Công tác đối ngoại góp phần bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

TRẦN CHÍ TRUNG - NGUYỄN ĐỨC PHÚC
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao - Bộ Ngoại giao
09:40, ngày 30-05-2024

TCCS - Dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đối ngoại Việt Nam có vai trò tiên phong trong việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, góp phần nâng cao vị thế đất nước, xây dựng và quảng bá hình ảnh Việt Nam, đưa đất nước gắn kết ngày càng chặt chẽ với thế giới; đồng thời, đóng góp quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Một số vấn đề chung về bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại

Bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng là quan điểm xuyên suốt và được đặt ở vị trí hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng. Đại hội VII của Đảng (năm 1991) xác định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”(2). Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục khẳng định: “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(3).

Tư duy đối ngoại Việt Nam là luôn nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ lớn giữa ổn định, đổi mới và phát triển. Để đổi mới và phát triển cần dựa trên nền tảng vững chắc. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: “Đổi mới tư duy về đối ngoại trước hết là sự kế thừa và phát triển truyền thống ngoại giao của dân tộc, vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với sự phát triển nhận thức về đối ngoại qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và gắn với thực tiễn trong nước và bối cảnh quốc tế của từng thời kỳ, chọn lọc và tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Đổi mới tư duy đúng và kịp thời sẽ giúp tạo dựng và nắm bắt cơ hội, đổi mới tư duy chậm thì sẽ dẫn đến trì trệ, thậm chí biến thành thách thức”(4).

Từ đó, nhiệm vụ bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại có thể hiểu là: 1- Vận dụng sáng tạo những giá trị thời đại trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại để những giá trị đó ngày càng thấm sâu, đóng vai trò chủ đạo trong nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và trong quan hệ với bạn bè quốc tế; 2- Đề xuất, luận chứng các giải pháp đối ngoại nhằm bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng, những thành tựu phát triển của đất nước; 3- Chủ động, kiên quyết đấu tranh dư luận và trong các hoạt động đối ngoại cụ thể nhằm phản bác, vô hiệu hóa những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; 4- Phát huy vai trò tiên phong trong dự báo, xác định xu hướng, đưa nền tảng tư tưởng của Đảng vào thực tiễn.

Ủy viên Trung ương Đảng, Quyền Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân trao quyết định bổ nhiệm cho các tân đại sứ, ngày 24-2-2024 _Nguồn: chinhphu.vn

Mối quan hệ giữa đối ngoại với bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng cho tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lê-nin cung cấp thế giới quan và phương pháp luận khoa học giúp Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn ra thế giới, luận giải tình hình, dự báo xu thế, từ đó đưa ra các quyết sách đối ngoại sáng suốt. Đây là sự kế thừa và phát triển những giá trị tiến bộ của tư tưởng nhân loại, được vận dụng và phát triển phù hợp với thực tiễn lịch sử xã hội. Tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy phương hướng, “cẩm nang” cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, mà đến nay vẫn tiếp tục là “kim chỉ nam” cho đường lối đối ngoại Việt Nam.

Thứ hai, là người khai sinh ra nền ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống tư duy đối ngoại, quan điểm về các vấn đề quốc tế, chiến lược và sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thế giới. Bắt nguồn từ triết lý và truyền thống ngoại giao của ông cha ta, Người đã kế thừa và phát triển những giá trị đó lên tầm cao mới. Tư tưởng của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng cho sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Đối ngoại góp phần tăng cường, bồi đắp, phát triển và đưa nền tảng tư tưởng của Đảng vào thực tiễn

Thứ nhất, mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với các nước, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định từ sớm, từ xa”, góp phần quan trọng bảo vệ độc lập, chủ quyền và an ninh của đất nước, đồng thời tạo sự hiểu biết và ủng hộ của bạn bè quốc tế, trao đổi lý luận phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, tạo môi trường quốc tế thuận lợi và huy động hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, đẩy mạnh quảng bá sâu rộng công cuộc đổi mới, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, tích cực, đóng góp trách nhiệm vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, từ đó nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước, khẳng định nền tảng tư tưởng đúng đắn và vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

Kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa “bảo vệ” và “đấu tranh”, giữa xây” và “chống”. Gắn kết chặt chẽ giữa xây” và “chống”, trong đó xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược và lâu dài; chống” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và cấp bách. Với nhiệm vụ “bảo vệ” kết hợp với “đấu tranh”, cần dựa trên quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “thêm bạn, bớt thù”(5), lấy tâm công” làm nền tảng, lấy giáo dục, thuyết phục, tuyên truyền làm trọng, lấy thực tiễn sinh động để chứng minh đường lối đúng đắn, tiến tới chuyển hóa được “đối tượng” thành “đối tác”, qua đó giữ vững đường lối đối ngoại. Cùng với đó, cần chủ động phòng ngừa, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không khoan nhượng đối với những nội dung, chủ thể “chống” trong những điều kiện cần thiết.

Chủ thể cần bảo vệ (xây) là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, quan điểm, đường lối đối nội và đường lối đối ngoại của Đảng và cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước. Bên cạnh đó, cần bảo vệ nhân dân, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, sự nghiệp đổi mới và quan hệ đối ngoại của đất nước; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại bản lĩnh, kiên định, trình độ, tận tâm...

Với nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đối ngoại tiếp tục góp phần bồi đắp, phát triển, đưa nền tảng tư tưởng của Đảng đi vào thực tiễn. Bằng sự vận dụng sáng tạo và không ngừng đổi mới tư duy, công tác lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phát huy giá trị trong thời đại mới, ứng phó kịp thời trước những biến động nhanh chóng của thế giới.

Đối tượng phải đấu tranh (chống) là những quan điểm sai trái, thù địch, lợi dụng dư luận để xuyên tạc, kích động chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước; bôi nhọ uy tín, danh dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Hơn nữa, cần nhanh chóng dùng sự thật chân thực và thực tiễn cuộc sống của đất nước trên mọi phương diện để phản bác những thông tin sai lệch phủ nhận những thành tựu phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước, đấu tranh chống những hành động nguy hại đối với môi trường hòa bình, ổn định, cố tình hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế...

Trước tình hình các thế lực thù địch, phản động có những hoạt động chống phá ngày càng tinh vi và diễn ra bằng nhiều hình thức, với nhiều thành phần, không chỉ là chủ nghĩa đế quốc, mà còn là một số thành phần theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại không chỉ diễn ra bên ngoài, mà cả ở bên trong. Bảo vệ Đảng trước âm mưu “diễn biến hòa bình”, đồng thời bảo vệ lý tưởng của Đảng trước sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Kiên quyết bác bỏ các luận điệu sai trái, thù địch hòng xuyên tạc, bôi nhọ, công kích đường lối đối ngoại của Đảng, hòng làm xói mòn niềm tin của nhân dân, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định của đất nước

Một là, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng tư duy và đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam là lạc hậu, lỗi thời, lý thuyết và phi thực tế.

Có thể khẳng định, tư duy và đường lối đối ngoại của Đảng luôn vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”(6), nghĩa là phải luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu. Lời căn dặn của Người đã trở thành nguyên tắc nhất quán của đường lối đối ngoại Việt Nam trong suốt những năm tháng cách mạng và ngày nay.

Trên cơ sở bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng đổi mới tư duy đối ngoại, không ngừng bám sát thực tế. Đó là quá trình phát triển từng bước vững chắc, luôn được kiểm nghiệm trong thực tiễn, có sự kế thừa và tiếp nối cho phù hợp với bối cảnh đất nước và xu thế bên ngoài(7). Tư duy đối ngoại của Đảng luôn kế thừa truyền thống lịch sử và có tính biện chứng, khoa học, thực tiễn.

Nhờ sự kiên định, vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng đối ngoại của Đảng, cùng với quá trình đổi mới, Việt Nam đã hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào khu vực và toàn cầu, khơi thông, mở rộng và làm sâu sắc hơn các mối quan hệ đối ngoại. Thông qua đó, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi trong huy động các nguồn lực bên ngoài phục vụ quá trình phát triển, phát huy vai trò nòng cốt của đối ngoại và từng bước nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Những kết quả đạt được trong quá trình hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn chung của đất nước.

Hai là, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, cổ xúy cho rằng, Việt Nam sẽ phải liên minh với một nước lớn chống nước khác.

Có thể thấy, trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc từ trước đến nay, nhân dân Việt Nam luôn kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, nêu cao ý chí độc lập, tự chủ. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ thể hiện qua chính sách quốc phòng “bốn không”(8) được Đảng, Nhà nước Việt Nam nhất quán thực hiện và khẳng định tính đúng đắn trong từng giai đoạn của đất nước.

Xuyên suốt lịch sử, đối ngoại Việt Nam luôn phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, vì lợi ích chung của cả nhân loại, không gây bất lợi cho đối tác bên ngoài và càng không vì một đối tác bên ngoài mà làm ảnh hưởng tới lợi ích chính đáng của đối tác khác.

Có thể khẳng định, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế chung của thế giới. Ưu tiên hàng đầu là bảo đảm cao nhất lợi ích của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả.

Ba là, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc  rằng, Việt Nam thực hiện ngoại giao đu dây”, “không dám thể hiện lập trường”.

Đối ngoại của Việt Nam luôn nhất quán, đó là thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải. Điều này cũng thể hiện tính xuyên suốt, nhất quán trong đường lối đối ngoại của Việt Nam. Đơn cử như, đối với cuộc xung đột Nga - U-crai-na, quan điểm nhất quán của Việt Nam là đứng về công lý và đề xuất biện pháp đối thoại, ngoại giao để giải quyết vấn đề. Quan điểm này của Việt Nam cũng phù hợp với tinh thần thông điệp của Đại hội đồng Liên hợp quốc: “Hãy mở rộng cánh cửa đối thoại và ngoại giao ngay từ bây giờ”(9). Đối với Việt Nam, cả Nga và U-crai-na đều là đối tác quan trọng. Việt Nam kêu gọi hai bên giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài trên cơ sở lợi ích và quan ngại của các bên, tôn trọng luật pháp quốc tế, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, an toàn của cư dân sinh sống, trong đó có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đây cũng là cách mà nhiều quốc gia trên thế giới đã lựa chọn(10).

Bốn là, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tìm cách lôi kéo dư luận hòng can thiệp các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, âm mưu làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; gây rối, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội, phá hoại môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước.

Có thể thấy, dân chủ là bản chất của chế độ Việt Nam, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước, vì vậy trong mỗi tiến trình phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân(11). Trên nền tảng đó, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong bảo đảm quyền con người, trở thành một trong những nước chủ động, tích cực tham gia các điều ước quốc tế về nhân quyền của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 điều ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Đó là minh chứng sinh động về tính đúng đắn của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Năm là, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tập trung bôi nhọ, công kích lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ ngoại giao và cơ quan ngoại giao Việt Nam.

Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập, hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước, những dấu mốc thắng lợi và thành tựu to lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam chính là sự khẳng định thuyết phục nhất, chân thực nhất về công lao và cống hiến to lớn của các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng toàn thể cán bộ đối ngoại. Trên thực tế, nhiều thủ đoạn bôi nhọ, công kích cán bộ vẫn còn hiện hữu, nhất là đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hòng gây chia rẽ nội bộ, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Việc bịa đặt, bôi nhọ, tạo dựng thông tin sai lệch về con người, là việc làm xấu xa, trái với đạo đức, truyền thống quý báu của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà ngoại giao kiệt xuất, người sáng lập nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, đã trực tiếp dẫn dắt, chỉ đạo những thế hệ cán bộ ngoại giao đầu tiên sau cách mạng. Những di sản to lớn về tư tưởng, phong cách và nghệ thuật ngoại giao của Người đến nay vẫn tiếp tục soi sáng cho ngành ngoại giao. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ ngành ngoại giao luôn phấn đấu trở thành những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chuyên môn, thông thạo kỹ năng và năng động thích ứng với tình hình(12), hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó.

Các nhà ngoại giao Việt Nam qua từng thời kỳ đã khẳng định trình độ, bản lĩnh khi đại diện cho đất nước giữ những trọng trách quan trọng tại các tổ chức, diễn đàn quốc tế lớn ở khu vực và toàn cầu(13). Hiện nay, Việt Nam đang tự tin bước trên con đường hội nhập quốc tế với tâm thế mới, vận hội mới. Điều đó tiếp tục là một trong những minh chứng rõ nét khẳng định uy tín, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước, các nhà lãnh đạo và cán bộ làm công tác đối ngoại, góp phần vào cuộc đấu tranh chung trên mặt trận tư tưởng hiện nay.

Liền chị mời trầu các nữ đại sứ và trưởng cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam thưởng thức chương trình dân ca quan họ Bắc Ninh _Nguồn: baoquocte.vn

Phương hướng phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại

Trong suốt chặng đường gần 40 năm đổi mới, đối ngoại đã phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong, góp phần bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong một thế giới đầy biến động. Trong thời gian tới, để tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đối ngoại cần ưu tiên một số nội dung chính sau:

Thứ nhất, tập trung tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, vận dụng và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại.

Quá trình này sẽ góp phần minh chứng tính đúng đắn, khoa học, sáng tạo trong đường lối đối ngoại của Đảng, phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, đặt con người vào vị trí trung tâm, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, việc tổng kết thực tiễn đối ngoại qua các thời kỳ, phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân sẽ giúp rút ra những bài học quý giá để vận dụng vào công tác đối ngoại trong giai đoạn mới. Với nhận thức đó, đối ngoại cần phát huy vai trò tiên phong trong bảo vệ môi trường hòa bình, an ninh “từ sớm, từ xa”, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển và nâng cao vị thế của đất nước. Quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa trên cơ sở kế thừa và phát huy tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Chú trọng xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với bối cảnh tình hình mới, kế thừa những giá trị cốt lõi về đối ngoại của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xử lý hài hòa, khéo léo các mối quan hệ, nhất là với các nước láng giềng và nước lớn, luôn biết mình, biết người”, biết thời, biết thế”, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu, dự báo, bám sát tình hình để kịp thời đổi mới tư duy, chủ động ứng phó và có giải pháp thích hợp trong công tác đối ngoại.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, nghiên cứu khoa học và nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực đối ngoại đã có những bước tiến đáng kể, dành được sự quan tâm lớn của ngành ngoại giao(14). Công tác nghiên cứu, dự báo sẽ góp phần đắc lực vào quá trình phát triển đất nước, đồng thời giúp Việt Nam tránh bị động trong đối phó, tạo cớ cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng.

Đối ngoại cần tiếp tục chủ động bám sát tình hình quốc tế và trong nước, nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, xây dựng kịch bản, tranh thủ các mạng lưới đối tác, tư vấn quốc tế, đối thoại chính sách kinh tế cho Việt Nam. Mặt khác, cần xây dựng cơ chế phối hợp nhanh chóng, hiệu quả trong xử lý các vấn đề quan trọng, đột xuất, những vấn đề mang tính quốc tế ở cả trong và ngoài nước, góp phần chủ động hơn nữa trong nắm bắt dư luận, sớm phát hiện các hoạt động chống phá, đấu tranh phản bác thông tin sai lệch, nhất là trong các vấn đề chủ quyền lãnh thổ, quan hệ nước lớn, xung đột, dân chủ, nhân quyền,... để có hình thức đấu tranh phù hợp, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, giữa xây” và “chống”, qua đó giữ vững môi trường hòa bình, an ninh Tổ quốc.

Thứ ba, chủ động, sáng tạo trong giải thích, thông tin, truyền thông đối ngoại về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để công chúng thấu hiểu, tự giác nâng cao nhận thức, giác ngộ trước các mưu đồ, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Công tác thông tin đối ngoại cần đẩy mạnh quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam để thế giới biết đến và thêm yêu mến Việt Nam. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngày càng phát triển, công tác thông tin đối ngoại đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng mới, trong đó có sự chỉ đạo, trao đổi thông tin kịp thời giữa các cơ quan thông tấn, báo chí, các cơ quan đại diện trong và ngoài nước nhằm nắm bắt thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang mạng xã hội,... nhất là nêu cao sự cảnh giác, nhanh nhạy và sắc bén trong nhận diện, đấu tranh, phản bác các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động.

Đối ngoại cần chủ động và tích cực tham gia cuộc đấu tranh dư luận bằng các biện pháp phù hợp, kể cả trên mặt trận tư tưởng văn hóa đến các phương tiện truyền thông đối ngoại, đồng thời đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý thông tin trên nền tảng số, mạng xã hội; chủ động cung cấp thông tin nhằm định hướng dư luận, đẩy lùi thông tin, văn hóa xấu, độc, nâng cao ý thức cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Tích cực đổi mới phương thức, nội dung và tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền; coi trọng nội dung giáo dục nền tảng tư tưởng của Đảng, văn hóa, lịch sử, truyền thống dân tộc, bảo đảm thực hiện tốt, hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đấu tranh dư luận, cần chú trọng kết hợp các dạng thức truyền thông trên cơ sở phân cấp rõ ràng giữa các đơn vị triển khai nhằm tạo mặt trận dư luận có trình tự rõ ràng, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, không tạo khe hở để lực lượng cực đoan bên ngoài lợi dụng, kích động dư luận.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại bản lĩnh chính trị, “vừa hồng, vừa chuyên”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(15); Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(16). Những năm tới là thời gian chuyển giao thế hệ những cán bộ làm công tác đối ngoại(17), do đó vấn đề kế thừa và phát triển đội ngũ cán bộ đối ngoại bản lĩnh, vừa hồng, vừa chuyên, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng là một yêu cầu cấp thiết.

Trước hết, cần đẩy mạnh công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại về bản lĩnh, phẩm chất. Đây là khâu quan trọng nhất, bởi khi đã thấm nhuần đường lối, chủ trương của Đảng, bản sắc ngoại giao Việt Nam, cán bộ đối ngoại khi tham gia vào đời sống quốc tế mới đủ bản lĩnh, năng lực để kiến tạo điểm tương đồng, giảm thiểu điểm khác biệt, tiếp tục đấu tranh, bảo vệ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc(18). Đặc biệt, tổ chức học tập, quán triệt thực hiện các văn bản, nghị quyết của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Ngoài ra, chú trọng nghiên cứu tư tưởng, trường phái ngoại giao Việt Nam, qua đó vận dụng, phát huy các giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao Việt Nam. Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực toàn diện, bảo đảm cả về chất lượng và số lượng. Ưu tiên đề cử, giới thiệu cán bộ có tiềm năng, triển vọng tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ở trong và ngoài nước. Chú trọng đào tạo tại chỗ, gắn đào tạo, bồi dưỡng với thi đua - khen thưởng, phát huy vai trò người đứng đầu. Bên cạnh đó, quán triệt thực hành rộng rãi, duy trì kỷ cương phép nước, chống quan liêu, lãng phí; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.

Đại hội XIII của Đảng đã mang đến cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xung lực mới để vượt qua mọi thử thách, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Bước vào giai đoạn mới, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại trở thành một nhiệm vụ then chốt. Mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, đảng viên, người dân trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cần thấm nhuần và nâng cao hơn nữa ý thức, trách nhiệm của mình trong tham gia công tác đối ngoại.

Nhằm giữ vững và phát huy di sản quý báu, to lớn của các thế hệ đi trước, ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp tục vững bước tiến lên, và luôn đặt trên vai trọng trách thiêng liêng nhất là bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

---------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 127
(2) Đảng đã khẳng định và cụ thể hóa: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Xem: Nguyễn Ngọc Cơ: “Mỗi đảng viên phải có trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 12-11-2021, https://dangcongsan.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/moi-dang-vien-phai-co-trach-nhiem-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-596992.html
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 33
(4) Nguyễn Phú Trọng: “Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, quyết tâm xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 21-11-2023, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ke-thua-phat-huy-truyen-thong-dan-toc-tu-tuong-ngoai-giao-ho-chi-minh-quyet-tam-xay-dung-va-phat-trien-nen-doi-ngoai-ngoai-giao-toan-dien-hien-dai-man
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 215
(6) Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 112
(7) Đổi mới tư duy đối ngoại được thể hiện rõ và đặc sắc nhất trong thời kỳ đổi mới, với ba giai đoạn: 1- Giai đoạn phá thế bao vây, cấm vận (1986 - 1995); 2- Giai đoạn mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế (1996 - 2010); 3- Giai đoạn đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện (từ năm 2011 đến nay)
(8) 1- Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; 2- Không tham gia liên minh quân sự; 3- Không liên kết với nước này để chống nước kia; 4- Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
(9) António Guterres: “Secretary-General’s press remarks following vote of General Assembly on Ukraine” (Tạm dịch: Phát biểu với báo chí của Tổng Thư ký Liên hợp quốc sau cuộc bỏ phiếu của Đại hội đồng Liên hợp quốc về U-crai-na), United Nations, ngày 2-3-2022, https://www.un.org/sg/en/content/sg/
speeches/2022-03-02/remarks-following-vote-of-general-assembly-ukraine

(10) Nhiều quốc gia bỏ phiếu trắng khi thông qua hai nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Xem: Mai Chi: “Công lý, đối thoại và ngoại giao”, Tạp chí Tuyên giáo điện tử, ngày 8-4-2022, https://tuyengiao.vn/cong-ly-doi-thoai-va-ngoai-giao-143037
(11) Vũ Văn Hiền: Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 1, tr. 194
(12) Phạm Quang Hiệu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại toàn diện, hiện đại, ngang tầm nhiệm vụ”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 22-4-2021, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/821754/xay-dung-doi-ngu-can-bo-doi-ngoai-toan-dien%2C-hien-dai%2C-ngang-tam-nhiem-vu.aspx
(13) Tổng Thư ký ASEAN, Phó Tổng Thư ký ASEAN, Thành viên Ủy ban Luật pháp quốc tế của Liên hợp quốc (ILC)...
(14) Thể hiện qua việc đánh giá tình hình, đề ra đối sách, tham mưu điều hành kinh tế, tranh thủ tư vấn nước ngoài, nhìn nhận những xu thế mới trên thế giới để phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan hữu quan trong đưa ra những quyết sách thích hợp. Xem: Bộ Ngoại giao: Ngoại giao Việt Nam 2000 - 2015, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 186
(15), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 309, 280
(17) Chuyển giao từ thế hệ cán bộ sinh ra trong lúc đất nước còn chiến tranh, học tập ở các nước xã hội chủ nghĩa sang thế hệ cán bộ sinh ra, lớn lên trong thời bình, được đào tạo từ trong nước và ngoài nước, sẽ đảm đương những nhiệm vụ quan trọng trên mặt trận đối ngoại
(18) Nguyễn Minh Vũ: Phát triển đội ngũ cán bộ đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng (phần cuối), Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương, ngày 6-11-2021, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/phat-trien-doi-ngu-can-bo-du-kha-nang-lam-viec-trong-moi-truong-quoc-te--dap-ung-yeu-cau-hoi-nhap-quoc-te-toan-dien-va-sau-rong-phan-cuoi.html


Đấu tranh chống chiêu trò lợi dụng tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước - Nhìn từ cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

NGUYỄN THANH SƠN - TRỊNH XUÂN THẮNG
Tạp chí Cộng sản - Học viện Chính trị khu vực IV
11:21, ngày 18-05-2024

TCCS - Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu, làm rõ thực trạng cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; đồng thời vạch ra những nhiệm vụ, giải pháp để phòng trị, ngăn chặn thực trạng này. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn rất quan trọng để đấu tranh với những chiêu trò, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù định, lợi dụng hiện tượng một bộ phận CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước ta; đồng thời là cẩm nang quý để xây dựng đội ngũ CBCCVC toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của Đảng, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Nâng cao chất lượng công tác cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân _Nguồn: baovephapluat.vn

Nhận diện, đấu tranh với chiêu trò lợi dụng tình trạng cán bộ, công chức, viên chức sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước ta

Trách nhiệm của CBCCVC là thực hiện đúng, đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó để phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của Đảng. Thời gian qua, nhiều địa phương, đơn vị xuất hiện tình trạng một bộ phận CBCCVC không thực hiện hoặc chậm trễ trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mình, làm ảnh hưởng đến lợi ích của người dân, doanh nghiệp, địa phương, đất nước. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch đã tung ra luận điệu xuyên tạc để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng và Nhà nước ta, vì thế, cần vạch rõ bản chất của âm mưu, thủ đoạn đen tối này để có giải pháp đấu tranh ngăn chặn hiệu quả.

Thứ nhất, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm không phải mới có mà đã tồn tại từ lâu, mang tính bản chất của chế độ ta, từ đó, quy chụp bộ máy nhà nước ta biến chất, cần phải xây dựng một bộ máy nhà nước khác (?!).

Sự thật là, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả hoạt động của Nhà nước đều nhằm mục đích bảo đảm cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Với mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó, hàng triệu đảng viên và CBCCVC trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước các cấp không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thậm chí có người đã hy sinh cả tính mạng của mình vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, của Đảng. “Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều cố gắng chăm lo đời sống nhân dân. Đảng luôn luôn coi việc bảo đảm và cải thiện đời sống nhân dân là trách nhiệm to lớn thường xuyên của mình”(1). Nhưng, bên cạnh những CBCCVC luôn giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng, cũng có một bộ phận CBCCVC thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngại khó, ngại khổ, sợ trách nhiệm, nên không dám làm mà né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Tuy nhiên, không phải vì thế mà lấy hiện tượng để đánh giá bản chất, khi cho rằng CBCCVC trong hệ thống chính trị của chúng ta đều xấu, rằng “cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là bản chất” của nhà nước ta, bởi như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “nếu xấu như vậy thì tại sao những năm qua chúng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn mà cả thế giới thừa nhận, vị thế nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao?”(2). Đảng ta sẵn sàng nhìn nhận một cách khách quan, bên cạnh những thành tựu trong công tác xây dựng, phát triển đội ngũ đảng viên, CBCCVC, thời gian qua, vẫn còn một bộ phận đảng viên, CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm và đặt ra yêu cầu phải đấu tranh không khoan nhượng với những hạn chế, khuyết điểm đó. “Chiến đấu ở đây không phải chỉ hiểu đơn thuần là chiến đấu với kẻ thù, mà chiến đấu với tình trạng trì trệ, không phát triển; chiến đấu với việc làm sai trái; chiến đấu với chính bản thân mình để vượt lên những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; chiến đấu chống lại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch”(3).

Thứ hai, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là do chế độ một đảng lãnh đạo.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, do ở Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo nên quyền lực chính trị tập trung, hạn chế sự sáng tạo của các cá nhân, dẫn đến nhiều CBCCVC thụ động, không dám có sáng kiến, coi “ý đảng” đứng trên pháp luật. Từ đó, các thế lực thù địch cho rằng, cần thực hiện đa nguyên, đa đảng, để quyền lực không còn tập trung, để có pháp luật bảo vệ (?!)

Sự thật là, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(4), “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(5). Do đó, không có chuyện Đảng đứng trên pháp luật hay không theo pháp luật để lãnh đạo đất nước; nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước bảo đảm tính thống nhất, không mâu thuẫn với nhau, bởi pháp luật chính là sự thể chế hoá chủ trương, đường lối, quan điểm được thể hiện trong nghị quyết của Đảng và nghị quyết của Đảng cũng không thể trái pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không can thiệp vào công việc cụ thể của Nhà nước mà chỉ định hướng hoạt động thông qua nghị quyết, đường lối của Đảng; thông qua tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục; thông qua đội ngũ đảng viên trong bộ máy nhà nước, thông qua công tác kiểm tra, giám sát và sự gương mẫu của đảng viên. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tổ chức quyền lực theo nguyên tắc phân công quyền lực, nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kế thừa những nhân tố hợp lý của mô hình nhà nước pháp quyền của nhân loại với mục tiêu bảo đảm cho pháp luật trở thành tối thượng, được thực thi trên thực tế. Điều đó thể hiện ở việc Đảng ta chỉ đạo thể chế hóa tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(6). Như vậy, quyền lực nhà nước vẫn bảo đảm được vận hành hiệu quả “trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”(7). Ở Việt Nam, dù một đảng lãnh đạo, dù chúng ta không thực hiện tam quyền phân lập, song vẫn bảo đảm Hiến pháp là tối thượng thông qua nguyên tắc pháp quyền. Không có cá nhân, tổ chức nào hoạt động đứng ngoài hay đứng trên pháp luật. Pháp luật ở nước ta đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của CBCCVC trong hoạt động công vụ(8) và đó cũng là cơ sở để xác định rõ trách nhiệm của CBCCVC. Vì vậy, để khắc phục tình trạng CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, vấn đề cốt yếu không phải là “thay đổi thể chế chính trị” như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc, mà chính là cần phải hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, gắn với xây dựng một hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán.

Thứ ba, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng, cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là do đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực quá quyết liệt.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ nhằm “đấu đá nội bộ, triệt phe cánh đối lập”; do Đảng ta xử lý kỷ luật mạnh tay những đảng viên, CBCCVC tham nhũng, tiêu cực, cả những cán bộ đã nghỉ hưu, lật lại những vụ tham nhũng, tiêu cực cách đây nhiều năm, nên nhiều CBCCVC sợ trách nhiệm vì mang tâm lý “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm thì không sai”, né tránh trách nhiệm để bảo đảm “an toàn”(?!).

Phát biểu tại Phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 20-1-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu phải: “Chấn chỉnh, đấu tranh đẩy lùi, loại bỏ tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng sẽ “làm chậm sự phát triển”, làm “hạn chế sức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, “nhụt chí”, “làm cầm chừng”, “phòng thủ” trong một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”(9). Tổng Bí thư khẳng định: “Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh”(10).

Ngoài ra, thực tế cho thấy, tình trạng sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm có một phần nguyên nhân từ sự yếu kém của một bộ phận CBCCVC do hạn chế về năng lực, về phẩm chất, đạo đức hay đã từng mắc phải sai phạm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, nay sợ bị phát hiện và bị xử lý, nên không dám làm hoặc làm “cầm chừng”, “đối phó”, né tránh trách nhiệm để mong được “an toàn”. Cần nhận thức rằng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo, với phương châm “kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” được tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt thời gian qua là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển đất nước, “chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”(11). Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả góp phần làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước, giảm bớt sự nhũng nhiễu của một bộ phận CBCCVC đối với người dân, doanh nghiệp, qua đó, ngày càng củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Như vậy, rõ ràng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mang lại nhiều lợi ích, không hề “làm cản trở sự phát triển của đất nước” như các thế lực thù địch xuyên tạc.

Giải pháp phòng, trị bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm

Tình trạng CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm như một căn bệnh đã và đang gây nhiều tác động tiêu cực đối với sự phát triển đất nước. “Thái độ sợ trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên đang là một trở ngại cho công tác của Đảng và Nhà nước, làm cho công việc bị trì trệ, dậm chân tại chỗ, làm cho những nhân tố mới không phát huy được, những khuyết điểm và nhược điểm không được khắc phục kịp thời, và làm cho trình độ, năng lực công tác của cán bộ chậm được nâng cao”(12). Trước hết, bệnh sợ trách nhiệm làm cho nhiều CBCCVC thụ động trong công việc, đùn đẩy trách nhiệm. Vì vậy, nhiều nhu cầu thiết thực, chính đáng của người dân, doanh nghiệp không được giải quyết kịp thời, dẫn đến sự suy giảm niềm tin đối với bộ máy công quyền. “Người sợ trách nhiệm thường làm việc một cách cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn. Vì luôn luôn lo sợ phải chịu trách nhiệm về những việc sẽ xảy ra, cho nên không muốn cải tiến công tác, không dám mạnh dạn thay đổi những cái không hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ. Vì sợ trách nhiệm mà đi đến bảo thủ”(13). Đáng lo ngại hơn, bệnh sợ trách nhiệm còn làm cho những khuyết điểm trong thực thi công vụ không được chỉ ra, vì “Người sợ trách nhiệm còn ngại “va chạm” trong quan hệ với các đồng chí trong đơn vị, với cấp trên và cả với cấp dưới. Lấy cớ phải có tác phong “thận trọng, chín chắn”, phải “giữ gìn đoàn kết”, các đồng chí đó không thẳng thắn phê bình những người phạm khuyết điểm, không đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, những tư tưởng và việc làm trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước”(14).

Để phòng, trị có hiệu quả những tác hại nghiêm trọng của căn bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm của một bộ phận CBCCVC, cần chú trọng thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm có một phần nguyên nhân là do hệ thống pháp luật hiện hành còn những bất cập, chồng chéo, thiếu thống nhất, có thể cùng một vấn đề nhưng có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau, dễ sai phạm, nên nhiều CBCCVC né tránh việc thực hiện. Vì vậy, cần quan tâm nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật, đặc biệt là các văn bản dưới luật, khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ, đồng bộ, dễ hiểu, dễ triển khai thực hiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để CBCCVC tự tin thực thi trách nhiệm công vụ trong chức trách, thẩm quyền của mình.

Thứ hai, quy định rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể trong hoạt động công vụ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Hiện nay còn có những cơ quan, đơn vị vì phân công không rõ ràng, quy định không rành mạch về trách nhiệm và quyền hạn của từng người cho nên không thể đánh giá đúng ai làm tốt, ai làm không tốt; khi xảy ra việc làm sai gây tổn hại cho Đảng và Nhà nước thì chỉ có thể kiểm điểm tập thể chung chung, không biết quy trách nhiệm cụ thể về ai”(15). Do đó, cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương một người có thể làm nhiều việc nhưng công việc nào cũng phải có người phụ trách, quy định và phân biệt rạch ròi trách nhiệm cá nhân và tập thể, tránh trường hợp “tranh công đổ lỗi”, khi thành công thì nhận thành tích cá nhân, khi thất bại, kém hiệu quả lại đổ lỗi cho tập thể. Đặc biệt, cần có những quy định xác định rõ trách nhiệm cá nhân không chỉ khi thực hiện sai quy định pháp luật mà còn cả khi không thực hiện đầy đủ theo thẩm quyền được giao, để công việc bị chậm trễ. Khi trách nhiệm cá nhân trong hoạt động công vụ rõ ràng sẽ hạn chế được tình trạng CBCCVC không dám làm, sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.

Thứ ba, phát huy dân chủ trong thực thi công vụ. Tình trạng cấp trên bao biện, không chú ý lắng nghe ý kiến và trao quyền cho cấp dưới đã và đang xảy ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, tạo ra một đội ngũ CBCCVC thụ động, không dám làm, không dám quyết định và né tránh trách nhiệm. Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Có những cán bộ cấp trên không tôn trọng chức trách, quyền hạn của cấp dưới, đã không chú ý đề cao, phát huy tính chủ động sáng tạo của cán bộ cấp dưới, rồi tự cho mình là đi sâu đi sát, là có tác phong cụ thể. Cách làm việc như vậy thường khiến cho những cán bộ vốn ỷ lại, thụ động dễ dàng lẩn tránh trách nhiệm. Cũng có trường hợp người lãnh đạo ở cấp trên không khách quan lắng nghe ý kiến của cán bộ cấp dưới, chỉ muốn nghe những lời khen và đồng tình với mình, không thích những cán bộ có ý kiến trái với mình, cho nên không cổ vũ, khuyến khích cán bộ cấp dưới độc lập suy nghĩ, chủ động sáng tạo trong công việc và thẳng thắn phát biểu, đề đạt ý kiến. Thái độ đó của cấp trên thực tế là ủng hộ những cán bộ sợ trách nhiệm, những người “chỉ làm những việc mà người ta bảo làm””(16). Do đó, phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trao quyền nhiều hơn cho cơ quan cấp dưới, cán bộ cấp dưới để họ có quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đồng thời, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có phong cách lãnh đạo và làm việc dân chủ, luôn lắng nghe, tôn trọng ý kiến của cấp dưới, khuyến khích cấp dưới phát biểu, đối thoại, đề ra sáng kiến, kể cả trái với quan điểm của mình, từ đó sẽ tạo ra một đội ngũ CBCCVC dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Đoàn viên, thanh niên đọc tìm hiểu cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng _Ảnh: TTXVN

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ làm rõ nguyên nhân khách quan, bên ngoài của căn bệnh CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm như thể chế, pháp luật…, mà còn nêu ra nguyên nhân chủ quan, bên trong. “Nguồn gốc chủ yếu của bệnh sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân. Chính vì luôn luôn tính toán cho lợi ích cá nhân, bo bo “bảo vệ” lấy cái cá nhân của mình mà mất cả dũng khí đấu tranh,… không dám đương đầu trước khó khăn, không dám nghĩ, không dám làm, chỉ tránh khó ngại phiền”(17). Do đó, để trị tận gốc căn bệnh này, phải đổi mới toàn diện công tác cán bộ, trước hết là phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi đã một lòng, một dạ vì đất nước, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, lý tưởng phấn đấu thì họ sẽ không ngại đương đầu với khó khăn, thử thách, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để thực hiện mục tiêu, lý tưởng mà mình đã lựa chọn. Từ đó, bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm sẽ khó có đất để tồn tại.

Cùng với công tác đào tạo, bồi dưỡng, cần chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đánh giá CBCCVC theo hướng bổ sung tiêu chí cụ thể đối với những CBCCVC dám nghĩ, dám làm, có nhiều đổi mới, sáng kiến được tập thể, lãnh đạo cơ quan, đơn vị công nhận, đánh giá tốt, là tấm gương để những cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm thay đổi thái độ, tinh thần trách nhiệm trong công việc. Gắn việc đánh giá với công tác khen thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, thay thế, điều động, luân chuyển CBCCVC. Những cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao trong thực thi công vụ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tinh thần đổi mới, sáng tạo cần được đánh giá khách quan, khen thưởng kịp thời, được đề bạt, bổ nhiệm lên vị trí cao hơn. Ngược lại, những cán bộ làm việc cầm chừng, cố tình đùn đẩy, né tránh trách nhiệm cần có hình thức xử lý thích hợp, thậm chí điều chuyển hoặc truy cứu trách nhiệm chính trị, pháp lý, kỷ luật, thay thế kịp thời. Nâng cao chất lượng của công tác cán bộ ở tất cả các khâu, các quy trình là giải pháp vừa cấp bách trước mắt, vừa căn cơ lâu dài để phòng, trị căn bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.

Để khắc phục tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, cần vừa đấu tranh với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng hạn chế này để chống phá Đảng và Nhà nước ta, vừa phải quyết liệt đấu tranh với chính những tiêu cực, hạn chế từ trong nội bộ đội ngũ CBCCVC của Đảng và hệ thống chính trị. Ngăn chặn, hạn chế tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là yêu cầu cấp thiết để thực hiện thành công chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ “7 dám” (dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách; dám hành động vì lợi ích chung), mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

--------------------------

(1), (2), (3), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16), (17) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 229, 305, 293, 204 - 205, 100, 99, 468, 466, 467 - 468, 470, 470, 469
(4) Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
(5) Khoản 3, Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
(6) Khoản 3, Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 175
(8) Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019


Nhận diện, đấu tranh với chiêu trò “nhân danh nhân dân”  để chống phá Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch

NGUYỄN YẾN NHI - TS NGUYỄN THÀNH TRUNG
Học viện Chính trị khu vực IV
17:29, ngày 12-04-2024

TCCS - Nhân dân đóng vai trò quyết định đối với sự thành công của quá trình giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, trên thực tế, một số đối tượng đã dùng chiêu trò “nhân danh nhân dân” để chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang dày công xây dựng. Vì thế, việc nhận diện và có giải pháp hiệu quả để đấu tranh phòng, chống những âm mưu, thủ đoạn thâm độc này nhằm bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò, vị trí chính trị của nhân dân

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhân dân là cộng đồng xã hội nhất định được gắn kết bởi lợi ích chung, là quần chúng đông đảo những người bị trị so với thiểu số giai cấp thống trị. Theo V.I. Lê-nin, “quần chúng là đa số, và hơn thế nữa, chẳng những chỉ là đa số công nhân, mà là đa số tất cả những người bị bóc lột”(1). Nhấn mạnh tính giai cấp khi đề cập đến khái niệm “nhân dân”, V.I. Lê-nin khẳng định: “Khi dùng danh từ nhân dân, Mác không thông qua danh từ ấy xóa mờ tất cả sự khác biệt về giai cấp…”(2). Xét theo quan điểm đó, động lực cách mạng chính là nhân dân, với nghĩa là cộng đồng người thuộc về giai cấp bị áp bức, bóc lột và cần phải được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột. Nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những giá trị tinh thần, đồng thời là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.

Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nhân dân, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nội hàm “nhân dân” được Người nhấn mạnh tính dân tộc khi định nghĩa: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước khác”(3). Đó là tập hợp gắn kết đa số người khác nhau về dân tộc, tôn giáo, giới tính, giai tầng, địa vị… trong xã hội, song thống nhất thành một cộng đồng chung là toàn thể dân tộc Việt Nam. Người khẳng định địa vị chính trị của nhân dân: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(4) và nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân trong thực hiện sứ mệnh cách mạng: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(5). Để phát huy sức mạnh vĩ đại của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của Đảng với tư cách là người tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình: “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận. Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi”(6), và “Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo”(7).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm gia đình có công với cách mạng ở Bản Sáng, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa _Ảnh: TTXVN

Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định rõ vai trò và địa vị chính trị của nhân dân, luôn quán triệt quan điểm dân là gốc của nước, là cơ sở của mọi thắng lợi, là lực lượng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Khẳng định và đề cao “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(8), trải qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát huy tối đa tính tích cực chính trị - xã hội, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định rõ địa vị pháp lý của nhân dân: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”(9); “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”(10), và hiến định: “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”(11).

Chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước đã thể hiện đầy đủ các đặc điểm của phạm trù “nhân dân”: (1) Nhân dân Việt Nam là người Việt Nam, xét về cả phương diện pháp lý và văn hóa xã hội là một chủ thể thống nhất của 54 tộc người, bao gồm người Việt Nam đang sống trên đất nước Việt Nam và ở nước ngoài; (2) Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam làm người lãnh đạo trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhân dân Việt Nam là những người Việt Nam yêu nước, cùng chung ý chí xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhận diện các chiêu trò “nhân danh nhân dân” để chống phá Đảng và Nhà nước

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã núp dưới chiêu bài “nhân danh nhân dân” để thực hiện các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm những quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, hòng chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân. Hành vi “nhân danh nhân dân” của họ có một số biểu hiện:

Một là, lợi dụng hoặc núp dưới danh nghĩa “nhân dân” để thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn tấn công, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua việc tuyên truyền xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, lịch sử vùng đất; bôi nhọ cá nhân lãnh tụ, lãnh đạo cao cấp của Đảng. Lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên; đặc biệt là lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, những vụ, việc cán bộ, đảng viên bị kỷ luật do liên quan đến các vụ án tham nhũng, tiêu cực,… Thời gian qua, các đối tượng chống phá đã quy kết rằng tham nhũng là tình trạng phổ biến, là hệ quả của chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng duy nhất cầm quyền (?!). Bên cạnh đó, ra sức tán dương sự hào nhoáng của chủ nghĩa tư bản; đồng thời hạ thấp, xuyên tạc những thành tựu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó “nhân danh nhân dân” đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện xã hội dân sự và cho rằng chỉ có như vậy mới sửa chữa được những “khuyết tật” của chủ nghĩa xã hội (?!)

Hai là, lợi dụng sự phát triển của internet và các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch “nhân danh nhân dân” lập ra nhiều trang web, tài khoản mạng xã hội,… rồi thông qua đó, lấy danh nghĩa là các “chuyên gia phân tích chính trị”, các nhóm theo đuổi nhân quyền, dân chủ,… tung ra nhiều giọng điệu xuyên tạc, nhiều thông tin giả, khai thác triệt để các thủ thuật bóp méo sự thật,… nhằm đánh lạc hướng người dân, nhất là giới trẻ, để công kích Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Từ một vài sự việc, “điểm nóng” nhỏ lẻ, họ tìm cách tô vẽ, thổi phồng, dùng các thủ đoạn kích động tâm lý để lôi kéo sự đồng cảm của một số người thiếu thông tin, thiếu hiểu biết, tạo thành các hội, nhóm tự xưng là “đại diện nhân dân”, lấy danh nghĩa “người dân” để kích động biểu tình, lên tiếng đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền, qua đó chống phá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Song song với đó, họ còn lập ra các tổ chức, diễn đàn núp dưới danh nghĩa “nhân dân” để nêu ra các “yêu sách”, “kiến nghị” đối với Đảng và Nhà nước trong giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường,… thực chất là để tự nâng mình lên, đồng thời hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Hành vi “nhân danh nhân dân” của họ không chỉ gây nhiễu loạn thông tin mà còn tạo ra sự sự hoang mang, hoài nghi, ảnh hưởng đến mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tìm mọi cách để o bế các đối tượng bị bắt, bị pháp luật xử tội do chống phá Đảng, Nhà nước. Những kẻ “nhân danh nhân dân” thường tung ra luận điệu cho rằng những đối tượng này là những “nhà hoạt động dân chủ”, “nhà hoạt động xã hội” "có trách nhiệm" với Tổ quốc, là những "người dũng cảm", dám nói lên tiếng nói của nhân dân "bị xử oan" (?!). Từ đó, họ tìm mọi cách móc nối với các cá nhân, tổ chức lưu vong chống phá Đảng và Nhà nước ở trong và ngoài nước, “nhân danh nhân dân” đòi “công lý”, đòi trả tự do cho những đối tượng phạm pháp. Mặt khác, khi một số đối tượng có dấu hiệu phạm pháp tìm đường lẩn trốn ra nước ngoài bị lực lượng chức năng của ta ngăn chặn, những kẻ “nhân danh nhân dân” đã sử dụng nhiều phương tiện truyền thông, chủ yếu là các phương tiện truyền thông xã hội, để kêu gọi sự bênh vực, can thiệp, bảo lãnh từ các tổ chức nhân quyền quốc tế.

Bốn là, nhiều đối tượng nhận viện trợ của các nhóm phản động, các thế lực thù địch để thành lập các tổ chức xúi giục biểu tình, kiện tụng, đòi giải quyết những vụ, việc “nóng”, dù không liên quan đến quyền lợi trực tiếp của họ. “Nhân danh nhân dân” tạo lập nhiều tổ chức bất hợp pháp, lôi kéo nhiều người (trong đó có một số trí thức, văn nghệ sĩ…) có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị không vững vàng, gây dựng họ thành lực lượng chống đối cực đoan với Đảng và Nhà nước ta. Từ những vấn đề chưa có kết luận chính thức của Đảng và Nhà nước (như những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ quốc tế, tình hình Biển Đông,…), các đối tượng tạo dựng tin đồn, dư luận xã hội cho rằng chính quyền giải quyết mập mờ, có dấu hiệu làm tổn hại lợi ích quốc gia - dân tộc (?!). Lợi dụng danh nghĩa “nhân dân”, họ lôi kéo, kích động những phần tử cực đoan, người thiếu thông tin chính thống, thiếu hiểu biết thực hiện những cuộc biểu tình, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, cải tổ Nhà nước.

Năm là, lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, các đối tượng “nhân danh nhân dân” tìm mọi cách tấn công, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc bằng cách lợi dụng tình hình khó khăn ở một số khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa để kích động người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đòi “ly khai”. Hoặc lợi dụng niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo để mua chuộc một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo, tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài đòi “tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền cho người dân tộc thiểu số”; nhân danh “đồng bào dân tộc thiểu số”, “đồng bào tôn giáo” đòi tự trị, tiến tới thành lập tôn giáo riêng và nhà nước riêng (?!).

Một số giải pháp đấu tranh chống chiêu trò "nhân danh nhân dân" để chống phá Đảng và Nhà nước

Những chiêu trò trên cho thấy, nhiều đối tượng đã lấy “nhân dân” làm tấm bình phong, lợi dụng “nhân dân” để tiến hành các hành vi xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm thực hiện các âm mưu, thủ đoạn thâm độc phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng cố ý không tôn trọng thực tế khách quan là chính nhân dân, dân tộc Việt Nam đã lựa chọn con đường đi đúng đắn cho mình; Đảng và Nhà nước Việt Nam là người con do nhân dân Việt Nam sinh ra, nhờ nhân dân mà trưởng thành, vì nhân dân mà phục vụ. Nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất cứ kẻ nào nhân danh mình, thay mình thực hiện sứ mệnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không thể tồn tại một thế lực nào tự cho mình cái quyền “đại diện nhân dân” để đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta có trách nhiệm bảo vệ danh dự, uy tín và lợi ích chính đáng của nhân dân và kiên quyết xử lý nghiêm minh tất cả những kẻ có mưu đồ “nhân danh nhân dân” để chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang dày công gây dựng.

Trong bối cảnh hiện nay, để phòng, chống, đập tan âm mưu, thủ đoạn “nhân danh nhân dân” chống phá Đảng và Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu:

Một là, quán triệt quan điểm “dân là gốc”; làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước. Kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(12) trên cơ sở đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Kiên quyết đấu tranh loại trừ mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tránh "tạo cớ" để các thế lực thù địch, phản động khai thác, lợi dụng, xuyên tạc bản chất của chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Thắm tình quân dân _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Hai là, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đồng thời, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập của mọi người dân; bảo đảm hài hòa và hợp lý hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước đi, từng chính sách phát triển. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường; tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách để khơi dậy và phát huy tối đa mọi tiềm năng, nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Hiệu quả kinh tế - xã hội chính là thước đo xác thực và thuyết phục nhất lòng tin của người dân đối với chủ thể cầm quyền.

Ba là, chú trọng thực hành văn hóa chính trị, nhất là văn hóa trong Đảng, văn hóa công sở và đạo đức công vụ, văn hóa dân chủ, văn hóa công dân. Đẩy mạnh nghiên cứu, xác định và xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào về truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực, mọi quan hệ của đời sống xã hội, thực sự trở thành động lực, là nguồn lực nội sinh và nền tảng cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Bốn là, việc giải quyết và xử lý hiện tượng “nhân danh nhân dân” để chống phá Đảng và Nhà nước cần dựa trên các nguyên tắc về nhân dân của Đảng, trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân. Đó là cơ sở để nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt thật của những đối tượng “nhân danh nhân dân”, núp dưới “chiêu bài nhân dân” để thực hiện những hành vi, mưu đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đối với những cá nhân, tổ chức "nhân danh nhân dân" để đi ngược lại ý chí chung của toàn Đảng, toàn dân, đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc thì Nhà nước cần kiên quyết xử lý nghiêm trên cơ sở thượng tôn pháp luật, nhằm phòng, chống, ngăn chặn, loại trừ có hiệu quả tất cả những âm mưu chống phá thâm độc./.

----------------------

(1), (2) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, t. 41, tr. 38; t. 41, tr. 159
(3), (4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 8, tr. 264; t. 7, tr. 434; t. 5, tr. 333; t. 11, tr. 609; t. 8, tr. 274
(8), (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 173; t. I, tr. 27
(9), (10), (11) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, Điều 17; Điều 2; Điều 44


Phản bác những quan điểm xuyên tạc, sai trái về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

TS NGUYỄN VIẾT XUÂN
Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Bình
13:35, ngày 15-04-2024

TCCS - Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi, có mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống tốt đẹp, gắn bó lâu đời. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào được Đảng và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp, trở thành một tấm gương mẫu mực, thủy chung, trong sáng, vững bền, hiếm có trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên thực hiện những âm mưu, thủ đoạn chống phá mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Vì vậy, việc nhận diện rõ những quan điểm sai trái, luận điệu quyên tạc của các thế lực thù địch, phản động để có giải pháp phòng, chống là vấn đề cấp bách hiện nay.

Những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Hai nước Việt Nam và Lào có chung đường biên giới dài hơn 2.340km, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, uống chung dòng nước sông Mê Công. Lịch sử đấu tranh và phát triển của nhân dân hai nước đã khiến hai dân tộc Việt Nam và Lào thân thiết, gắn bó với nhau từ bao đời nay. Mối quan hệ keo sơn đó càng được phát triển và đậm nét hơn trong hơn tám thập niên qua, khi nhân dân hai nước cùng tiến hành sự nghiệp cách mạng chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước.

Tuy nhiên, cùng với những diễn biến và thay đổi phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực hiện nay, các thế lực thù địch, phản động liên tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; “phi chính trị hóa” quân đội hai nước, tách sự lãnh đạo của Đảng với quân đội..., từ đó phá hoại và gây chia rẽ mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân, cũng như tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào. Các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; phủ nhận ý nghĩa cao đẹp, nghĩa vụ quốc tế cao cả của quân đội Việt Nam với cách mạng Lào (?!) 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động còn sử dụng những chiêu bài của “cách mạng màu”, như lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, viện trợ kinh tế, sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh tâm lý... để can thiệp vào công việc nội bộ của hai nước nhằm chống phá chế độ chính trị và mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, âm mưu hướng lái hai nước đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Lợi dụng việc Việt Nam và Lào mở cửa hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc đường lối cũng như những thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế của hai nước… Họ ra sức lôi kéo, xúi giục, kích động người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực biên giới di cư tự do, vượt biên trái phép, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để hình thành tư tưởng ly khai, chia rẽ người theo đạo và người không theo đạo, tôn giáo, sắc tộc vùng biên giới hai nước…, gây mất trật tự trị an, phá vỡ sự ổn định về chính trị - xã hội hai nước.

Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động đã và đang tập trung khai thác những thách thức từ chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn đối với các vấn đề khu vực, những tác động của các vấn đề an ninh phi truyền thống và một số điểm không “song trùng” lợi ích quốc gia - dân tộc, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, tạo nên sự nghi kỵ lẫn nhau, gây hoang mang dư luận, chia rẽ nội bộ và chống phá tình đoàn kết thủy chung, trong sáng, sắt son, hiếm có giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.

Những yếu tố làm nên giá trị quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Nối tiếp truyền thống của Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - biểu tượng của mối quan hệ vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước trong thời kỳ cùng kề vai sát cánh đấu tranh chống ách thống trị và xâm lược của thực dân, đế quốc, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngày nay tiếp tục được xây dựng, phát triển trên nền tảng cùng chung ý thức hệ cũng như mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cả ở Việt Nam và Lào đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Marxist - Leninist, có cội nguồn chung là Đảng Cộng sản Đông Dương. Hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Lào vẫn luôn duy trì mối quan hệ gắn bó mật thiết, hết lòng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước dù tình hình mỗi nước hay bối cảnh quốc tế, khu vực, cũng như các mối quan hệ quốc tế của mỗi bên có nhiều thay đổi.

Lịch sử đã chứng minh, Việt Nam và Lào có chung hoàn cảnh, gần gũi về địa lý và điều kiện tự nhiên, có chung mục tiêu phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nếu không có sự nhất trí về quan điểm, tư tưởng, đường lối chiến lược thì hai nước khó có thể xây dựng được mối quan hệ truyền thống, hữu nghị, đoàn kết, thủy chung, sắt son, hiếm có như hiện nay. Hai nước cùng có chung mục đích, lý tưởng theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; có chế độ chính trị và nhà nước tương đồng, đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi năm, Việt Nam dành cho Lào từ 600 đến 700 suất học bổng đào tạo ngắn hạn và dài hạn. Hiện nay, có khoảng hơn 14.000 sinh viên Lào đang theo học tại các cơ sở giáo dục Việt Nam và 250 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Lào. Đây là những nhân tố quan trọng đóng góp vào sự nghiệp phát triển của mỗi nước và là cầu nối không thể thiếu trong việc duy trì, tăng cường hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp sẵn có giữa hai Đảng và nhân dân hai nước. Bên cạnh công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, Việt Nam còn giúp đỡ Lào trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hệ thống trường học với tổng mức đầu tư lên đến hàng trăm tỷ đồng bằng nguồn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam.

Giao lưu văn hóa giữa sinh viên hai nước Việt Nam - Lào _Nguồn: thanhdoan.hochiminhcity.gov.vn

Từ khi hai nước tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986), mục tiêu hàng đầu của cả hai nước là tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Hai nước xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân” dưới sự lãnh đạo của một chính đảng duy nhất. Sự tương đồng giữa hai Đảng, hai bộ máy nhà nước và lý tưởng chung xã hội chủ nghĩa là điều kiện quan trọng tạo nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX của hai dân tộc Việt Nam - Lào, sự nhất trí về quan điểm, tư tưởng, đường lối chiến lược đã giúp hai nước xây dựng Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào. Chiến lược phối hợp tác chiến hiệu quả chỉ có thể nảy sinh từ một đường lối chính trị có sự nhất trí cao về quan điểm và lợi ích chân chính. “Về mặt đường lối, mối quan hệ cùng chung một dòng máu chính trị, là tài sản quý báu nhất của hai Đảng, hai Nhà nước và hai dân tộc, là một yếu tố quan trọng quyết định đến thắng lợi của cách mạng hai nước trong quá trình chiến đấu trường kỳ gian nan vất vả”(1). Như vậy, sự tương đồng về ý thức hệ cũng như mục tiêu phát triển đất nước của mỗi bên đang là nhân tố cơ bản tác động đến mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Việt Nam và Lào đều đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trước đây không chỉ tác động đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam và Lào, mà còn gây ra những ảnh hưởng nhất định về mặt an ninh chính trị, tư tưởng của mỗi nước. Bên cạnh việc đoàn kết, kề vai sát cánh cùng xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đổi mới đất nước, cả hai nước còn phối hợp, ủng hộ lẫn nhau trong hợp tác đa phương. Đặc biệt là cùng nhau giải quyết, xây dựng bán đảo Đông Dương hữu nghị, đoàn kết và phát triển; phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn hợp tác khu vực, như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam. Hai nước luôn ủng hộ lập trường của nhau trong nhiều vấn đề được đưa ra thảo luận tại các diễn đàn khu vực và quốc tế; hỗ trợ đắc lực cho nhau trong việc tổ chức thành công các hội nghị về chính trị, an ninh và quốc phòng trong năm Lào hoặc Việt Nam giữ cương vị Chủ tịch ASEAN; cùng các nước trong ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của khu vực; nỗ lực cùng các nước giải quyết tranh chấp, thúc đẩy tuân thủ và thực hiện các nguyên tắc cơ bản phù hợp với luật pháp quốc tế.

Nhận thức rõ an ninh của mỗi nước không tồn tại độc lập, mà có sự phụ thuộc lẫn nhau nên cả hai nước đều chú trọng, tăng cường hợp tác chặt chẽ về quốc phòng - an ninh, bởi hợp tác quốc phòng - an ninh Việt Nam - Lào được xây dựng trên cơ sở truyền thống chống giặc ngoại xâm của hai dân tộc từ ngàn xưa và sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phát huy thế mạnh và khả năng của mỗi nước trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Lịch sử đã chứng minh, hai dân tộc Việt Nam - Lào gắn kết với nhau như là một quy luật tự nhiên và sự gắn kết đó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự ổn định về chính trị cũng như sự phát triển của mỗi nước. Hợp tác hiệu quả về quốc phòng - an ninh giữa hai nước sẽ giúp an ninh và sự ổn định chính trị của hai nước được bảo đảm, do vậy, cần có sự hợp tác chặt chẽ, chân thành và tin cậy từ cả hai phía.

Hợp tác kinh tế giữa hai nước cũng được đặc biệt quan tâm, với nội dung, hình thức hợp tác ngày càng được mở rộng, đa dạng và phong phú. Mới đây nhất, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào (tháng 1-2023) của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính, hai bên khẳng định quyết tâm nâng tầm hợp tác kinh tế để tương xứng với tầm vóc của quan hệ đặc biệt giữa hai nước, trong đó trọng tâm là tiếp tục hỗ trợ nhau phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả; nhất trí tăng cường kết nối giữa hai nền kinh tế, cả về hạ tầng cứng và hạ tầng mềm nhằm mở rộng không gian hợp tác và phát triển.

Bên cạnh đó, với vị trí địa lý không giáp biển, Lào rất cần các “cửa ngõ” thông thương ra thế giới. Với hệ thống đường xương cá và hệ thống cảng biển thuận lợi, nhất là việc Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào đầu tư và khai thác cảng Vũng Áng, Việt Nam được xem là “cầu nối” quan trọng để Lào mở rộng sản xuất, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lưu thông hàng hóa... với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng là lý do khiến nhu cầu khai thác vị trí địa - chiến lược của Việt Nam đối với Lào ngày càng trở nên cần thiết. Ngược lại, trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Lào được xem như “cầu nối” để hàng hóa của Việt Nam lưu chuyển sang các nước ASEAN khác thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC) nối Việt Nam qua Lào, Thái Lan sang Myanmar... 

Đối với Việt Nam, vị trí địa - chính trị của Lào có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ khu vực biên giới, ngăn chặn những tác động tiêu cực trực tiếp từ phía Tây vào Việt Nam. Thực tế, trong những thập niên cuối thế kỷ XX, các thế lực thù địch, phản động bên ngoài đã lợi dụng địa hình rừng núi giữa hai nước làm căn cứ hoạt động để thâm nhập chống phá Việt Nam. Vì vậy, sự ổn định trong hòa bình và phát triển của Lào, cũng như việc củng cố mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trở thành một trong những yếu tố cấu thành lợi ích thiết thân, chính đáng của Việt Nam. An ninh và ổn định của Lào có ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh, ổn định và phát triển của Việt Nam. Sự ổn định an ninh của Lào là điều kiện quan trọng bảo đảm an ninh của Việt Nam và ngược lại. Do vậy, việc tăng cường hợp tác chặt chẽ luôn là vấn đề sống còn của cả hai quốc gia Việt Nam - Lào.

Có thể thấy, việc tăng cường phát triển quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia giúp Việt Nam và Lào bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mỗi nước. Do đó, có thể khẳng định, sự tương đồng và lợi ích quốc gia - dân tộc của mỗi nước tác động tích cực đến mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Xây dựng, bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị của mối quan hệ hữu nghị, truyền thống, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam vừa xuất phát từ ý muốn chủ quan (hệ tư tưởng và đường lối của đảng cầm quyền), vừa từ thực tế khách quan do sự tồn vong, phát triển của mỗi nước đòi hỏi. Đúng như cố Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Kaysone Phomvihane từng khẳng định: “Mối quan hệ Lào - Việt Nam đã trở thành mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thủy chung mẫu mực, hiếm có”, “củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt đó, bảo vệ tình đoàn kết Lào - Việt như bảo vệ con ngươi của mắt mình”(2).

Tuần tra chung bảo vệ cột mốc A Đớt biên giới Việt Nam - Lào _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Tiếp tục đưa mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam ngày càng thực chất và hiệu quả, đẩy lùi các luận điệu chia rẽ, chống phá của các thế lực thù địch

Trước hết, với quyết tâm nâng tầm quan hệ “hữu nghị vĩ đại” Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, hai bên cần tiếp tục xác định xây dựng mối quan hệ chính trị là nền tảng, quan hệ kinh tế là cốt yếu. Củng cố, nuôi dưỡng vững chắc nhận thức chung hai bên về tầm quan trọng chiến lược của mối quan hệ hai nước, coi đây là vấn đề chiến lược sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của mỗi nước. Tính chất đặc biệt trong quan hệ Việt Nam - Lào được thể hiện ở điểm khác căn bản với các quan hệ đối tác thông thường khác, nó là quan hệ hợp tác toàn diện bao gồm cả chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa... và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao hơn cả quan hệ song phương. Thống nhất nhận thức trong cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệt của mối quan hệ, trên cơ sở có tầm nhìn rộng, toàn diện và lâu dài hơn. Tích cực đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác; chủ động lựa chọn các hạng mục có nhu cầu đầu tư và phát triển đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước trên quan điểm tiếp cận tổng thể về lợi ích trong quan hệ hợp tác đặc biệt.

Thứ hai, huy động tối đa nguồn lực và hệ thống chính trị của hai nước, tập trung cải thiện, nâng tầm quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật tương xứng với quan hệ chính trị Việt Nam - Lào. Tăng cường và hoàn thiện cơ chế hợp tác, trước hết là tăng cường tính hiệu quả của cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Kết hợp thế mạnh của mỗi nước tạo thành thế mạnh chung trên cơ sở tranh thủ các yếu tố quốc tế thuận lợi về vốn, kỹ thuật, thị trường. Tập trung rà soát lại tổng thể cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức thực hiện để bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước; đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra.

Thứ ba, tăng cường hợp tác toàn diện theo hướng hai nước phối hợp chặt chẽ và hiệu quả hơn trong các chương trình, dự án hợp tác giữa hai nước với khu vực và hợp tác đa phương khác trên cơ sở tôn trọng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của nhau để tận dụng các mối quan hệ này phục vụ lợi ích cho cả hai bên, bảo vệ tối đa lợi ích quốc gia của từng nước và hai nước, đặc biệt là trong các cơ chế hợp tác mà hai nước cùng tham gia, như Liên hợp quốc, ASEAN; các cơ chế hợp tác tiểu vùng; các vấn đề an ninh phi truyền thống, mà cả hai sẽ cùng phải đối mặt. Chủ động tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại quan trọng hoặc tham khảo lẫn nhau về lập trường, quan điểm tại các diễn đàn quốc tế mà cả hai nước cùng tham gia. Qua đó, giúp hai bên có đủ khả năng ứng phó với các chuyển biến của tình hình quốc tế, khu vực, từ đó, có thể giúp hai nước bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia của từng nước và lợi ích chung của hai nước.    

Thứ tư, coi trọng việc cân bằng giữa các lợi ích cốt lõi về chính trị, an ninh, kinh tế của từng nước và của hai nước dưới tác động từ các nhân tố bên trong và bên ngoài. Trong suốt quá trình lịch sử, mối quan hệ Việt Nam - Lào trở nên gắn bó trước hết là vì lợi ích thiết thân của hai nước. Ngày nay, bối cảnh khu vực và thế giới đã hoàn toàn thay đổi; theo đó, các nước lớn và nhỏ đều có lợi ích riêng khi theo đuổi các mối quan hệ quốc tế. Trong số các lợi ích riêng đó, có những lợi ích cốt lõi mà các nước rất khó từ bỏ khi phải đối mặt với các sức ép từ bên ngoài. Do đó, hai nước cần xác định rõ những vấn đề hai bên có lợi ích “không trùng hợp” hoặc “không hoàn toàn trùng hợp” để có “quy tắc ứng xử” phù hợp theo hướng tôn trọng lợi ích của nhau, tôn trọng luật pháp và tập quán quốc tế; tiếp tục tranh thủ và phát huy hiệu quả các cơ chế, các kênh hợp tác và phương châm hợp tác “giúp bạn là tự mình giúp mình” của hai nước.

Trong hơn 60 năm qua, mặc dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, thuận lợi và thách thức đan xen, song có thể khẳng định, quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào đã không ngừng phát triển vững chắc, ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả. Những bài học lịch sử của mối quan hệ mẫu mực Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; những tư tưởng chỉ đạo và nội dung hợp tác nêu trong bản Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác vẫn vẹn nguyên giá trị và là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt tiến trình phát triển của mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Đối với nhân dân hai nước, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được coi là lẽ sống, là tình nghĩa trước sau như một, dù khó khăn, gian nan đến mấy cũng không thể chia tách. Mối quan hệ đặc biệt hiếm có Việt Nam - Lào đang tiếp tục được vun đắp trên cơ sở vì lợi ích và mục tiêu chung của hai quốc gia, với tinh thần quốc tế trong sáng, đưa cách mạng hai nước từng bước vượt qua những thử thách, chông gai và là hành trang quý giá, là cơ sở vững chắc để các thế hệ hai nước hiện nay và mai sau tiếp tục phát huy tình đoàn kết, xây dựng mối quan hệ bình đẳng, tự chủ, hữu nghị, hợp tác giữa hai nước “mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”./.

------------------------------

(1) Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Khoa học xã hội quốc gia Lào: Hội thảo khoa học quốc tế về mối quan hệ Việt Nam - Lào, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007, tr. 244
(2) Đảng Nhân dân Cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, t. IV, tr. 133, 135 - 136


Nhận diện và phản bác một số luận điệu sai trái, thù địch về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay

NGUYỄN CAO SIÊNG
Tạp chí Cộng sản
10:52, ngày 02-04-2024

TCCS - Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đã đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên sử dụng nhiều chiêu bài thâm độc hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta... Vì vậy, cần nhận diện các thủ đoạn, chiêu bài của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị để phản bác, đấu tranh hiệu quả.

Đảng ta luôn xác định tham nhũng, tiêu cực là nguy cơ, thách thức đe dọa trực tiếp đến uy tín, vị thế, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng hiệu quả, đi vào thực chất, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Tham nhũng, tiêu cực “từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và có chiều hướng giảm”(1). Tuy nhiên, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên các lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, tham nhũng, tiêu cực thật sự “đã đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”(2), “là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước”(3) và “là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và của chế độ”(4). Quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã đưa ra những luận điệu sai trái; thậm chí trơ trẽn đánh tráo khái niệm, tốt vẫn nói xấu, có khuyết điểm thì bới móc, thổi phồng, làm lệch lạc bản chất vấn đề hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta.

Chế độ “tập quyền”, “một đảng” không phải là nguyên nhân của tham nhũng, tiêu cực

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra rả “thuyết âm mưu”, coi đây là “át chủ bài” trong hoạt động chống phá: Tham nhũng bắt nguồn từ chế độ “tập quyền”, “một đảng” (!?). Chúng quy chụp đây là “quốc nạn, không có thuốc chữa”; “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”. Đây là luận điệu bịa đặt, mang tính tuyệt đối hóa, cực đoan, hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Bởi vì:

Tiếp cận từ góc độ đạo đức, lòng tham chính là “hạt giống”, tồn tại với tư cách là một thuộc tính cố hữu của con người, trong điều kiện thích hợp có thể “sinh sôi nảy nở”, phát triển thành các biểu hiện cụ thể của hành vi tham nhũng. Bởi lẽ, chính mâu thuẫn giữa “cái hiện có” với “cái muốn có” trong bản thân sự vật, hiện tượng chính là nguồn gốc để sự vật, hiện tượng vận động, phát triển. Hay nói cách khác, chính những mong muốn tạo ra của cải vật chất, tinh thần, nhằm thỏa mãn nhu cầu mỗi lúc một nhiều của con người chính là động lực để xã hội vận động, phát triển. Chính Mác Vê-bơ, nhà kinh tế chính trị và xã hội học nổi tiếng người Đức, trong tác phẩm Nền đạo đức Tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản, đã chỉ rõ, ham muốn chiếm hữu, ham muốn chạy theo danh lợi, tiền bạc, càng nhiều càng tốt... đã từng tồn tại và đang tồn tại ở hầu hết mọi tầng lớp trong xã hội(5). Như vậy, nếu đồng ý rằng tham nhũng bắt nguồn từ chính lòng tham của con người, thì đó là nguyên nhân sâu xa, cố hữu, thuộc về “tính người”, rất khó có thể, thậm chí là không thể bị loại bỏ.

Bàn về tật xấu của tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm tham ô để nói về các hành vi, như “lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư”(6); “gian lận tham lam... không tôn trọng của công... không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra”(7)... Về nguyên nhân của các hành vi này, Người cho rằng, “vì thiếu đạo đức cách mạng, thiếu tinh thần trách nhiệm”(8), “họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần, họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại”(9). Đặc biệt, Người nhấn mạnh, nguyên nhân sâu xa, gốc rễ dẫn đến tham nhũng, tiêu cực chính là chủ nghĩa cá nhân, bởi vì “cá nhân chủ nghĩa nên đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung, rồi sinh ra vô kỷ luật, vô tổ chức, tham địa vị, tham danh vọng, bè phái, tham ô, lãng phí, quan liêu”(10). Theo Người đây là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, “trong xã hội đế quốc, tư bản, phong kiến, người không ăn cắp, tham ô rất ít. Không nhiều thì ít đều có cả”(11). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tham nhũng là “giặc ở trong lòng”, nếu tự thân không tu dưỡng đạo đức cá nhân thật tốt thì bất kỳ ai cũng có thể phạm vào tham nhũng, tiêu cực.

Tiếp cận dưới góc độ quyền lực, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tham nhũng gắn liền với sự tha hóa quyền lực của nhà nước. Lúc này, nhà nước trở thành công cụ để bóc lột nhân dân lao động, là phương tiện bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị; nhân dân mất dần khả năng kiểm soát quyền lực, trở thành nạn nhân của sự quan liêu, lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán. Có thể thấy, tham nhũng được xem là “bóng tối vươn theo quyền lực”, gây suy giảm quyền lực nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến uy thế, thanh danh của Đảng và nhà nước, biến bộ máy chính quyền và các tổ chức đảng trở thành bộ máy quan liêu, xa rời lợi ích của đảng, nhân dân. V.I. Lê-nin cho rằng, “tệ quan liêu, tham nhũng khiến nhiều cán bộ, đảng viên bị tha hóa, trở thành những kẻ chuyên quyền, độc đoán, thậm chí nó có thể phá hủy một chính đảng, làm tiêu vong một chế độ”(12). Bàn về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tham ô lãng phí một phần lớn là do bệnh quan liêu mà ra”(13); “Có những người... đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu”(14). Tham ô là sâu mọt từng ngày, từng giờ đục khoét, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng; làm lung lay, vơi dần niềm tin của quần chúng nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Người khẳng định: Tham ô, tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm vì “nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”(15), nó làm “chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”(16).

Kế thừa và phát triển quan điểm của V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực và là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ; thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa bỏ tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”(17). Cũng theo Tổng Bí thư, “Tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, là loại biểu hiện cụ thể của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”(18). Như vậy, dù tiếp cận dưới góc độ khác nhau, song có thể thấy, chính sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và việc không có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chính là nguyên nhân căn cơ để tình trạng tham nhũng, tiêu cực phát sinh, phát triển. Trong đó, “Tiêu cực là môi trường làm nảy sinh tham nhũng; tham nhũng tác động trở lại làm trầm trọng hơn tình trạng tiêu cực”(19).

Ở bất kỳ quốc gia nào, người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền nhà nước đều là người của đảng cầm quyền và đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền tất nhiên sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Như vậy, chế độ một đảng hay đa đảng không tác động đến nguồn gốc làm nảy sinh tham nhũng, tiêu cực, nghĩa là ở bất kỳ quốc gia nào dù lựa chọn chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì vấn nạn tham nhũng, tiêu cực vẫn xảy ra. Theo Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng năm 2023, do Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố, có đến hơn 80% dân số thế giới sống ở các quốc gia có chỉ số cảm nhận tham nhũng dưới mức trung bình toàn cầu là 43(20).

Không có chuyện “miễn nhiệm”, “thôi chức” là bức bình phong cho “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe phái”

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cố tình “đánh lận con đen” khi cho rằng “việc Đảng và Nhà nước nhiều lần phát động đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ là “trò đánh trống khua chiêng nhằm che mắt thế gian”, thực chất là “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe phái” (?!). Nguy hại hơn, trước thềm đại hội, hay bất kỳ quyết định nhân sự quan trọng của Đảng, Nhà nước, chúng lại vẽ vời, “thêu dệt”, tung ra những nhận định không khách quan về công tác cán bộ hòng xuyên tạc, gây tâm lý hoang mang, bất ổn trong xã hội, như cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là quá trình thanh trừng, đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực chính trị, lợi ích kinh tế giữa các “phe phái”; “Thôi chức”, “miễn nhiệm” theo nguyện vọng cá nhân hay khả năng đảm nhiệm công việc được giao phó chỉ là “bình phong” của Đảng Cộng sản (?!)

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta”(21), chính sự “đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập tới nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này tới thắng lợi khác”(22).

Đoàn kết, thống nhất trong Đảng là một trong những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng. Điều này bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời đây là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên cơ sở điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta. Trong từng thời kỳ cách mạng khác nhau, Đảng ta luôn nhất quán xây dựng và không ngừng củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, kiên định xem đây là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng. Đảng ta xác định: “Đó là sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thống nhất ý chí và hành động dựa trên đường lối cách mạng đúng đắn và những nguyên tắc tổ chức của đảng vô sản”(23). Ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đoàn kết, thống nhất là một nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, là sinh mệnh của Đảng, là vấn đề sống còn của cách mạng. Tháng 11-1939, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I, Đảng ta đã khẳng định: “Phải thống nhất ý chí và hành động” và “sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng buộc phải có ý chí giác ngộ của toàn thể đảng viên, chớ không phải nhắm mắt phục tùng”(24). Năm 1976, Đại hội IV đã khẳng định nguyên tắc mang tính quy luật trong hoạt động của Đảng đó là: “Đảng coi việc giữ gìn đoàn kết nhất trí trong Đảng trên cơ sở đường lối chính trị và nguyên tắc tập trung dân chủ là sinh mệnh của Đảng, và kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái trong Đảng”(25). Đến Đại hội VIII (năm 1996), vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng được nhấn mạnh, với những vấn đề: “Đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết là ở cơ quan lãnh đạo, có ý nghĩa quyết định sự thành công của cách mạng”(26). Nhất quán quan điểm này, Đại hội IX (năm 2001), yêu cầu cụ thể: “Từng đảng bộ giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong tập thể lãnh đạo”(27). Đặc biệt, đến Đại hội XIII (năm 2021), khi tổng kết công tác xây dựng xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng, Đảng ta đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm, trong đó nhấn mạnh “phải đặc biệt coi trọng sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trước hết trong Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt và cấp ủy các cấp”(28).

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp thứ 38 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII _Ảnh: ubkttw.vn

Ngay từ Đại hội IV, trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta đã khẳng định đảng viên cần “tích cực bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân, chống lãng phí, tham ô”(29). Đến Đại hội XIII, trong Nghị quyết, Đảng ta xác định nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là: “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(30). Như vậy, từ Đại hội IV đến nay, trong hệ thống chính trị nước ta, vấn đề phòng, chống tham nhũng, tiêu cực luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Nói cách khác, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không phải “một sớm, một chiều”, “ngày một, ngày hai” mà đây là công việc vô cùng phức tạp, lâu dài, đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, nhân dân cũng như bản thân cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, việc bịa đặt công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta là “trò đánh trống khua chiêng nhằm che mắt thế gian”, thực chất là “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe phái” là sự dối trá, trơ trẽn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị hòng phủ nhận nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng ta.

Ngay từ giai đoạn đầu đổi mới, Đảng ta đã rất chú ý đến vấn đề từ chức, cho thôi, miễn nhiệm của cán bộ. Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997, của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” quy định rõ: “Trong thời hạn đảm nhiệm chức vụ, người nào vì công việc, lý do sức khoẻ, hoàn cảnh cá nhân được từ chức, miễn chức; người nào không hoàn thành nhiệm vụ, có sai phạm, uy tín giảm sút thì tùy theo mức độ mà bị miễn chức, hoặc cách chức kịp thời”. Đến Đại hội X, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 30-7-2007, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị”. Nghị quyết xác định cần khẩn trương “Xây dựng quy chế miễn nhiệm, từ chức để thay thế kịp thời, dễ dàng những cán bộ năng lực và phẩm chất yếu kém, vi phạm kỷ luật, không hoàn thành nhiệm vụ, mất uy tín”.

Thực tế, việc “cho thôi”, “miễn nhiệm” là một trong những dấu ấn nổi bật, có tính đột phá trong việc kết hợp chặt chẽ giữa học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã chỉ rõ hiện nay chưa có cơ chế đánh giá phù hợp và thay thế kịp thời cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đánh giá “Công tác quản lý cán bộ có nơi, có lúc bị buông lỏng; chưa có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người yếu kém, uy tín thấp, không đủ sức khỏe”... Đặc biệt, Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” đã có những điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các quy định về “miễn nhiệm” và “từ chức”. Quy định này đã góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng về vấn đề miễn nhiệm, từ chức thành các quy định cụ thể; đồng thời, đây chính là cơ sở để ứng xử văn minh trong miễn nhiệm, từ chức, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phù hợp với kỳ vọng của nhân dân. Có thể thấy, việc cho “thôi chức” đối với cán bộ cấp cao là bước tiến rất lớn, góp phần để phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” trong công tác cán bộ được triển khai sâu rộng, đồng bộ, hiệu quả từ Trung ương đến địa phương; để xu hướng đó trở thành một việc làm bình thường trong quá trình “xây” kết hợp với “chống”, vừa “xây”, vừa “chống” nhuần nhuyễn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; đồng thời, khi đã có hạn chế, khuyết điểm hay khi thấy năng lực công tác của mình không còn phù hợp với vị trí công tác được đảm nhiệm... cán bộ mạnh dạn “từ chức” và “từ chức” trở thành văn hóa, thể hiện tính liêm sỉ và giá trị công bộc của cán bộ, đảng viên.

Đoàn viên, thanh niên đọc tìm hiểu cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng _Nguồn: thanhnien.vn

Phải khẳng định rằng, những kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta thời gian qua đã góp phần làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền “tự soi”, “tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Điều đó cũng làm cho các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Do đó, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam thời gian qua thể hiện rõ dã tâm chính trị hòng hạ thấp vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng; chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Trong cuốn sách Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Tổng Bí thư đã khẳng định: “Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”(31).

Xử lý tham nhũng, tiêu cực không phải là chiêu trò mị dân như các thế lực thù địch xuyên tạc

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc rằng: vì xã hội thiếu dân chủ nên công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ không hiệu quả, thậm chí ngày càng gia tăng và những vụ tham nhũng, tiêu cực được xử lý gần đây chỉ là chiêu trò mị dân của Đảng Cộng sản (?!). Dân chủ là vấn đề lớn của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới, tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mà tình trạng thực hiện dân chủ xã hội khác nhau. Lợi dụng điều đó, chúng còn suy diễn rằng, “thiếu dân chủ thực chất là hệ quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội yếu kém của nước ta”, “kinh tế - xã hội càng kém phát triển thì tham nhũng, tiêu cực càng gia tăng” (?!). Chúng xảo biện rằng, “Tham nhũng ở khắp mọi nơi, trong mọi hoạt động của cuộc sống như căn bệnh ung thư đã di căn khắp cơ thể”, và rêu rao rằng những số liệu chống tham nhũng, tiêu cực vừa qua chỉ để “mị dân, đánh bóng tính ưu việt của chế độ”, chứ không phản ánh đúng bản chất công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng Cộng sản (?!).

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định cần xây dựng một nhà nước Việt Nam kiểu mới, trong đó Người khẳng định: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”(32). Điều thứ 1 Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(33). Hiến pháp năm 1959 tiếp tục khẳng định: “Tất cả quyền lực... đều thuộc về nhân dân... Tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”(34). Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, dân chủ vẫn luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta quan tâm. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(35).

Ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là quy luật hình thành, phát triển, là tôn chỉ, mục đích hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản, không một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra cương lĩnh, đường lối cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết hai mục tiêu dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo xã hội và nhà nước để đi tới mục tiêu và thực hiện lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, thì vấn đề xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền dân chủ và làm chủ của nhân dân lao động trở thành một trong những vấn đề cơ bản, cốt yếu của chế độ.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân là các chủ thể thống nhất với nhau về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(36). Thế nên, việc quy chụp nước ta thiếu dân chủ, thậm chí suy diễn do kinh tế kém phát triển dẫn đến tham nhũng, tiêu cực trong xã hội là vô căn cứ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(37). Đó chính là kết quả tất yếu từ hàng loạt chính sách của Đảng và Nhà nước trên cơ sở nền dân chủ “lấy con người làm trung tâm”, “thực sự vì con người”. Không những thế, cần đanh thép khẳng định rằng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay không làm cản trở sự phát triển đất nước, mà còn tạo thêm nhiều xung lực mới cho đất nước phát triển. “Không phải như một vài ý kiến lo ngại rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ làm “chùn” sự chỉ đạo hay làm “chậm” sự phát triển, mà ngược lại, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường an ninh - quốc phòng, đối ngoại”(38).

Hiện nay, nhờ đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà nhiều sai phạm của không ít cán bộ, đảng viên đã được xử lý, nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực phức tạp được giải quyết, tháo gỡ những “điểm nghẽn” tồn đọng trong thời gian dài. Trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó, có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng(39). Không chỉ ngăn chặn tình trạng thất thoát nguồn tài sản lớn của Nhà nước, mà quan trọng hơn, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giờ đây thật sự đã trở thành phong trào, nhận được sự hưởng ứng của toàn xã hội và đang là một động lực to lớn để Việt Nam thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

--------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 76
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 173
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 196
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 93
(5) Xem: Max Weber: Nền Đạo đức Tin lành và Tinh thần Chủ nghĩa Tư bản, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2008, tr. 51
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 13, tr. 416
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 296 - 297
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 29
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 509
(10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 100, 5
(12) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 8, tr. 424
(13), (14), (15), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 433, 361, 357, 357 - 358
(17) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 405
(18), (19) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Sđd  tr. 16
(20) Xem: “Corruption Perceptions Index 2023” (Tạm dịch: Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng năm 2023), https://images.transparencycdn.org/images/CPI-2023-Report.pdf, tháng 1-2024
(21), (22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 622
(23) Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng (tại Đại hội IV), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr. 31
(24) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 6, tr. 555 – 556
(25) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 47, tr. 585
(26) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 143 - 144
(27) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 144
(28) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XIII, Sđd, t. II, tr. 226
(29) Xem: “Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV thông qua”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 24-9-2015, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-iv/dieu-le-dang-cong-san-viet-nam-do-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-iv-thong-qua-1515
(30) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XIII, Sđd, t. II, tr. 334
(31) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Sđd, tr. 14
(32) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 232
(33), (34)  Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ (Các bản hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, tr. 8, 27 - 28
(35) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XIII, Sđd, t. I, tr. 174
(36) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 48
(37) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 25
(38), (39) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Sđd, tr. 75, 117 - 118