Dưới cờ Đảng vẻ vang, chung sức, đồng lòng dựng xây đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội

Khánh Ly - Hà Phương - Phan Nam - Đình Quyết
Tạp chí Cộng sản
06:23, ngày 27-02-2026

Kỳ 2: Chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

TCCS - Với tinh thần hành động, việc tổ chức thực hiện thắng lợi những chỉ đạo, định hướng của Đại hội XIV không chỉ là quyết tâm chính trị, mà còn là thước đo trực tiếp năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện mới.

Đột phá và hành động

Một trong những nội dung xuyên suốt và nổi bật của Đại hội XIV là sự kết hợp chặt chẽ giữa khát vọng phát triển đất nước với yêu cầu hành động quyết liệt. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là “đột phá”, trong đó chỉ rõ “chủ thể, lộ trình, nguồn lực, đích đến” để triển khai thực hiện. Trong Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ 8 nội dung xuyên suốt, là tinh thần cốt lõi được cô đọng từ Báo cáo chính trị, Chương trình hành động của Đảng, thể hiện rõ yêu cầu “Lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả”; 3 đột phá chiến lược - những đòn bẩy quyết định để đất nước bứt phá, với yêu cầu “phải làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn”.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng_Ảnh: Tư liệu

GS, TS Vũ Văn Hiền cho rằng, nếu Đại hội IV của Đảng có ý nghĩa lịch sử trong việc hoàn thành thắng lợi sự nghiệp thống nhất đất nước; Đại hội VI của Đảng mở ra con đường đổi mới và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì Đại hội XIV có sứ mệnh đưa đất nước bước vào một chặng đường phát triển mới, trên nền tảng 40 năm đổi mới và 50 năm thống nhất đất nước. Những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XIV của Đảng đề ra đáp ứng đúng mong mỏi, khát vọng tha thiết của nhân dân, và hiện nay, chúng ta có đầy đủ tiềm lực, cơ sở thực tiễn, có quyết tâm và bản lĩnh để hiện thực hóa những mục tiêu lớn đó. Vấn đề đặt ra là phải tổ chức thực hiện thật tốt, thật quyết liệt, để biến mục tiêu thành kết quả cụ thể, thiết thực trong đời sống của nhân dân và trong sự phát triển bền vững của đất nước. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa khẳng định, không chỉ xác định mục tiêu, tầm nhìn, Đại hội XIV của Đảng còn định hình cách thức huy động và tổ chức nguồn lực quốc gia, củng cố niềm tin xã hội và tăng cường sức mạnh tổng hợp để phát triển nhanh, bền vững. “Nghị quyết Đại hội sẽ thật sự đi vào cuộc sống khi được chuyển hóa thành hệ giải pháp có mục tiêu rõ, công cụ thực thi cụ thể, cơ chế phối hợp chặt chẽ và thước đo đánh giá minh bạch”.

Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Lấy thực thi làm thước đo.

Việc hoàn thiện thể chế phát triển và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xác định là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng phát triển. Điểm mới quan trọng của Đại hội XIV của Đảng không chỉ nhấn mạnh vai trò của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, mà còn là đặt ra yêu cầu khắc phục tình trạng tổ chức thực hiện là khâu yếu.

Các văn kiện Đại hội XIV của Đảng coi thể chế vừa là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, vừa là “đột phá của đột phá”. Điều này phản ánh một nhận thức sâu sắc: Nếu không tháo gỡ được những rào cản thể chế, không khơi thông được các nguồn lực đang bị kìm hãm, thì mọi chiến lược phát triển, dù đúng đắn đến đâu, cũng khó đi vào cuộc sống. Phân tích nội dung này, GS, TS Trần Ngọc Đường nhấn mạnh, hoàn thiện thể chế vừa là yêu cầu khách quan của quá trình đổi mới, vừa là điều kiện quyết định để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. “Thể chế không chỉ là hệ thống luật pháp, mà là toàn bộ cơ chế vận hành quyền lực nhà nước, là cách thức Nhà nước tổ chức và quản lý xã hội, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân”. Điểm cốt lõi của đổi mới thể chế hiện nay là chuyển từ tư duy “ban hành quy định” sang tư duy “tạo điều kiện cho phát triển”, trong đó hiệu quả thực thi và trách nhiệm giải trình phải được coi là tiêu chí hàng đầu. Một hệ thống thể chế đồng bộ, minh bạch, ổn định và khả thi là nền tảng để khơi thông nguồn lực, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của xã hội, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội.

Theo PGS, TS Trần Quốc Toản, nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng kế thừa những thành quả quan trọng của nhiệm kỳ Đại hội XIII và các nhiệm kỳ trước, đồng thời tiếp tục xây dựng đồng bộ thể chế phát triển trên nền tảng của tư duy mới, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ hội nhập quốc tế; từng bước nhn diện và khắc phục các hạn chế, yếu kém, vượt qua các thách thức, góp phần tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Ở góc độ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu “văn minh trong quản trị”. Điều này đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cho rằng, muốn hiện thực hóa nội dung này, cần đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn; nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền hợp lý; đề cao trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước; xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp; chuyển mạnh từ “quản lý” sang “phục vụ”, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ; phát triển chính phủ số/chính quyền số, dữ liệu số và hạ tầng số; bảo đảm an toàn, an ninh mạng; ứng dụng dữ liệu trong điều hành và giám sát thực thi. Tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với xây dựng văn hóa liêm chính; xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật, đồng thời hoàn thiện cơ chế phòng ngừa…

Theo TS Phạm Tất Thắng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải phát huy tính đảng, tính nhân dân; gắn với đột phá về thể chế và thực thi, đẩy mạnh cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân, đặc biệt là lấy chất lượng, hiệu quả phục vụ nhân dân và doanh nghiệp làm thước đo. Đổi mới và tăng cường việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước kịp thời, hợp lòng dân; đồng thời, giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, đây chính là cơ sở quan trọng để củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Có thể thấy, yêu cầu hoàn thiện thể chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng không chỉ dừng lại ở kỹ thuật lập pháp, trở thành chuẩn mực mới đánh giá năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng: thể chế phải thông suốt, bộ máy phải vận hành hiệu quả và mọi cải cách phải được kiểm chứng bằng kết quả thực tế và sự hài lòng của nhân dân.

Xác lập mô hình tăng trưởng mới: phát triển nhanh nhưng phải bền vững.

Một trong những quyết sách chiến lược, là trụ cột hành động quan trọng được xác lập trong các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng là việc xác lập mô hình tăng trưởng mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Phát triển nhanh nhưng phải bền vững”(1). Không chỉ cụ thể hóa sâu hơn về mô hình tăng trưởng, Đại hội XIV của Đảng còn nhấn mạnh vấn đề tăng trưởng dựa trên năng suất và chất lượng, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực; yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ sang các mô hình kinh tế dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn… PGS, TS Trần Quốc Toản cho rằng, những nội dung về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường với xây dựng mô hình tăng trường mới, phát triển theo chiều sâu trên nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; về quản lý phát triển xã hội… thể hiện tư duy nền tảng của Đảng về đổi mới mô hình phát triển, phương thức phát triển, để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Ở bình diện quản trị phát triển, GS, TS Trần Ngọc Đường nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của công tác quy hoạch trong việc hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới. GS, TS Trần Ngọc Đường cho rằng, cần hoàn thiện đồng bộ quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và quy hoạch địa phương, bảo đảm tính liên thông, tránh chồng chéo, manh mún. “Nếu quy hoạch thiếu tầm nhìn và thiếu kỷ luật thực hiện, thì rất khó triển khai mô hình tăng trưởng mới một cách hiệu quả”. Theo GS, TS Phạm Hồng Tung, chuyển đổi mô hình tăng trưởng không thể chỉ dừng ở định hướng, mà phải được cụ thể hóa bằng các tiêu chuẩn, chuẩn mực và cơ chế đo lường rõ ràng. GS, TS Phạm Hồng Tung cho rằng, “nếu không có tiêu chí đánh giá cụ thể về chất lượng tăng trưởng, thì rất dễ quay trở lại lối phát triển cũ, chạy theo số lượng và thành tích ngắn hạn”.

Từ góc nhìn công bằng xã hội, TS Phạm Tất Thắng nhấn mạnh rằng mô hình tăng trưởng mới chỉ thực sự thành công khi người dân được thụ hưởng công bằng thành quả phát triển. Sự phát triển bền vững phải gắn với thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và tạo cơ hội phát triển cho mọi người dân, mọi vùng miền, bảo đảm các nhóm yếu thế được tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội cơ bản, “không để ai bị bỏ lại phía sau”…

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - động lực trung tâm của phát triển.

Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới(2). Theo đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được coi là nền tảng quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ và khả năng bứt phá của nền kinh tế và của cả hệ thống quản trị quốc gia.

GS, TS Phạm Hồng Tung cho rằng, việc xác định đúng về mức độ, sự nghiêm trọng của nguy cơ tụt hậu - thực chất là tụt hậu về trình độ phát triển, về trình độ và năng lực đổi mới sáng tạo - có ý nghĩa mở đường cho những trụ cột chiến lược mang tính đột phá rất mạnh của Đảng ta, nhằm đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên phát triển mới. Trong đó, một vấn đề cốt lõi là về lực lượng sản xuất quan trọng bậc nhất của thời đại hiện nay: khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngay trước Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” được ban hành có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng. Nghị quyết này đã góp phần cởi trói, khơi thông các điểm nghẽn về thể chế, giải phóng các nguồn lực, để chúng ta có thể phát huy tối đa năng lực sáng tạo, tập trung tạo ra bước phát triển mạnh mẽ trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Theo ông, đây cũng là con đường duy nhất để Việt Nam có thể bước vào kỷ nguyên mới một cách bền vững và thành công.

PGS, TS Trần Quốc Toản nhấn mạnh, việc Đảng ta quyết tâm đổi mới tư duy, định ra đường lối chiến lược phát triển theo chiều sâu dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới nhanh, bền vững là một nội dung quan trọng, mang tính đột phá. Yêu cầu phát triển theo chiều sâu, đột phá, bứt phá trên nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển, đến xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển trong dự thảo các văn kiện của Đại hội XIV. Tuy nhiên, việc xây dựng, thực thi thể chế và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo… đều phải dựa vào vai trò chủ thể của nhân tố con người. Do đó, dự thảo các văn kiện nhấn rất đậm nét vào nhiệm vụ phát triển con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đặc biệt là phải hoàn thiện đồng bộ công tác cán bộ, làm nền tảng để đào tạo, sử dụng có hiệu quả cao đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp “thực đức - thực tài”; đào tạo đội ngũ chuyên gia khoa học, công nghệ trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Ở bình diện tự chủ quốc gia, Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cho rằng, vấn đề tạo đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và nhân lực chất lượng cao là động lực then chốt để nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động. Từ góc độ quản trị quốc gia, GS, TS Trần Ngọc Đường khẳng định, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ vào quản lý, mà phải trở thành phương thức tổ chức lại hoạt động của bộ máy nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Việc chuyển đổi số phải gắn chặt với cải cách thể chế, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Phát triển văn hóa, con người - nền tảng tinh thần xã hội, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển.

Đại hội XIV của Đảng khẳng định, phát triển bền vững trước hết phải dựa vào con người và văn hóa. Theo đó, cần xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng vươn lên; nuôi dưỡng lòng nhân ái, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật; tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, văn minh trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và trên không gian mạng. Chính sách xã hội phải hướng tới bao trùm, công bằng, hiệu quả, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội; đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển y tế, chú trọng chăm sóc sức khỏe nhân dân; giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng đời sống. Tăng trưởng kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, để đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, để xã hội thực sự hài hòa, dân chủ, để người dân tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội(3).

GS, TS Phạm Hồng Tung đặc biệt tâm đắc với việc tại Đại hội XIV, Đảng đã làm rõ hơn mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và phát triển, khi khẳng định văn hóa không chỉ là kết quả, mà còn là điều kiện và động lực của phát triển. Một xã hội phát triển nhanh nhưng thiếu nền tảng văn hóa vững chắc sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro về đạo đức, lối sống, kỷ cương và niềm tin xã hội, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của sự phát triển. Toàn cầu hóa là cơ hội để chúng ta tiếp cận các nguồn lực, tri thức và tinh hoa văn hóa của nhân loại, nhưng cũng mang đến nguy cơ làm xói mòn bản sắc dân tộc, khiến con người có thể mất phương hướng về bản sắc, về căn tính và cội nguồn của mình. Bước vào kỷ nguyên mới, cần có những giải pháp chiến lược mạnh mẽ và quyết liệt hơn để văn hóa có đóng góp ngày càng quan trọng việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường “sức mạnh mềm” của Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như trao truyền, phát huy những giá trị truyền thống trong từng gia đình và trong toàn xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta, với truyền thống và bản lĩnh của mình, luôn chủ động hội nhập nhưng không hòa tan, và phải tỏa sáng bằng chính các giá trị văn hóa truyền thống cũng như sự sáng tạo mang bản sắc Việt.

Ở chiều sâu phát triển xã hội, có thể thấy, văn hóa chính là “sức mạnh mềm” để bảo vệ sự ổn định xã hội bền vững. Khi các giá trị văn hóa và chuẩn mực xã hội được củng cố, xã hội sẽ có sức đề kháng tốt hơn trước những tác động tiêu cực từ mặt trái của toàn cầu hóa, kinh tế thị trường… Điều này càng trở nên quan trọng khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển cao hơn, với những thay đổi sâu sắc về cấu trúc xã hội và lối sống.

Về phát triển con người, theo GS, TS Phạm Hồng Tung, phải chuẩn bị tốt nhất cho sự phát triển của con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ chủ nhân tương lai đất nước trên mọi phương diện, thông qua đổi mới giáo dục - đào tạo, chăm sóc y tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm sự kết nối, khối đoàn kết thống nhất của cộng đồng người Việt Nam ở trong nước với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài... Đây là giải pháp mang tính chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cũng nhấn mạnh việc cần ưu tiên phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa; củng cố các dịch vụ xã hội cơ bản và nâng chất lượng đời sống nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hoàn thiện chính sách tiền lương, việc làm, nhà ở xã hội; phát triển thị trường lao động hiện đại; tăng cường bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hướng tới bao phủ bền vững…

Từ góc độ quản trị phát triển, PGS, TS Trần Quốc Toản cho rằng, để đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới, phải dựa trên động lực chủ yếu là nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát huy vai trò của nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao. Do đó, Đại hội XIV của Đảng nhấn rất đậm nét nhiệm vụ phát triển con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; đào tạo đội ngũ chuyên gia khoa học, công nghệ trình độ cao.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi; công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”.

Trong toàn bộ hệ thống các giải pháp hành động của Đại hội XIV, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh được Đảng xác định là điều kiện quyết định mọi thắng lợi. Đảng mạnh là vì có kỷ luật nghiêm, đạo đức cách mạng, tinh thần phụng sự. Từ đó, đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên trì xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; đổi mới tổ chức bộ máy; đẩy mạnh kiểm soát quyền lực; kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ…

Một nội dung rất quan trọng, tiếp tục được Đảng xác định là “then chốt của then chốt” tại Đại hội XIV là công tác cán bộ. Theo đó, phải chọn đúng người, giao đúng việc; đánh giá cán bộ bằng sản phẩm, bằng hiệu quả, bằng uy tín trong nhân dân. Thực hiện phương châm “có vào, có ra”“có lên, có xuống”, kết hợp kỷ luật nghiêm minh với cơ chế bảo vệ hiệu quả cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; không để những phần tử “cơ hội”“chạy chức, chạy quyền” len lỏi vào tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị.

Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cho rằng, cần đổi mới mạnh công tác cán bộ theo hướng thực chất, lựa chọn đúng người, bố trí đúng việc, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức chạy quyền; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Tăng cường, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm; đồng thời, bảo vệ người năng động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Quy định rõ trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm người đứng đầu gắn với kết quả đầu ra; có cơ chế đánh giá cán bộ đa chiều (tổ chức - nhân dân - chuyên gia); cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; công khai, minh bạch quy trình; ứng dụng dữ liệu số để theo dõi hồ sơ, quá trình công tác và kết quả thực thi; tăng tính phòng ngừa, cảnh báo sớm; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân… PGS, TS Trần Quốc Toản đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện đồng bộ thể chế công tác cán bộ, làm nền tảng để đào tạo, sử dụng có hiệu quả cao đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp “thực đức - thực tài”.

Đoàn kết và phát triển

Trong các văn kiện trình Đại hội XIV, Đảng ta khẳng định, đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng sức mạnh quốc gia, hội tụ và phát huy cao nhất sức mạnh của nhân dân, tạo nên sức mạnh vô địch để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách và vươn tới phát triển phồn vinh, hùng cường. Cần kiên trì thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển; phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương; nêu cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng với quốc gia, dân tộc(4). Lời hiệu triệu trong phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội XIV khẳng định yêu cầu hàng đầu, yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng chính là phải thống nhất được ý chí và hành động, “ý Đảng” và “lòng dân”, “chung sức đồng lòng”, phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, tất cả vì nhân dân(5).

Đồng chí Hà Thị Khiết khẳng định, tất cả các mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đề ra chỉ được thực hiện thành công khi có sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đoàn kết, đồng thuận của toàn dân tộc, sự đoàn kết hữu nghị của nhân dân Việt Nam với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Theo Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa, “chung sức, đồng lòng” không phải là khẩu hiệu chung chung, mà là đòi hỏi của thực tiễn quản trị phát triển. Theo đó, mọi đột phá đều cần đồng thuận xã hội; mọi chương trình lớn đều cần kỷ luật thực thi; mọi chính sách đều cần được đo lường bằng kết quả nâng cao đời sống nhân dân. Nội hàm “đồng lòng” là sự thống nhất giữa mục tiêu đồng thuận lợi ích và đồng hành trách nhiệm, bao gồm: Đồng lòng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, đồng hành trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Chung sức, đồng lòng phải được đặt trên nền tảng dân chủ thực chất và niềm tin xã hội. Đồng thuận bằng thể chế minh bạch, đối thoại chân thành, tôn trọng quyền làm chủ và chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân. Từ góc độ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cần xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại; tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới, TS Phạm Tất Thắng cho rằng, “Phát huy dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân; xử lý nghiêm hành vi lợi dụng dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Cùng với đó, cần tăng cường vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp, vận động, đoàn kết nhân dân, trọng tâm là địa bàn cơ sở; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân…

Khẳng định vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng chí Hà Thị Khiết cũng xác định những yêu cầu, nhiệm vụ đang đặt ra đối với các tổ chức này để góp phần tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo đúng tinh thần Đại hội XIV của Đảng, như: Hoàn thiện đồng bộ các cơ chế hoạt động, tham gia sâu rộng trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; cụ thể hóa các giải pháp, điều kiện để thực hiện, phát huy dân chủ ở cơ sở; xây dựng quy chế, quy định để góp phần thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội XIV vào thực tiễn cuộc sống

Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra thành công rất tốt đẹp, đánh dấu một mốc son mới trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Đại hội XIV đã thông qua các văn kiện chính trị quan trọng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội vào thực tiễn cuộc sống, PGS, TS Dương Trung Ý, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh một số nội dung:

Một là, tinh thần đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ và hiệu quả. Đại hội XIV đặt ra yêu cầu đổi mới không chỉ ở tầm chủ trương, quan điểm mà sâu xa hơn là đổi mới tư duy phát triển, phương thức lãnh đạo, quản lý và cách thức tổ chức thực hiện trong toàn bộ hệ thống chính trị. Trọng tâm là chuyển từ tư duy hành chính, mệnh lệnh sang tư duy kiến tạo phát triển, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Văn kiện Đại hội đã thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy của Đảng về phát triển, trong đó xác định: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm; thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng; phát triển xanh, bền vững, hiệu quả, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu bắt buộc; hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng suất lao động là thước đo chất lượng tăng trưởng.

Hội thảo khoa học quốc gia “Những giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống” được tổ chức ngay sau thành công của Đại hội XIV nhằm đề xuất các giải pháp đồng bộ và khoa học, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống_Ảnh: Tư liệu

Hai là, tinh thần lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Đại hội XIV coi đây là nguyên tắc xuyên suốt trong toàn bộ quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối phát triển đất nước. Mọi chủ trương, chính sách không chỉ được xem xét ở góc độ tăng trưởng kinh tế hay hiệu quả trước mắt, mà trước hết phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, củng cố niềm tin xã hội, bảo đảm công bằng, tiến bộ và “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất là bước chuyển lớn trong nhận thức và định hướng phát triển của Đảng. Đặt hạnh phúc, chất lượng sống và sự phát triển toàn diện của nhân dân vào vị trí trung tâm của mọi quyết sách; đồng thời gắn chặt phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, độc lập, chủ quyền, tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

Ba là, tinh thần tự lực, tự cường, tự tin và tự hào dân tộc, nền tảng sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh mới. Qua từng chặng đường lịch sử, Việt Nam luôn phải đối mặt với những thế lực lớn mạnh hơn gấp nhiều lần, những biến động địa - chính trị phức tạp, những thử thách nội tại của quá trình phát triển. Điều kỳ diệu là dân tộc Việt Nam không chỉ đứng vững mà còn trưởng thành mạnh mẽ qua mỗi thử thách. Cội nguồn của sức sống mãnh liệt ấy chính là tinh thần tự lực, tự cường, được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử, là niềm tự tin vào bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc và là lòng tự hào dân tộc của mỗi người dân Việt Nam.

Bốn là, tinh thần “tự chủ chiến lược” - bước phát triển mới trong tư duy lý luận và tầm nhìn kiến tạo quốc gia của Đảng. Quan điểm về “tự chủ chiến lược” chính sự là kế thừa và phát triển mạch nguồn tư tưởng xuyên suốt của Đảng về độc lập dân tộc, quyền tự quyết và ý chí tự lực, tự cường, được hun đúc từ truyền thống dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện sự chủ động lựa chọn mô hình, con đường phát triển, định vị quốc gia trong cấu trúc khu vực và toàn cầu, khẳng định bản lĩnh và sức mạnh của Việt Nam trước mọi biến động của thời đại.

Năm là, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trọng tâm của tinh thần này là đề cao bản lĩnh, trách nhiệm và khát vọng cống hiến của cán bộ, nhất là người đứng đầu, khuyến khích chủ động đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám hành động vì lợi ích chung, đồng thời khắc phục triệt để tâm lý sợ sai, né tránh, bệnh sợ và đùn đẩy trách nhiệm. Đại hội XIV khẳng định rõ, giá trị của nghị quyết không nằm ở câu chữ hay khẩu hiệu, mà được kiểm chứng bằng kết quả cụ thể trong thực tiễn; bằng những sản phẩm đo đếm được, hiệu quả nhìn thấy rõ và mức độ hài lòng ngày càng cao của nhân dân.

Sáu là, tinh thần hành động quyết liệt, nói ít, làm nhiều và làm đến nơi, đến chốn, làm đến cùng. Các văn kiện Đại hội XIV của Đảng còn thể hiện nhiều nội dung tinh thần mới, quan trọng khác trên các lĩnh vực, trong đó có tinh thần mới trong khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, coi đây như một giá trị cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ đường lối phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

Theo PGS, TS Dương Trung Ý, Đại hội XIV của Đảng mở ra một chặng đường phát triển mới, với nhiều thời cơ lớn nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội XIV vào thực tiễn cuộc sống là trách nhiệm chính trị, là mệnh lệnh công tác, là thước đo và minh chứng sinh động, thiết thực nhất đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đồng thời là yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước./.

----------------------

(1) GS, TS Tô Lâm: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 20-1-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/bao-cao-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-cong-san-viet-nam
(2), (3), (4) Xem: GS, TS Tô Lâm: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, Tlđd

(5) “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chúng ta hãy chung sức đồng lòng, giữ vững niềm tin, nêu cao trách nhiệm, phát huy trí tuệ, khơi dậy khát vọng; làm cho mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày sau Đại hội đều có kết quả cụ thể, có chuyển biến thực chất; để nhân dân thấy, nhân dân tin, nhân dân ủng hộ, nhân dân đồng hành và nhân dân thụ hưởng”. Xem: GS, TS Tô Lâm: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, Tlđd