TCCSĐT - Trong khuôn khổ thực hiện chương trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng khẳng định trọng tâm là cổ phần hóa, kể cả các tập đoàn kinh tế; thoái vốn đầu tư ngoài ngành và bán phần vốn nhà nước không cần nắm giữ theo nguyên tắc thị trường; tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, công ích.

Đó là những yêu cầu của Thủ tướng được đưa ra tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ cụ thể trong giai đoạn năm 2014 - 2015, ngày 18-02-2014. Theo đó, giai đoạn năm 2014 - 2015, Chính phủ sẽ thực hiện cổ phần hóa 432 doanh nghiệp nhà nước. Như vậy, trung bình mỗi năm sẽ có khoảng 216 doanh nghiệp được cổ phần hóa, khiến cho việc đẩy nhanh tiến độ đang được đặc biệt quan tâm.

Khẳng định thành tựu, ghi nhận hạn chế

Kể từ khi có chủ trương (Theo Nghị định số 28/CP ngày 07-5-1996) đến nay, tổng số doanh nghiệp đã được cổ phần hóa là 4.065. Chỉ riêng giai đoạn 2011 - 2013, cả nước đã sắp xếp được 180 doanh nghiệp, trong đó đã cổ phần hóa 99 doanh nghiệp và 81 doanh nghiệp được sắp xếp theo các hình thức khác. Riêng năm 2013, tình hình hoạt động của 18 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước với tổng doanh thu 1.184.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 191.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 136.000 tỷ đồng, 17/18 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước loại này có lãi, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 16,19%, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu là 1,3 lần.

Báo cáo của Bộ Tài chính cho biết, thống kê trong số 3.576 doanh nghiệp được sắp xếp, cổ phần hóa, đã có 85% doanh nghiệp có doanh thu năm sau cao hơn năm trước khi sắp xếp, cổ phần hóa; gần 90% doanh nghiệp sau khi sắp xếp, cổ phần hóa có lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước; 86% doanh nghiệp đóng góp vào ngân sách Nhà nước năm sau cao hơn năm trước, chứng tỏ cổ phần hóa là hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp Nhà nước để tái cơ cấu kinh tế.

Theo Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, từ năm 2011 đến hết năm 2013, cả nước đã cổ phần hóa được 99 doanh nghiệp, trong đó có 19 tổng công ty nhà nước với số cổ phần chào bán trị giá gần 19 nghìn tỷ đồng. Đây là nỗ lực lớn trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước đang còn khó khăn. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đều có tốc độ tăng trưởng khá, hoạt động hiệu quả hơn. Sự ra đời của các công ty cổ phần thông qua hoạt động cổ phần hóa tiếp tục làm tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu thị trường chứng khoán, củng cố lòng tin của nhân dân vào đường lối đúng đắn của Đảng về phát triển kinh tế thị trường, tạo bước đổi mới trong nhận thức, tư duy, về quan hệ sản xuất và vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Võ Trí Thành cho rằng, quyết tâm chính trị để cải cách đang rất lớn nhưng cần phải bắt tay thực hiện. Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và Chính sách (VEPR) Nguyễn Đức Thành cũng tỏ ý, không nên thấy kinh tế có dấu hiệu phục hồi mà cho rằng mô hình kinh tế của Việt Nam đang đi đúng hướng. Còn Nguyên Viện trưởng Viện quản lý kinh tế Trung ương, TS. Lê Đăng Doanh khẳng định: Đây là một hướng đi tích cực để đẩy mạnh công cuộc cải cách của doanh nghiệp nhà nước và đẩy mạnh cổ phần hóa. Đây là hướng đi đúng đắn và cần thiết. Bên cạnh đó, quá trình này không phải là dễ dàng. Nếu cho rằng nhờ có việc cổ phần hóa như vậy mà nền kinh tế sẽ hồng hào lên ngay được thì chưa phải, chưa biết được. Chúng ta phải chờ xem cách thực hiện như thế nào.

Trong cuộc họp Chính phủ ngày 18-02-2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giao cho Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp soạn thảo những quy định cụ thể để chương trình tái cơ cấu đạt được hiệu quả tốt hơn. Theo đó, Ban Chỉ đạo cần đưa ra những quy định cụ thể, rõ ràng về quản lý, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật đối với các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế… Ngoài ra, phải có cơ chế về quyền sở hữu nhà nước và đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp. Một số chuyên gia kinh tế cho rằng, từ trước đến nay, doanh nghiệp Nhà nước đã mở rộng sản xuất, kinh doanh ở quá nhiều lĩnh vực, kinh doanh cả ở các lĩnh vực mà kinh doanh tư nhân có thể làm, thậm chí làm tốt hơn. Lĩnh vực nào màu mỡ thì doanh nghiệp nhà nước làm, nguồn lực vơ vào tay mình, nhưng hiệu quả lại thấp. Nên cũng tại hội nghị này, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra, “doanh nghiệp nhà nước đóng góp vào 30% ngân sách, nhưng lại sử dụng 50% nguồn vốn tín dụng, chứng tỏ họ vẫn lấy đi nhiều hơn là đóng góp”.

Nhìn rõ nguyên nhân bị chậm

Xét về thời gian cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đến nay đã được 21 năm, mất 02 năm làm thí điểm (1993 - 1995), những năm gần đây, tốc độ cổ phần hóa có phần chậm lại, nhất là từ năm 2006 đến nay. Các chuyên gia cho rằng, có nhiều nguyên nhân, nhưng những nguyên nhân sâu xa có thể kể đến:

Một là, cổ phần hóa đã động chạm đến lợi ích của một số cá nhân trong ban lãnh đạo. Có lãnh đạo doanh nghiệp đã thổ lộ như vậy, khi nói cổ phần hóa cái lợi cho Nhà nước thì đã rõ nhưng quyền lợi của cá nhân trong đó thế nào thì không ai nói trước... Đối với những doanh nghiệp nếu lãnh đạo có năng lực, họ luôn nhìn thấy thị trường rộng mở, lợi ích nhà nước gắn với lợi ích cá nhân thì họ vẫn ủng hộ nhiệt tình vì họ chắc chắn sẽ được mời tiếp tục làm lãnh đạo doanh nghiệp. Tuy nhiên, không ít các lãnh đạo cũ dễ rơi vào trường hợp sau cổ phần hóa họ có thể không còn chỗ đứng chân. Sự chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần hóa là một bước nhảy căn bản. Cơ bản các doanh nghiệp này sẽ có bước chuyển từ việc độc quyền tự quyết (theo luật doanh nghiệp nhà nước) tất cả các vấn đề thuộc về sản xuất kinh doanh, nhân sự, thu nhập, nộp thuế và nhất là lợi nhuận doanh nghiệp… sang việc phải chịu áp lực của cạnh tranh thị trường và sự kiểm soát của các cổ đông trong công ty cổ phần, nhất là áp lực về hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Hai là, quan điểm, nhận thức của các bên khi triển khai nghị quyết của Đảng về cổ phần hóa, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ cũng cho là nhận thức chưa rõ về vai trò của Nhà nước và kinh tế nhà nước, chưa có sự thống nhất với nhau nên đã có sự ngập ngừng khi triển khai các chính sách và giải pháp cụ thể. Vì thế, để làm tốt công tác này trước hết cần phải đổi mới về mặt nhận thức, không để lặp lại tình trạng “vừa buông, vừa nắm” như đã xảy ra.

Ba là, trong giai đoạn đầu cổ phần hóa, chúng ta không tính giá đất vào giá trị cổ phần hóa nên một số doanh nghiệp cổ phần hóa sớm được thuê đất với giá ưu đãi của doanh nghiệp nhà nước, khiến cho doanh nghiệp cổ phần hóa có lợi lớn về đất đai. Tuy nhiên sau một thời gian khi nhận ra lỗ hổng này, chúng ta lại đưa toàn bộ giá đất vào giá trị cổ phần hóa, trong khi thời giá đang “sốt” khiến cho giá tăng “vống” lên hàng chục lần và dẫn đến việc chẳng ai dám mua cổ phần nữa. Ế hàng tất nhiên dẫn đến bế tắc. Mặt khác phải kể đến là việc nền kinh tế suy giảm (giai đoạn 2008 - 2013) khiến quá trình cổ phần hóa không còn hấp dẫn như trước. Đó có thể là những lý do giải thích vì sao lợi ích của việc cổ phần hóa đã rõ nhưng quá trình triển khai lại diễn ra vô cùng chậm chạp.

Triển khai đúng quan điểm chỉ đạo

Theo Đề án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp giai đoạn 2011- 2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015, Nhà nước phải cổ phần hóa 531 doanh nghiệp; sáp nhập, hợp nhất 25 doanh nghiệp; giải thể, phá sản 16 doanh nghiệp và giao, bán 10 doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ nặng nề không chỉ bởi số lượng doanh nghiệp cần sắp xếp, cổ phần hóa lớn, đòi hỏi phải minh bạch, khách quan trong khâu cổ phần hóa. Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh: Tuyệt đối tránh tình trạng doanh nghiệp nhà nước này bán, doanh nghiệp nhà nước khác trong cùng một tập đoàn mua lại. Cuối cùng thì tài sản đó vẫn quanh quẩn trong khu vực nhà nước mà không ra ngoài được. Vì thế, nên thuê các chuyên gia, tổ chức đánh giá độc lập bên ngoài để làm tốt quá trình chuyển hóa, tránh lãng phí nguồn lực của Nhà nước và tạo thêm điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển.

Nắm vững và triển khai đúng quan điểm chỉ đạo về việc Nhà nước chỉ cần nắm giữ những ngành quan trọng thiết yêu như: công nghiệp quốc phòng nòng cốt, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp nặng thiết yếu đối với nền kinh tế, doanh nghiệp dịch vụ công ích... tức là những ngành, lĩnh vực mà tư nhân không thể hoặc không muốn đầu tư nhưng xã hội thì không thể thiếu. Ngay trong lĩnh vực quốc phòng, theo chỉ đạo mới nhất của Chính phủ, đối với doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng cũng chỉ duy trì 90 doanh nghiệp (những doanh nghiệp này có vai trò nòng cốt trong nền công nghiệp quốc phòng, an ninh quốc gia), trong đó có Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel, 17 tổng công ty, 72 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Đồng thời duy trì 69 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước là công ty con của các doanh nghiệp hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con thuộc Bộ Quốc phòng. Đối với doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng nòng cốt cũng không còn khép kín như trước đây mà vẫn có thể gia công, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, bao gồm cả tư nhân trong và ngoài nước.

Cần có cơ chế để ngăn chặn tình trạng sau cổ phần hóa doanh nghiệp, Nhà nước vẫn nắm giữ giá trị cổ phần chi phối (51%) nhưng thực chất đã trở thành doanh nghiệp tư nhân, khiến quá trình cổ phần hóa chỉ là hình thức, bản chất đã là của tư nhân hóa. Doanh nghiệp rơi vào tay một người hay một nhóm người tuy là lãnh đạo cũ nhưng thực chất đã là của cá nhân họ. Nghĩa là không để cổ phần hóa theo kiểu chuyển sở hữu từ Nhà nước sang tư nhân. Tuy nhiên, để khắc phục những bất cập nảy sinh như các cổ đông lớn thôn tính cổ đông nhỏ bằng các thủ đoạn, khi thì tăng giá, lúc lại ép giá, tạo ra những tình huống để các cổ đông nhỏ hoặc là hám lời, hoặc là chán nản mà bán cổ phiếu của mình khiến cho trên thực tế có doanh nghiệp cổ phần hóa lúc đầu có hàng trăm cổ đông, nhưng chỉ sau vài năm đến nay chỉ còn chưa đến con số 10. Cùng với cơ chế hoạt động của Hội đồng thành viên (5 người), một số doanh nghiệp cổ phần hóa đã không thể hiện được vai trò doanh nghiệp nhà nước của mình trong quá trình hoạt động.

Mặt khác, cũng cần khắc phục tình trạng doanh nghiệp cổ phần hóa về hình thức không thuộc loại Nhà nước cần nắm giữ (vốn Nhà nước dưới 50%), nhưng thực chất Nhà nước vẫn chi phối thông qua quy định bắt buộc về số phiếu phải có để thông qua một quyết định nào đó (mà cụ thể là theo điểm a, mục 2, điều 52, Chương III, Luật Doanh nghiệp, tháng 11-2005, Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trong các trường hợp được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định), khiến Nhà nước tuy nắm giữ 40%, nhưng vẫn có quyền phủ quyết các cổ đông khác chiếm 60%. Theo các chuyên gia, trong những trường hợp cụ thể như trên, cần theo nguyên tắc quyết định theo đa số không nên có quy định ràng buộc như điều luật đã có.

Cổ phần hóa phải tiến hành đồng bộ

Đối với các Tổng Công ty, các Tập đoàn kinh tế khi cổ phần hóa phải tiến hành đồng bộ, không nên xé lẻ ra từng đơn vị thành viên. Trên cơ sở thuê tư vấn độc lập đánh giá, mời đối tác chiến lược, Nhà nước xác định tỷ lệ bán, tỷ lệ giữ lại và xác định lộ trình bán cổ phần. Theo đó, các đơn vị thành viên cũng phải tự động xử lý theo quy định của Tổng Công ty hoặc Tập đoàn kinh tế. Với những doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ, thì không phải khống chế tỷ lệ 51% thuộc về Nhà nước trong quá trình cổ phần hóa. Tránh tình trạng chỉ bán các doanh nghiệp thành viên làm ăn kém hiệu quả, giữ lại các doanh nghiệp có uy tín khiến cho Tổng Công ty, hoặc Tập đoàn kinh tế suy giảm tính hấp dẫn thị trường trong quá trình cổ phần hóa. Đối với các doanh nghiệp nhà nước yếu kém chưa cổ phần hóa được thì cần sắp xếp đổi mới chờ thời cơ cổ phần hóa hoặc giải thể theo quy định.

Định lại giá đất cần phù hợp hơn

Để tránh tình trạng đội giá quá cao như vừa qua, quá trình cổ phần hóa lần này không nên tính giá đất vào giá cổ phần hóa. Tuy nhiên, phải điều chỉnh giá thuê đất, sao cho phù hợp, không nên để quá chênh lệch với giá thị trường. Đối với những công ty thuộc ngành Nhà nước không cần nắm giữ, thì cần chào mua với các đối tác chiến lược, sau đó phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO). Phải có đối tác chiến lược tham gia để thay đổi quản trị doanh nghiệp. Trong một số trường hợp cụ thể cần tuân thủ theo Điều 31 (Giá trị quyền sử dụng đất) đã nêu trong Nghị định số 189/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20-11-2013.

Cần giải quyết tốt vấn đề định giá, không để mất tài sản của Nhà nước. Quá trình cổ phần hóa trước đây có lúc sơ hở về giá đất khiến Nhà nước thua thiệt, nhưng có lúc giá lại tăng lên, theo giá “ảo” làm cho quá trình cổ phần hóa bị đình trệ. Vì thế, lần này cần phải làm rõ tài sản, kết quả kinh doanh trước đây, để xác định giá trị doanh nghiệp cũng như phân định ranh giới trách nhiệm của những người lãnh đạo trước đây cũng như những người lãnh đạo sau cổ phần hóa.

Gần đây, có một số chuyên gia đưa ra “sáng kiến”, muốn đẩy nhanh cổ phần hóa phải “xí xóa” hoặc “ân xá kinh tế” cho doanh nghiệp có vậy mới đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa trong bối cảnh hiện nay. Một số chuyên gia khác lại cho rằng, làm như vậy là dung túng cho doanh nghiệp làm bừa, làm ẩu tạo ra tiền lệ xấu gây thất thoát tài sản của Nhà nước. Tuy nhiên, nếu chỉ lo mất vốn, không lo phát triển, hoặc ngược lại thì lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn không có đường ra. Vì thế, đa số các nhà phân tích cho rằng, vấn đề nguyên tắc vẫn cần phải giữ nhưng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hiệu quả và tiến độ chứ không thể cái gì cũng muốn.

Bảo đảm nguyên tắc công khai minh bạch

Cần đánh giá lại thực trạng các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa, làm rõ việc có hay không sự mất mát tài sản nhà nước, nhằm giải quyết tâm trạng lo lắng của nhiều người, nhất là việc tìm ra nguyên nhân của tình trạng tài sản nhà nước bị mất do cổ phần hóa và tìm ra phương hướng khắc phục cụ thể cho giai đoạn cổ phần hóa hiện nay.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được xác định là khâu trọng tâm, là giải pháp chủ yếu để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Nhưng để cổ phần hóa triệt để và hiệu quả, cần phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch. Để thực hiện nguyên tắc này cần có sự thống nhất tương đối trong các quy định về thống kê giữa cơ quan tài chính và cơ quan kiểm toán nhà nước tại thời điểm cổ phần hóa, nhằm tạo ra sự trung thực trong các thông tin kinh tế, làm gia tăng tính minh bạch trong quá trình cổ phần hóa.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng: cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không phải chuyển mọi nguồn lực từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân, mà nên hiểu là Nhà nước sẵn sàng lui lại về mặt kinh doanh thị trường, chuyển dịch cơ hội kinh doanh, nhường chỗ cho các loại hình kinh tế ngoài quốc doanh. Tài sản và vốn nhà nước đang sử dụng được chuyển một phần ra bên ngoài, nhờ bán bớt cổ phần mà thu được tiền nhằm tái đầu tư. Vì thế, không thể coi là chuyển giao cho tư nhân, hoặc tư nhân hóa.

Nắm bắt nhu cầu thị trường

Cổ phần hóa, tức là bán cổ phần ra thị trường nên cũng phải tuân thủ nguyên tắc thị trường tức là “bán cái mà thị trường cần, chứ không phải bán cái mà mình có”. Nhìn lại quá trình cổ phần hóa chúng ta nhận thấy tình trạng: “người bán hàng chưa thật sự muốn bán những mặt hàng mà người mua muốn mua, mà chỉ bán những cái mà mình muốn bán”. Bán cổ phiếu cũng vậy. Nhà đầu tư bao giờ cũng kỳ vọng vào các cổ phiếu của các doanh nghiệp có lợi nhuận cao, họ có nguồn vốn nhàn rỗi và muốn sinh lợi từ nguồn vốn này nên họ chọn kênh đầu tư nào mà lợi nhuận thực sự có sức hấp dẫn. Khi lợi nhuận đạt như mong muốn, họ có thể đi vay hoặc huy động từ những nguồn dự trữ khác để đưa vào thị trường, khiến dòng vốn của nền kinh tế sẽ có áp lực mạnh hơn để khai thông mà không cần phải viện đến sự kích thích của các đòn bẩy hành chính - kinh tế. Tuy nhiên trên thực tế, các cổ phần có tính hấp dẫn thị trường lại thường gắn với các doanh nghiệp có sự tham gia đầu tư của giới chức tài chính, gồm các “đại gia”, quan chức nhà nước và ngân hàng lớn, khiến cho các doanh nghiệp thiếu các “gam màu” trên rơi vào tình trạng yếu thế và khó bán hơn.

Nghị quyết của Đảng ta chỉ ra rằng, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng trên thực tế cách tư duy và tổ chức thực hiện như thời gian qua theo một số chuyên gia cho là vẫn còn theo phương thức cũ của thời kinh tế bao cấp, kế hoạch hóa, ngành nào cũng thấy quan trọng và muốn có sự can thiệp hành chính của Nhà nước để đưa lại kết quả nhanh hơn. Vì thế, lần này nếu làm theo lộ trình nêu trên và với tinh thần triển khai quyết liệt thì trong 02 năm tới mới có thể đạt được kế hoạch đề ra và có thể thu hồi một số tiền rất lớn khoảng vài trăm nghìn tỷ đồng để đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng khác như kết cấu hạ tầng giao thông, y tế, phúc lợi xã hội và giảm được nợ công, giảm nguồn vốn vay nước ngoài như hiện nay.

Như vậy, để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa như yêu cầu của Chính phủ đặt ra, ngoài quyết tâm thì cần phải có các giải pháp cụ thể quyết liệt để xử lý hàng loạt vấn đề đã và đang đặt ra nhằm hoàn thành có hiệu quả cổ phần hóa và sắp xếp lại hơn 400 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trong giai đoạn 2014 - 2015./.