Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyết sách chính trị trong xây dựng đường lối, chiến lược phát triển đất nước cho kỷ nguyên mới
00:58, ngày 19-05-2026
TCCS - Quyết sách chính trị là biểu hiện tập trung của tư duy chiến lược, năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng. Ở tầm tư tưởng, nội hàm và các nguyên tắc của quyết sách chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện nhất quán, sâu sắc trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người về quyết sách chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong định hướng xây dựng đường lối, chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới, gắn với các đột phá chiến lược theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.
Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan gian trưng bày triển lãm ảnh chuyên đề “Quốc hội Việt Nam - 80 năm kế thừa và phát triển”, ngày 27-8-2025 _Ảnh: hanoimoi.vn
Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyết sách chính trị
Quyết sách chính trị - yếu tố định hướng và mở đầu cho sự nghiệp cách mạng
Trong tư duy chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết sách giữ vai trò khởi nguồn và định hướng cho toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Người luôn nhìn nhận cách mạng không phải là chuỗi hành động tự phát hay cảm tính, mà là quá trình có mục tiêu rõ ràng, phương hướng xác định và được dẫn dắt bởi những quyết định chiến lược đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo tư tưởng đó vào thực tiễn cách mạng của Việt Nam, coi quyết sách chiến lược, với hạt nhân là đường lối chính trị, là yếu tố định hướng căn bản, quyết định phương hướng vận động của cách mạng ngay từ điểm xuất phát.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: “Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời nói đi đôi với hành động, lý luận đi đôi với thực tiễn, nói là để làm, không những phải tìm hiểu thế giới mà còn phải cải tạo thế giới”(2). Mục tiêu “cải tạo thế giới” thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược về chức năng biến đổi xã hội của quyết sách chính trị. Không chỉ phản ánh hiện thực, quyết sách còn phải định hình tương lai, chuyển hóa khả năng thành hiện thực thông qua hành động có tổ chức của quần chúng. Điều này phù hợp với quan điểm của C. Mác về “thực tiễn cách mạng” - sự thống nhất giữa nhận thức và hành động nhằm biến đổi thế giới(3).
Quyết sách chính trị - nhân tố quyết định thành bại của cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc tính quyết định của quyết sách đối với vận mệnh cách mạng, nhất là quyết sách chính trị trong những thời điểm có tích bước ngoặt. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy những minh chứng sinh động về vai trò quyết định của quyết sách chính trị. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 thất bại do thiếu sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương và quyết sách chiến lược rõ ràng. Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: “…một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệp lực đồng tâm”(4). Cũng chính vì vậy, khi vừa trở về Cốc-Pó, được báo cáo về việc Liên ủy Cao - Bắc - Lạng quyết định khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương, Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa để tránh những khó khăn tổn thất khi việc chuẩn bị ở các nơi chưa đầy đủ(5). Trong chỉ đạo Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Người nhấn mạnh: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(6). Quyết định phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám vào đúng thời điểm thực dân Pháp đầu hàng phát xít Nhật, quân Nhật chưa kịp đầu hàng Đồng minh là minh chứng điển hình cho năng lực ra quyết sách đúng lúc, đúng hướng và đúng mục tiêu. Đây là bài học sâu sắc về “thời cơ chính trị” cho thấy quyết sách chính trị giữ vai trò kiến tạo và dẫn dắt định hướng chiến lược cho hành động thực tiễn cách mạng; thiếu quyết sách đúng đắn và kịp thời, thực tiễn rất dễ rơi vào tự phát, nóng vội, dẫn đến tổn thất nghiêm trọng. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: “Đối với Hồ Chí Minh, lý luận cực kỳ quan trọng, vì lý luận soi sáng hành động và được đúc kết từ hành động”(7). Sự thống nhất này tạo nên “chu trình chính sách” hoàn chỉnh, từ phân tích tình hình, xác định vấn đề, đề xuất giải pháp, ra quyết định, tổ chức thực hiện đến đánh giá và điều chỉnh - một quy trình vẫn được áp dụng trong khoa học chính sách công hiện đại.
Quyết sách chính trị thể hiện vai trò lãnh đạo và trách nhiệm của Đảng
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết sách chính trị là phương thức cơ bản để Đảng xác lập và thực thi vai trò lãnh đạo cách mạng. Người khẳng định: “Sở dĩ Đảng ta có thể lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, là vì Đảng ta có chính sách đúng đắn và lãnh đạo thống nhất. Mà lãnh đạo thống nhất là vì toàn thể đảng viên tư tưởng nhất trí và hành động nhất trí”(8). Luận điểm này phản ánh quan niệm về “tính chính danh” của quyền lực chính trị - một khái niệm trung tâm trong khoa học chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh điều này khi chỉ ra: “Nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông”(9). Qua đó, vai trò lãnh đạo của Đảng không được khẳng định bằng những tuyên ngôn hình thức, mà phải được chứng minh bằng quyết sách chính trị cụ thể, thiết thực, đáp ứng lợi ích căn bản của nhân dân. Quan niệm này thể hiện sự vận dụng sáng tạo nguyên tắc “tập trung dân chủ” của V.I. Lê-nin vào điều kiện Việt Nam. Trong khi tập trung dân chủ nhấn mạnh sự thống nhất hành động dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung chiều kích “trách nhiệm giải trình” trước nhân dân. Người yêu cầu: “Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ”(10).
Các nguyên tắc cơ bản trong ban hành quyết sách chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ nhất, nguyên tắc gắn chặt lý luận với thực tiễn
Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ban hành quyết sách chính trị phải xuất phát từ nhiệm vụ thực tiễn: “Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà viết kế hoạch, ra mệnh lệnh”(11). Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn lại lời của V.I. Lê-nin: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”(12). Đồng thời, Người cảnh báo: “Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” và “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng”(13). Muốn vậy phải loại bỏ việc ban hành quyết sách “theo lối bàn giấy”, thường xuyên giữ mối liên hệ với nhân dân. Nguyên tắc này phản ánh quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời thể hiện phương pháp luận khoa học trong hoạch định quyết sách. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng tư duy này một cách sáng tạo, luôn xuất phát từ thực tế Việt Nam để điều chỉnh và cụ thể hóa các nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Xuất phát từ thực tế Việt Nam là nước thuộc địa, nửa phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng dân chủ nhân dân, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Quyết sách này vừa phù hợp với quy luật khách quan của cách mạng thế giới, vừa sát với điều kiện cụ thể của Việt Nam, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa “phổ biến” và “đặc thù” - một nguyên tắc quan trọng của phương pháp luận khoa học xã hội.
Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đến dự Lễ chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam và Hội nghị triển khai công nghệ chiến lược. _Ảnh: TTXVN
Thứ hai, nguyên tắc người dân là trung tâm, xuất phát từ lợi ích của nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát thành nguyên tắc mang tính xuyên suốt của việc ban hành quyết sách là đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Luận điểm này cho thấy, quyết sách chính trị nếu chỉ được trình bày dưới dạng mục tiêu trừu tượng hoặc khẩu hiệu chung chung thì sẽ khó đi vào cuộc sống và khó phát huy hiệu quả bền vững. Ngược lại, khi quyết sách phản ánh đúng nhu cầu thiết thân của nhân dân, hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, giữa lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cục, thì sẽ trở thành động lực thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ theo tinh thần “dễ mười lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”(14). Nguyên tắc người dân là trung tâm còn thể hiện qua yêu cầu “bàn với nhân dân” và “giải thích cho nhân dân hiểu rõ”. Tinh thần này được thể hiện qua nhiều hình thức vận dụng, như hội nghị cán bộ, đại hội, lấy ý kiến nhân dân về các quyết sách quan trọng.
Thứ ba, nguyên tắc truyền thông, giải thích quyết sách và tạo sự đồng thuận xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc đi sâu vào quần chúng để giải thích, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng. Theo Người, việc ban hành quyết sách chính trị chỉ là khâu mở đầu; yếu tố quyết định sự thành công là khả năng chuyển hóa quyết sách thành hành động tự giác của quần chúng thông qua công tác truyền thông, giải thích và thuyết phục. Người cũng yêu cầu: “Phải hiểu chính sách của Chính phủ và của Đảng, phải thảo luận rồi tuyên truyền cho chính sách, phải giải thích cho dân hiểu”(15). Quyết sách chỉ có giá trị thực tiễn khi được tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả. Không có dân chúng giúp sức thì không xong. Hơn nữa, để bảo đảm quyết sách không bị sai lệch trong quá trình thực hiện, việc tổ chức kiểm soát cũng phải dựa vào quần chúng, bởi “muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”. Từ đó có thể thấy quyết sách chỉ thực sự đúng đắn khi được nhân dân tham gia thực hiện và được nhân dân giám sát; chính mối quan hệ hữu cơ đó bảo đảm cho quyết sách không xa rời thực tiễn, không biến thành mệnh lệnh hành chính, mà trở thành động lực thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển tiến về phía trước. Điều này cho thấy, trong tư duy của Người, quyết sách chính trị đúng đắn nhất cũng không thể phát huy hiệu quả nếu không được truyền thông tốt, tạo được sự đồng thuận và hưởng ứng rộng rãi từ quần chúng nhân dân.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định quyết sách cho kỷ nguyên phát triển mới
Bối cảnh mới và yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng quyết sách chính trị trong kỷ nguyên mới
Thế giới đang bước vào một giai đoạn mới với những biến động nhanh, phức tạp và khó dự báo. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh”(16); chủ nghĩa bảo hộ, các biện pháp áp đặt thuế quan và xu hướng cấu trúc lại chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế thế giới, trực tiếp đặt ra những yêu cầu mới đối với tư duy lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng, đặc biệt là đối với việc ban hành các quyết sách chính trị mang tính chiến lược, nhằm bảo đảm vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, tranh chấp chủ quyền biển, đảo tiếp tục diễn biến phức tạp, làm cho môi trường an ninh thế giới và khu vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, buộc Việt Nam xử lý đồng thời nhiều mối quan hệ lớn, nhạy cảm; các quyết sách vì thế phải vừa kiên định về nguyên tắc, vừa linh hoạt về sách lược, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Bối cảnh đó đòi hỏi năng lực dự báo, năng lực lựa chọn chiến lược và năng lực xây dựng, thực thi quyết sách của Đảng và Nhà nước được nâng lên một tầm cao mới.
Ở trong nước, thực tiễn phát triển đặt ra hàng loạt thách thức đan xen: nguy cơ tụt hậu về công nghệ, bẫy thu nhập trung bình; yêu cầu nâng cao chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng; quá trình già hóa dân số; tác động ngày càng nặng nề của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh; tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn; những thách thức trong bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia cả truyền thống và phi truyền thống vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp. Từ tinh thần Văn kiện Đại hội XIV cho thấy, nếu thiếu những quyết sách đúng đắn, kịp thời và có tầm nhìn chiến lược, các nguy cơ này có thể cộng hưởng, làm suy giảm động lực phát triển và đe dọa trực tiếp đến ổn định chính trị - xã hội.
Chính trong bối cảnh ấy, yêu cầu phát triển của đất nước đặt ra ngày càng cao và đồng bộ hơn trên các lĩnh vực. Với phương châm “đột phá và phát triển”, việc ban hành quyết sách trong kỷ nguyên phát triển mới trên từng lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội vừa phải bám sát nội dung phát triển cốt lõi của từng ngành, từng địa phương, từng lĩnh vực, vừa thống nhất trong định hướng chung “hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(17); nhất quán trên nền tảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định đường lối đổi mới của Đảng; mọi quyết sách đều phải hiện thực hóa đường lối của Đảng, bảo đảm sự thống nhất giữa tư duy chiến lược và hành động thực tiễn trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Như vậy, bối cảnh mới cho thấy quyết sách chính trị không chỉ là công cụ điều hành, mà thực sự trở thành nhân tố kiến tạo và dẫn dắt sự phát triển. Đại hội XIV khẳng định: quyết sách phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc làm tối thượng, lấy ổn định chính trị - xã hội làm tiền đề, lấy phát triển nhanh và bền vững làm nhiệm vụ then chốt, lấy nhân dân làm trung tâm, chủ thể và động lực của sự phát triển; đồng thời, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra những đột phá chiến lược đủ sức dẫn dắt và lan tỏa trong toàn bộ tiến trình phát triển đất nước. Tuy nhiên, nếu trình độ của đội ngũ cán bộ không theo kịp yêu cầu mới, nếu tư duy còn nặng tính kinh nghiệm, phản ứng chính sách chậm, thiếu tính dự báo, thì ngay cả chủ trương đúng cũng có nguy cơ bị triển khai lệch hướng, kém hiệu quả, thậm chí làm mất đi thời cơ phát triển. “Nhiều chủ trương, quyết sách đúng sẽ vẫn “nằm trên giấy” nếu thực thi chậm, thực thi kém hiệu quả hoặc bị “lệch chuẩn” trong quá trình triển khai”(18) đặt ra yêu cầu tiếp cận vấn đề quyết sách từ góc độ năng lực cầm quyền và năng lực quản trị quốc gia hiện đại.
Nhiều nghiên cứu từ góc độ khoa học chính trị chỉ ra rằng, trong kỷ nguyên mới, chất lượng quyết sách chính trị vừa là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vừa là điều kiện bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Quyết sách không chỉ là sản phẩm của ý chí chính trị, mà là sự kết tinh của tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức thực tiễn. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh phương châm “đột phá và phát triển”, trong đó việc ban hành quyết sách phải vừa bám sát yêu cầu phát triển của từng ngành, từng địa phương, từng lĩnh vực, vừa thống nhất trong định hướng chung hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Từ bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng quyết sách chính trị hiện nay là nâng cao đồng thời ba phương diện cơ bản. Thứ nhất, nâng cao chất lượng tư duy chiến lược và năng lực dự báo. Đại hội XIV chỉ rõ, trong điều kiện mới, chủ thể ban hành và tổ chức thực hiện quyết sách không chỉ cần bản lĩnh chính trị vững vàng, mà còn phải có trình độ tư duy chiến lược, năng lực dự báo, khả năng phân tích, tổng hợp và xử lý những vấn đề phức tạp, đa chiều từ thực tiễn; nếu tư duy còn nặng tính kinh nghiệm, phản ứng chính sách chậm, thiếu tính dự báo, thì ngay cả những chủ trương đúng cũng có nguy cơ bị triển khai lệch hướng, kém hiệu quả, thậm chí làm mất đi thời cơ phát triển; Thứ hai, yêu cầu bảo đảm sự thống nhất giữa hoạch định và tổ chức thực hiện quyết sách. Trong Diễn văn bế mạc Đại hội XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả”(19). Điều đó cho thấy, trong quan niệm mới về năng lực cầm quyền, quyết sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tổ chức thực hiện hiệu quả, tạo ra chuyển biến cụ thể trong đời sống kinh tế -xã hội; Thứ ba, yêu cầu bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ và tạo đột phá chiến lược. Văn kiện Đại hội XIV xác định: Việc ban hành quyết sách mới phải bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ giữa các lĩnh vực, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra những đột phá chiến lược đủ sức dẫn dắt và lan tỏa, định hướng phát triển toàn diện đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh vấn đề phát triển ngày càng mang tính liên ngành, liên lĩnh vực, nếu thiếu sự phối hợp và tầm nhìn tổng thể, rất dễ dẫn đến tình trạng manh mún, cục chồng lấn trong thực thi chính sách.
Một số định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi quyết sách chính trị
Thứ nhất, nâng tầm tư duy chiến lược và năng lực dự báo trong quá trình hoạch định quyết sách, coi đây là khâu mở đầu, nhưng có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ chu trình chính sách. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường, quyết sách không thể chỉ dừng ở việc “phản ứng” với tình huống, mà phải mang tính “dẫn dắt”, “định hình” và “mở đường” cho phát triển. Do đó, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý ngắn hạn sang tư duy kiến tạo phát triển dài hạn; từ cách tiếp cận xử lý sự vụ sang cách tiếp cận chiến lược dựa trên kịch bản, dự báo và đánh giá xu thế. Về phương diện khoa học chính trị, đây chính là sự chuyển dịch từ “quản trị theo sự kiện” sang “quản trị theo chiến lược”, trong đó quyết sách phải được đặt trong tổng thể phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Muốn vậy, cần đầu tư thực chất cho công tác nghiên cứu chiến lược, tổng kết thực tiễn, phân tích chính sách và dự báo phát triển; hình thành cơ chế gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan tham mưu chiến lược với cơ quan hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, khắc phục tình trạng quyết sách hình thành trên cơ sở thông tin phân tán, thiếu chiều sâu, hoặc bị chi phối bởi sức ép ngắn hạn.
Thứ hai, tiếp tục coi hoàn thiện thể chế phát triển là “đột phá của đột phá”, bởi về thực chất, quyết sách chỉ có thể phát huy hiệu lực khi được thể chế hóa kịp thời, đồng bộ và khả thi. Trong thực tiễn, không ít chủ trương đúng, nhưng chậm đi vào cuộc sống hoặc bị “khúc xạ” trong quá trình thực thi là do hạn chế, bất cập của thể chế và cơ chế thực hiện. Do đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là ban hành quyết sách đúng, mà còn phải xây dựng được một hệ thống thể chế đủ năng lực “chuyển hóa” quyết sách thành hành động và kết quả cụ thể. Về phương diện khoa học quản trị, đây chính là vấn đề “năng lực thể chế” - tức khả năng của hệ thống luật pháp, chính sách và bộ máy trong việc hiện thực hóa các mục tiêu chính trị đã được xác định. Vì vậy, cần đẩy mạnh rà soát, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách theo hướng thống nhất, minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo; đồng thời, khắc phục tình trạng cát cứ thể chế, chồng chéo thẩm quyền, làm suy giảm hiệu lực của quyết sách và gia tăng chi phí tuân thủ trong xã hội.
Người lao động ngành điện trên công trình đường dây 500kV mạch 3 _Ảnh: laodong.vn
Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ tham gia hoạch định và tổ chức thực hiện quyết sách có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, coi đây là nhân tố quyết định chất lượng của cả hai khâu: ban hành và thực thi quyết sách. Một quyết sách dù đúng về mặt chủ trương, nhưng nếu đội ngũ thực thi thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm hoặc thiếu bản lĩnh, thì rất dễ bị biến dạng, thậm chí thất bại trong thực tiễn. Vì vậy, cần đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng phát triển tư duy chiến lược, năng lực phân tích chính sách, năng lực tổ chức thực thi và năng lực chịu trách nhiệm; đồng thời, hoàn thiện cơ chế đánh giá cán bộ dựa trên kết quả và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, nhất là kết quả triển khai các quyết sách lớn. Cùng với đó, phải kiên quyết khắc phục tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm, bởi chính tâm lý này làm triệt tiêu tính đột phá, tính sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm trong hoạch định và thực thi chính sách.
Thứ tư, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ chu trình quyết sách, từ khâu xây dựng, ban hành đến tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả. Trong quản trị quốc gia hiện đại, quyết sách không chỉ được đánh giá ở nội dung chủ trương, mà chủ yếu ở hiệu quả thực thi và tác động xã hội. Do đó, cần thiết lập cơ chế phân công, phân cấp rõ ràng gắn với trách nhiệm cá nhân và tập thể; đồng thời, xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá thực hiện quyết sách một cách thường xuyên, khách quan và dựa trên bằng chứng. Đây chính là yêu cầu gắn quyền lực với trách nhiệm, gắn thẩm quyền ra quyết định với nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Khi kỷ luật, kỷ cương được siết chặt và trách nhiệm giải trình được đề cao, khoảng cách giữa mục tiêu của quyết sách và kết quả thực tế sẽ từng bước được thu hẹp, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị
quốc gia.
Thứ năm, đổi mới phương thức tổ chức thực hiện quyết sách theo hướng đồng bộ, liên thông và dựa trên nền tảng chuyển đổi số, coi đây là công cụ quan trọng để nâng cao năng lực điều hành và giám sát chính sách. Trong bối cảnh các vấn đề phát triển ngày càng mang tính liên ngành, liên lĩnh vực và liên vùng, việc tổ chức thực hiện quyết sách theo lối cục bộ, chia cắt sẽ làm suy giảm hiệu quả tổng thể. Vì vậy, cần thúc đẩy mạnh mẽ cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp, gắn kết chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương, giữa hoạch định chính sách và tổ chức thực thi. Đồng thời, cần tận dụng thành tựu của chuyển đổi số để xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ điều hành, theo dõi và đánh giá chính sách theo thời gian thực, qua đó nâng cao tính minh bạch, khả năng kiểm soát và năng lực điều chỉnh kịp thời quyết sách khi bối cảnh thay đổi.
Thứ sáu, coi trọng công tác truyền thông và tạo đồng thuận xã hội đối với quyết sách, xem đây là một bộ phận hữu cơ của quá trình lãnh đạo và quản trị quốc gia. Trong điều kiện xã hội ngày càng đa dạng về lợi ích và thông tin, một quyết sách dù đúng và cần thiết, nhưng nếu không được truyền thông đầy đủ, thuyết phục và kịp thời, thì rất khó tạo được sự ủng hộ và tham gia tích cực của xã hội. Do đó, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức truyền thông chính sách theo hướng công khai, minh bạch, đối thoại và tương tác; chủ động cung cấp thông tin, giải thích rõ mục tiêu, lộ trình và tác động của quyết sách; đồng thời, kịp thời phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin xã hội.
Thứ bảy, quán triệt sâu sắc quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm trong toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi quyết sách. Về bản chất, mọi quyết sách chính trị của Đảng và Nhà nước đều nhằm phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, để quan điểm này thực sự đi vào cuộc sống, cần thể chế hóa bằng cơ chế cụ thể bảo đảm sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội trong quá trình góp ý, phản biện và giám sát chính sách. Khi nhân dân thực sự trở thành chủ thể và đối tượng thụ hưởng của quyết sách, thì quyết sách không chỉ có tính đúng đắn về chính trị, mà còn có sức sống xã hội, tạo ra động lực phát triển bền vững từ bên trong.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quyết sách chính trị là di sản lý luận quý báu, có giá trị lịch sử sâu sắc và ý nghĩa thực tiễn to lớn. Trong quan niệm của Người, quyết sách chính trị không chỉ là công cụ kỹ thuật giải quyết vấn đề, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm với dân tộc. Những quyết sách đúng đắn, kịp thời đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua thử thách, giành thắng lợi vĩ đại. Trong kỷ nguyên vươn mình, chất lượng quyết sách chính trị vừa là thước đo năng lực cầm quyền của Đảng, vừa là điều kiện quyết định sự phát triển đất nước. Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyết sách chính trị sẽ tạo sức mạnh tổng hợp, dẫn dắt đất nước vượt qua thách thức, nắm bắt vận hội lịch sử, vững bước trên con đường xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.
----------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 289
(2) Võ Nguyên Giáp: Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 8
(3) K. Marx: “Theses on Feuerbach” (Tạm dịch: Luận cương về Phoi-ơ-bắc), Progress, Mát-xcơ-va, 1969 tr. 30
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 230
(5), (6) Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 2, tr. 191, 225
(7) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - Tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 180
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 606
(9), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 177
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 325
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 279
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 95
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 280
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 392
(16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. 1, tr. 77
(17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. 1, tr. 84
(18) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. 1, tr. 24
(19) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. 2, tr. 397