Về mô hình kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới Việt - Trung ở Quảng Ninh

La Lành Dân tộc Tày, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
23:39, ngày 09-07-2014

ĐKPT - Hai nước Việt Nam - Trung Quốc núi sông liền một dải, nhân dân hai nước có tình cảm sâu đậm, tình hữu nghị truyền thống. Công tác đối ngoại nhân dân có vai trò quan trọng trong việc tăng cường tình hữu nghị giữa hai nước, trong đó, có điểm nhấn là mô hình kết nghĩa bản - bản giữa hai bên biên giới.

Bình Liêu là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc giáp huyện Phòng Thành và Nam Ninh (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), với đường biên giới dài hơn 48 km. Tuyến biên giới giữa huyện Bình Liêu và huyện Phòng Thành cơ bản ổn định, hữu nghị. Tuy nhiên, vẫn xảy ra các hoạt động của tội phạm buôn bán hàng lậu, hàng cấm, đưa đón người qua biên giới trái phép; một bộ phận nhân dân nhận thức về quốc giới còn hạn chế, nên việc qua lại thăm thân, xâm canh, xâm cư, kết hôn hai bên biên giới chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật; một số tệ nạn xã hội, như rượu chè, cờ bạc, trộm cắp... vẫn diễn ra, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trật tự ở khu vực biên giới, cũng như công tác quản lý, bảo vệ biên giới của hai bên.

Trước tình hình đó, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ biên giới và tăng cường công tác đối ngoại trong tình hình mới, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai bên, trên cơ sở tham mưu của lực lượng biên phòng, huyện Bình Liêu tổ chức kết nghĩa giữa bản Phai Lầu (xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam) và thôn Tràng Nhì (trấn Động Trung, khu Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Đây là hoạt động thiết thực từ cơ sở góp phần vào việc phát triển quan hệ hai nước theo phương châm 16 chữ: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và tinh thần bốn tốt: "Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt", phù hợp với lợi ích và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước.

Trung tá La Tiến Chau, Chính trị viên Đồn Biên phòng cửa khẩu Hoành Mô đánh giá: “Qua công tác nắm tình hình, từ trước đến nay, nhân dân hai bên biên giới thường xuyên có mối quan hệ thăm thân đi lại lâu đời, các hoạt động, phong tục, tập quán, lao động, canh tác có nhiều điểm tương đồng. Hai bản có chung đường biên giới và việc quản lý, bảo vệ đường biên, mốc giới trên địa bàn không có tranh chấp. Chính quyền địa phương và nhân dân hai bên đều có chung mong muốn sớm được kết nghĩa. Bởi vậy, chúng tôi xác định, khi mô hình kết nghĩa bản - bản được ký kết, sẽ phát huy hiệu quả trong công tác bảo vệ biên giới, lãnh thổ, an ninh trật tự khu vực biên giới, góp phần tăng thêm tình đoàn kết của cư dân hai bên biên giới”.

Theo nội dung ký kết, hai thôn, bản phải cùng nhau phối hợp tuyên truyền, vận động và giáo dục cho nhân dân xây dựng, vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị, truyền thống của hai Đảng, hai Nhà nước, hai địa phương và truyền thống tốt đẹp của các thân tộc, dòng họ vốn có từ lâu đời ở hai bên biên giới. Thường xuyên thăm hỏi, động viên nhau trong dịp ngày lễ, Tết, lúc ốm đau và giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xây dựng thôn, bản giàu đẹp, cùng bảo vệ môi trường sinh thái, giúp nhau khắc phục thiên tai, phòng chống cháy rừng và dịch bệnh xảy ra đối với người, vật nuôi, cây trồng. Thường xuyên giao lưu, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa, truyền thống của dân tộc; giáo dục nhân dân hai bên biên giới chấp hành và thực hiện nghiêm ba văn kiện pháp lý về biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, cùng nhau bảo vệ không làm hư hỏng mốc quốc giới, không làm thay đổi đường biên giới, dòng chảy sông, suối biên giới như quy định mà hai nước đã ký kết; không tham gia và không tiếp tay cho tội phạm ma túy, mua bán người, buôn bán hàng hóa mà hai nước Việt Nam và Trung Quốc cấm. Thường xuyên trao đổi tình hình liên quan đến an ninh, an toàn, lợi ích của nhân dân hai thôn, bản, để cùng nhau phối hợp giải quyết nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả.

Ông Giáp Văn Ngôn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Đồng Văn cho biết: “Sự kiện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân hai bên, thúc đẩy giao thương kinh tế, giao lưu văn hóa, đồng thời góp phần giữ gìn an ninh, ổn định biên giới”. Cũng theo ông Ngôn, nếu mô hình này thành công, xã sẽ đề xuất với cấp trên thực hiện mô hình kết nghĩa ở cấp xã giữa Đồng Văn và trấn Động Trung. Đây cũng là mong muốn từ phía bạn.

Trưởng bản Phai Làu, ông Chíu Chăn Làu chia sẻ: “Việc ký kết nghĩa hai bên biên giới là nguyện vọng từ lâu của bà con hai bản, nhằm tăng thêm mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa nhân dân Phai Lầu và Tràng Nhì, vốn có quan hệ gắn bó lâu đời. Nhân dân hai bản chúng tôi sẽ thực hiện tốt những nội dung ký kết và mong muốn không chỉ ở bản Phai Lầu, mà còn nhiều bản khác cũng sẽ được ký kết nghĩa”.

Việc kết nghĩa giữa hai thôn, bản là một hình ảnh đẹp thể hiện tình cảm gắn bó giữa nhân dân hai nước, là minh chứng cho việc phát triển của công tác đối ngoại nhân dân. Mặc dù vậy, đây mới chỉ là bước đi quan trọng ban đầu. Thời gian tới, để mô hình trên thực sự phát huy hiệu quả, hai bên cần triển khai nhiều hoạt động thiết thực, cụ thể, như tăng cường trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, phòng, chống tội phạm, phối hợp tuần tra biên giới…, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và bảo vệ bình yên vùng biên giới. Mặt khác, muốn nhân rộng mô hình kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới, cũng cần có các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện từ Trung ương, về các nội dung có liên quan, tạo hành lang pháp lý để việc vận dụng, thực hiện có sự thống nhất ở cơ sở.

Mô hình kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới giữa bản Phai Lầu và thôn Tràng Nhì tuy mới được ký kết, cũng là mô hình còn mới ở Quảng Ninh, nhưng đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo công tác đối ngoại nhân dân và được kỳ vọng sẽ thiết thực góp phần giữ vững ổn định khu vực biên giới, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống của nhân dân và xây đắp tình đoàn kết hữu nghị truyền thống hai bên biên giới ngày càng bền chặt./.