Phản bác luận điệu xuyên tạc về tổ chức chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam

TS Đinh Nguyễn An
Trưởng Bộ môn Lý luận chính trị, Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam
14:30, ngày 18-05-2026

 TCCS - Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang hai cấp là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng, Nhà nước, đã được chứng minh trong thực tiễn triển khai gần một năm qua. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không ngừng tìm cách xuyên tạc, bóp méo chủ trương này, hòng gây hoang mang dư luận, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Việc nhận diện đúng bản chất các luận điệu chống phá, đồng thời khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp sẽ góp phần củng cố vững chắc niềm tin xã hội, tạo nền tảng ổn định chính trị để phát triển bền vững đất nước.

Việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị thời gian qua, trọng tâm là chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang mô hình hai cấp, là chủ trương lớn, đúng đắn và nhất quán của Đảng, Nhà nước ta nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Tuy nhiên, gần một năm qua, kể từ khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được thực hiện thống nhất trên toàn quốc (từ ngày 1-7-2025), các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã không ngừng xuyên tạc, chống phá.

Các thế lực thù địch rêu rao rằng, việc bỏ cấp huyện sẽ làm suy yếu hệ thống chính trị, giảm vai trò và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của cấp cơ sở; quy chụp sự đổi mới này sao chép máy móc mô hình nước ngoài, là sự “sắp xếp cơ học”, cộng gộp các đơn vị hành chính một cách khiên cưỡng; chủ trương này thiếu cơ sở khoa học, từ đó gây quá tải cho cấp xã, trong bối cảnh cán bộ không đủ năng lực; làm suy yếu cơ chế giám sát, tiềm ẩn nguy cơ lạm quyền và thiếu minh bạch (?!)... Đây đều là những quan điểm sai trái, cố tình phá hoại cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị.

Sự thật là, yêu cầu tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng là sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh: “Phải cải tiến bộ máy nhà nước của ta hiện còn rất xộc xệch, và giảm bớt những món chi tiêu của nó để cải thiện đời sống của quần chúng lao động, và để khôi phục, dù là dần dần, nền kinh tế của ta”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(2). Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận qua hơn 80 năm xây dựng đất nước, Đảng ta khẳng định quyết tâm: “Tiếp tục thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính, giảm cấp hành chính trung gian phù hợp với thực tiễn, mở rộng không gian phát triển, tăng cường nguồn lực của địa phương”(3).

Chủ trương đổi mới tổ chức chính quyền địa phương cũng là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận qua 40 năm đổi mới đất nước; được thực hiện thí điểm, đánh giá, rút kinh nghiệm và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới. Việc chuyển đổi này không chỉ đáp ứng đúng đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam, mà còn hoàn toàn phù hợp với xu thế quản trị địa phương hiện đại trên thế thế giới.

Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã chỉ rõ: Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Như vậy, đây là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có lộ trình, bước đi phù hợp. Trong quá trình thực hiện, chúng ta cầu thị, tiếp thu có chọn lọc các thông tin phản hồi; kiên định với các quyết sách đã xác định trên cơ sở giữ vững lập trường, quan điểm. Các cấp ủy, tổ chức đảng và nhân dân cả nước chung sức, đồng lòng, quyết tâm tiếp tục đưa công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đạt kết quả theo đúng kế hoạch đã đề ra.

Đảng ta khẳng định, muốn phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, bộ máy nhà nước phải được tổ chức phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả và tận tâm phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh phát triển mới, yêu cầu cắt giảm tầng nấc trung gian, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhằm kiến tạo không gian và động lực phát triển đã trở thành xu thế tất yếu, là đòi hỏi khách quan của thực tiễn. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khoa học - kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, một tổ chức bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, thiếu linh hoạt sẽ trở thành rào cản đối với sự phát triển đất nước.

Do vậy, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nói chung, tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp nói riêng là yêu cầu cấp thiết, là cơ sở, điều kiện quan trọng để Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm sự minh bạch, hiệu quả trong quản lý nhà nước. Việc không tổ chức cấp huyện là tái cấu trúc mô hình, tổ chức bộ máy để mở rộng không gian, tăng cường nguồn lực, tăng hiệu quả quản lý.

Người dân làm thủ tục tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Lý Nhân, tỉnh Ninh Bình _Ảnh: TTXVN

Để bảo vệ vững chắc thành quả của cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, nhất là luận điệu sai trái về tổ chức thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, đổi mới, nâng cao nhận thức chính trị, tăng cường “lá chắn tư tưởng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để phòng tránh, khắc phục biểu hiện dao động, hoài nghi về hiệu quả của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để thấy rõ ý chí, quyết tâm chính trị to lớn của Đảng đối với việc tổ chức, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp là vì hạnh phúc của nhân dân, đem lại lợi ích lâu dài cho đất nước, góp phần thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Cần nhận thức rõ việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không phải là “cắt giảm cơ học”, mà là tái cấu trúc bộ máy theo hướng tinh gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, phục vụ nhân dân tốt hơn. Khi nhận thức thông suốt, niềm tin của người dân sẽ có cơ sở khoa học vững vàng, tạo ra “sức đề kháng” của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.

Hai là, tích cực, chủ động đấu tranh phản bác kịp thời, hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên các mặt trận, nhất là trên không gian mạng; lấy “cái đẹp dẹp cái xấu”; chủ động, tích cực “đi trước một bước”. Mỗi cán bộ, đảng viên là một “thông tín viên” tích cực, kịp thời phát hiện, nhận diện, phân tích, đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch. Việc kịp thời thông tin về kết quả bước đầu đạt được từ cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp hiện nay là minh chứng sống động và thuyết phục để phản bác những luận điệu xuyên tạc.

Ba là, cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, đúc kết bài học kinh nghiệm; từ đó nhân rộng những mô hình hay, cách làm hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Công khai, minh bạch kết quả thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, nhất là những điển hình tiên tiến để nhân dân thấy rõ lợi ích thiết thực của cuộc cách mạng, như giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ nhân dân, gần dân; tạo môi trường thông thoáng để phát triển kinh tế - xã hội, làm giàu chính đáng, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân. Qua đó, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đồng thời, thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, vướng mắc, những bất cập, mâu thuẫn phát sinh để có giải pháp khắc phục kịp thời, triệt để, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng “khoảng trống thông tin” để xuyên tạc, chống phá.

Bốn là, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trong chấp hành nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, nói và làm theo nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nghiêm túc trong triển khai tổ chức và bảo vệ chủ trương thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tư tưởng cục bộ, lợi ích nhóm, tâm lý e ngại thay đổi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Khi đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng, thống nhất về lập trường, quan điểm, hành động quyết liệt, tạo nên những hiệu quả rõ ràng trong thực tiễn, phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn sẽ góp phần đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, chống phá về thực hiện chính quyền địa phương hai cấp.

Những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch không thể phủ nhận việc tổ chức thực hiện chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam là bước đi tất yếu, hợp quy luật của tiến trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta do Đảng lãnh đạo, nhằm xây dựng bộ máy tinh gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. Sau gần 1 năm thực hiện chủ trương lớn trên, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo về sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp, qua đó kịp thời đánh giá toàn diện, khách quan, chỉ ra những kết quả, hạn chế, nguyên nhân, đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới./.

-----------------

(1) V.I.Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, t. 45, tr. 247
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4,  tr. 21
(3) Kết luận số 121-KL/TW, ngày 24-1-2025, của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, về Tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.


Chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng khi các thế lực thù địch lợi dụng thành tựu khoa học, công nghệ để chống phá Đảng, Nhà nước ta

TS TRẦN THƯ ANH
Thượng tá, Học viện An ninh nhân dân
10:53, ngày 15-05-2026

TCCS - Hiện nay, sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại nhiều thời cơ, vận hội mới để phát triển đất nước, nhưng cũng đặt ra thách thức trong quản lý nhà nước và xã hội; đặc biệt, khi các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng mặt trái từ sự phát triển khoa học, công nghệ để tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Do đó, phải nhanh chóng nhận diện, kiên quyết đấu tranh với phương thức, thủ đoạn, ý đồ chống phá của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra sự kết nối mạnh mẽ giữa thế giới thực với thế giới ảo, tạo sự lan truyền thông tin nhanh chóng; đồng thời, tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội của quốc gia. Sự biến đổi nhanh chóng về tính chất lực lượng sản xuất của xã hội từ sự tác động của khoa học, công nghệ, ranh giới ngày càng mờ đi giữa thế giới thực và thế giới ảo, cộng với tốc độ lan truyền nhanh chóng của thông tin đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với quy mô, cường độ ngày càng lớn, kết hợp với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt... Bên cạnh việc kiên trì thực hiện mưu đồ chống phá theo phương pháp truyền thống, như rải truyền đơn, tập hợp lực lượng biểu tình, nói xấu Đảng, Nhà nước ta trên một số địa phương cụ thể, chúng đẩy mạnh hoạt động truyền bá, xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng, thông qua nền tảng mạng xã hội, như Facebook, Tiktok, Youtube, Instagram, Twitter..., hòng hướng lái người đọc, tạo tác động tâm lý tới tư tưởng, nhận thức của một bộ phận quần chúng, thậm chí là cán bộ, đảng viên. Lợi dụng sự thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ, các vấn đề xã hội phát sinh từ tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, như phân hóa giàu - nghèo, thất nghiệp, lạm phát, gia tăng bất bình đẳng xã hội... chúng không ngừng gieo rắc tâm lý hoài nghi vào đời sống cộng đồng. Từ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều loại vũ khí thế hệ mới được tạo ra, như vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô-bốt tác chiến,... với tính năng vượt trội, mức độ sát thương lớn gấp nhiều lần so với vũ khí thế hệ trước, các thế lực thù địch lợi dụng để truyền bá quan điểm “vũ khí luận”, mưu toan tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí hiện đại, hòng khuếch trương sức mạnh khoa học và quân sự của chủ nghĩa tư bản(1)...

Mục tiêu của các đối tượng phản động, cơ hội chính trị là làm nhiễu loạn thông tin trong xã hội, hòng tạo ra tác động về tâm lý, hướng lái về tư tưởng để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng tận dụng tối đa phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, phương tiện trực tuyến, diễn đàn, hội nghị quốc tế, sự kiện chính trị, xã hội trong nước,... để xuyên tạc, truyền bá quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch; bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng dưới nhiều hình thức, chiêu bài khác nhau, hướng đến việc đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập...

Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng thông qua việc ban hành văn bản định hướng về chủ trương, chính sách, pháp luật. Đặc biệt, theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, sống còn của công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Trước thay đổi của thực tiễn, qua nghiên cứu cho thấy, việc bám sát tinh thần và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW là yêu cầu rất cấp thiết. Đại hội XIII của Đảng cũng một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ: Tăng cường quản lý và phát triển loại hình truyền thông, thông tin trên internet, thực hiện triệt để việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng. Để cụ thể hóa, Đảng, Nhà nước và cơ quan có trách nhiệm đã ban hành các văn bản, như Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”; Luật An ninh mạng; Luật An toàn thông tin mạng; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-7-2023, của Chính phủ, về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng” (sửa đổi, bổ sung Nghị định số 27/2018/NĐ-CP); triển khai thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội; Cẩm nang phòng, chống tin giả, tin sai sự thật trên không gian mạng; nhiều văn bản khác có liên quan;... để giúp cho tổ chức và cá nhân không vi phạm quy định, hay vô tình bị lợi dụng, tiếp tay cho các thế lực thù địch.

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng mặt trái của sự phát triển khoa học - công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để chống phá

Lợi dụng triệt để ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cùng sự bùng nổ truyền thông, triệt để lợi dụng mặt trái của sự phát triển khoa học, công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng để tung thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, phản động. Đây là phương thức được các thế lực thù địch sử dụng thường xuyên, liên tục, nhưng cao điểm thường tập trung vào dịp nước ta có sự kiện lớn về chính trị, như các kỳ đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; chuyến thăm hữu nghị của người đứng đầu các quốc gia khác đến Việt Nam, đặc biệt là các nước lớn... Các thế lực thù địch cũng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ việc Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên quyết đấu tranh, làm rõ, xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật... Cụ thể, các thế lực thù địch tập trung truyền bá, xuyên tạc vào các vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch truyền bá thông tin sai trái phủ nhận tính đúng đắn, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; bịa đặt, gán ghép, vu cáo, bôi nhọ hình ảnh các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ lãnh đạo chủ chốt đất nước qua các thời kỳ hòng hạ bệ uy tín, chia rẽ khối đoàn kết trong Đảng và đại đoàn kết toàn dân tộc... Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, một trong những phương thức nguy hiểm được các đối tượng sử dụng là bề ngoài thì tham gia đóng góp ý kiến vào các bản dự thảo văn kiện đại hội Đảng, dự thảo sửa đổi luật..., nhưng bên trong thì chúng xuyên tạc nội dung, cổ xúy “dân chủ đa nguyên”, tung ra các luận điệu thâm độc hòng thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa cương lĩnh, Hiến pháp; “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; đòi thực hiện “tam quyền phân lập”...

Thứ hai, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề phức tạp, đang “nóng” hiện nay là tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; việc Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên quyết đấu tranh, làm rõ, xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật,... để xuyên tạc, bôi nhọ thông qua trang mạng xã hội dưới dạng “thâm cung bí sử” để gợi sự tò mò, kích động, gây chia rẽ đoàn kết trong Đảng. Bên cạnh đó, lợi dụng cái gọi là “vấn đề dân chủ, tôn giáo, nhân quyền” để truyền bá, vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, nhân quyền bị chà đạp thông qua cái gọi là “tù nhân lương tâm” để cổ xúy cho đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Thứ ba, các thế lực thù địch ở nước ngoài, núp bóng danh nghĩa cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, viết cái gọi là “tâm thư” với lời lẽ kích động, xúi giục gây rối, lồng ghép vào lời lẽ, hình ảnh thể hiện ý đồ quy chụp Đảng và Nhà nước ta “bán nước, biển, đảo cho nước ngoài”?!... Ngoài ra, thông qua mạng xã hội, đặc biệt là tính năng livestream, trao đổi trực tiếp trên mạng xã hội, các thế lực thù địch thường xuyên tổ chức đăng tải, tán phát video phỏng vấn theo hướng kích động đối tượng bất mãn trong nước, cơ hội chính trị, thù hằn chế độ, nhằm mục đích gây rối, gây áp lực với hệ thống chính trị các cấp; đưa ra yêu sách đòi tự do lập hội, nhóm, mà thực chất là phát triển, tập hợp lực lượng chống đối.

Thứ tư, các thế lực thù địch thường sử dụng nhiều cách thức để thực hiện hành vi tuyên truyền, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta dựa trên những thành tựu khoa học, công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, cụ thể:

Các thế lực thù địch tạo lập trang web, blog hoặc lập tài khoản cá nhân, nhóm hoặc fanpage mạng xã hội, như Facebook, Youtube, Twitter... hoặc diễn đàn tạo lập trên mạng xã hội để thực hiện hành vi truyền bá, xuyên tạc, định hướng dư luận theo quan điểm, tư tưởng lệch lạc, phản động. Theo thống kê, hiện nay đã có hàng nghìn hội nhóm, trang phản động mới xuất hiện trên mạng xã hội, trong đó đáng chú ý là “Việt Tân”, “Dân Luận”, “Đại Kỷ nguyên”, “Hóng biến”, “Việt Nam Cộng hòa”; “Người Việt Online”, “Chân dung quyền lực”, “Nhật ký yêu nước”, “Dân làm báo”... Các thế lực thù địch tung tin, phát tán thông tin xuyên tạc với số lượng rất lớn trên internet, mạng xã hội, blog cá nhân, kênh tin tức chống phá của nước ngoài. Theo đó, các đối tượng phản động, chống đối thường núp dưới cái gọi là tổ chức “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”, “chống tham nhũng”... để truyền bá, xuyên tạc đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng, thành tựu của Việt Nam về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”... Mặt khác, sử dụng số đối tượng thoái hóa, biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, bị kỷ luật dẫn đến bất mãn để thành lập các hội, fanpage... làm cơ quan ngôn luận, tuyên bố ủng hộ, thậm chí làm “cố vấn” cho hoạt động của hội, nhóm “dân chủ” trên mạng. Ở phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong giai đoạn hiện nay, thủ đoạn lợi dụng mạng xã hội để phát tán rộng rãi tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung xấu, độc, phản động, tuyên truyền, kích động người dân cổ xúy cho phong trào “bất tuân dân sự”, kích động gây rối trật tự hoặc đòi thể hiện quan điểm, quyền giám sát đối với cơ quan, lực lượng thực thi công vụ (phổ biến nhất là đòi giám sát lực lượng cảnh sát giao thông) hòng tạo hiệu ứng chống đối cán bộ; từ đó, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống phá chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết giữa Đảng và nhân dân.

Các thế lực thù địch tìm kiếm, tập hợp số nhân sĩ, trí thức mà chúng gọi là có tư tưởng, quan điểm “cấp tiến”, thực chất là có cách nhìn lệch chuẩn để viết bài, sử dụng cái gọi là “uy tín khoa học” hòng hướng lái dư luận, truyền thông; tạo lập ra một mạng lưới truyền thông rộng khắp để viết, đăng tải bài lên mạng xã hội hoặc diễn đàn học thuật với nội dung hướng lái dư luận, trong đó có dạng thức lợi dụng xung đột ở các khu vực trên thế giới, cóp nhặt thông tin từ báo chí, nguồn tin nước ngoài, đặc biệt là Mỹ và phương Tây để biến thành tin bài của mình với nội dung một chiều, phiến diện.

Cùng với đó, một hướng khác mà các thế lực thù địch tập trung khai thác, hòng hướng lái, tác động tiêu cực đến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, trong đó có đường lối đối ngoại và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, như cổ xúy cho các trường phái, học thuyết kinh tế của phương Tây, tìm cách phản bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mưu toan đối lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh; hòng khuấy động làn sóng tẩy chay quốc gia với nhiều dạng thức, nhiều góc độ, trong đó có hàng hóa, con người của quốc gia đó. Đáng chú ý, các thế lực thù địch lợi dụng một số người trước đó được nhiều người biết đến, tung ra những bài viết xuyên tạc, tiềm ẩn hậu quả khó lường. Bài viết của các đối tượng nêu trên sau khi được đăng tải công khai trên trang web, blog hay tài khoản mạng xã hội của bản thân họ thì gần như ngay lập tức được các thế lực thù địch, phản động lấy lại để đăng tải, thậm chí “tài trợ” để tạo dựng ngọn cờ, tạo dư luận, tập hợp lực lượng chống đối.

Các thế lực thù địch sử dụng thư điện tử (e-mail), mạng xã hội Facebook, Twitter, Telegram, Whatsapp... để trao đổi thông tin và cài cắm thông tin xuyên tạc, chống phá. Các thế lực thù địch thường tổng hợp tin tức, sự kiện, tình hình từ bài báo được đăng tải trên kênh chính thống, sau đó thêm thắt, chèn thông tin xấu, độc với cách diễn đạt tạo vẻ bề ngoài khách quan, dần dần cài cắm thông tin, hình ảnh không hề liên quan đến sự kiện, tình huống, lợi dụng sự mất cảnh giác của người đọc từ thông tin với vẻ bề ngoài khách quan đã được tung ra trước đó. Lợi dụng hiệu ứng lan truyền nhanh chóng của mạng xã hội, chúng cài cắm vào các công cụ “chạy” quảng cáo trên trang mạng xã hội để tăng cường hiệu quả phát tán thông tin xấu, độc. Lợi dụng tâm lý của người đọc ít kiểm chứng thông tin và thời gian kiểm chứng thông tin không nhiều do số lượng khổng lồ của thông tin trên không gian mạng, khi người dùng truy cập thông qua đường dẫn (link) được đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội sẽ dễ dàng “mắc mưu”, bị dẫn dắt và bị động trong việc tiếp nhận thông tin đó.

Các thế lực thù địch lợi dụng công cụ ChatGPT để xuyên tạc, chống phá. Phần mềm ChatGPT (Chat Generative Pre-training Transformer) là công cụ Chatbot AI do công ty nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI) OpenAI tạo ra, phát hành năm 2022. Phần mềm này được xem như một trong những đột phá về mặt công nghệ khi có thể trò chuyện, trả lời lưu loát, đầy đủ các câu hỏi đưa ra, nhưng cũng có thể bị lợi dụng với ý đồ xấu. Khi ChatGPT ra mắt, thay vì tìm kiếm thông tin trên Google, câu hỏi của người dùng khi hỏi thông qua phần mềm này sẽ được trả lời chỉ sau vài giây. Lợi dụng khả năng trả lời nhanh của ChatGPT, các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng để cắt ghép, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vấn đề chính trị của đất nước thông qua nhiều trang mạng phản động, thù địch, như BBC News tiếng Việt, Đài Châu Á Tự do (RFA), Việt Tân... Cụ thể, bằng thủ đoạn đặt câu hỏi không đầy đủ, thiếu hợp lý, chúng cố tình “gài bẫy” câu trả lời của phần mềm này. Các đối tượng chụp ảnh lại màn hình phần mềm với câu trả lời lệch lạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước ta để đưa lên internet nhằm mục đích tuyên truyền, xuyên tạc. Điển hình như chúng thêm thắt từ ngữ, sửa câu hỏi, sửa cách hỏi, biến đổi thành câu trả lời cụt ý, thiếu hoặc sai trái hòng hướng lái, đánh lừa người đọc, từ đó mượn cớ xuyên tạc,... để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Sau đó, mượn trào lưu sử dụng ChatGPT trên mạng, các thế lực thù địch thổi phồng, tung tin ChatGPT là trí tuệ, hiện đại nên đã đưa ra câu trả lời khách quan, chính xác.

Công trình thanh niên số hóa di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia Ga Bố Trạch giúp người dân, du khách và thế hệ trẻ hiểu sâu hơn về giá trị lịch sử quê hương _Ảnh: TTXVN

Một số vấn đề đặt ra đối với công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thời gian tới

Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được kết quả tích cực, góp phần làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, lưu vong. Tuy nhiên, lợi dụng mặt trái của sự phát triển khoa học, công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm hơn rất nhiều. Để công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch đạt hiệu quả, một số giải pháp sau nên được cân nhắc:

Thứ nhất, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm nguy cơ, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước để chủ động làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại âm mưu, ý đồ của chúng. Công tác nắm tình hình về phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng, vấn đề mà chúng thường sử dụng để thực hiện hành vi chống phá là rất cần thiết. Mặt khác, bởi sự thay đổi về phương thức, hành vi của nhiều đối tượng nên phải nhanh chóng cập nhật, ưu tiên cho những biện pháp đấu tranh mới, hiệu quả hơn, như đấu tranh trên không gian mạng, tận dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội, xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, có kiến thức, bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực định hướng dư luận tốt... Chỉ khi có nội dung và cách thức đấu tranh phù hợp thì mới có thể chủ động làm tốt công tác phòng ngừa từ xa, không để các quan điểm sai lầm, lệch lạc có thể phát tán, gây hậu quả xấu cho xã hội.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm cho nhân dân nhận diện được âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng của các thế lực thù địch, qua đó nâng cao nhận thức, tạo tâm lý cảnh giác, thận trọng, chọn lọc khi tiếp cận mọi luồng thông tin. Về bản chất, mục đích các đối tượng hướng đến là làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng. Các đối tượng cơ hội chính trị, phản động luôn tìm kiếm cách thức để thực hiện âm mưu, ý đồ xuyên tạc. Vì thế, phương thức, thủ đoạn mới này cần được thông tin kịp thời để người dân sớm nhận diện, tránh gây hậu quả đáng tiếc, nhất là trong bối cảnh thông tin đa chiều, phức tạp như hiện nay, khi đó chính quần chúng nhân dân sẽ giúp cơ quan chức năng vạch trần, lên án hành vi sai trái đó.

Thứ ba, cùng với việc đấu tranh với các luận điệu sai trái, cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến rộng rãi chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để quần chúng nhân dân có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trước hết, cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần thực hiện nghiêm Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”; tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau. Trên cơ sở thống nhất về tư tưởng, quan điểm sau khi đã luận giải, làm rõ, sử dụng hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch,... để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.

Thứ tư, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xây dựng đội ngũ chuyên gia tài năng làm nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - xem đây là vấn đề then chốt, có tính nguyên tắc bắt buộc. Thực tế, chỉ khi nào chúng ta phát triển được đội ngũ chuyên gia tài năng trên lĩnh vực này thì công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch mới hiệu quả./.

--------------------

(1) Xem: Nguyễn Đình Bắc: “Đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để chống phá Đảng và Nhà nước”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, ngày 8-6-2020, http://tapchiqptd.vn/vi/binh-luan-phe-phan/dau-tranh-voi-thu-doan-loi-dung-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-de-chong-pha-dang-va-nha-nuoc/15578.html


Nhận diện và phản bác luận điệu sai trái, thù địch về hài hòa hóa pháp luật

Đặng Thị Hoài
Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
06:13, ngày 14-11-2025

TCCS - Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hài hòa hóa pháp luật là một xu hướng tất yếu, thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là một bài toán khó đòi hỏi các quốc gia phải tỉnh táo, linh hoạt đặt lợi ích quốc gia trong tương quan lợi ích quốc tế. Lợi dụng vấn đề trên, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng pháp luật Việt Nam chưa “hòa mình” vào dòng chảy của pháp luật quốc tế, hòng tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

Quang cảnh Đối thoại An ninh và Thực thi pháp luật Việt Nam - Hoa Kỳ lần thứ hai tại Washington D.C (Hoa Kỳ) _Ảnh: TTXVN tại Mỹ

Hài hòa hóa pháp luật: Lợi ích và thách thức

Hài hòa hóa pháp luật (legal harmonization hay harmonization of law) “là việc các quốc gia thống nhất các mục tiêu chung cần đạt được, sau đó mỗi quốc gia có quyền tự sửa đổi, ban hành pháp luật mới trong nước của mình để đạt được các mục tiêu chung đó”(1). Theo H.C. Gutteridge, Giáo sư Đại học Cambridge về luật so sánh, hài hòa hóa pháp luật không chỉ là quá trình thụ động sửa đổi pháp luật của quốc gia sao cho phù hợp, tương thích với pháp luật chung của khu vực và quốc tế, mà còn là quá trình chủ động thiết lập, xây dựng các luật mẫu và triển khai biện pháp khuyến khích các quốc gia khác tiếp cận và áp dụng các luật mẫu này(2).

Như vậy, hài hòa hóa pháp luật được hiểu là quá trình quốc gia tự nguyện sửa đổi, hoàn thiện pháp luật quốc gia theo các nguyên tắc, quy phạm của pháp luật quốc tế hoặc chủ động đề xuất các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và khuyến khích các quốc gia khác thừa nhận, áp dụng các nguyên tắc, quy phạm đó nhằm làm giảm đi sự khác biệt trong quy định pháp luật ở những lĩnh vực cụ thể giữa các quốc gia.

Các quốc gia có thể tiến hành hài hòa hóa pháp luật bằng nhiều phương thức khác nhau: Chủ động tham gia xây dựng, định hướng các quy phạm pháp luật quốc tế phù hợp với lợi ích, quan điểm của quốc gia mình; lựa chọn áp dụng, dẫn chiếu trực tiếp pháp luật quốc tế (chấp nhận); nội luật hóa (chuyển hóa) pháp luật quốc tế trở thành pháp luật quốc gia. Hài hòa hóa pháp luật không phải là quá trình “phủ định sạch trơn” pháp luật quốc gia, thay thế pháp luật quốc gia bằng pháp luật quốc tế, mà nó cho phép các quốc gia lưu giữ, bảo tồn những quy phạm pháp luật riêng có, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia mình.

Hài hòa hóa pháp luật đem lại những lợi ích, cơ hội to lớn cho các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, giúp “gia tăng tính dự đoán trước (predictability) và làm giảm tính không chắc chắn (uncertainty) của việc áp dụng pháp luật”(3). Ngoài ra, việc hài hòa hóa pháp luật quốc gia theo các chuẩn mực pháp lý chung trong khu vực và thế giới sẽ giúp Việt Nam tiếp cận dần với “luật chơi chung” của khu vực và thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Quá trình này còn giúp quan hệ kinh tế, cũng như quan hệ văn hóa - xã hội và quốc phòng - an ninh của Việt Nam ngày càng gắn kết với các thành viên khác trong khu vực và quốc tế.

Tuy nhiên, “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan”(4). Trong bối cảnh đó, luật pháp quốc tế có thể trở thành một công cụ để tạo “tính chính danh” cho các hành động can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Vì vậy, hài hòa hóa pháp luật cũng đưa lại những thách thức về gìn giữ giá trị bản sắc dân tộc, an ninh quốc gia, độc lập và chủ quyền của đất nước trong bối cảnh các quốc gia dễ bị cuốn vào vòng xoáy cọ xát, va chạm và xung đột về lợi ích, mục tiêu, tham vọng trong quá trình “hội nhập pháp luật”.

Xuất phát từ khía cạnh lợi ích quốc gia - dân tộc, các nước thường có xu hướng hài hòa hóa pháp luật một cách mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh doanh, thương mại, bảo vệ môi trường hơn là trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, dân chủ và chủ quyền. 

Lợi ích quốc gia luôn là điểm trọng yếu để dẫn dắt chính sách đối ngoại của các nước. “Yếu tố quan trọng nhất cho việc thực thi theo luật pháp vẫn là lợi ích của các nước”(5). Các quốc gia có thiện chí, chủ động trong hài hòa hóa pháp luật nước mình với pháp luật quốc tế hay không phụ thuộc phần nhiều vào việc luật pháp quốc tế có hài hòa với lợi ích, năng lực, mục tiêu, giá trị, bản sắc của quốc gia hay không. Hài hòa hóa pháp luật trong một thế giới đầy biến động và khó lường, khó dự đoán như hiện nay đòi hỏi các quốc gia phải hết sức tỉnh táo, thận trọng thay vì bằng mọi giá.

Nhận diện, phản bác những luận điệu xuyên tạc về hài hòa hóa pháp luật

Mặc dù hài hòa hóa pháp luật là một học thuyết đã được hình thành từ đầu thế kỷ XIX, được bàn luận rất sôi nổi trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhưng những nghiên cứu chuyên sâu về hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam còn hạn chế. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực phản động ra sức xuyên tạc chính sách, pháp luật của Việt Nam bằng những luận điệu vô căn cứ.

Ở khía cạnh hài hòa hóa pháp luật, các thế lực phản động xuyên tạc “Việt Nam không tuân thủ các điều ước quốc tế gia nhập, nhất là vi phạm Luật Nhân quyền quốc tế”(?!).

Các thế lực thù địch viện dẫn những điều khoản mang tính khuyến nghị/tùy nghi (không bắt buộc các thành viên tham gia Công ước phải thực hiện) trong UNCAC như: “hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp”; “áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt”; “thành lập cơ quan tình báo tài chính”… hòng vu cáo Việt Nam vi phạm các quy định của Công ước.

Các thế lực thù địch cố tình phủ nhận hoàn toàn tính độc lập tương đối của pháp luật quốc gia, tuyệt đối hóa pháp luật quốc tế, coi đó là “đẳng cấp chung” mà Việt Nam cần thay thế cho pháp luật của nước mình. Các thế lực thù địch đòi “sửa đổi” các chế định cơ bản về chính trị, kinh tế trong Hiến pháp hòng “bẻ lái” con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; đòi “sửa đổi” những quy định liên quan đến dẫn độ, truy nã, các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư pháp để dung túng cho những đối tượng lưu vong; đòi “quy định về tự do trên không gian mạng” để “nội công, ngoại kích” tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá; đòi “sửa đổi” quy định về “tự ứng cử” như các nước phương Tây để phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp…

Những luận điệu xuyên tạc về hội nhập pháp luật Việt Nam núp bóng luận điệu xuyên tạc về “tư duy đa phương”, “toàn cầu”, “tiến bộ” nhưng thực chất là đang cổ xúy cho cách thức hài hòa hóa pháp luật vô nguyên tắc, tạo cớ để xuyên tạc Việt Nam “không coi trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế” (?!), nhất là lợi dụng các vấn đề pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá nước ta.

Tuy nhiên, hài hòa hóa pháp luật phải căn cứ vào từng bối cảnh và khả năng đáp ứng cụ thể của đất nước trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng những chiều hướng, tác động thuận, nghịch của tình hình quốc tế. Bởi vậy, sẽ là huyễn hoặc mơ hồ khi cho rằng pháp luật quốc tế là tiêu chuẩn chung mà pháp luật quốc gia phải “hòa tan” vào bằng mọi giá.

Đại biểu Quốc hội chuyên trách thảo luận về nhóm lĩnh vực pháp luật, tư pháp tại Hội nghị đại biểu quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ 8, nhiệm kỳ khóa XV _Ảnh: TTXVN

Việt Nam chủ động, trách nhiệm trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật

Với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, trong những năm qua, Việt Nam tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế, tích cực hài hòa hóa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia. Kết quả, Việt Nam hai lần được bầu chọn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao. Điều đó thể hiện sự ghi nhận của bạn bè quốc tế đối với những chính sách, pháp luật và thành tựu thực tiễn của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trên các lĩnh vực.

Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, kể từ khi tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để phù hợp với các yêu cầu của Công ước, được đánh giá là một thành viên trách nhiệm và tích cực trong UNCAC. Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng trong thực tiễn càng là minh chứng thuyết phục cho nỗ lực đó của Đảng và Nhà nước ta…

Trong hợp tác quốc tế về pháp luật, Việt Nam “Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật. Nghiên cứu giải pháp gia tăng sự hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế luật pháp quốc tế”(6); “Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu”(7); “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế”(8). Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định một trong các nhiệm vụ và giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền là: “Chủ động tham gia, đóng góp vào việc xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự quốc tế, khu vực. Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; giải quyết hiệu quả các xung đột về thẩm quyền và pháp luật giữa Việt Nam và các quốc gia khác, bảo đảm tốt các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước Việt Nam”.

Khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”. Điều này thể hiện sự linh hoạt, tích cực hội nhập của Việt Nam trên tinh thần kiên định “hòa nhập nhưng không hòa tan”.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có tới 26 lần nhắc tới “điều ước quốc tế” tại 21 điều luật; đưa ra nhiều quy định để bảo đảm sự tương thích giữa văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể, Luật yêu cầu việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải “không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế” (Điều 5, Điều 156); đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định “phải căn cứ vào điều ước quốc tế” (Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 84); “Tổ chức nghiên cứu điều ước quốc tế” là trách nhiệm của cơ quan đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 85, Điều 97, Điều 112); Bộ Ngoại giao có trách nhiệm “cho ý kiến về sự tương thích của văn bản quy phạm pháp luật với điều ước quốc tế” (Điều 36, Điều 86); “Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan” là một trong những nội dung thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật (Điều 39, Điều 58, Điều 65, Điều 88, Điều 92, Điều 98, Điều 102); Việc thực hiện điều ước quốc tế là một trong những “trường hợp được xem xét điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh” (Điều 51); Quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có khả năng làm thay đổi “hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật” ở Việt Nam (Điều 115)… Có thể thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam được xây dựng hướng tới bảo đảm sự tương thích, hài hòa với pháp luật quốc tế, thể hiện sự tuân thủ nguyên tắc tận tâm, thiện chí (pacta sunt servanda) trong thực hiện pháp luật quốc tế.

Trên khía cạnh thực tiễn, Việt Nam ngày càng chủ động, tích cực tham gia xây dựng luật quốc tế. Năm 2016, qua hệ thống bầu cử của Đại hội đồng Liên hợp quốc, lần đầu tiên Việt Nam có đại diện tại Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) - cơ quan pháp lý quan trọng của Liên hợp quốc(9). Việt Nam chủ động đề xuất, đóng góp lý luận từ thực tiễn trong nước và các nước đang phát triển vào các báo cáo của Ủy ban Luật pháp quốc tế, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các nước đang phát triển và các nước nhỏ, như: Đề xuất đưa đề tài tác động của mực nước biển dâng vào luật quốc tế; tích cực đề xuất phương án kiện toàn các quy định của luật quốc tế về phòng, chống dịch bệnh và đưa ra sáng kiến thông qua Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh; tham gia các sáng kiến, cơ chế hợp tác thực chất về an ninh biển(10)…

Các phương thức hài hòa hóa pháp luật cũng được Việt Nam áp dụng một cách linh hoạt. Ở phương thức chấp nhận, Việt Nam cam kết áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần các quy định chung của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1967, Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật năm 1971, các cam kết quốc tế với Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Hiệp định Đối tác tToàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)… Ở phương thức chuyển hóa, Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật mới như Luật Bình đẳng giới năm 2006 nhằm thực hiện Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW). Để chuyển hóa nội dung Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966, Quốc hội Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật, như Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2023…

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chuyển hóa pháp luật quốc tế bằng sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều khoản trong hệ thống pháp luật hiện hành. Ví dụ, Việt Nam chỉnh sửa, bổ sung pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp luật kinh doanh, thương mại… để bảo đảm sự phù hợp, tương thích với các quy định của Hiệp định CPTPP, EVFTA. Chỉ trong 2 năm đầu gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (2006 - 2007), Việt Nam sửa đổi, bổ sung hơn 60 văn bản luật và hàng trăm nghị định, thông tư trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại, thuế, lao động, bảo hiểm,… để thực thi các cam kết với WTO. Quá trình này tiếp tục được đẩy mạnh trong giai đoạn hội nhập sâu rộng sau đó. Khi tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, Việt Nam đã chủ động xây dựng và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng các tiêu chuẩn cao. Cụ thể, để thực thi Hiệp định CPTPP, tính đến tháng 8-2024, Việt Nam đã ban hành 25 văn bản quy phạm pháp luật. Trong hai năm đầu thực thi Hiệp định EVFTA (2020 - 2022), đã có 9 văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung và ban hành. Việt Nam luôn tích cực, chủ động hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, thể hiện sự tôn trọng, trách nhiệm trong thực hiện pháp luật quốc tế tiến tới xây dựng một cộng đồng chung vì độc lập, hòa bình, thịnh vượng và phát triển.

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, có sự phát triển năng động, là chủ thể tích cực, đáng tin cậy và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh cục diện chính trị - an ninh - kinh tế thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang trải qua những biến động đa chiều, phức tạp, khó đoán định và chưa có tiền lệ, “luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn”(11), đòi hỏi Việt Nam phải có những bước đi thận trọng, khéo léo, phù hợp trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.

Nhìn vào thực tế áp dụng các điều ước quốc tế, có thể thấy, Việt Nam chỉ “áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện” (khoản 2 Điều 6, Luật Điều ước quốc tế năm 2016). Đồng thời, đối với những điều ước quốc tế đóng vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, là động lực cho các bước tiến hội nhập trong khu vực và quốc tế sẽ thường được ưu tiên áp dụng trực tiếp để tận dụng thời gian, tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập phát triển. Ví dụ, Nghị quyết số 71/2006/QH11, ngày 29-11-2006, của Quốc hội về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư”, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế.

Trong khi đó, phương thức áp dụng điều ước quốc tế bằng con đường nội luật hóa (chuyển hóa) được thực hiện khi nội dung của điều ước quốc tế chưa đủ rõ hoặc chưa đủ chi tiết; những vấn đề phức tạp mà việc áp dụng phải tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử - cụ thể. Hay việc thực hiện điều ước quốc tế còn tùy vào động thái của các bên trên nguyên tắc “có qua có lại”. Chẳng hạn, khi chấp nhận hiệu lực của Công ước về chống tra tấn của Liên hợp quốc năm 1984, Quốc hội Việt Nam đưa ra tuyên bố bảo lưu có nội dung như sau: “Không coi quy định tại khoản 2 Điều 8 của Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ. Việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc nguyên tắc có đi có lại”(12).

Hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam gắn với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo tồn giá trị bản sắc dân tộc, bảo đảm lợi ích của đất nước, của nhân dân như Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(13); “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc”(14).

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, trong hoạt động ngoại giao, phải trông vào thực lực quốc gia vì “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(15). Trong hài hòa hóa pháp luật, Việt Nam tận dụng được lợi thế, bảo vệ được lợi ích quốc gia khi chủ động tham gia tạo ảnh hưởng, gia tăng vị thế, uy tín của mình trong khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã, đang và sẽ luôn chủ động, tích cực, tăng cường sự hiện diện và tiếng nói trong các diễn đàn xây dựng luật pháp quốc tế để bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc mình, cũng như chủ động đóng góp tích cực vào sự phát triển, tiến bộ chung của luật pháp quốc tế./.

---------------------------

(1) Trần Thị Diệu Hương: Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật trong khu vực Asean, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 06 (334), T3-2017, tr. 9
(2) H.C.Gutterigde: Comparative Law – An introduction to the Comparative Method of Legal Study and Reasearch, Cambridge University Press, 1971, tr. 154
(3) Nguyễn Thanh Tú, (2015), Thuận lợi, khó khăn và lợi ích đối với Việt Nam trong tiến trình hài hòa pháp luật của khu vực Asean, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Hài hòa pháp luật trong xây dựng cộng đồng Asean những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam và kinh nghiệm từ EU, https://thuvien.quochoi.vn/sites/default/files/07_nguyenthanhtu_thuanloikhokhan.pdf
(4), (8), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 105, 164, 105
(5) Lê Hải Bình, Chu Minh Thảo: Trật tự quốc tế dựa trên luật lệ: Lý luận, thực tiễn và hàm ý chính sách đối với Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 54
(6), (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 154, 69
(9) GS, TS, Đại sứ Nguyễn Hồng Thao là người Việt Nam đầu tiên trúng cử thành viên Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) khóa 2017 - 2022 và tái đắc cử vào nhiệm kỳ 2023 - 2027 với số phiếu 145/193, đứng thứ 4 trong khu vực, chỉ sau ứng cử viên từ Ấn Độ, Thái Lan và Nhật Bản
(10) Tuệ Minh: Việt Nam tích cực đóng góp tại Khóa họp của Ủy ban Luật pháp quốc tế, Báo Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/viet-nam-tich-cuc-dong-gop-tai-khoa-hop-cua-uy-ban-luat-phap-quoc-te-post314900.html
(12) Nghị quyết số 83/2014/QH13 ngày 28-11-2014 của Quốc hội về việc Phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 73
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 375
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 4, tr. 126


Nhận diện ý đồ xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết” phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay

PGS, TS BÙI THỊ NGỌC LAN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
10:28, ngày 26-11-2025

TCCS - Để đấu tranh phản bác hiệu quả ý đồ xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết” của các thế lực thù địch, cần nghiên cứu sâu sắc các trước tác và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đó cũng là cơ sở bảo đảm cho tính đúng đắn, thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay.

1- Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, đang ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chúng dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chúng lớn tiếng phủ nhận, xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết” để phục vụ cho mưu đồ đen tối, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam. Chúng ngụy biện, V.I. Lê-nin đã khẳng định “quyền dân tộc tự quyết”, hà cớ gì mà Việt Nam không thực hiện? Từ đó, chúng lớn tiếng lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền của các dân tộc thiểu số; kích động một số cá nhân, nhóm người gây mất an ninh, trật tự, đòi thành lập cái gọi là nhà nước riêng, tách ra khỏi “thực thể quốc gia dân tộc” (từ dùng của V.I. Lê-nin) Việt Nam độc lập, thống nhất và phát triển.

Các luận điệu nêu trên của các thế lực thù địch, phản động hết sức nguy hiểm, thâm độc, cần kiên quyết bác bỏ:

Thứ nhất, nhận thức đúng đắn tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết”.

Nội dung “quyền dân tộc tự quyết”, theo tư tưởng của V.I. Lê-nin, là quyền làm chủ của mỗi quốc gia - dân tộc đối với vận mệnh của mình, quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của quốc gia - dân tộc. Theo V.I. Lê-nin, quyền dân tộc tự quyết gắn với việc các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ. Người viết: “các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ”(1). Theo V.I. Lê-nin, yêu sách đó hoàn toàn không đồng nghĩa với yêu sách đòi phân lập, phân tán, thành lập những quốc gia nhỏ. V.I. Lê-nin chỉ ra tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội khi đề cập vấn đề quyền dân tộc tự quyết, tạo điều kiện để các dân tộc liên hợp với nhau cùng phát triển, trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, cùng có lợi. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội có mục đích không những xóa bỏ tình trạng nhân loại bị chia thành những quốc gia nhỏ và xóa bỏ mọi trạng thái biệt lập giữa các dân tộc, không những làm cho các dân tộc gần gũi nhau, mà cũng còn nhằm thực hiện việc hợp nhất các dân tộc lại”(2). Quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ, có ý nghĩa quan trọng để các dân tộc bị áp bức thoát khỏi mọi ách áp bức dân tộc - điều này chỉ trở thành hiện thực khi mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công. Khẳng định điều này, V.I. Lê-nin viết: “Nhân loại chỉ có trải qua thời kỳ quá độ của chuyên chính của giai cấp bị áp bức, mới có thể xóa bỏ được các giai cấp, cũng giống như vậy, nhân loại chỉ có trải qua thời kỳ quá độ hoàn toàn giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức, nghĩa là thời kỳ các dân tộc được tự do phân lập, thì mới có thể đạt tới sự hợp nhất tất nhiên giữa các dân tộc”(3).

V.I. Lê-nin - Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới _Tranh: Tư liệu

Tuy nhiên, V.I. Lê-nin cũng chỉ ra yêu cầu đối với việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết:

Một là, phải đứng vững trên lập trường mác-xít, bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích của dân tộc với lợi ích của giai cấp công nhân trong giải quyết mối quan hệ dân tộc. Giai cấp công nhân không chỉ đấu tranh để giải phóng giai cấp mình, mà phải đấu tranh để giải phóng dân tộc bị áp bức. V.I. Lê-nin viết: “Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn, do đó, không những làm cho các dân tộc hoàn toàn bình quyền với nhau, mà còn thực hành quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức, tức là quyền tự do phân lập về mặt chính trị”(4).

Hai là, bảo đảm quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể. Điều này có nghĩa là việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải được đặt trong phạm vi quốc gia - dân tộc cụ thể, được xem xét trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể.  V.I. Lê-nin viết: “... những người mác-xít không thể bỏ qua được những nhân tố kinh tế mạnh mẽ đang sản sinh ra những xu hướng thành lập các quốc gia dân tộc. Điều đó có nghĩa là trong cương lĩnh của những người mác-xít, “quyền dân tộc tự quyết” đứng trên quan điểm lịch sử - kinh tế mà xét, không thể có nghĩa nào khác hơn là quyền tự quyết về chính trị, là quyền độc lập quốc gia, là sự thành lập quốc gia dân tộc”(5).

Ba là, không được lẫn lộn vấn đề quyền dân tộc tự quyết với việc xem xét vấn đề tách ra của một dân tộc. Điều này cần được nhìn nhận, xem xét đối với từng trường hợp riêng biệt, căn cứ vào lợi ích của toàn bộ sự phát triển xã hội và lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản vì chủ nghĩa xã hội. Theo V.I. Lê-nin, quyền dân tộc tự quyết là quyền của dân tộc bị áp bức bởi một dân tộc khác, chứ hoàn toàn không phải quyền của các dân tộc thiểu số trong một quốc gia, nhưng viện cớ tự quyết để tách ra thành lập nhà nước riêng, thành lập quốc gia riêng. Sự vi phạm nguyên tắc này sẽ làm tổn hại lớn đến lợi ích chung của đại đa số nhân dân trong một quốc gia - dân tộc thống nhất; đồng thời, làm tổn hại đến lợi ích của toàn xã hội và lợi ích của giai cấp công nhân trong sự nghiệp đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Không được lẫn lộn vấn đề quyền dân tộc tự quyết (nghĩa là hiến pháp nhà nước đảm bảo một phương thức giải quyết hoàn toàn tự do và dân chủ vấn đề phân lập) với vấn đề xem xét một dân tộc nào đó có nên tách ra không. Trong mỗi trường hợp riêng biệt vấn đề thứ hai này phải được đảng dân chủ - xã hội giải quyết một cách hoàn toàn độc lập, căn cứ vào lợi ích của toàn bộ sự phát triển xã hội và lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản vì chủ nghĩa xã hội”(6).

Bốn là, bảo đảm quyền dân tộc tự quyết phải trở thành nhiệm vụ của giai cấp công nhân đối với dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, nhất là đối với quốc gia - dân tộc thuộc địa bị áp bức. Ở đây, V.I. Lê-nin chỉ ra hai trường hợp: 1- Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khi nắm quyền thống trị, vì đặc quyền giai cấp, không chỉ áp bức các dân tộc khác, mà còn áp bức dân tộc ở chính nước mình. Chỉ rõ điều này, V.I. Lê-nin viết: “... các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến ở Tây Âu và nước Mỹ. Ở đó, các phong trào dân tộc tiến bộ tư sản đã kết thúc từ lâu rồi. Mỗi dân tộc “lớn” đó đều áp bức các dân tộc khác ở các thuộc địa và ở trong nước họ”(7). Như vậy, trong các nước tư bản chủ nghĩa, tình trạng áp bức dân tộc cũng chính là hệ quả của tình trạng áp bức giai cấp; 2- Trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, “... các cuộc chiến tranh xảy ra thường xuyên hơn, thế lực phản động mạnh lên, ách áp bức dân tộc và sự cướp bóc thuộc địa mạnh thêm và mở rộng thêm”(8). Bối cảnh đó tạo sự phát triển mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đòi quyền dân tộc tự quyết ở các nước thuộc địa.

Như vậy, trong cả hai trường hợp, quyền dân tộc tự quyết là nhu cầu chính đáng, cấp bách của dân tộc bị áp bức. Nhiệm vụ của giai cấp công nhân các dân tộc phải liên hợp lại, đoàn kết, giúp đỡ dân tộc bị áp bức trong việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết. V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Xét theo quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, thì vấn đề quyền tự quyết không có gì khó khăn cả... Trong chừng mực nào đó, khó khăn là ở chỗ, ở nước Nga giai cấp vô sản của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản của dân tộc đi áp bức đang đấu tranh và phải đấu tranh sát cánh bên nhau. Bảo vệ sự thống nhất của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản để tiến tới chủ nghĩa xã hội, chống lại mọi ảnh hưởng tư sản... của chủ nghĩa dân tộc, - đó là nhiệm vụ phải giải quyết”(9).

Thứ hai, V.I. Lê-nin - tấm gương mẫu mực trong đấu tranh phê phán, phản bác các nhận thức mơ hồ, các luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc vấn đề quyền dân tộc tự quyết.

Sinh thời, V.I. Lê-nin là tấm gương mẫu mực trong việc phê phán đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, hoặc cố tình xuyên tạc lý luận mác-xít về quyền dân tộc tự quyết, hòng kích động tâm lý ly khai dân tộc từ các tộc người thiểu số. Điều này được thể hiện tập trung trong tác phẩm “Về quyền dân tộc tự quyết” (năm 1914). Trong tác phẩm này, V.I. Lê-nin đã kiên quyết phê phán Rô-da Lúc-xăm-bua, mặc dù là một người mác-xít, nhưng do không nắm bắt đầy đủ các nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết, nhất là quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm thực tiễn nên đã “luôn sa vào những lập luận chung chung”, đưa ra lý lẽ trừu tượng, sáo rỗng, sai lầm về quyền dân tộc tự quyết. Điều này không những đã tác động tiêu cực đến nhận thức của một số người mác-xít, mà còn gây ra “cả một chiến dịch công kích của bọn cơ hội chủ nghĩa” đủ loại. Chúng đã lợi dụng quan điểm của bà để xuyên tạc, bóp méo lý luận mác-xít về quyền dân tộc tự quyết, nhằm phục vụ cho những mưu đồ chính trị đen tối.

Trong cuộc đấu tranh bảo vệ lý luận của chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc và quyền dân tộc tự quyết, V.I. Lê-nin nhấn mạnh, không được đánh tráo khái niệm, cố tình “bịa ra” định nghĩa trừu tượng, hay có “thái độ giả dối và hèn nhát”, hoặc lợi dụng, xuyên tạc vấn đề này vì mưu đồ chính trị. Ông viết: “... muốn hiểu thế nào là quyền dân tộc tự quyết, không phải bằng cách đem những định nghĩa pháp lý ra để chơi chữ, không phải bằng cách “bịa ra” những định nghĩa trừu tượng, mà bằng cách phân tích các điều kiện lịch sử - kinh tế của các phong trào dân tộc”(10).

Tóm lại, bằng lập luận khoa học, sắc bén, V.I. Lê-nin đã luận giải rõ ràng nội dung và nguyên tắc phải quán triệt khi thực hiện quyền dân tộc tự quyết theo lập trường của giai cấp công nhân. Từ tư tưởng của V.I. Lê-nin, rút ra hai kết luận quan trọng: Một là, quyền dân tộc tự quyết chỉ được đặt ra đối với các quốc gia - dân tộc bị áp bức bởi một quốc gia - dân tộc khác. Hai là, không thể đồng nhất quyền dân tộc tự quyết với quyền của các dân tộc thiểu số, không thể viện cớ tự quyết để đòi tách ra khỏi quốc gia - dân tộc độc lập thống nhất.

Vậy mà các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình lấp liếm, xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin, với mưu đồ làm cho nhân dân các dân tộc nhận thức mơ hồ, thậm chí sai lệch về quyền dân tộc tự quyết; từ đó, bị kích động, lôi kéo tham gia hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đòi ly khai làm tổn hại đến sự ổn định, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia - dân tộc độc lập, có chủ quyền.

2- Hiện nay, các thế lực thù địch không chỉ xuyên tạc tư tưởng của V.I. Lê-nin về “quyền dân tộc tự quyết”, mà còn lợi dụng triệt để “Tuyên ngôn về quyền của dân tộc bản địa” do Liên hợp quốc nêu ra vào năm 2007 và Hiến chương Liên hợp quốc nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị của chúng. Chúng thổi phồng vấn đề được đề cập trong Tuyên ngôn, đưa ra yêu sách đòi chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, dân tộc Chăm ở Nam Trung bộ, dân tộc Khmer ở khu vực Tây Nam Bộ,... là “dân tộc bản địa”, đòi “quyền dân tộc tự quyết” cho các tộc người, đòi thành lập cái gọi là nhà nước Đềga tự trị ở Tây Nguyên, vương quốc Chăm ở Nam Trung bộ, nhà nước Khmer Krôm ở Tây Nam bộ. Vụ khủng bố xảy ra ở huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk (ngày 11-6-2023) là kết quả của sự kích động của các thế lực phản động bên ngoài và một số kẻ tiếp tục lợi dụng vấn đề mà chúng gọi là “dân tộc bản địa”, “sắc tộc bản địa” để rêu rao rằng, truyền thống, luật lệ của “người bản địa”, “sắc tộc bản địa” ở Tây Nguyên đang bị triệt tiêu, từ đó kích động thù hằn giữa các dân tộc. Đối với khu vực Tây Bắc, các thế lực phản động tung tin người Mông từng có “tổ quốc riêng, vua riêng” để kích động thành lập cái gọi là “vương quốc Mông”. Đối với dân tộc Thái, chủ đề kích động của chúng gắn với cái gọi là vấn đề “xứ Thái tự trị” và mối liên kết giữa người Thái Việt Nam với người Thái ở các nước trong khu vực để “bảo vệ quyền lợi cho dân tộc Thái”... Mục đích của chúng nhằm kích động đồng bào các dân tộc đòi quyền tự quyết, quyền tự trị cho các dân tộc thiểu số, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực tế cho thấy, vấn đề “dân tộc bản địa” không chỉ bị các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, mà nhiều người, trong đó có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên, do chưa nhận thức được sự nguy hiểm trong luận điệu của các thế lực thù địch, đã sai phạm khi triển khai trong hoạt động thực tiễn. Do vậy, vấn đề này cần được nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh bác bỏ sự xuyên tạc nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam.

Thứ nhất, bác bỏ luận điệu thâm độc của các thế lực phản động, thù địch cài cắm thuật ngữ “dân tộc bản địa” ở Việt Nam.

Ở nước ta, “dân tộc bản địa”, hay “người bản xứ” chỉ là cách gọi do thực dân Pháp sử dụng khi xâm lược, với hàm nghĩa chỉ tất cả cộng đồng dân tộc Việt Nam (bao gồm cả người Kinh và các dân tộc thiểu số), hoàn toàn không gắn với việc định hình tộc người cụ thể. Các thế lực thù địch, phản động cũng hoàn toàn không nhắc đến quy định trong “Tuyên ngôn về quyền của dân tộc bản địa”, theo đó phần đầu của Tuyên ngôn nêu rõ, công nhận tình hình của các dân tộc bản địa là khác nhau tùy theo khu vực và quốc gia, cũng như công nhận rằng cần cân nhắc đặc điểm khác biệt giữa các quốc gia, khu vực và những nền tảng khác nhau về lịch sử và văn hóa. Đây chính là sự phản ánh nguyên tắc lịch sử - cụ thể mà V.I. Lê-nin từng đề cập. Do vậy, đòi hỏi thực hiện quyền của các dân tộc bản địa hoàn toàn thoát ly khỏi thực tiễn Việt Nam, quy định của văn kiện quốc tế phổ quát, hoàn toàn xa rời các nguyên tắc mà V.I. Lê-nin đã yêu cầu khi thực hiện quyền dân tộc tự quyết, nhất là nguyên tắc thực tiễn, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc về sự thống nhất giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc để cùng phát triển. Đây thực chất là luận điệu phản động, cực đoan quá khích của một số phần tử và một số tổ chức phản động cố tình đánh tráo khái niệm “dân tộc - quốc gia” với “dân tộc - tộc người”, để xuyên tạc, đánh đồng giữa quyền tự quyết của một dân tộc (tộc người) với quyền tự quyết của một quốc gia - dân tộc.

Thứ hai, nhận thức đúng về quyền dân tộc tự quyết và quyền của các dân tộc thiểu số.

Quyền của các dân tộc thiểu số là một trong những quyền cơ bản của con người, được khẳng định trong các văn kiện pháp lý quốc tế và xếp trong nhóm các quyền dân sự - chính trị. Tại Điều 1, khoản 2 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 khẳng định: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc...”. Quan hệ giữa các quốc gia được xác định trong Hiến chương Liên hợp quốc chính là quan hệ giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền; trong đó, dân tộc đa số và dân tộc thiểu số bình đẳng, cùng hợp thành một quốc gia - dân tộc có chủ quyền.

Việc các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, đánh tráo khái niệm giữa “quyền tự quyết của một quốc gia - dân tộc” với “quyền tự quyết của dân tộc thiểu số” là sự xa rời các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế.

3- Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất bao gồm 54 dân tộc. Đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam và được phát huy mạnh mẽ trong mọi thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhân dân các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, biểu hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền bình đẳng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ với cộng đồng quốc tế.

Trong lịch sử cũng như hiện tại, vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân các dân tộc Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực, nổi dậy đấu tranh đòi quyền dân tộc tự quyết để thoát khỏi ách áp bức tàn bạo của thực dân, đế quốc xâm lược. Ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam phát huy tinh thần đoàn kết một lòng xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc phồn vinh, hạnh phúc, thực hiện quyền bình đẳng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam với các quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế. Thực chất đó là thực hiện các quyền của dân tộc phù hợp với luật pháp quốc tế. Những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được trong tiến trình đổi mới là bằng chứng cho thấy, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta đã được phát huy hiệu quả và tạo ra động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, góp phần quan trọng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Khối đại diện 54 dân tộc Việt Nam diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 _Nguồn: nhandan.vn

Thứ hai, đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam độc lập, thống nhất.

Ở Việt Nam, các dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Hiện nay, phần lớn dân tộc thiểu số cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng giáp biên - những địa bàn khó khăn trong phát triển, nhưng lại có vị trí chiến lược của đất nước. Với đường lối, chiến lược của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng bào dân tộc thiểu số cùng với dân tộc đa số thực sự là chủ thể trực tiếp tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, giá trị văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc tiếp tục được bảo lưu, giữ gìn và phát huy, góp phần hình thành nên nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

 Khẳng định quyền của các dân tộc trong cộng đồng quốc gia dân tộc thống nhất, Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) quy định: 1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh thành tựu đã đạt được là không thể phủ nhận, vẫn còn một số hạn chế do nhiều yếu tố tác động (cả khách quan và chủ quan); vì vậy, trong không ít trường hợp, quyền của các dân tộc vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc, tác động đến sự vững mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là khó khăn về điều kiện tự nhiên, về trình độ phát triển không đồng đều giữa các nhóm dân tộc; việc cư trú xen kẽ giữa các tộc người vừa có mặt tích cực, vừa có tác động tiêu cực, nếu không chú ý giải quyết tốt tác động tiêu cực thì dễ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ tộc người. Đó còn là sai phạm trong triển khai thực hiện không hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở một số địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khiến cho đời sống đồng bào gặp nhiều khó khăn, chênh lệch giàu nghèo, phân hóa xã hội lớn; một bộ phận cán bộ quan liêu, xa dân, không kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân... làm ảnh hưởng lớn đến quan hệ giữa một bộ phận dân tộc thiểu số với chính quyền ở cơ sở và Nhà nước. Từ một số sai phạm, hạn chế nêu trên đã bị các thế lực phản động trong và ngoài nước cố tình xuyên tạc, thổi phồng, đánh tráo khái niệm giữa “quyền tự quyết của một quốc gia - dân tộc” với “quyền tự quyết của dân tộc thiểu số”, hòng kích động các tộc người thiểu số đòi ly khai với danh nghĩa thực hiện quyền dân tộc tự quyết, làm rạn nứt khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm thất bại mọi thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, quyền dân tộc tự quyết để chống phá cách mạng Việt Nam, một số giải pháp cơ bản sau đây cần được triển khai hiệu quả:

Một là, tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều biện pháp và hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp để nâng cao nhận thức về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, luật pháp quốc tế về dân tộc, về quyền dân tộc tự quyết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đồng bào các dân tộc thiểu số. Khi nhận thức đúng thì việc triển khai thực hiện mới hiệu quả và chính đồng bào dân tộc thiểu số sẽ là lực lượng tích cực, chủ động đấu tranh chống mọi sự xuyên tạc, kích động ly khai, gây thù hằn dân tộc của các thế lực thù địch.

Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích kinh tế, chính trị, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định trong giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc, dân tộc thiểu số với quốc gia và bảo đảm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tế cho thấy, nếu chỉ tuyên truyền lý thuyết chung chung thì sẽ không hiệu quả; do đó, việc bảo đảm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển là vấn đề quan trọng hàng đầu, quyết định tính chất, nội dung quan hệ giữa các dân tộc với nhau và các dân tộc thiểu số với quốc gia, là điều kiện để các dân tộc bình đẳng, đoàn kết và ổn định đất nước.

Ba là, rà soát, đánh giá hiệu quả hệ thống pháp luật, chính sách về dân tộc, về đại đoàn kết toàn dân tộc để phát hiện bất cập, lỗ hổng. Trên cơ sở đó, kịp thời bổ sung, hoàn thiện hoặc ban hành chính sách mới phù hợp theo hướng bảo đảm sinh kế cho đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm đồng bào được bình đẳng trong tiếp cận cơ hội việc làm, thu nhập, nguồn lực, thị trường, phúc lợi xã hội, thụ hưởng thành quả của công cuộc đổi mới; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm; phát huy tiềm năng, thế mạnh và nội lực của đồng bào các dân tộc thiểu số trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm quyền bình đẳng và nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử, kỳ thị đối với các dân tộc thiểu số cả về hình thức và thực tế. Có hình thức xử lý nghiêm khắc đối với hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc, quyền dân tộc tự quyết để gây thù hằn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bốn là, thẳng thắn đấu tranh với các quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc, hoạt động của thế lực thù địch lợi dụng vấn đề quyền dân tộc tự quyết, vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để kích động, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau.

Năm là, sử dụng linh hoạt, đồng bộ biện pháp, thường xuyên coi trọng công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề quyền dân tộc tự quyết, quyền của các dân tộc thiểu số hòng kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam./.

----------------

(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 27, tr. 327
(2), (3), (4) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 27, tr. 328, 328, 323
(5) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 25, tr. 308
(6) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 24, tr. 78
(7), (8) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 27, tr. 333, 323
(9) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 25, tr. 371
(10) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 25, tr. 303


Thông tin về việc tiếp tục thực hiện sáp nhập các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là chưa chuẩn xác

16:42, ngày 17-11-2025

TCCS - Thời gian gần đây, trên một số phương tiện truyền thông xã hội lan truyền thông tin về việc Việt Nam tiếp tục thực hiện sáp nhập từ 34 tỉnh, thành phố, xuống còn 16 tỉnh, thành phố (?!). Đây hoàn toàn là thông tin sai lệch, gây hoang mang dư luận, cần sớm nhận diện để chủ động có kế hoạch đấu tranh, ngăn chặn.

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ khảo sát tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Trị _Ảnh: baochinhphu.vn

Trước hết, cần khẳng định, hiện nay, Đảng, Quốc hội, Chính phủ không có chủ trương tiếp tục thực hiện sắp xếp, sáp nhập tỉnh, thành phố hoặc các đơn vị hành chính cấp xã. Thông tin sắp xếp từ 34 tỉnh, thành hiện nay còn 16 tỉnh, thành trong giai đoạn tới đây hoàn toàn không chính xác.

Ngày 12-6-2025, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Theo đó, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Cùng với sắp xếp đơn vị hành chính, từ ngày 1-7-2025, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã chính thức hoạt động ở tất cả các tỉnh, thành phố. Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu thành quả của quá trình “sắp xếp lại giang sơn” đầy quyết tâm đổi mới của Đảng ta, mà người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm.

Để bảo đảm sự liên tục, thông suốt và ổn định trong quá trình chuyển đổi, Quốc hội đã sửa đổi Hiến pháp, thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi), tạo hành lang pháp lý cho mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động hiệu quả. Luật đã phân định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu tổ chức bộ máy của từng cấp chính quyền, bảo đảm không trùng lắp, chồng chéo về nhiệm vụ, thẩm quyền của từng cấp, phù hợp với mô hình quản trị địa phương hiện đại. Đây là bước đi lớn, mang tính đột phá, mở đường cho việc xây dựng một bộ máy hành chính tinh gọn, hiện đại, vận hành linh hoạt theo yêu cầu của thời đại mới.

Cùng với việc ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi), các văn bản quy phạm pháp luật cũng cần được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế để tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong triển khai thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Thực tế cho thấy, do chưa xác định rõ được đơn vị hành chính chịu ảnh hưởng trực tiếp, nên địa phương còn có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc triển khai thực hiện lấy ý kiến nhân dân khi sắp xếp đơn vị hành chính các cấp chưa được đồng bộ, thống nhất. Do đó, Bộ Nội vụ xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn việc lấy ý kiến nhân dân về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính, nhằm thay thế Nghị định số 54/2018/NĐ-CP và Nghị định số 66/2023/NĐ-CP không còn phù hợp.

Việc này nhằm hướng dẫn việc lấy ý kiến cử tri đối với các trường hợp thông thường về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; không phải nhằm mục đích sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính các cấp như thông tin sai lệch lan truyền trong thời gian gần đây. Trong hồ sơ dự thảo Nghị định không có phụ lục kèm theo danh sách sắp xếp từ 34 tỉnh, thành phố xuống còn 16 tỉnh, thành phố, như một số phương tiện truyền thông xã hội đang lan truyền.

Thực tiễn sau 4 tháng vận hành cho thấy, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cơ bản thông suốt, hiệu quả, phục vụ ngày càng tốt hơn người dân và doanh nghiệp. Kết quả này đã khẳng định tính đúng đắn trong chủ trương của Đảng, Nhà nước ta. Ngoài mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, giảm chi ngân sách cho bộ máy, mở ra dư địa và không gian phát triển mới cho các địa phương, cuộc cách mạng về sắp xếp đơn vị hành chính các cấp còn hướng đến ổn định lâu dài hệ thống đơn vị hành chính. Chủ trương lớn này đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ nghiên cứu, cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi triển khai thực hiện.

Việc tổ chức lại địa giới hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương mới là yêu cầu khách quan và tất yếu của sự nghiệp phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ nhằm hướng đến quản trị địa phương hiện đại, kiến tạo phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước. “Đây là cơ hội quý báu để chúng ta đổi mới tư duy lãnh đạo, đổi mới phương thức quản lý nhà nước, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và tăng cường hiệu quả phục vụ nhân dân(1).

Quyết định “sắp xếp lại giang sơn” là bước đi lịch sử có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước, hoàn thiện thể chế và tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, hướng tới hoàn thiện một nền hành chính quản trị hiện đại, kiến tạo, gần dân, sát dân, vì nhân dân phục vụ, để mọi lợi ích thuộc về nhân dân. Mục tiêu lớn đòi hỏi cả hệ thống chính trị chuyển động mạnh mẽ, từ trạng thái “vừa chạy vừa xếp hàng” sang “hàng thẳng, lối thông, đồng lòng cùng tiến” và bây giờ là “bước đều, bước vững chắc” vào kỷ nguyên mới, như chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm./.

Trương Yến (tổng hợp)

------------------

(1) GS, TS Tô Lâm: "Quyết định “sắp xếp lại giang sơn” là bước đi lịch sử có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của đất nước", Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 30-6-2025, https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/quyet-dinh-sap-xep-lai-giang-son-la-buoc-di-lich-su-co-y-nghia-chien-luoc-danh-dau-mot-giai-doan-phat-trien-moi-cua-dat-nuoc