Đổi mới chính sách, pháp luật đất đai, khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội

Ngô Hương Ly
Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
10:27, ngày 07-03-2026

TCCS - Đất đai luôn là nguồn lực đặc biệt quan trọng, vừa là tư liệu sản xuất cơ bản, vừa là nền tảng vật chất của mọi quá trình phát triển. Trong bối cảnh cả nước quyết tâm triển khai thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đặt ra là tiếp tục khơi thông và phát huy hiệu quả các nguồn lực, trong đó có nguồn lực đất đai. Việc nhận diện đầy đủ những “điểm nghẽn” về cơ chế, chính sách và pháp luật đất đai, đồng thời đẩy mạnh hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, minh bạch và khả thi, không chỉ là nhiệm vụ cấp bách mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

 

Quỹ đất dành cho sản xuất ngô sinh khối rộng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên_Ảnh: baothainguyen.vn

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định rõ: Để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước, nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng hệ thống thể chế đồng bộ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ triệt để các “điểm nghẽn” về pháp luật, chính sách trên mọi lĩnh vực(1). Quán triệt tinh thần đó, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt nhiệm vụ rà soát, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật đất đai ở vị trí trọng yếu, coi việc phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai là một trong những “đòn bẩy” thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và phát triển bền vững(2)

Trong cơ cấu quỹ đất, đất nông nghiệp nói chung và đất trồng cây hằng năm nói riêng luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, gắn trực tiếp với sinh kế của đại bộ phận nông dân, với nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và phát triển nông nghiệp bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc sử dụng đất trồng cây hằng năm vẫn còn nhiều hạn chế và chưa phát huy được đầy đủ tiềm năng của loại đất này. 

Phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược phát triển đất nước

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi trọng vai trò của đất đai, khẳng định việc quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai có ý nghĩa quyết định đối với ổn định chính trị - kinh tế - xã hội và phát triển bền vững đất nước. Quan điểm này một lần nữa được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, khi đất đai được đặt trong tổng thể các nguồn lực phát triển, gắn với yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế và phát huy hiệu quả các nguồn lực nội sinh của nền kinh tế. 

Để phát triển nhanh và bền vững đất nước, việc khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực trong nước đóng vai trò quan trọng. Đất đai với tư cách là tư liệu đầu vào không thể thiếu của nền kinh tế, đòi hỏi phải được khai thác, quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Việc tận dụng và phát huy có hiệu quả đất đai không chỉ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, mà còn bảo đảm cho sự công bằng xã hội, ổn định và nâng cao đời sống người dân, nhất là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển đất nước. 

Trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của đất đai ngày càng được khẳng định mạnh mẽ. Nếu thị trường quyền sử dụng đất được tổ chức, vận hành đồng bộ, minh bạch, vừa có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, vừa có những cơ chế, chính sách cho sự đổi mới, sáng tạo thì sẽ góp phần phân bổ đất đai một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng và khai thác tối đa giá trị của nguồn lực sẵn có này. Do vậy, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn mới là hoàn thiện thể chế để các loại thị trường vận hành thông suốt, trong đó có thị trường đất đai.

Đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất chủ yếu mà còn gắn trực tiếp với sinh kế của hàng triệu hộ gia đình nông dân. Việc sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp, trong đó có đất trồng cây hằng năm, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp sinh thái, đa mục đích, xây dựng nông thôn hiện đại và nông dân văn minh. Do đó, phát huy nguồn lực đất đai không thể tách rời yêu cầu bảo đảm hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế với ổn định xã hội và bảo vệ môi trường. 

Như vậy, việc phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược phát triển đất nước hiện nay và tương lai. Điều này đòi hỏi phải có hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ, minh bạch, thống nhất và phù hợp với yêu cầu thực tiễn(3). Đây chính là cơ sở quan trọng để đặt ra vấn đề tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai nhằm khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực cho sự phát triển đất nước.

Mặc dù hệ thống chính sách, pháp luật đất đai ở nước ta đang từng bước được xây dựng và hoàn thiện, góp phần quan trọng vào quản lý, sử dụng đất đai hiệu quả, phát huy vai trò là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, song thực tiễn cho thấy, đất đai vẫn chưa được khai thác hết tiềm lực vốn có, thậm chí còn tồn tại việc sử dụng gây lãng phí, phá vỡ quy hoạch và suy thoái đất. Những hạn chế này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng đất mà còn tạo ra các điểm nghẽn cản trở quá trình khai thác và phát huy nguồn lực đất đai.

Thứ nhất, một trong những điểm nghẽn đáng chú ý là cơ chế phân bổ và sử dụng đất chưa phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở một số địa phương, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa phát huy hết vai trò định hướng cho việc sử dụng đất, chưa gắn chặt với chiến lược phát triển các lĩnh vực và nhu cầu thực tiễn của thị trường. Việc điều chỉnh quy hoạch còn chậm, thiếu linh hoạt, dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả, lãng phí nguồn lực và không đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn.

Thứ hai, thị trường quyền sử dụng đất phát triển chưa đồng bộ, chưa thực sự trở thành kênh phân bổ nguồn lực đất đai hiệu quả. Các giao dịch về quyền sử dụng đất, nhất là đối với đất nông nghiệp nói chung vẫn còn gặp rào cản về cơ chế, thủ tục, làm hạn chế khả năng dịch chuyển đất đai theo nhu cầu của sản xuất và thị trường. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới việc khai thác giá trị kinh tế của đất đai, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu tích tụ, tập trung đất đai phục vụ sản xuất quy mô lớn ngày càng trở nên cấp thiết. 

Thứ ba, các chính sách liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất còn thiếu đồng bộ. Trong một số trường hợp, quyền của người sử dụng đất chưa thực sự được bảo đảm một cách đầy đủ, hoặc chưa đủ tạo động lực cho việc an tâm gắn bó với đất. Ngược lại, nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với việc sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả chưa thực sự được thực hiện một cách nghiêm túc. Sự thiếu cân đối này ảnh hưởng không nhỏ vào tâm lý của người sử dụng đất, sẽ khiến cho chủ thể có tiềm lực kinh tế e ngại hoặc thậm chí không có đất để đầu tư, nhưng lại có một số bộ phận giữ đất như một loại tài sản “bảo hiểm” mặc dù không còn nhu cầu khai thác. 

Thứ tư, đối với đất nông nghiệp nói chung, các điểm nghẽn trong chính sách, pháp luật đất đai càng bộc lộ rõ nét. Việc sử dụng đất nông nghiệp nói chung còn mang tính manh mún, phân tán; quá trình tích tụ, tập trung đất đai diễn ra chậm; cơ chế chuyển mục đích sử dụng và hình thức sử dụng đất còn nhiều vướng mắc; chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp chưa đủ hấp dẫn,... Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất, mà còn làm giảm khả năng phát huy vai trò của đất nông nghiệp trong bối cảnh phát triển kinh tế nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp xanh và nông nghiệp tuần hoàn. 

Thứ năm, trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, cơ chế thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất ở một số nơi chưa gắn chặt với yêu cầu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững. Việc thu hồi đất, nhất là đất nông nghiệp, nếu không được thực hiện minh bạch, hợp lý, sẽ tác động tiêu cực đến đời sống người dân, làm phát sinh khiếu kiện, ảnh hưởng đến ổn định xã hội và niềm tin của người sử dụng đất. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả phát huy nguồn lực đất đai trong thực tiễn. 

Những điểm nghẽn nêu trên cho thấy, mặc dù đất đai là nguồn lực to lớn, song việc khai thác, sử dụng và phát huy nguồn lực này vẫn chưa thực sự hiệu quả. Trong cơ cấu các loại đất, đất nông nghiệp - đặc biệt là đất trồng cây hằng năm - vừa chiếm tỷ trọng lớn, vừa có vai trò đặc biệt quan trọng nhưng cũng đồng thời chịu tác động trực tiếp của những chính sách, pháp luật đất đai hiện hành. Chính vì vậy, việc phân tích sâu hơn thực trạng sử dụng đất trồng cây hằng năm như một lát cắt điển hình sẽ góp phần làm rõ hơn yêu cầu đổi mới chính sách, pháp luật đất đai nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội.

Chưa tạo được hành lang pháp lý đủ thông thoáng để khơi thông nguồn lực đất trồng cây hằng năm 

Đất trồng cây hằng năm chiếm tỷ lệ lớn, giữ vị trí then chốt trong cấu trúc sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam. Đây là tư liệu sản xuất đặc thù bởi nó vừa là nền tảng quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp, an ninh lương thực quốc gia, vừa là chuỗi cung ứng nguyên liệu cho ngành chế biến nông sản và là nơi tạo việc làm cho hàng chục triệu hộ gia đình nông dân, đặc biệt tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi trọng việc bảo vệ, sử dụng hợp lý quỹ đất nông nghiệp nói chung và đất trồng cây hằng năm nói riêng, coi đây là nền tảng quan trọng cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước. Xuất phát từ yêu cầu khách quan phải quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai hữu hạn, các chính sách và khung pháp lý về đất trồng cây hằng năm đòi hỏi phải là công cụ sắc bén, bảo đảm cho việc sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, đạt hiệu quả cao, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ nền nông nghiệp thâm dụng tài nguyên (nông nghiệp “nâu”) sang mô hình nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn (nông nghiệp “xanh”).

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, bên cạnh vai trò và tiềm năng to lớn, việc quản lý và sử dụng đất trồng cây hằng năm trên thực tế vẫn tồn đọng một số hạn chế nhất định:

Thứ nhất, một trong những vấn đề nổi bật là tình trạng sử dụng đất còn phân tán, manh mún, quy mô sản xuất nhỏ lẻ. Trong nhiều năm qua, quá trình giao đất, chia đất cho hộ gia đình, cá nhân góp phần giải quyết việc làm, ổn định đời sống nông dân, song cũng dẫn đến hệ quả là ruộng đất bị chia cắt thành nhiều thửa nhỏ, manh mún, rải rác, khiến cho việc áp dụng khoa học - công nghệ, tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn gặp nhiều khó khăn. Điều này làm giảm hiệu quả sử dụng đất, hạn chế khả năng phát huy tiềm năng của đất trồng cây hằng năm như một nguồn lực quan trọng cho phát triển.

Thứ hai, việc tích tụ, tập trung đất trồng cây hằng năm trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Mặc dù chủ trương tích tụ, tập trung đất đai luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định rõ trong nhiều nghị quyết, văn bản chỉ đạo, song trên thực tế quá trình này diễn ra còn chậm và thiếu đồng bộ. Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội thực tiễn, tập quán canh tác truyền thống nhỏ lẻ, mà còn từ những rào cản về cơ chế, chính sách và pháp luật đất đai. Các quy định về hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất trồng cây hằng năm,… chính sách thu hút đầu tư chưa thực sự tạo động lực để thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung đất đai theo hướng hiệu quả và bền vững.

Thứ ba, trong bối cảnh đòi hỏi chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng công nghệ cao và phát triển các mô hình nông nghiệp đa mục đích, nhiều quy định còn mang tính cứng nhắc, kỹ thuật, thiếu tính linh hoạt, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này làm giảm khả năng thích ứng của sản xuất nông nghiệp trước những biến động của thị trường, biến đổi khí hậu và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Chẳng hạn một số quy định pháp luật hiện hành vẫn đặt trọng tâm vào mục tiêu kiểm soát chặt chẽ việc bảo vệ quỹ đất trồng lúa theo tư duy “bảo tồn diện tích” mà thiếu đi cơ chế điều chỉnh linh hoạt theo điều kiện sinh thái, thị trường, làm giảm khả năng thích ứng sản xuất nông nghiệp của địa phương, thậm chí dẫn tới nghịch lý là đất được “bảo vệ” về mặt pháp lý nhưng lại kém hiệu quả hoặc bị bỏ hoang trên thực tế.

Thứ tư, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đất trồng cây hằng năm có xu hướng suy giảm cả về quy mô diện tích lẫn chất lượng sử dụng. Đây là xu hướng tất yếu phục vụ cho sự phát triển của đất nước, song điều đó không thể thay thế cho yêu cầu bảo đảm sự bền vững của quỹ đất trồng cây hằng năm. Việc mở rộng diện tích loại đất này trong điều kiện hiện nay là không cần thiết, nhưng nếu loại đất này không được quản lý chặt chẽ, hợp lý sẽ dẫn đến nguy cơ thu hẹp quá mức quỹ đất trồng cây hằng năm, ảnh hưởng đến an ninh lương thực và sinh kế của người nông dân. Thực tiễn cho thấy, một số địa phương vẫn tồn tại hàng trăm nghìn ha đất trồng cây hằng năm bị chuyển đổi tự phát sang các mục đích phi nông nghiệp. Mặt khác, tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật, chuyển mục đích sử dụng không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xây dựng nhà ở, công trình xây dựng trái phép trên đất trồng cây hằng năm vẫn còn diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương cho dù các cấp chính quyền đã có nhiều nỗ lực, giải pháp để ngăn chặn, xử lý những vi phạm này. Ngoài ra, việc thu hồi đất trồng cây hằng năm chưa gắn chặt với yêu cầu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, còn phát sinh những vấn đề xã hội phức tạp, tác động tiêu cực đến ổn định đời sống nông thôn.

Thứ năm, hiện nay, chúng ta đang bị thiếu cơ chế bảo vệ hiệu quả đối với đất trồng cây hằng năm. Các quy định pháp luật chủ yếu tập trung bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa, trong khi các “dữ liệu” pháp lý để bảo vệ các loại đất trồng cây hằng năm khác còn rất hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng người sử dụng đất chưa coi trọng và tự ý chuyển đổi mục đích, gây phá vỡ quy hoạch và suy thoái đất. Bên cạnh đó, hiện nay các quy định pháp luật chỉ đang chú trọng tới việc phân loại đất trồng lúa, trong khi đất trồng cây hằng năm khác chưa được phân loại cụ thể, dẫn đến tình trạng đất trồng cây hằng năm có giá trị sinh thái - kinh tế cao chưa được đưa vào vùng bảo vệ bắt buộc và dễ dàng được chuyển đổi hơn so với đất trồng lúa.
Những hạn chế nêu trên cho thấy, mặc dù đất trồng cây hằng năm là một nguồn lực to lớn cho sự phát triển của đất nước nhưng trên thực tế vẫn chưa được khai thác, phát huy hiệu quả, tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Trong một số trường hợp, chính sách, pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn phát triển, chưa tạo được hành lang pháp lý đủ thông thoáng để khơi thông nguồn lực đất trồng cây hằng năm, chưa bảo đảm được việc khai thác, sử dụng loại đất này gắn với các mục tiêu xã hội, môi trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đất trồng cây hằng năm có thể được coi là một “lát cắt điển hình” phản ánh những điểm nghẽn còn tồn tại của chính sách, pháp luật đất đai hiện hành. Việc khai thác, sử dụng có hiệu quả loại đất này không chỉ là vấn đề về quản lý của chính quyền mà còn liên quan đến an sinh, kinh tế và xã hội. Do đó, việc nhìn nhận đúng vai trò, đánh giá đầy đủ những hạn chế trong sử dụng đất trồng cây hằng năm là cơ sở quan trọng để tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước. Trong bối cảnh Đảng ta đang chỉ đạo sửa đổi, hoàn thiện pháp luật đất đai theo hướng đồng bộ, thống nhất và hiện đại, việc đặt vấn đề phát huy hiệu quả sử dụng đất trồng cây hằng năm không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Đây là điều kiện quan trọng để khơi thông nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Đổi mới cơ chế phân bổ, sử dụng đất trồng cây hằng năm theo nguyên tắc thị trường, có sự quản lý của Nhà nước 

Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao” (Nghị quyết số 18- NQ/TW) xác định rõ đất đai là nguồn lực quan trọng của quốc gia, cần được quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu khơi thông và phát huy nguồn lực đất đai, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và xã hội. Bên cạnh đó, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng một lần nữa khẳng định việc hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển mạnh mẽ kinh tế nông nghiệp. Do đó, việc đổi mới chính sách, pháp luật đất đai, trong đó có chính sách, pháp luật đối với đất trồng cây hằng năm, là nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Hệ thống pháp luật về đất trồng cây hằng năm cần được kiến tạo để trở thành nền tảng pháp lý vững chắc, tạo điều kiện cho các chủ thể sản xuất nông nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chuyển đổi sang mô hình sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Điều này đòi hỏi các chính sách phải hướng đến việc nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa giá thành sản phẩm, đồng thời bảo đảm các tiêu chuẩn về chất lượng và truy xuất nguồn gốc, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tham gia vào chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu. 

Thứ nhất, việc đổi mới chính sách, pháp luật về đất trồng cây hằng năm không thể tách rời yêu cầu hoàn thiện hệ thống công cụ quản lý đất đai, từ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát. Quy hoạch luôn phải đi trước một bước và làm thật tốt. Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo trong định hướng sử dụng đất trồng cây hằng năm phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, bền vững, đồng thời hạn chế và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật đất đai.

Thứ hai, theo tinh thần của Nghị quyết số 18-NQ/TW, đổi mới chính sách, pháp luật đất đai phải hướng tới sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, khắc phục tình trạng manh mún, phân tán, lãng phí nguồn lực đất đai. Đối với đất trồng cây hằng năm - loại đất chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu đất nông nghiệp và gắn trực tiếp với sinh kế của đa số nông dân - yêu cầu này càng trở nên cấp thiết. Pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện khai thác hiệu quả tiềm năng của đất trồng cây hằng năm, đồng thời vẫn bảo đảm các mục tiêu về an ninh lương thực, ổn định xã hội và phát triển nông nghiệp bền vững. Bên cạnh đó, một trong những định hướng quan trọng được Nghị quyết số 18-NQ/TW đặt ra là tạo điều kiện thuận lợi cho tích tụ, tập trung đất đai, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại. Theo đó, chính sách, pháp luật về đất trồng cây hằng năm cần tiếp tục được đổi mới theo hướng tháo gỡ các rào cản về cơ chế sử dụng đất, khuyến khích các hình thức tích tụ, tập trung đất đai phù hợp với điều kiện thực tiễn. Việc hoàn thiện các quy định về hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, cũng như cơ chế chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất trồng cây hằng năm,… có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy nguồn lực đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa(4). Ngoài ra, cần rà soát, bổ sung các chính sách ưu đãi đầu tư vào nông nghiệp một cách thực chất và hấp dẫn hơn, hiểu tâm lý của các nhà đầu tư, không chỉ dừng lại ở ưu đãi về đất đai mà cần mở rộng sang các lĩnh vực tín dụng, thuế, hỗ trợ công nghệ cao, phát triển thị trường và bảo hiểm nông nghiệp(5)… 

Thứ ba, Nghị quyết số 18-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng đất theo nguyên tắc thị trường, có sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Bên cạnh đó, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đề ra một trong các nhiệm vụ quan trọng để phát triển nhanh, bền vững đất nước, đó là  “… sử dụng hợp lý, linh hoạt đất trồng lúa, chuyển đổi đất trồng lúa hiệu quả thấp sang sản xuất cây trồng, vật nuôi, sản xuất công nghiệp hoặc mục đích sử dụng khác có hiệu quả cao…”. Trong bối cảnh đó, pháp luật về đất trồng cây hằng năm cần được hoàn thiện theo hướng vừa phải tập trung vào bảo vệ quỹ đất sản xuất, vừa tạo sự linh hoạt trong việc luân canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa bảo đảm sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước đối với mục đích và hiệu quả sử dụng đất. Điều này rất có ý nghĩa trong việc đáp ứng nhu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đồng thời hạn chế tình trạng sử dụng đất không hiệu quả hoặc chuyển mục đích sử dụng đất tùy tiện. 

Thứ tư, một nội dung quan trọng khác của Nghị quyết số 18-NQ/TW là đặt ra yêu cầu bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và xã hội trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai. Đối với đất trồng cây hằng năm, yêu cầu này cần được thể hiện rõ trong các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, góp phần ổn định đời sống của người nông dân, hạn chế phát sinh khiếu kiện, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở khu vực nông thôn. 

Thứ năm, cần xây dựng và bổ sung các quy định pháp lý cụ thể nhằm bảo vệ quỹ đất trồng cây hằng năm khác, tương tự như cơ chế bảo vệ đất lúa, bảo đảm sự phát triển cân đối, bền vững cho toàn bộ nhóm đất nông nghiệp quan trọng này. Bên cạnh đó, cần phân loại đất trồng cây hằng năm có giá trị sinh thái - kinh tế cao để đưa vào vùng bảo vệ bắt buộc, hạn chế tối đa việc chuyển mục đích sử dụng đất(6).

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất trồng cây hằng năm là một nhiệm vụ cấp bách và mang ý nghĩa chiến lược, không chỉ tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn mà còn tạo đòn bẩy cho việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững trong thời kỳ đổi mới./.

---------------------
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội
(2) Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
(3) Phí Thị Thanh Tuyền (2018), “Bảo đảm tính thống nhất giữa các quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Công thương tháng 08-2018, https://byvn.net/UhaL

(4) Nguyễn Minh Sơn, Bùi Thị Thùy Linh (2018), “Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 2(354)
(5) Nguyễn Thị Tú (2017), “Kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ nông nghiệp của Trung Quốc, Thái Lan và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương tháng 08-2017 
(6) Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”