Phát huy vai trò của báo chí trong truyền thông về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, góp phần nâng cao tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý
TCCS - Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý là yếu tố thiết yếu cho sự phát triển bền vững và công bằng xã hội. Ở Việt Nam, tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý tuy đã có những bước tiến nhất định, nhưng vẫn còn không ít rào cản từ định kiến giới, nhận thức xã hội và môi trường chính sách. Trong bối cảnh đó, báo chí được kỳ vọng không chỉ là kênh tuyên truyền mà còn là lực lượng đồng hành, thúc đẩy quá trình thay đổi nhận thức, tạo động lực xã hội nhằm nâng cao tỷ lệ nữ trong các vị trí lãnh đạo, quản lý.
Khung chính sách và bối cảnh bình đẳng giới ở Việt Nam
Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Quan điểm nam - nữ bình quyền được khẳng định từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (năm 1930) và tiếp tục được cụ thể hóa trong nhiều văn bản chính sách, pháp luật. Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007, của Bộ Chính trị là dấu mốc quan trọng, nhấn mạnh yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò của phụ nữ trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hiến pháp năm 2013 quy định rõ nguyên tắc bình đẳng giới, cấm phân biệt đối xử trong mọi lĩnh vực, trong đó có chính trị. Luật Bình đẳng giới năm 2006, các chương trình quốc gia về bình đẳng giới (2011 - 2015, 2016 - 2020) và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (giai đoạn 2011 - 2020, 2021 - 2030) cũng đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy đảng, chính quyền, Quốc hội, hội đồng nhân dân cũng như các cơ quan hành chính nhà nước. Đáng chú ý, lần đầu tiên tỷ lệ giới được luật hóa trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân, quy định tỷ lệ tối thiểu 35% số phụ nữ trong danh sách ứng cử. Bên cạnh hệ thống pháp luật, các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ được thể hiện trong các quy định, hướng dẫn về công tác cán bộ, trong đó quy định rõ về độ tuổi, cơ cấu, tiêu chuẩn nữ trong quy hoạch, bầu cử, bổ nhiệm…
Trên bình diện quốc tế, Việt Nam là quốc gia sớm tham gia các cam kết, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước về quyền chính trị và dân sự, Công ước cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về bình đẳng, Tuyên bố Bắc Kinh năm 1995… Qua đó, Việt Nam khẳng định trách nhiệm trong việc tăng quyền năng cho phụ nữ và bảo đảm sự hiện diện của nữ giới trong các vị trí lãnh đạo, quản lý. Các cam kết quốc tế này được nội luật hóa thông qua hệ thống pháp luật trong nước, tạo nền tảng thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào quá trình ra quyết định và nắm giữ các vị trí lãnh đạo.
Các nguyên tắc lồng ghép giới ngày càng được đề cao trong quy trình xây dựng chính sách và pháp luật. Khung chính sách ngày càng hoàn thiện là cơ sở quan trọng để báo chí phát huy vai trò truyền thông chính trị, thúc đẩy quá trình hiện thực hóa bình đẳng giới trong vị trí lãnh đạo, quản lý.
Sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý
Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả trong việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Nhờ những nỗ lực trong hoạch định và thực thi chính sách về bình đẳng giới, tỷ lệ phụ nữ trong hệ thống chính trị, cơ quan dân cử và bộ máy hành chính nhà nước ngày càng được cải thiện cả về số lượng và chất lượng.
Nhiệm kỳ 2021 - 2026, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV đạt 30,26%, cao nhất trong ba nhiệm kỳ gần đây, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỷ lệ nữ nghị sĩ cao trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; tỷ lệ nữ đại biểu hội đồng nhân dân đạt 29% ở cấp tỉnh, 29,08% ở cấp huyện và 28,98% ở cấp xã(1). Những con số này phản ánh nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy bình đẳng giới trong cơ quan dân cử.
Trong hệ thống tổ chức đảng, kết quả đại hội đảng bộ 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2025 - 2030 cho thấy: có 431/2.303 đồng chí trong ban chấp hành là nữ (đạt 18,71%, tăng 2,98% so với nhiệm kỳ trước); ban thường vụ cấp ủy có 93/625 đồng chí nữ (đạt 14,88%, tăng 1,99% so với nhiệm kỳ trước)(2). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (tháng 1-2026) đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Ủy viên chính thức và 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết; trong 180 Ủy viên chính thức có 21 Ủy viên là nữ(3).
Ở khối hành chính, số lượng phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt cũng có xu hướng tăng. Tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ đạt 31,8% (7/22); tỷ lệ nữ lãnh đạo trên tổng số lãnh đạo chủ chốt đạt 14,2% (18/127 người). Chính phủ hiện có 1 nữ Phó Thủ tướng, 3/22 bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là nữ (13,6%) và 14/107 thứ trưởng và cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ là nữ (13,1%). Hiện có 15/34 tỉnh, thành phố có nữ phó chủ tịch ủy ban nhân dân (44%). Tổng cộng có 19/187 lãnh đạo ủy ban nhân dân cấp tỉnh là nữ (10,2%)(4).
Tuy nhiên, sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý chưa thực sự tương xứng với tỷ lệ nữ trong lực lượng lao động và đội ngũ cán bộ, công chức. Vẫn còn một số rào cản khiến tỷ lệ cán bộ nữ chưa được như mong muốn, đó là: Các chính sách hiện hành còn mang tính trung lập giới, chưa tính đến khác biệt giới trong quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ. Cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình trong thực hiện chỉ tiêu giới còn yếu, chưa có chế tài cụ thể đối với các trường hợp không đạt mục tiêu đề ra. Nhiều khái niệm trong công tác cán bộ còn thiếu rõ ràng (như khái niệm “lãnh đạo chủ chốt”), thiếu đồng bộ giữa các văn bản, chưa có quy định cụ thể về tỷ lệ nữ cho từng cấp, từng ngành. Chính sách luân chuyển chưa có quy định hỗ trợ phù hợp cho cán bộ nữ, còn thiếu các biện pháp hành chính tích cực để khuyến khích sự tham gia của phụ nữ…
Trên thực tế, nữ giới thường tập trung ở các vị trí lãnh đạo cấp phó, ít nắm giữ các vị trí chủ chốt như bí thư cấp ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân. Nhiệm kỳ 2021 - 2026, tính đến tháng 6-2025, cả nước có 7 nữ bí thư tỉnh ủy đương nhiệm trong tổng số 63 bí thư tỉnh, thành uỷ, chiếm tỷ lệ 11,1% (các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Lai Châu, Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Bình Phước, Phú Yên, Bến Tre)(5). Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không còn địa phương nào có nữ bí thư tỉnh, thành uỷ trong tổng số 34 tỉnh, thành phố. Khối các ngành kỹ thuật, tài chính, quốc phòng - an ninh, tỷ lệ nữ lãnh đạo còn rất thấp, nhiều nơi chưa đạt chỉ tiêu nữ trong cấp ủy. Công tác quy hoạch cán bộ nữ còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, chưa gắn chặt với kế hoạch phát triển cán bộ dài hạn.
Những số liệu trên cho thấy, dù đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, nhưng sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam vẫn cần thúc đẩy hơn nữa theo hướng bền vững, có hệ thống, gắn kết chặt chẽ giữa chính sách, tổ chức thực hiện và truyền thông xã hội. Trong đó, việc nâng cao hiệu quả của truyền thông chính trị, đặc biệt là báo chí, là điều kiện quan trọng để vừa tuyên truyền chủ trương, vừa giám sát xã hội, vừa tạo động lực hiện thực hóa bình đẳng giới một cách thực chất.
Sự đồng hành của báo chí với chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý
Trong kỷ nguyên thông tin và hội nhập, báo chí ngày càng khẳng định vai trò là một kênh truyền thông chính trị quan trọng. Báo chí không chỉ phản ánh mà còn tham gia định hình nhận thức xã hội, thúc đẩy tiến bộ và công bằng giới. Báo chí cách mạng Việt Nam từ lâu đã đồng hành cùng các phong trào phụ nữ, góp phần khẳng định vai trò, vị thế của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong bối cảnh mới, vai trò này càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa chiến lược, nhất là trong việc thúc đẩy tỷ lệ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý.
Thứ nhất, báo chí là kênh thông tin chủ lực phổ biến chủ trương, chính sách về bình đẳng giới và phát triển cán bộ nữ. Một trong những vai trò nền tảng và truyền thống của báo chí là tuyên truyền, phổ biến và cụ thể hóa các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Trong lĩnh vực bình đẳng giới, đặc biệt là bình đẳng giới trong chính trị và lãnh đạo, báo chí đóng vai trò trung gian truyền thông có tính định hướng mạnh mẽ, giúp các chính sách lớn, như Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới… được lan tỏa sâu rộng, thẩm thấu vào đời sống chính trị - xã hội.
Thông qua các loại hình báo chí, sản phẩm báo chí xuất bản trên đa nền tảng, báo chí đã góp phần đưa nội dung bình đẳng giới trong lãnh đạo trở thành một chủ đề thường xuyên, lồng ghép trong dòng chảy thông tin thời sự, chính trị hằng ngày. Đây là điều kiện quan trọng để chính sách không chỉ được biết mà còn được hiểu, đồng thuận và thực hiện.
Khi báo chí làm tốt vai trò diễn giải chính sách, đưa các quy định pháp lý khô khan trở thành thông tin dễ tiếp cận, dễ nhớ và gắn với lợi ích cụ thể của người dân (đặc biệt là phụ nữ và cán bộ nữ), thì khi đó, báo chí đang làm một công việc mang tính chính trị - xã hội sâu sắc: Xây dựng môi trường nhận thức thuận lợi để chính sách đi vào thực tiễn. Việc nâng cao hiểu biết về quyền tham chính của phụ nữ qua báo chí là tiền đề để phụ nữ tự tin hơn trong việc tham gia trong lĩnh vực chính trị, cũng như thúc đẩy xã hội ủng hộ sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo, quản lý. Nhiều cơ quan báo chí trung ương và địa phương đã phát triển các chuyên trang, chuyên mục, như “Phụ nữ và chính trị”, “Tiến bộ phụ nữ”, “Giới và phát triển”…, qua đó phản ánh đều đặn các hoạt động liên quan đến xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, các mô hình, sáng kiến, điển hình trong phát triển lãnh đạo nữ. Đây là biểu hiện sinh động của chức năng tuyên truyền chính sách kết hợp với truyền cảm hứng xã hội mà báo chí đang thực hiện một cách tích cực.
Trong vai trò là cầu nối giữa chính sách và thực tiễn, giữa nhà hoạch định và người thụ hưởng, báo chí giữ vị trí tiên phong trong việc lan tỏa thông điệp chính trị về bình đẳng giới trong lãnh đạo, từ đó từng bước góp phần thực hiện hiệu quả các chỉ tiêu giới trong hệ thống chính trị quốc gia.
Thứ hai, báo chí góp phần kiến tạo hình ảnh phụ nữ lãnh đạo, thay đổi nhận thức xã hội và truyền cảm hứng. Nếu vai trò truyền thông chính sách là nền tảng định hướng, thì vai trò kiến tạo hình ảnh nữ lãnh đạo trên báo chí chính là yếu tố góp phần định hình văn hóa chính trị và chuẩn mực giới trong nhận thức xã hội. Thông qua việc lựa chọn nhân vật, cách tiếp cận nội dung và phương thức truyền tải, báo chí không chỉ đơn thuần đưa tin mà còn tạo dựng nên những hình mẫu nữ giới tiêu biểu trong chính trị và quản lý nhà nước, từ đó tác động mạnh mẽ đến thái độ, niềm tin và hành vi của công chúng đối với vấn đề bình đẳng giới trong lãnh đạo.
Nhiều năm qua, báo chí Việt Nam đã phản ánh đa dạng các chân dung nữ lãnh đạo ở cả Trung ương và địa phương. Những bài viết, phóng sự, tọa đàm với các nữ Ủy viên Trung ương Đảng, nữ đại biểu Quốc hội, nữ bí thư tỉnh ủy, nữ chủ tịch hội đồng nhân dân tỉnh… không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thành tích cá nhân mà còn nêu bật hành trình phấn đấu, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, và sự dấn thân trong môi trường lãnh đạo vốn còn định kiến giới. Các tuyến nội dung đã giúp khắc họa rõ nét hình ảnh người phụ nữ lãnh đạo làm chủ tri thức, có vị trí và vai trò quan trọng trong thiết kế tương lai xã hội.
Vai trò truyền cảm hứng của báo chí thể hiện rõ qua việc nhấn mạnh yếu tố “phá vỡ khuôn mẫu giới”. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, công chúng thường xuyên tiếp xúc với các hình mẫu nữ giới mạnh mẽ, tự tin, lãnh đạo hiệu quả, tư duy chiến lược, thì các định kiến như “phụ nữ thiếu quyết đoán”, “không phù hợp làm chính trị”, “lãnh đạo là công việc của nam giới” sẽ dần biến mất một cách tự nhiên. Báo chí vì thế trở thành công cụ văn hóa giúp thiết lập lại chuẩn mực giới theo hướng tiến bộ và bình đẳng.
Những câu chuyện truyền thông tích cực về phụ nữ lãnh đạo còn có tác dụng cổ vũ thế hệ trẻ, đặc biệt là phụ nữ trẻ, dám đặt mục tiêu cao hơn cho bản thân trong lĩnh vực chính trị. Trong bối cảnh hiện nay, khi tầm ảnh hưởng của hình tượng cá nhân qua truyền thông ngày càng lớn, thì việc báo chí chú trọng phát hiện và lan tỏa những hình mẫu lãnh đạo nữ sẽ góp phần tạo động lực phát triển cá nhân, mở rộng vùng kỳ vọng của phụ nữ trong chính trị.
Có thể nói, trong tiến trình thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, việc báo chí chủ động xây dựng hình ảnh nữ lãnh đạo với chiều sâu nội dung, sự tôn vinh đúng mức và tránh thương mại hóa hình tượng là một đóng góp quan trọng. Đó không chỉ là hành động truyền thông, mà còn là một phần của quá trình kiến tạo văn hóa chính trị hiện đại, nhân văn và bình đẳng.
Thứ ba, báo chí thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với các vấn đề giới trong công tác cán bộ. Đối với lĩnh vực bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý, vai trò này đặc biệt quan trọng nhằm phát hiện các khoảng trống giữa chủ trương và thực thi, kịp thời phản ánh bất cập, thúc đẩy trách nhiệm giải trình và điều chỉnh chính sách hiệu quả hơn.
Không ít trường hợp, nhờ phản ánh từ báo chí, những rào cản vô hình và hữu hình đối với sự phát triển của cán bộ nữ đã được nhận diện. Đó là việc một số địa phương chưa thực hiện nghiêm túc chỉ tiêu giới trong quy hoạch cán bộ; là việc các tiêu chí luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ chưa thật sự lồng ghép yếu tố giới; hay tình trạng thực hiện chưa đầy đủ quan điểm về cán bộ nữ của Trung ương Đảng trong quy trình lựa chọn ứng cử viên nữ cho các vị trí chủ chốt, dù nữ cán bộ có năng lực không thua kém nam giới…
Qua những tuyến bài điều tra, phân tích chính sách hoặc phỏng vấn chuyên gia, báo chí đã góp phần mở rộng không gian thảo luận công khai về các bất bình đẳng giới tiềm ẩn trong hệ thống chính trị. Điều này giúp hình thành áp lực xã hội tích cực để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quan tâm hơn đến công tác cán bộ nữ, không chỉ vì tuân thủ chỉ tiêu, mà từ nhận thức sâu sắc về giá trị mà sự tham gia của phụ nữ mang lại.
Đặc biệt, trong bối cảnh các phương tiện truyền thông xã hội phát triển mạnh mẽ, báo chí càng cần thể hiện bản lĩnh phản biện một cách chuẩn xác, khách quan và có trách nhiệm. Bằng việc phản ánh những trường hợp bất cập cụ thể, đưa ra các phân tích dựa trên dữ liệu và pháp lý, báo chí tạo diễn đàn để các nhà hoạch định chính sách lắng nghe tiếng nói từ thực tiễn, từ đó điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới thực chất. Việc báo chí làm tốt vai trò giám sát còn giúp củng cố niềm tin của công chúng vào hiệu lực chính sách và khả năng cải thiện của hệ thống chính trị. Khi tiếng nói của người dân, đặc biệt là phụ nữ được phản ánh trên báo chí, họ có thêm niềm tin để tham gia vào đời sống chính trị và ứng cử vào các vị trí lãnh đạo.
Trong tiến trình hướng tới một môi trường chính trị công bằng, minh bạch và bình đẳng giới, báo chí đóng vai trò quan trong trong việc bảo vệ quyền tiếp cận cơ hội lãnh đạo của phụ nữ một cách chính đáng và bình đẳng.
Thứ tư, báo chí mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin và thúc đẩy bình đẳng giới qua truyền thông số. Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông, báo chí không còn giới hạn trong các phương tiện truyền thống mà đang mở rộng ảnh hưởng qua các nền tảng số, như phương tiện truyền thông xã hội, ứng dụng di động và các kênh tương tác số. Xu hướng này đã tạo ra những cơ hội mới để báo chí phát huy vai trò trong việc nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới, đặc biệt ở các nhóm đối tượng dễ bị thiệt thòi, như phụ nữ nông thôn, dân tộc thiểu số, người khuyết tật, lao động di cư và phụ nữ trẻ.
Việc truyền tải thông tin về chủ trương, chính sách, quyền tham chính và các hình mẫu phụ nữ lãnh đạo qua nền tảng số giúp gia tăng khả năng tiếp cận theo cả chiều rộng và chiều sâu. Những nội dung truyền thông được thiết kế dưới dạng ngắn gọn, trực quan, dễ hiểu như infographic, clip hoạt hình, podcast, video trực tuyến, livestream tương tác… có khả năng tiếp cận đối tượng đa dạng về độ tuổi, trình độ học vấn và điều kiện sống, vượt qua những rào cản truyền thống về địa lý, ngôn ngữ và kỹ năng đọc hiểu chính sách.
Đặc biệt, trong điều kiện nhiều phụ nữ, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, ít có cơ hội tiếp cận các kênh thông tin chính thống, việc lan tỏa thông điệp bình đẳng giới thông qua điện thoại thông minh, phương tiện truyền thông xã hội và các hội nhóm trực tuyến đã mở ra không gian mới để phụ nữ tự trang bị kiến thức, chủ động nắm bắt thông tin, nâng cao nhận thức chính trị. Truyền thông số cũng tạo ra môi trường tương tác hai chiều, cho phép phụ nữ nói lên tiếng nói của mình, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, kết nối mạng lưới và thúc đẩy những thay đổi xã hội từ dưới lên. Đây là bước tiến quan trọng trong việc dân chủ hóa thông tin và gia tăng tính chủ động của phụ nữ trong tham gia đời sống chính trị.
Để báo chí phát huy vai trò này, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan báo chí, tổ chức hội phụ nữ các cấp và chính quyền địa phương, cùng với việc nâng cao năng lực số cho đội ngũ người làm báo và người dùng cuối. Việc đầu tư cho sản phẩm truyền thông hướng tới phụ nữ yếu thế không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là biểu hiện cụ thể của cam kết chính trị trong thực hiện công bằng xã hội, để báo chí thực sự trở thành cầu nối chiến lược, góp phần thu hẹp khoảng cách giới, thúc đẩy bình đẳng giới theo hướng thực chất và toàn diện hơn.
Để báo chí thực sự trở thành lực lượng đồng hành, thúc đẩy tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý
Mặc dù báo chí đã có những đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và hỗ trợ nâng cao tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, song trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức từ phía hệ thống chính sách lẫn hoạt động truyền thông.
Về mặt thể chế, nhiều chỉ tiêu về cán bộ nữ được nêu ra trong các chiến lược, nghị quyết có tính định hướng mạnh mẽ, nhưng lại thiếu cơ chế giám sát, đánh giá định lượng cụ thể, thiếu ràng buộc trách nhiệm cá nhân, tổ chức khi không đạt mục tiêu đề ra. Một số quy định vẫn mang tính trung lập giới, chưa xét đến những yếu tố đặc thù, hạn chế cơ hội tiếp cận vị trí lãnh đạo, quản lý của nữ giới, đặc biệt trong quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ.
Hệ thống dữ liệu giới trong lĩnh vực chính trị - hành chính còn phân tán, thiếu tính cập nhật và không đồng bộ, ảnh hưởng đến việc theo dõi, phân tích và truyền thông của báo chí trong việc thực hiện chức năng phản biện chính sách về bình đẳng giới một cách sâu sắc, khách quan và có sức nặng khoa học.
Từ góc độ báo chí, một bộ phận cơ quan báo chí và nhà báo chưa thực sự quan tâm đến việc lồng ghép vấn đề giới trong tuyên truyền. Nhiều sản phẩm truyền thông về phụ nữ lãnh đạo vẫn mang tính hình thức, nặng về khen ngợi cá nhân, chưa đi sâu phân tích cấu trúc, chính sách, hay điều kiện thúc đẩy hệ thống. Bên cạnh đó, hiện tượng tái hiện định kiến giới một cách vô thức trong cách viết, đặt tiêu đề, hình ảnh minh họa... vẫn còn hiện diện ở không ít sản phẩm truyền thông.
Bối cảnh chuyển đổi số đang tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận thông tin cho phụ nữ song cũng đặt ra những rào cản mới, như khoảng cách, năng lực số giữa các nhóm phụ nữ, nguy cơ lan truyền định kiến, thông tin sai lệch, tấn công giới trên không gian mạng... Trong khi đó, báo chí chưa có đủ nguồn lực để đầu tư các tuyến truyền thông chuyên sâu về bình đẳng giới trong chính trị. Sự phối hợp giữa báo chí với các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan quản lý nhà nước về giới chưa thực sự chặt chẽ và mang tính chiến lược. Thiếu sự đồng bộ trong chiến dịch truyền thông, thiếu nguồn lực tài chính và cơ chế đặt hàng báo chí về nội dung bình đẳng giới cũng đang là những rào cản trong việc nâng cao hiệu quả truyền thông chính trị về phát triển cán bộ nữ.
Để báo chí thực sự trở thành lực lượng đồng hành, thúc đẩy tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, cần triển khai đồng bộ, hiệu quả một số giải pháp:
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách gắn với truyền thông chính trị về giới. Cần lồng ghép truyền thông báo chí vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát các chính sách về bình đẳng giới, đặc biệt trong công tác cán bộ. Các văn bản chiến lược, như Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, các kế hoạch phát triển nguồn nhân lực nữ nên quy định cụ thể vai trò của báo chí, cơ chế phối hợp liên ngành và nguồn lực truyền thông. Đồng thời, cần ban hành hướng dẫn thực hiện các chỉ tiêu giới có tính định lượng, có công cụ giám sát độc lập và trách nhiệm giải trình rõ ràng từ các cơ quan, tổ chức liên quan.
Hai là, tăng cường truyền thông chính trị về bình đẳng giới trên nền tảng báo chí hiện đại. Cần phát triển các tuyến nội dung có lồng ghép vấn đề giới một cách bài bản, khoa học và có chiều sâu. Các cơ quan báo chí cần thiết lập chuyên mục thường kỳ, như “Phụ nữ và lãnh đạo”, “Bình đẳng giới trong chính trị”… gắn với các sự kiện chính trị - xã hội lớn để thu hút công chúng. Khuyến khích sử dụng các hình thức truyền thông số (podcast, livestream, video ngắn, phương tiện truyền thông xã hội...) để lan tỏa hình ảnh nữ lãnh đạo và thông điệp chính sách tới nhóm phụ nữ trẻ, phụ nữ vùng sâu, vùng xa.
Ba là, xây dựng cơ chế đặt hàng truyền thông công và tăng cường phối hợp liên ngành. Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng báo chí để truyền thông về các chủ trương, chính sách, mô hình điển hình và câu chuyện thành công của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý. Các tổ chức, như Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cần xây dựng các chương trình truyền thông chung về quyền tham chính của phụ nữ, có phân công vai trò cụ thể, bảo đảm tài chính ổn định để duy trì tính liên tục của thông điệp.
Bốn là, nâng cao năng lực truyền thông chính trị và giới cho đội ngũ người làm báo. Tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề về lồng ghép giới trong tác nghiệp báo chí, đặc biệt là đối với nội dung liên quan đến lĩnh vực chính trị - hành chính. Cần xây dựng bộ công cụ kiểm tra định kiến giới trong nội dung báo chí, khuyến khích các tòa soạn áp dụng quy tắc biên tập vấn đề giới. Đồng thời, thúc đẩy các giải thưởng báo chí về bình đẳng giới nhằm tạo động lực cho phóng viên, biên tập viên sáng tạo các tuyến bài chất lượng cao.
Năm là, phát triển hệ thống dữ liệu công khai và tiếp cận mở về cán bộ nữ. Thiết lập cơ sở dữ liệu thống kê giới trong hệ thống chính trị, được cập nhật định kỳ, có khả năng trích xuất phục vụ công tác truyền thông và nghiên cứu chính sách. Việc công khai dữ liệu về tỷ lệ nữ trong cấp ủy, Quốc hội, hội đồng nhân dân, lãnh đạo cơ quan nhà nước theo ngành, vùng, cấp... sẽ tạo điều kiện cho báo chí thực hiện chức năng giám sát và phản ánh thực trạng một cách khách quan, chính xác.
Những giải pháp trên chỉ phát huy hiệu quả khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa báo chí, cơ quan quản lý, tổ chức chính trị - xã hội và sự ủng hộ từ cộng đồng. Báo chí không chỉ là phương tiện truyền tải mà cần được nhìn nhận như một tác nhân tích cực trong tiến trình hiện thực hóa việc xóa bỏ định kiến giới, vì một nền chính trị tiến bộ, công bằng./.
---------------------
(1) Hà Thị Nga: “Kiến nghị chính sách ưu đãi nguồn nhân lực nữ chất lượng cao”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 11-7-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/kien-nghi-chinh-sach-uu-dai-nguon-nhan-luc-nu-chat-luong-cao
(2) Kết quả đại hội đảng bộ trực thuộc Trung ương; công tác chuẩn bị tổ chức và những vấn đề cần quan tâm trong tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng (Phần 1), Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, ngày 18-11-2025, https://tuyenquang.dcs.vn/DetailView/149255/2/Ket-qua-dai-hoi-dang-bo-truc-thuoc-Trung-uong;-cong-tac-chuan-bi-to-chuc-va-nhung-van-de-can-quan-tam-trong-tuyen-truyen-Dai-hoi-XIV-cua-Dang-(Phan-1).html
(3) “Danh sách 21 nữ Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV”, Trang thông tin Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, https://daihoidang.vn/danh-sach-21-nu-uy-vien-trung-uong-dang-khoa-xiv-post6212.html
(4) Phan Thị Thanh Huyền: “Tăng cường tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước và Lao động, ngày 23-12-2025, https://tcnnld.vn/news/detail/70897/Tang-cuong-ty-le-nu-lanh-dao-quan-ly-trong-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-o-Viet-Nam.html
(5) PV: “7 nữ Bí thư tỉnh/thành ủy đương nhiệm”, Báo Phụ nữ Việt Nam điện tử, ngày 11-6-2025, https://phunuvietnam.vn/7-nu-bi-thu-tinh-thanh-uy-duong-nhiem-20250611172257207.htm
Phát huy vai trò truyền thông địa phương trong xây dựng quốc gia thông minh và hội nhập  (02/02/2026)
Lịch sử ra đời và phát triển của trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực báo chí  (29/08/2025)
Trí tuệ nhân tạo (AI) và những vấn đề đặt ra trong đào tạo nguồn nhân lực báo chí, truyền thông hiện nay  (19/06/2025)
Chính sách đối ngoại vì quyền của phụ nữ của cộng hòa Pháp  (19/02/2024)
Một số vấn đề giới trong chính sách bảo đảm an sinh xã hội ở Việt Nam  (27/08/2023)
- Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại: Từ kinh nghiệm quốc tế đến định hướng chính sách của Việt Nam
- Phát huy vai trò của báo chí trong truyền thông về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, góp phần nâng cao tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý
- Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam và góc nhìn từ lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người
- Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi học tập, làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng
- Chính sách đối ngoại của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ hai: Tiếp cận từ góc độ lịch sử và văn hóa
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm