Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và về phát triển văn hóa
TCCS - Ngày 25-2-2026, tại hội trường Diên Hồng, nhà Quốc hội (Hà Nội), Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.
Cùng dự Hội nghị có Chủ tịch nước Lương Cường (dự tại điểm cầu Tây Ninh); Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.
Cùng dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng dự tại điểm cầu Trung ương và các điểm cầu trong cả nước. Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tiếp tại hội trường Diên Hồng, kết hợp trực tuyến tới 27.284 điểm cầu ở Trung ương, các tỉnh, thành phố, các xã, phường, đặc khu, các tổ chức đảng trong quân đội, công an và doanh nghiệp, với hơn 2 triệu đại biểu tham dự tại các điểm cầu.
Văn hóa là “trụ cột” và là “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước
Truyền đạt Chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam”, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương khẳng định, từ tầm nhìn mới, bao trùm về văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW lần đầu tiên đã đưa hai phạm trù mới về văn hóa, đó là: Văn hóa là “trụ cột” và là “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, con người sáng tạo ra văn hóa và đến lượt các giá trị, chuẩn mực văn hóa lại giúp con người tự hoàn thiện nhân cách của mình, tự điều tiết các quan hệ của con người với thế giới và với chính mình. Sức mạnh đặc thù của văn hóa chính là ở chức năng điều tiết này. Sức mạnh đó bắt nguồn từ các giá trị và chuẩn mực văn hóa trong nhân cách con người và đó là nhân tố quyết định vai trò và chức năng điều tiết đối với sự vận động của các lĩnh vực trong đời sống, tạo nên sự phát triển hài hòa của các quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội, con người với cộng đồng và con người với chính mình.
Bên cạnh đó, đặc điểm nổi bật của quan điểm, đường lối phát triển văn hóa trong Nghị quyết số 80-NQ/TW chính là “phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa”, từ đó Nghị quyết khẳng định “ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa là một trong ba lĩnh vực đột phá”.
Một nhận thức mới trong Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện rõ trong hai nội dung gắn kết với nhau là phát triển văn hóa phải “ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội”, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa số”. Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng thể hiện tầm nhìn mới về mục tiêu và các nhiệm vụ cốt lõi phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Các văn kiện trước về văn hóa thường xác định phương hướng, mục tiêu khái quát, mục tiêu cụ thể, song chủ yếu dừng lại ở định hướng chung. Nghị quyết số 80-NQ/TW đồng thời vừa khẳng định mục tiêu chung cho từng lĩnh vực, vừa chỉ ra một số chỉ tiêu cụ thể cần phải đạt tới, có nghĩa là, gắn yêu cầu cao về chất lượng phát triển với định lượng cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa. Đó là tư duy khoa học - thực tiễn, tránh những yêu cầu chung chung không đánh giá được kết quả.
Đồng chí Trịnh Văn Quyết cũng nhấn mạnh việc xây dựng con người luôn là vấn đề trung tâm, cốt lõi, mục tiêu cao nhất trong các nghị quyết của Đảng ta về văn hóa. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã kế thừa triệt để tư tưởng đó, gợi mở và xác định cụ thể, toàn diện những nội dung mới; đồng thời nhấn mạnh phép biện chứng “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hóa”. Nghị quyết yêu cầu triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, xác định nội hàm các hệ giá trị trên được triển khai từ Đại hội XIII đến nay, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã khẳng định rõ các thành tố cụ thể của các hệ giá trị đó. Đây là bước tiến quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Đồng chí Trịnh Văn Quyết phân tích về 3 thành tố rất quan trọng để phát triển văn hóa được Nghị quyết số 80-NQ/TW gắn kết trong một nhiệm vụ lớn, đó là phát triển hạ tầng, huy động, sử dụng các nguồn lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa. Về hạ tầng, Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định: “Tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa, ưu tiên các thiết chế văn hóa quy mô quốc gia, ngang tầm khu vực và quốc tế”. Về nguồn lực, Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định “bảo đảm bố trí đủ kinh phí cho các chương trình, đề án, tăng đầu tư công cho văn hóa theo hướng trọng điểm, trọng tâm và thu hút đầu tư xã hội ở mức cao nhất”. Nghị quyết dành phần đặc biệt quan trọng trong phát triển đột phá văn hóa, đó là xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ cấp chiến lược, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ chủ chốt ở địa phương, xây dựng và phát triển mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hóa.
Xác định 5 nhóm quan điểm chỉ đạo mang tính hệ thống về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới
Truyền đạt Chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6-1-2026, của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước”, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh, Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Lần đầu tiên, nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này. Kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô, bảo đảm quốc phòng - an ninh như đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập.
Nghị quyết khẳng định trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau 40 năm đổi mới, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, vừa trực tiếp sản xuất kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, dẫn dắt và điều tiết các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh các kết quả tích cực đạt được, Nghị quyết đã chỉ rõ những hạn chế, tồn tại của kinh tế nhà nước, như chính sách pháp luật về kinh tế nhà nước chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn phát triển. Doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ, năng lực cạnh tranh còn hạn chế, chưa đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực then chốt; cải cách doanh nghiệp nhà nước còn chậm. Hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập chưa tinh gọn, cơ chế hoạt động và tự chủ tài chính chậm đổi mới, tỷ lệ đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn còn thấp, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều tồn tại kéo dài chưa được xử lý kịp thời.
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo mang tính hệ thống, bao trùm và toàn diện về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, đổi mới, bổ sung và cụ thể hóa nội hàm, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, xác định rõ mối quan hệ cùng phát triển giữa kinh tế nhà nước và các khu vực kinh tế khác nhằm phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của từng khu vực.
Thứ ba, quan điểm về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế nhà nước. Nghị quyết đề ra quan điểm mới về cơ chế phân bổ, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực kinh tế nhà nước, trong đó nhấn mạnh 2 điểm mới mang tính đột phá:
Một là, các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường. Đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế.
Hai là, khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực, quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí các nguồn lực kinh tế nhà nước. Giải quyết tốt mối quan hệ Nhà nước, thị trường, xã hội, tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, nâng tầm nhiệm vụ của kinh tế nhà nước gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng.
Thứ năm, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước, nhất là trong định hướng sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Đồng thời, Nghị quyết xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 cần đạt đối với 6 thành tố của kinh tế nhà nước: về đất đai, tài nguyên; về tài sản kết cấu hạ tầng; về ngân sách dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; về doanh nghiệp nhà nước; về tổ chức tín dụng nhà nước; về đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong đó, lưu ý một số mục tiêu định lượng như: Về ngân sách, dự trữ quốc gia, tỷ lệ huy động nguồn ngân sách đạt khoảng 18% GDP, bội chi ngân sách khoảng 5% GDP, nợ công không quá 60% GDP, chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách, chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước, phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và có từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới, 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số...
Nghị quyết đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ giải pháp liên quan đến 7 lĩnh vực, như: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, kinh tế biển, vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế không gian tầm thấp, không gian ngầm, tài nguyên số và tài nguyên viễn thông. Trong đó cần quán triệt và thực hiện một số nhiệm vụ giải pháp mới và trọng tâm. Đó là, ngay trong năm 2026, hoàn thiện công tác đo đạc, thống kê, số hóa, làm sạch dữ liệu đất đai trên toàn quốc, kết nối liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia khác; xây dựng, ban hành luật đất đai sửa đổi và các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong quản lý đất đai, khơi thông nguồn lực từ đất đai.
Thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương chiến lược về phát triển văn hóa và kinh tế nhà nước
Trình bày Chuyên đề “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị”, đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cho biết, Chính phủ xây dựng chương trình hành động hướng tới mục tiêu: Thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương chiến lược của hai Nghị quyết quan trọng này. Bố trí nguồn lực và các điều kiện bảo đảm cho thực hiện Nghị quyết. Xác định rõ nhiệm vụ phải làm, phân công cơ quan chủ trì gắn với lộ trình và sản phẩm đầu ra cụ thể, bảo đảm nghị quyết đi vào cuộc sống.
Phó Thủ tướng Thường trực cho biết, về nhiệm vụ đã được thiết kế trong chương trình hành động của Chính phủ đối với hai nghị quyết, tổng cộng có 230 nhiệm vụ. Trong đó, đối với Nghị quyết số 79-NQ/TW có 99 nhiệm vụ và Nghị quyết số 80-NQ/TW có 131 nhiệm vụ. Những nhiệm vụ này xoay quanh những nội dung cốt lõi là: Xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ cho thực hiện nghị quyết; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hạ tầng chiến lược; thiết kế các cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù cho 2 lĩnh vực này, bảo đảm cho các nghị quyết được thực thi; xác định nội hàm các nhiệm vụ, có phân công lộ trình cho các cơ quan, địa phương.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cho biết thêm, để triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, với nhóm nhiệm vụ đổi mới mạnh mẽ tư duy, Chương trình hành động của Chính phủ thống nhất cao về nhận thức và hành động xác định rõ các nhiệm vụ cụ thể là: Quán triệt Nghị quyết số 80-NQ/TW một cách sâu sắc về vai trò nền tảng, sức mạnh nội sinh của văn hóa đến toàn thể cán bộ, đảng viên. Lồng ghép yêu cầu phát triển văn hóa trong hoạch định chiến lược, xây dựng quy hoạch và xây dựng các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới công tác truyền thông, tăng cường tuyên truyền trên hệ thống truyền thông hiện đại…
Với nhóm nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế tạo đột phá, Chương trình hành động xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Ban hành Nghị quyết của Quốc hội với các đột phá về mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong thiết chế văn hóa và Quỹ văn hóa, nghệ thuật; cơ chế tài chính ưu tiên (cho đào tạo, công nghệ số, đặt hàng tác phẩm); chính sách đãi ngộ, trọng dụng tài năng nghệ thuật. Xây dựng mới các luật (Hoạt động nghệ thuật, Văn học, Bản quyền tác giả, Công nghiệp văn hóa) và sửa đổi, bổ sung các luật hiện hành (Xuất bản, Thể dục thể thao, Du lịch, Thư viện, Điện ảnh, Di sản văn hóa).
Với nhóm nhiệm vụ về nguồn lực, hạ tầng và nhân lực, Chương trình hành động xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Triển khai quyết liệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 đến 2035. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho lĩnh vực văn hóa và phân bổ theo hướng đầu tư trọng điểm gắn với hiệu quả đầu ra. Thiết lập cơ chế linh hoạt nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa dài hạn, minh bạch. Lập bản đồ định hướng đầu tư hạ tầng văn hóa quốc gia, ưu tiên nguồn vốn cho các vùng trắng thiết chế cơ sở…
Về Nghị quyết số 79-NQ/TW, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ khẳng định sẽ chú trọng hoàn thiện đồng bộ chính sách sử dụng và khai thác các loại tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý. Đối với nhóm nguồn lực đất đai, tài nguyên, Chương trình hành động xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Rà soát, sửa đổi Luật Đất đai hướng tới phân cấp mạnh mẽ, cương quyết thu hồi đất bỏ hoang, lãng phí. Số hóa, làm sạch và liên thông toàn bộ hệ thống dữ liệu đất đai trên toàn quốc. Với nhóm nguồn lực ngân sách nhà nước, Chương trình hành động xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Áp dụng các loại thuế mới liên quan đến tài sản, mức phát thải carbon theo thông lệ quốc tế.
Với nhóm nguồn lực Dự trữ quốc gia, Quỹ Tài chính ngoài ngân sách và vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Chương trình hành động xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Rà soát danh mục hàng hóa và củng cố hệ thống kho tàng dự trữ quốc gia. Ban hành cơ chế đặc thù, linh hoạt trong luân chuyển, xuất cấp hàng dự trữ ứng phó khẩn cấp; cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp tham gia một số hoạt động dự trữ quốc gia theo nguyên tắc thị trường…
Tăng cường “nội lực vật chất” và củng cố “nội lực tinh thần” quốc gia
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, bên cạnh những nghị quyết đã ban hành trước đó, hai nghị quyết mới là sự bổ sung thêm những quyết sách lớn của Đảng, được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và phát triển tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhằm đồng thời giải quyết hai yêu cầu có tính nền tảng là tăng cường “nội lực vật chất” và củng cố “nội lực tinh thần” quốc gia. Khẳng định quyết tâm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, hiệu quả gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xác định rõ kinh tế nhà nước phải thực sự chiếm lĩnh “những cao điểm chiến lược chỉ huy” của nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo, trở thành “điểm tựa quốc gia” trong kỷ nguyên mới, Tổng Bí thư nhấn mạnh, để thực sự chiếm lĩnh “những cao điểm chiến lược” của nền kinh tế, khu vực kinh tế nhà nước phải được cơ cấu lại mạnh mẽ, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn trọng yếu, có tính chiến lược và sức lan tỏa cao. Vai trò chủ đạo phải được chứng minh bằng năng lực dẫn dắt, bằng hiệu quả, bằng đóng góp thực chất cho ổn định vĩ mô, cho an ninh kinh tế, cho phát triển trung và dài hạn.
Trong giai đoạn mới, kinh tế nhà nước phải thực sự được cụ thể hóa thành 5 “điểm tựa” lớn.
Thứ nhất, điểm tựa về an ninh và chủ quyền kinh tế. Kinh tế nhà nước phải nắm giữ và làm chủ các “huyết mạch” và “xương sống” quốc gia… Nắm giữ không phải để độc quyền, mà để bảo đảm chủ quyền, tránh lệ thuộc, chủ động trước biến động, bảo vệ lợi ích quốc gia trong mọi tình huống và có sức lan tỏa cho cả nền kinh tế.
Thứ hai, điểm tựa về điều tiết, ổn định và sức chống chịu. Đặc biệt, trong thời kỳ nhiều cú sốc đan xen như đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động lãi suất-tỷ giá, chiến tranh thương mại, thiên tai, dịch bệnh, kinh tế nhà nước phải đóng vai trò giữ ổn định những thị trường thiết yếu, bảo đảm cung ứng các dịch vụ công ích thiết yếu, duy trì đầu tư nền tảng và năng lực dự phòng để ứng phó kịp thời với rủi ro hệ thống.
Thứ ba, điểm tựa dẫn dắt cho khu vực tư nhân. Kinh tế nhà nước mạnh không phải để lấn át, mà trở thành “bệ đỡ”, “mở đường” và “tiếp sức” để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, từ đó hình thành những cụm liên kết ngành với những “đầu tàu” đủ sức cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Thứ tư, điểm tựa về dẫn dắt đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi. Vai trò chủ đạo hôm nay không chỉ đo bằng quy mô, mà phải được đo bằng khả năng làm chủ công nghệ, chuẩn hóa theo chuẩn mực quốc tế, vận hành dữ liệu như một nguồn lực chiến lược, bảo đảm an ninh mạng và quản trị rủi ro hiện đại.
Thứ năm, điểm tựa về chuẩn mực quản trị và liêm chính công vụ trong kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước phải là nơi kỷ luật, minh bạch cùng với trách nhiệm giải trình cao nhất. Doanh nghiệp nhà nước phải là nơi của chuẩn mực quản trị quốc gia, tạo ra đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực cạnh tranh và tinh thần phụng sự. Không thể để tồn tại tình trạng “lợi ích nhóm”, “sân sau”, đầu tư theo nhiệm kỳ, thua lỗ kéo dài nhưng không rõ trách nhiệm.
Bên cạnh đó, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng nhấn mạnh, "văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi", là nền văn hóa hướng tới con người, là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, kết tinh trí tuệ Việt Nam và là động lực dẫn dắt sự phát triển dân tộc, độc lập, tự chủ, tự cường. Nếu kinh tế quyết định năng lực đi nhanh, thì văn hóa quyết định khả năng đi xa. Nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất, thì văn hóa tạo ra bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin, sức mạnh tinh thần để đất nước vượt qua thử thách và vươn lên./.
Tổng Bí thư Tô Lâm tham dự Cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Dải Gaza và gặp Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump  (21/02/2026)
Tổng Bí thư Tô Lâm thăm cấp nhà nước tới Vương quốc Campuchia  (07/02/2026)
Vinh danh 96 bí thư chi bộ, 82 tác phẩm xuất sắc của giải Búa liềm vàng  (03/02/2026)
- “Dân cần” - Một thành tố quan trọng trong phát huy dân chủ ở cơ sở hiện nay
- Vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau: Trường hợp đất hiếm trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung
- Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Trung Quốc - Nga trên lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh mới
- Xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh: Từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ý nghĩa trong thực tiễn hiện nay
- Nâng cao nhận thức, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa trong giai đoạn mới
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm