Phát triển truyền hình đa nền tảng trong kỷ nguyên số ở Việt Nam

Nguyễn Dương Chân
Đài Truyền hình Việt Nam

TCCS - Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động đến toàn bộ các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, trong đó truyền thông, báo chí là một trong những lĩnh vực chịu tác động trước tiên và mạnh mẽ nhất, từ đó hình thành những xu thế, loại hình, phương thức báo chí mới, mà truyền hình đa nền tảng là một điển hình.

Sản xuất một chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam_ Ảnh: vtv.vn

Chuyển đổi số là “chìa khóa” để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, do đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 3-6-2020, phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030, với 3 trụ cột chính là chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Truyền thông, báo chí là lĩnh vực không thể nằm ngoài xu thế này. “Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” xác định mục tiêu căn bản là xây dựng các cơ quan báo chí theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; làm tốt sứ mệnh thông tin, tuyên truyền phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự nghiệp đổi mới của đất nước; bảo đảm vai trò dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội, giữ vững chủ quyền thông tin trên không gian mạng; đổi mới hiệu quả trải nghiệm của độc giả; tạo nguồn thu; thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp nội dung số.

Với vai trò, vị trí quan trọng, hệ thống các đài truyền hình ở Việt Nam đã triển khai nghiêm túc, quyết liệt chỉ đạo của Trung ương, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, thực tiễn phát triển khoa học - công nghệ và nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng, mức độ thẩm mỹ cao của công chúng. Trong đó, xu hướng truyền hình đa nền tảng là bước phát triển mang tính tất yếu khách quan. Hầu hết các đài truyền hình trung ương và cấp tỉnh đã tiến hành xây dựng và hoàn thiện hệ thống sản xuất, lưu trữ tư liệu và phân phối nội dung đa nền tảng được tối ưu hóa theo nhu cầu của từng đơn vị và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất toàn đơn vị; triệt để ứng dụng công nghệ để quản lý, vận hành nhằm tối ưu hóa quá trình sản xuất nội dung, bảo đảm tốc độ và hiệu quả xuất bản tin, bài; xây dựng mạng lưới tự động giám sát, đánh giá chất lượng nội dung, chỉ số về tương tác của khán giả, mức độ tác động và hiệu quả truyền thông, từ đó hướng tới các mô hình kiểm chứng thông tin, phát hiện lỗi sai tự động; triển khai các mô hình tòa soạn hội tụ, tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp với môi trường phân phối nội dung trên đa nền tảng; chuẩn hóa, triển khai các dịch vụ dùng chung tích hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị, phòng, ban nội bộ...

Để đạt mục tiêu 70% số cơ quan báo chí, trong đó có truyền hình, đưa nội dung lên các nền tảng số (ưu tiên các nền tảng số trong nước) như Chính phủ đề ra, cần nhìn nhận sâu sắc những vấn đề đặt ra cả về nhân lực, hạ tầng và sản phẩm, làm cơ sở định hướng phát triển phù hợp với bối cảnh số.

Cơ sở của xu hướng truyền hình đa nền tảng

Từ thực trạng quản lý, phát triển báo chí, dự báo xu hướng phát triển trong tương lai, Đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 nhấn mạnh, báo chí là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Phát triển báo chí đi đôi với quản lý tốt, nâng cao năng lực, hiệu lực, xây dựng nền báo chí nước ta cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại, nhân văn, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, đoàn kết toàn dân tộc, tạo đồng thuận xã hội. Sắp xếp hệ thống báo chí gắn với đổi mới mô hình, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý báo chí. Xây dựng một số cơ quan báo chí chủ lực, đa phương tiện làm nòng cốt, có vai trò định hướng thông tin báo chí, thông tin trên mạng internet; khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải đầu tư, buông lỏng quản lý, xa rời tôn chỉ, mục đích, nặng về thông tin mặt trái, tiêu cực; thông tin thiếu chuẩn xác…

Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định xây dựng nền báo chí, truyền thông hiện đại. Thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông. Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet…; phát triển hiệu quả, lành mạnh hệ thống báo chí, xuất bản, in, phát thanh, truyền hình đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ đất nước và nhu cầu của người dân. Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin thiết yếu và tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, các thông tin về tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội; biểu dương nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt.

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã đặt ra những mục tiêu và lộ trình cụ thể đến năm 2025, trong đó 70% cơ quan báo chí đưa nội dung lên các nền tảng số (ưu tiên các nền tảng số trong nước); 50% cơ quan báo chí sử dụng nền tảng phân tích, xử lý dữ liệu tổng hợp tập trung, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa hoạt động; 80% cơ quan báo chí hoạt động, vận hành mô hình tòa soạn hội tụ, phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới, sản xuất nội dung theo các xu hướng báo chí số; 100% lãnh đạo, cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về chuyển đổi số báo chí; hình thành và phát triển các nền tảng số quốc gia cho báo chí.

Giải pháp căn cốt là phát triển các sản phẩm báo chí số và nền tảng số. Theo đó, sản phẩm báo chí số dựa trên thiết kế, sáng tạo các mô hình sản phẩm thông tin mới trên các nền tảng khác nhau để tăng độ tương tác với độc giả, phân phối nội dung thông tin nhanh hơn, rộng hơn và chính xác theo nhu cầu của độc giả; ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ trong việc tự động hóa để thúc đẩy quá trình sản xuất nội dung. Nền tảng số gắn với quá trình xây dựng các công cụ thu thập, xử lý dữ liệu, đánh giá, dự báo, theo dõi, giám sát chất lượng báo chí; xây dựng chỉ số đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí; thúc đẩy hình thành và phát triển nền tảng phát thanh số (trực tuyến) và nền tảng truyền hình số (trực tuyến) quốc gia, nền tảng báo chí điện tử…

Với quyết tâm chính trị và thống nhất hành động, có thể khẳng định, sự phát triển của báo chí nói chung và truyền hình nói riêng đã thúc đẩy xu hướng truyền hình đa nền tảng ở nước ta tiệm cận và bắt nhịp nhanh hơn với truyền hình đa nền tảng trên thế giới. Tuy nhiên, cần nhìn nhận sâu sắc những vấn đề chưa được giải quyết để có các định hướng đúng đắn, nhằm đẩy nhanh công cuộc chuyển đổi số của truyền hình ở Việt Nam hiện nay.

Những vấn đề đặt ra với xu hướng truyền hình đa nền tảng

Truyền hình đa nền tảng có thể hiểu là xu hướng tích hợp với các nền tảng kỹ thuật số để sản xuất, phân phối các sản phẩm truyền hình nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin và trải nghiệm xem của công chúng. Nền tảng kỹ thuật số là một cấu trúc có thể lập trình, được thiết kế để tổ chức các tương tác giữa những người dùng. Các nền tảng thường được truyền hình tích hợp để tổ chức sản xuất tin tức: nền tảng xuyên biên giới (Facebook, YouTube, Tiktok…) và nền tảng của các đài truyền hình (VTVgo - Nền tảng Truyền hình số quốc gia, VTCNow - Nền tảng của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC, VOV - Nền tảng số của Đài Tiếng nói Việt Nam…).

Thứ nhất, nền tảng xuyên biên giới và bài toán bảo đảm tính chính xác, toàn diện của tin tức.

Đối với truyền hình Việt Nam, sự xuất hiện của Facebook (2004) và YouTube (2005) ở nước ta đã tạo ra áp lực lớn cần giải quyết: Áp lực cạnh tranh thông tin; áp lực giữ chân khán giả; áp lực về công nghệ; áp lực về nguồn thu. Việc chọn lựa nội dung thông tin là hoạt động phản ánh bản chất của truyền hình chuyên nghiệp, phản ánh đánh giá của tổ chức truyền hình về các giá trị xã hội, chính trị và văn hoá. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các nền tảng xuyên biên giới khiến việc chọn lựa này chuyển từ các biên tập viên (dựa trên nhiều tiêu chí khoa học) sang thuật toán của nền tảng.

Cấp độ một, nền tảng xuyên biên giới tự đặt ra và kiểm soát nội dung tin tức truyền hình được chia sẻ lên trên nền tảng của mình, ở phạm vi toàn cầu. Hoạt động kiểm soát dựa trên sự kết hợp giữa việc gắn cờ/thích/bày tỏ cảm xúc của người dùng/khán giả, tự động phát hiện từ ngữ/hình ảnh và người kiểm duyệt. Điểm đáng lưu ý, người kiểm duyệt của nền tảng chỉ có khoảng 10-15 giây để quyết định cho phép hoặc không cho phép. Do vậy, hoạt động này thường thiếu sự biên tập kỹ lưỡng, không như kỳ vọng của tổ chức truyền hình. Thêm vào đó, việc lan truyền thông tin sai lệch của các nền tảng xuyên biên giới cũng là mặt trái trong quản lý nền tảng xuyên biên giới; các nhà sản xuất đa quốc gia có thể sẵn sàng chối bỏ trách nhiệm của mình.

Cấp độ hai, nền tảng xuyên biên giới thống trị lĩnh vực tin tức, trong đó có truyền hình, can thiệp sâu vào tần suất hiển thị (ít hoặc nhiều) của mọi loại nội dung thông tin; tần suất xuất hiện (ít hoặc nhiều) của mọi tổ chức báo chí, trên nền tảng của mình. Sự can thiệp đến từ thuật toán được kết hợp bởi cơ chế dữ liệu hoá, cơ chế hàng hóa hóa và cơ chế chọn lựa của nền tảng. Bản chất chính là dựa trên nguyên tắc “cá nhân hóa” và “lan truyền” để chọn lựa và hiển thị nội dung tin tức/tổ chức truyền hình. Từ đó, tự động thúc đẩy người dùng/khán giả chia sẻ với bạn bè, người theo dõi và thu hút phản hồi/bày tỏ cảm xúc của họ. Điều này xác nhận, nền tảng xuyên biên giới chỉ tập trung vào việc tối đa hoá sự tương tác và không quan tâm đến việc cung cấp tin tức chính xác, toàn diện cho người dùng/khán giả. Hơn nữa, thực tế việc chia sẻ của người dùng và thuật toán “cá nhân hóa” tạo ra các “bong bóng bộ lọc” thông tin của riêng họ. Vì thế, công chúng khó có thể thấy được sự đa dạng của dòng chảy tin tức truyền hình và nó được hiển thị/truy cập ít hay nhiều là do các nền tảng xuyên biên giới. 

Thứ hai, cơ chế chọn lựa của nền tảng xuyên biên giới và bài toán bảo đảm tính dân chủ của quy trình tin tức.

Cơ chế chọn lựa của nền tảng xuyên biên giới đã thay đổi căn bản động lực chọn lựa nội dung truyền hình và đặt gánh nặng đó lên sở thích của người dùng/khán giả. Do vậy, nhiều tác phẩm truyền hình có giá trị không đến được với đông đảo công chúng. Ngoài cảm xúc của khán giả, động lực này về cơ bản được kích hoạt bởi các nền tảng xuyên biên giới. Trong khi truyền hình cung cấp tin tức đã được xác minh và khuyến khích khán giả xem trọn vẹn một nội dung, thì nền tảng thúc đẩy khán giả lưu hành tin tức chưa được xác minh và xem một cách rời rạc. Do vậy, tin giả thường “di chuyển nhanh hơn” và tin tức chính thống của truyền hình lại “vô hình” trên các nền tảng xuyên biên giới.

Để nâng cao tính minh bạch của quy trình tin tức, trong một môi trường truyền hình đa nền tảng, điều quan trọng là các tác nhân chủ chốt khác nhau phải hợp tác trong việc quản lý tin tức, thông qua các nền tảng. Sự minh bạch là yếu tố sống còn để thực hiện điều này, cụ thể: 1-Hướng dẫn về loại nội dung/chủ đề của truyền hình được phép xuất hiện, trên nền tảng kết cấu hạ tầng; 2-Quy tắc kiểm tra tính xác thực của tin tức theo xu hướng/dòng chủ đề được quan tâm nhiều; 3-Sự phát triển tổng thể các thuật toán của nền tảng không nên trở thành hộp đen bí mật, để tổ chức truyền hình có thể đánh giá chúng một cách dân chủ.

Thứ ba, chiến lược lưu trữ trên nền tảng xuyên biên giới của truyền hình và bài toán kinh tế.

Chiến lược lưu trữ đề cập đến việc lưu hành các liên kết nội dung, tiêu đề và đoạn trích của các sản phẩm truyền hình, trên các nền tảng xuyên biên giới. Qua đó, truyền hình hướng khán giả đến trang web của tổ chức mình - nơi họ được chủ động hoạt động kinh tế và kêu gọi khán giả/người dùng online đăng ký tài khoản. Chiến lược này giúp truyền hình có được một lượng đáng kể khán giả online nhưng gần như không đem lại lợi ích kinh tế. Quảng cáo được phân phối ở mọi nền tảng để thu hút khán giả nên chi phí quảng cáo giảm dần. Hơn nữa, truyền hình chỉ biết được công chúng của mình là ai khi tạo tài khoản và sử dụng nền tảng xuyên biên giới. Do đó, họ luôn chủ động và đặt ra luật chơi. Mối quan hệ trực tuyến giữa nội dung của truyền hình, khán giả và nhà quảng cáo tạo ra ít doanh thu hơn so với truyền hình truyền thống.

Chiến lược lưu trữ đề cập đến việc tổ chức truyền hình lưu trữ nội dung trên các nền tảng xuyên biên giới - nơi nội dung được kết nối với quảng cáo. Tuy nhiên, việc theo đuổi chiến lược lưu trữ độc quyền sẽ biến các tổ chức truyền hình thành đơn vị được thuê để sản xuất nội dung cho nền tảng và nền tảng là người chủ động phân phối, thu lợi. Phần lớn lợi ích kinh tế sẽ thuộc về các nền tảng xuyên biên giới. Do đó, các tổ chức truyền hình thiết kế một nền tảng kỹ thuật số riêng và áp dụng chiến lược lưu trữ hỗn hợp; 100% tin/phóng sự được lưu trữ trên nền tảng riêng của tổ chức truyền hình; lưu một phần nhỏ trên các nền tảng xuyên biên giới và đính kèm link nguồn dẫn về nền tảng của đài truyền hình. Chiến lược này đem lại lợi ích kép, một mặt hạn chế sức mạnh của các nền tảng xuyên biên giới, mặt khác thúc đẩy hoạt động kinh tế truyền hình trên chính nền tảng do đài truyền hình thiết kế. Mặc dù, ở thời điểm hiện tại, đây là giải pháp tối ưu nhưng để nền tảng của tổ chức truyền hình hoàn thiện và phát triển thì cần phải có một chiến lược hợp lý.

Chuyển đổi số nói chung, truyền hình đa nền tảng nói riêng có thành công hay không trước hết vẫn là thay đổi cách nghĩ, sau đó là thay đổi cách làm, nhờ vào dữ liệu và công nghệ số. Chuyển đổi số dựa trên sự phát triển và hội tụ của nhiều công nghệ mang tính đột phá, gia tăng các hoạt động trên môi trường số. Nhưng hình thức, chất lượng ra sao, tác động thế nào, yếu tố quyết định vẫn phụ thuộc vào sự vận hành của con người. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành chương trình về chuyển đổi số quốc gia, do đó, có thể nói, nhận thức về chuyển đổi số đã có sự thay đổi vượt bậc, là nhân tố thuận lợi để Việt Nam chủ động khai thác triệt để các cơ hội mà cuộc cách mạng công nghệ mang lại. Ở cấp độ quốc gia, chuyển đổi số là chuyển đổi chính phủ số, kinh tế số và xã hội số quốc gia. Mỗi địa phương, đơn vị thực hiện chuyển đổi số thành công là góp phần đưa các mục tiêu quốc gia thành hiện thực. Đối với báo chí, ngoài nhiệm vụ phát triển các sản phẩm báo chí số, các nền tảng số, yếu tố quan trọng chính là chất lượng nguồn nhân lực. Nền tảng để tạo đà phát triển nguồn nhân lực cần bắt đầu từ lĩnh vực đào tạo ngành báo chí; thường xuyên tập huấn kỹ năng cơ bản, cần thiết cho đội ngũ làm báo chí, truyền thông; đào tạo kỹ năng xử lý dữ liệu; đổi mới sản xuất, phân phối thông tin trên môi trường mạng; thu thập, phân tích dữ liệu, giám sát và đánh giá nội dung; tăng cường hợp tác quốc tế để học tập, tiếp thu kinh nghiệp của các quốc gia nhằm phát triển báo chí hiện đại, nhân văn, đa nền tảng và đúng định hướng, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ đất nước và nhu cầu của người dân./.