6,5%/năm; hiệu quả đầu tư còn thấp (hệ số ICOR ở mức 5 lần, vẫn cao gấp 1,6 lần mức khuyến cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)), quy mô kinh tế số đạt khoảng 14%, tăng 14,4% so với năm 2024 song chưa đạt mục tiêu 20% đến cuối năm 2025...
Tỷ giá hạ nhiệt song còn chịu sức ép do nguồn cung ngoại tệ chậm lại khi nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân tài chính thâm hụt và tình trạng “găm” giữ ngoại tệ và đầu cơ vàng còn phức tạp. Tuy nhiên, tỷ giá sẽ trong tầm kiểm soát nhờ kỳ vọng hạ lãi suất của Ngân hàng Trung ương Mỹ (Fed), cán cân thương mại kỳ vọng khả quan hơn, thị trường vàng dần ổn định, chính sách bình ổn tỷ giá và thị trường vàng ngày càng hiệu quả.
Vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp còn không ít vướng mắc; tình trạng lãng phí còn chậm khắc phục; tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu và các rủi ro phi truyền thống ngày càng rõ nét đòi hỏi cần có giải pháp căn cơ, quyết liệt hơn trong thời gian tới.
Triển vọng năm 2026: Đủ thế và lực để bứt phá đạt tăng trưởng cao
Nghị quyết số 244/2025/QH15, ngày 13-11-2025, của Quốc hội, “Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026” xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP đạt 10% trở lên gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 và đạt được các mục tiêu chiến lược dài hạn đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới dự báo phục hồi chậm, nhiều khó khăn, thách thức mới, phức tạp, bất định hơn, mục tiêu đạt tăng trưởng cao ít nhất 10% - mức cao kỷ lục trong lịch sử (gấp 1,5 lần bình quân tăng trưởng GDP giai đoạn 40 năm 1986 - 2025) là mục tiêu khá thách thức, đòi hỏi quyết tâm rất lớn. Với nền tảng ấn tượng của năm 2025, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, đột phá về thể chế, môi trường đầu tư - kinh doanh tiếp tục được cải thiện; các động lực tăng trưởng (cả truyền thống và mới) được làm mới và phát huy hiệu quả cao hơn; kinh tế vĩ mô năm 2026 dự báo tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm; thị trường tài chính ngày càng phát triển đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho nền kinh tế; niềm tin của doanh nghiệp và người dân được củng cố, Việt Nam có đủ điều kiện để bứt phá tăng trưởng.
Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026 có thể tăng 9 - 9,5% (kịch bản cơ sở) hoặc khả quan hơn, khoảng 10% (kịch bản tích cực), tiệm cận quỹ đạo bứt phá của các nền kinh tế Đông Á trong giai đoạn vượt bẫy thu nhập trung bình. Về cơ bản, các động lực tăng trưởng sẽ được thúc đẩy cao hơn so với năm 2025, tăng trưởng và đóng góp vào tăng trưởng GDP chung ở mức cao hơn 0,3 - 0,5 điểm % so với năm 2025. Động lực chính là công nghiệp - xây dựng và dịch vụ (đóng góp trên 90% vào tăng trưởng GDP) với mức tăng trưởng cao 10 - 12%; nông, lâm, thủy sản có thể tăng tốc với mức tăng trưởng 4 - 5,5% nhờ chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần hoàn, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bên cạnh các động lực truyền thống, các động lực tăng trưởng mới (khoa học, công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn…), động lực từ cải cách thể chế và tiết kiệm, chống lãng phí sẽ cộng hưởng, lan tỏa, phát huy hiệu quả với tăng trưởng và phát triển kinh tế năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030. Theo ước tính của nhóm nghiên cứu, cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng cường tiết kiệm, chống lãng phí có thể giúp GDP tăng thêm ít nhất 0,8 - 1,2 điểm %; nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng năng suất lao động (hệ số ICOR dự kiến giảm còn khoảng 4; tốc độ tăng năng suất lao động có thể bứt phá lên mức 7,5 - 8%, gấp 1 - 1,2 lần mức tăng của năm 2025.
![]()
Về kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô: CPI bình quân năm 2026 dự báo tăng khoảng 4 - 4,5%, cao hơn năm 2025 do áp lực chi phí đẩy (tiếp tục điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý như tiền lương, giá điện…) và cả yếu tố cầu kéo khi cung tiền tăng ít nhất tương đương năm 2025, vòng quay tiền nhanh hơn (khoảng 0,7 - 0,75 lần) và độ trễ tăng cung tiền từ năm trước. Tuy vậy, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát nhờ xu hướng hạ nhiệt của giá cả, lạm phát toàn cầu, nguồn cung hàng hóa - dịch vụ thiết yếu trong nước được bảo đảm, tỷ giá và lãi suất cơ bản ổn định, cùng hiệu quả phối hợp chính sách ngày càng được cải thiện. Nợ công trong ngưỡng an toàn và thấp hơn các nước đang phát triển khu vực và thế giới, các cân đối vĩ mô được bảo đảm.
Làng nghề hoa cảnh Vĩnh Yên, Vĩnh Long vào vụ hoa tết _Ảnh: TTXVN
Một số kiến nghị trọng tâm
Mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 cùng với ổn định kinh tế vĩ mô là rất thách thức, nhưng cũng là tiền đề quan trọng để vượt qua "bẫy thu nhập trung bình", đạt được các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới, vì vậy, cần tập trung 5 nhóm giải pháp trọng tâm sau:
Một là, tập trung thực thi hiệu quả các quyết sách chiến lược, các luật và nghị quyết đã ban hành, tạo nền tảng pháp lý vững chắc và môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch. Toàn hệ thống chính trị cần triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các quyết sách chiến lược và các luật, nghị quyết đã ban hành; cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh; vận hành thông suốt mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tháo gỡ kịp thời các vướng mắc, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, khắc phục triệt để tình trạng lãng phí (nhất là các dự án, tài sản tồn đọng).
Hai là, làm mới động lực tăng trưởng truyền thống và khai thác hiệu quả các động lực mới. Với các động lực truyền thống, cần giữ vững mặt trận xuất khẩu (gồm cả đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ), kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước, trong đó cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh, tăng niềm tin là then chốt. Với các động lực mới, cần sớm xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa vào khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tăng năng suất và đóng góp của TFP; phát triển các ngành công nghiệp chiến lược, công nghiệp văn hóa, du lịch - giải trí...); phát triển các thị trường, dư địa mới (như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, thị trường carbon, tài sản mã hóa, giao dịch hàng hóa...). Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi các đầu tàu kinh tế tăng tốc, đóng góp ngày càng nhiều hơn, chất lượng hơn cho vào tăng trưởng, phát triển kinh tế đất nước.
Ba là, kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, theo đó chính sách tài khóa cần là chủ lực, chính sách tiền tệ bổ trợ, phối hợp hài hòa nhằm thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát; bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu; điều hành linh hoạt lãi suất - tỷ giá, bình ổn thị trường vàng, lành mạnh hóa thị trường bất động sản, kiểm soát giá nhà đất và rủi ro liên thông giữa thị trường tài chính, tiền tệ - bất động sản. Cùng với đó, sớm xây dựng Đề án cải cách thị trường tài chính, phát triển thị trường tài chính cân bằng, đồng bộ, theo đó tăng trưởng tín dụng chỉ nên duy trì mức vừa phải (15 - 16%) gắn với đa dạng hóa các nguồn vốn từ thị trường chứng khoán, trái phiếu, các loại hình quỹ đầu tư; trung tâm tài chính quốc tế, thị trường tín chỉ carbon, tài sản mã hóa…
Bốn là, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng. Sớm xây dựng Đề án chuyển đổi xanh quốc gia; đề án nâng cao sức chống chịu và tự chủ chiến lược của nền kinh tế và doanh nghiệp, nhất là lĩnh vực công nghiệp chiến lược, công nghiệp phụ trợ. Cùng với đó, chú trọng đẩy nhanh tiến độ xử lý các dự án còn vướng mắc, tồn đọng; cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng yếu kém còn lại, cơ cấu lại đầu tư công theo hướng bền vững nhằm giải phóng nguồn lực, chống lãng phí, cũng là tăng hiệu quả đẩu tư.
Năm là, gắn kết tăng trưởng với bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Việc gắn kết các chiến lược, kế hoạch phát triển xanh, thực hành ESG (môi trường (Environmental), xã hội (Social) và quản trị (Governance) khung đánh giá tính bền vững và trách nhiệm đối với môi trường, xã hội của doanh nghiệp) với các quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, các ngành và doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết, hướng tới mục tiêu Net-Zero. Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, sự dẫn dắt của vốn đầu tư công, các nguồn lực xã hội hóa trong nước kết hợp huy động nguồn lực quốc tế đóng vai trò quan trọng trong tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế theo mô hình “chi trả theo khả năng” và “trả phí cao - hỗ trợ cao”; thực hiện các tiêu chuẩn và chương trình thay đổi hành vi sử dụng năng lượng tiết kiệm, kết hợp phát triển kinh tế tuần hoàn với xử lý ô nhiễm môi trường, nhân rộng các sáng kiến sản xuất và tiêu dùng xanh, thân thiện với môi trường./.