BÀI VIẾT THỨ 1
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ MỤC LỤC TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 24
(Số ra ngày 15-12-2004)
TÁC GIẢ
NỘI DUNG

Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 – 22-12-2004) và 15 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 – 22-12-2004)

XÃ LUẬN – Mãi mãi xứng danh "Bộ đội cụ Hồ"

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân chăm lo đùm bọc. Suốt 60 năm qua, quân đội đã làm tròn sứ mạng là lực lượng nòng cốt của phong trào toàn dân đánh giặc, giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc của sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân và giữ vững ổn định chính trị. Lớp lớp thế hệ cán bộ chiến sĩ Quân đội ta không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, xây đắp nên truyền thống vẻ vang: "Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"; được nhân dân trao tặng danh hiệu cao quý "Bộ đội Cụ Hồ". Ngày nay "Bộ đội cụ Hồ" luôn luôn có mặt và đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng Tổ quốc gắn liền với bảo vệ Tổ quốc, thực hiện mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

* * * Lời chúc mừng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

PHẠM VĂN TRÀ - Quân đội ta mãi mãi xứng đáng là lực lượng chính trị –lực lượng vũ trang sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và giáo dục, là quân đội kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân. 60 năm qua, phát huy truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin yêu, đùm bọc, chăm sóc, Quân đội đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị và những thành quả cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, Quân đội phải tăng cường hơn nữa sự gắn bó mật thiết với nhân dân, nêu cao ý thức trách nhiệm, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, tăng cường tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước, nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch… Phát huy truyền thống vẻ vang của mình, trong giai đoạn mới, Quân đội ta cần ra sức rèn luyện, học tập để không ngừng nâng cao trình độ, năng lực mọi mặt, hoàn thành tốt chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, mãi mãi xứng đáng là một lực lượng chính trị - lực lượng vũ trang sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

NGUYỄN PHÚC THANH – Quốc hội với sự nghiệp 60 năm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam

Quốc hội nước ta là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất. Đối với lĩnh vực quốc phòng và quân đội, Quốc hội đã dành sự quan tâm sâu sắc đặc biệt về nhiều mặt. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Quốc hội đã thể chế hoá thành luật, pháp lệnh để từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta 60 năm qua luôn gắn liền với hoạt động của Quốc hội. Hiện nay, vấn đề tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh là hết sức cần thiết. Việc thể chế hóa về mặt nhà nước nhiệm vụ đó thành pháp luật, quyết định ngân sách để bảo đảm thực hiện và giám sát việc thực hiện được nghiêm chỉnh, thống nhất trong cả nước đều thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Với tinh thần đổi mới, Quốc hội nước ta sẽ tiếp tục dành sự quan tâm to lớn và hiệu quả đối với quốc phòng và quân đội để tương xứng với vị trí và vai trò lực lượng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

LÊ XUÂN LỰU – Hai thành công lớn của Đảng ta trong lãnh đạo xây dựng quân đội

Sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong suốt 60 năm qua đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hai thành công lớn của Đảng ta trong lãnh đạo quân đội là đã đề ra đường lối quân sự, xây dựng nghệ thuật quân sự Việt Nam và xây dựng quân đội về chính trị. Thứ nhất, quan điểm cơ bản của Đảng là phát huy sức mạnh tổng hợp trong chiến tranh. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân : với ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; với đánh địch trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, tư tưởng; với nghệ thuật quân sự là tạo thế chủ động, tạo thế và lực thường xuyên uy hiếp các vùng trọng yếu, các trung tâm đầu não của địch. Thứ hai, Đảng lãnh đạo xây dựng quân đội toàn diện về chính trị: xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng; xây dựng đoàn kết nội bộ; xây dựng tình đoàn kết quân dân; xây dựng tình đoàn kết quốc tế; xây dựng tính nhân văn, lòng nhân đạo đối với kẻ thù.

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

LƯƠNG VĂN TỰ - Tiến trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và những thuận lợi, khó khăn khi Việt Nam trở thành thành viên WTO

Đại hội toàn quốc lần thứ tám của Đảng đã đề ra đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực. Đường lối này tiếp tục được Đảng ta khẳng định tại Đại hội IX. Đó là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững. Những đường lối này đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết 07/NQ-TW, ngày 27-11-2001, của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết chỉ rõ rằng, chúng ta cần tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập WTO theo các phương án và lộ trình hợp lý... Gắn kết quá trình đàm phán với quá trình đổi mới mọi mặt ở trong nước. Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO vào tháng 1-1995; đã được tiếp nhận và được công nhận là quan sát viên của tổ chức này. Nếu chúng ta tranh thủ được lợi thế của tiến trình hội nhập và gia nhập WTO, đẩy nhanh quá trình cải cách mà Đảng và Chính phủ đề ra, biến các thách thức thành thời cơ mới, chắc chắn nền kinh tế của chúng ta sẽ có cơ hội phát triển cao hơn.

LÊ TRỌNG ÂN – Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới

Dân chủ (chế độ) chữ gốc là dân quyền, là chế độ chính trị, trong đó quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ vô sản là dân chủ thực sự đối với đa số nhân dân, với đông đảo quần chúng lao động; là hình thức dân chủ mới, mà cơ sở kinh tế của nó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

Sau 18 năm thực hiện đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế – chính trị – xã hội, tạo cơ sở vững chắc để ổn định hệ thống chính trị và điều kiện thuận lợi để không ngừng phát huy dân chủ. Để tiếp tục phát huy dân chủ, các giải pháp cơ bản là: Củng cố phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu của Đảng; tiếp tục cải cách hành chính, hoàn thành hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tổng kết thực tiễn dân chủ, tăng cường kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, đảng viên, các cấp chính quyền, giáo dục và nâng cao trình độ dân trí về pháp luật.

TRƯƠNG GIANG LONG – Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong xu thế hội nhập hiện nay

Để đất nước chủ động hội nhập và phát triển theo đúng quỹ đạo của đổi mới thì việc phát triển kinh tế gắn với công bằng và tiến bộ xã hội là vấn đề có tính quy luật. Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế phải gắn với công bằng và tiến bộ xã hội, đất nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng. Đời sống các tầng lớp dân cư, cơ cấu nền kinh tế và diện mạo chung của xã hội có những biến đổi tích cực; khơi dậy, phát huy tính năng động, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân. Để phát triển kinh tế, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội cần phải tạo ra cơ chế thông thoáng, hình thành nên những đòn bẩy động lực giải phóng sức sản xuất; thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; kiên trì thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo, thu ngắn khoảng cách giàu nghèo, ngăn chặn khuynh hướng làm giàu phi pháp…

LÊ HUY BÁ - Hành vi ứng xử bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Hành vi xử thế môi trường bền vững đúng đắn, nếu được sự quan tâm đúng mức của Nhà nước, các tổ chức, của các cấp chính quyền và các tổ chức quần chúng, các quốc gia trên thế giới, của toàn xã hội, thì chắc chắn chúng ta sẽ được sống trong một môi trường sạch sẽ, trong lành, tuổi thọ được nâng cao và tạo ra tài nguyên môi trường bền vững cho thế hệ con cháu mai sau. Hành vi ứng xử môi trường, bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển bền vững được thể hiện trong một số khía cạnh sau: xử thế môi trường đúng đắn - nguồn gốc hình thành sự phát triển bền vững của trái đất; cân nhắc và đưa ra quyết định đúng đắn cho hành vi môi trường...

NGÔ THẢO – Sân khấu nước ta - hiện trạng và hướng phát triển

Bước vào thời kỳ đổi mới, các đơn vị sân khấu không còn được bao cấp, sân khấu bước vào khủng hoảng. Để nền sân khấu trong những năm tới tồn tại và phát triển theo kịp tốc độ phát triển của xã hội cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ. Đối với sân khấu truyền thống cần tổng kiểm kê vốn liếng, kịch bản, âm nhạc, mỹ thuật, nghệ thuật biểu diễn. Đối với các kịch chủng, phải có cuộc cách mạng lớn về không gian sân khấu, quy phạm của cấu trúc kịch, các nguyên tắc nghệ thuật để tạo nên vở diễn và nghệ thuật diễn viên. Nghệ thuật là sự sáng tạo của tài năng, người sáng tạo sân khấu cần có kiến thức rộng của các chuyên ngành khác nên phải nâng cấp, mở rộng lực lượng giảng viên các trường sân khấu điện ảnh trong nước, tuyển chọn những người có khả năng đi tập huấn và đào tạo ở các trung tâm sân khấu của thế giới. Đồng thời, phải sáng tạo lại các loại hình nghệ thuật phù hợp với thị hiếu của thế hệ trẻ để thực hiện chức năng chân – thiện – mỹ.

THỰC TIỄN – KINH NGHIỆM

ĐẶNG QUÂN THỤY – Tiếp tục phát huy phẩm chất của quân đội cách mạng, xứng đáng là chỗ dựa vững chắc của Đảng ở cơ sở

Qua 15 năm xây dựng và hoạt động, Hội Cựu chiến binh Việt Nam không ngừng phát triển, trưởng thành, đã khẳng định vị trí, tính chất là một đoàn thể chính trị - xã hội, trở thành chỗ dựa tin cậy của các cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là ở cơ sở, có uy tín trong nhân dân, trở thành tổ ấm của anh chị em cựu chiến binh trong cả nước. Để tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò, truyền thống của mình, trong thời gian tới Hội Cựu chiến binh cần : Xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh; thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các thành viên trong Mặt trận, phát huy dân chủ ở cơ sở, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; làm tốt công tác hòa giải các mâu thuẫn ở cơ sở, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, trật tự an toàn trên địa bàn...

NGUYỄN VĂN THẢNG – Xây dựng khu phòng thủ trên địa bàn Quân khu 5 – kết quả và định hướng chủ yếu trong tình hình mới

Nhằm thực hiện chiến lược về xây dựng tiềm lực quân sự, xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảm đảm thắng lợi cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa VI) đã nêu Nghị quyết 02-NQ/TƯ về nhiệm vụ quốc phòng. Hơn 15 năm qua, thực hiện nội dung quan trọng của Nghị quyết này là "xây dựng các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc", các tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu 5 đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã cùng với các tỉnh ủy, Thảnh ủy, UBND các tỉnh thuộc quân khu 5 lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng "khu vực phòng thủ" có tiềm lực cao, sát với thực tế và đạt được những nội dung quan trọng. Thành tựu đạt được trong xây dựng khu vực phòng thủ địa bàn quân khu 5 được thể hiện ở 3 nội dung: Xây dựng tiềm lực chính trị- tinh thần; xây dựng tiềm lực kinh tế – xã hội; xây dựng tiềm lực quốc phòng – an ninh.

Các tỉnh, thành, đơn vị trên địa bàn quân khu 5 đang tiếp tục phát huy những thành tích và kinh nghiệm qua 15 năm thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về "xây dựng khu vực phòng thủ", đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

NGUYỄN THỊ NHIỄU – Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ : Những cơ hội và thách mới đối với phát triển thương mại và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam

Tác động tích cực của việc thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đến phát triển kinh tế của Việt Nam sau gần 3 năm ký kết: tạo cơ hội mới cho phát triển xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm công nghệ nguồn và các nguyên vật liệu chất lượng cao phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu hút đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ cho việc phát triển kinh tế, xã hội; xây dựng năng lực thể chế và chuyên môn của Việt Nam. Những thách thức lớn đối với Việt Nam: những rào cản thương mại từ phía Hoa Kỳ, cạnh tranh ngày càng tăng. Để phát triển xuất khẩu sang Hoa Kỳ và thu hút đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam cần: chuẩn bị sẵn sàng các hành trang cần thiết; ban hành mới và chỉnh sửa các luật hiện có để tạo sự thống nhất giữa luật các văn bản dưới luật, phù hợp với hệ thống luật quốc tế và những cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ; các doanh nghiệp tự trang bị năng lực hoạt động trong môi trường mới, chủ động, tích cực xây dựng các mối quan hệ liên doanh, liên kết, xây dựng thương hiệu sản phẩm riêng; xây dựng văn hóa xuất khẩu quốc gia và văn hóa kinh doanh ở doanh nghiệp.

ĐÀO VĂN HƯNG - Điện lực Việt Nam: 50 năm xây dựng và phát triển

Những chặng đường phát triển của ngành điện đã minh chứng cho quá trình hình thành và phát triển của ngành là gắn bó với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tổng công ty Điện lực Việt Nam đã năng động mở rộng quan hệ với các tổ chức tín dụng quốc tế và ngân hàng các nước phát triển, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn trong nước để có nguồn lực đầu tư cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo thực hiện tốt việc cung ứng điện cho khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ, thực hiện đạt kế hoạch điện thương phẩm theo kế hoạch. Đón nhận Huân chương Sao Vàng - phần thưởng cao quý của Nhà nước ta, Tổng công ty tiếp tục phấn đấu khẳng định vị thế của mình, nhằm cung cấp điện với chất lượng ngày một tốt hơn, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

SINH HOẠT TƯ TƯỞNG

NGUYỄN XUÂN KHOÁT – Chuyện của tôi

BẠN ĐỌC VỚI TẠP CHÍ – TẠP CHÍ VỚI BẠN ĐỌC

* * * Những ý kiến tâm huyết của bạn đọc đối với Tạp chí trong năm qua

THẾ GIỚI: VẤN ĐỀ – SỰ KIỆN

NGUYỄN THỊ HOA – Các nước đang phát triển với thách thức hội nhập kinh tế quốc tế

Hiện nay, đối với các nước đang phát triển, sự hội nhập và hội nhập như thế nào vào trào lưu toàn cầu hóa trở thành vấn đề có ý nghĩa sống còn. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các nước này đứng trước một loạt khó khăn, thách thức. Trước sự gia tăng của những cơ hội đan xen những thách thức trên thế giới, nhiều nước đang phát triển cần nhận thức được đâu là cách thức phát triển bền vững, phù hợp để giảm bớt những mặt tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa, biến tiềm năng thành cơ hội phát triển, chủ động tham gia hội nhập quốc tế. Các nước đang phát triển tham gia hội nhập quốc tế nhằm cùng tăng cường hợp tác Nam - Nam, thiết lập, xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế mới bình đẳng, công bằng và hợp lý hơn, một toàn cầu hoá vì người nghèo và cho cả người nghèo. Đây không phải là một quá trình diễn ra nhanh chóng, nó đòi hỏi thời gian, nỗ lực hợp tác, đoàn kết, sự thể hiện vai trò của các nước đang phát triển.

ĐỖ ĐỨC ĐỊNH – Phi-líp-pin: Cảnh báo nguy cơ xảy ra khủng hoảng kinh tế – tài chính

Sau khủng hoảng châu Á, do không tiếp tục đẩy mạnh cải cách, nên nền kinh tế Phi-líp-pin có những dấu hiệu có thể xẩy ra khủng hoảng như: thâm hụt ngân sách, cán cân thương mại và tình trạng nợ cao tới mức báo động; những biện pháp ngăn chặn thâm hụt ngân sách của Chính phủ tỏ ra không có hiệu quả; hệ thống ngân hàng yếu kém, chậm được cải cách; hiệu quả của nền kinh tế và các doanh nghiệp ngày càng thấp; đầu tư nước ngoài giảm mạnh; tham nhũng tràn lan. Chính phủ Phi-líp-pin đã có nhiều nỗ lực để thoát khỏi nguy cơ khủng hoảng. Trường hợp của Phi-líp-pin là bài học để Việt Nam tham khảo, chủ động có những biện pháp phòng ngừa ngay khi xuất hiện những dấu hiệu không tốt để bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân.

TIN HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN – THỰC TIỄN

* * * Hội nghị triển khai Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ tài chính ngân sách năm 2005

BÀI VIẾT THỨ 2
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ MESSAGE OF CONGRATULATIONS OF GENERAL
VO NGUYEN GIAP
TÁC GIẢ
NỘI DUNG

On the occasion of the 60th anniversary of the founding of the Vietnam People’s Army and the 15th anniversary of National Defense Day, through the Communist Review, I would like to extend my best regards and warmest congratulations to all of our army officers and soldiers.

I hope that our army fulfills all the tasks of building a regular and seasoned revolutionary army which will gradually be modernized to make a worthy contribution to the cause of renovation, to build a strong and prosperous country and firmly defend the Vietnamese socialist Fatherland.

I hope that generations of army officerss and soldiers will constantly strive to make our army forever be worthy of the title "Uncle Ho’s soldiers", and continue to be the heroic people’s army of the Vietnamese heroic people.

My best regards and respect for your determination to prevail.

Hanoi, December 10, 2004

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI VIẾT THỨ 3
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ THE PROCESS OF JOINING
THE WORLD TRADE ORGANIZATION ADVANTAGES
AND DISADVANTAGES WHEN VIETNAM JOINS THE WTO
TÁC GIẢ Luong Van Tu*
NỘI DUNG

The process of negotiation to accede to the WTO

After a long period of preparation, in July 1998, Vietnam entered into the first negotiations to join the WTO.

The WTO was established in 1995 (its predecessor was the General Agreement on Tariff and Trade- GATT). Set up in 1947, GATT dealt mainly with issues relating to goods trade (meaning tariffs). The process of evolution and development of world trade has expanded to many other areas such as services, investment and intellectual property. The WTO meets the needs of expanding trade. It deals not only with goods trade as did GATT, but also services trade (including 11 branches and 155 sub-branches), trade-related investment and trade-related intellectual property. When it was established, the organization included 125 countries and territories. At this time, it boasts a membership of 148, accounting for 85% of global goods trade and 90% of global services trade. In addition, 24 countries including Vietnam are now in negotiations to join the organization. In the near future, the organization will have a membership equal to that of the United Nations (191 member countries). The WTO plays an important role in regulating almost all global trade policies. At present, among ASEAN countries, Vietnam and Laos have not been member of the WTO. Among 21 APEC countries, Russia and Vietnam have not been WTO members and among 38 ASEM members, Vietnam and Laos have not been WTO members.

In November 2001, the WTO opened a new round of negotiation on trade agreements which would liberalize global trade in the areas of goods and services, give preferential treatment to less developed countries, and liberalize of textile and garment trade though the lifting of quotas. That round of negotiation were to be finalised on January 1, 2005 but due to the failure of the Cancun conference, the round of negotions on has to be extended. On August 1, 2004, at a meeting in Geneva, the General Assembly of the WTO adopted a framework agreement and made a plan to complete the new and ambitious round of negotiations in December 2005 (at the Conference of Ministers of Trade and Economics in Hong Kong). Many analysts projected that the Doha round of negotiation might be extended due to conflicting interests among developing and developed countries, unless major concessions were granted.

The 8th Party Congress mapped out policies on expanding foreign relations and actively participating in international and regional organizations. These policies were confirmed at the 9th Party Congress. These policies include bringing into play our internal strengths while making best use of outside resources and actively integrating into the international economy for rapid, effective and sustainable development. These policies were further elaborated in the Political Bureau’s Resolution No 07/NQ-TW on Nov 27, 2001 which addressed integration into the international economy. The Resolution pointed out that we should actively carry out negotiations to join the WTO with suitable conditions and and road map. The process of negotiation should be linked with the renovation process of the country.

Vietnam submitted formal application for joining the WTO in January 1995 and was at that time recognized as an observer of this organization. During the past 10 years, Vietnam has participated in 8 multilateral negotiations and nearly 100 bilateral negotiations with the participation of all ministries, economic branches, the Ministry of Public Security and the Ministry of National Defense. Vietnam has answered more than 2000 questions of members of the Working Group of the WTO on economic and trade policies of Vietnam. We have developed programmes of action to ensure that once Vietnam accedes to the WTO, it can honor its commitments. These programmes are on legislation development, Customs Valuation, Technical Barriers to Trade, Sanitary and Photosanitary Measures (SPS), Trade-related Investment Measures, Import licensing Procedures and Rules of Origin… These negotiations have been the most time-consuming so far. To join ASEAN, it took us 2 years for negotiations. We have conducted 4-year negotiations prior to signing the Agreement on Trade with the US. To join the WTO, we have to work with the Working Groups of nearly 40 member countries on multi-lateral commitments relating to the 16 main agreements of the WTO and principles recorded in 30,000 pages. We also need to hold negotiations to open a services markets with more than 20 countries-members of the WTO.

The negotiations to join the WTO are different from other negotiations. Other negotiations are carried out to insure resulting mutual benefit. If our counterpart reserve for us this area, we will reserve for it the other area. The negotiations to join the WTO are one-way negotiations. We must work with the stipulations of the WTO, commitments of new members of the WTO and the demands of other countries within this framework we must negotiate and be persuasive. We have to carry out negotiations in difficult conditions as new members have made big commitments in many areas. The most recent must make still greater higher commitments. For example: Cambodia, a less-developed country- committed to levying an average tariff of below 20% for both industrial and agricultural goods. China had to accept three uncomfortable terms to gain entry to the WTO. However, the Doha round of negotiations is still on-going. Some countries, to a certain extent, make new demands to force new members to open up their labor markets. For example, India is the largest labor exporter in the world, bringing in UD $ 13 billion every year. Vietnam is a market with a population of more than 80 million. It is located in a favorable position. Its political situation is stable. Its growth rate has ranked second in the world for 20 years. Some export products of Vietnam such as coffee, pepper and cashew nuts rank second in the world. Although Vietnam’s export turn-over was US $ 45 billion in 2003, some countries are making very difficult demands on Vietnam saying that Vietnam has great potential in the future. This is why, though many Latin American countries like Colombia, Paraguay, Uruguay and El Salvador do not yet have trade relations with Vietnam, they are still demanding for negotiations.

Advantages and difficulties when Vietnam become a WTO member

+ Advantages:

First, We have put forth unified principles from the Central to local levels to gain early accession to the WTO to ensure that our goods and services will have access to global markets and enjoy preferential and equal treatment. As a member of the WTO, we will have the right to participate in making global trade policies instead of only following trade policies as has always been the case. Our policies must be transparent, stable and predictable, creating favorable conditions for attracting domestic and foreign investment and preventing negative activities in society. The WTO will lift textile quotas on January 1, 2005. If Vietnam is a member of the WTO we will enjoy the benefits of the elimination of the quotas. If there is dispute, such as the tra-basa anti-dumping suit, we will put it to the WTO and we may expect to be treated fairly. Take the case of Brazil. It filed a suit with the WTO protesting the US government’s subsidization of its cotton. The two countries had previously failed to settle the dispute. Brazil forwarded the case to the WTO and won.

Second, by now, all countries and international organizations have supported Vietnam’s early accession into the WTO. We must clearly differentiate between diplomatic assistance and national interests. Several countries want, through negotiations, to force us to open our markets. Completely and without reservation.

Third, through the process of negotiation, the guidance of the Prime Minister is closer, the coordination between ministries and branches is more effective. Members of the negotiating team are sharpening their negotiating skills.

As far as multilateral negotiations are concerned, by the 8th session, the Chairman of the Working Group of the WTO concluded that beginning with the 9th session in December 2004, Vietnam will join the discussion of the Report prepared by the Working Group. This is a important document, manifesting Vietnam’s multilateral commitment to join the WTO.

As far as bilateral negotiations are concerned, we have thus farput forth four offers of goods and services. Our proposed tariffs would be 18% on average in three to five years. Our offers are in 10 branches including business information, banking and financies, distribution, construction and related technical services, tourism, cultural activities and entertainment, transportation, education and 92 sub-branches.

Despite the great being exerted by pressure of all countries, Vietnam has maintained its guiding principle: Vietnam is a developing country still at a quite low level. Our economy is in the transitional period. Thus, the rate at which our markets open must conform to our development and must include a transitional period. Up to now, we have stuck by this principle in our bilateral negotiations with 5 countries. For example, we have concluded negotiations with the EU agreeing to an average tariff of 16% for industrial import goods, 22% for aqua-products, and 24% for agricultural products and services with periods of up to seven years of transition from the time of accession.

Joining the WTO is an important step in the process of integrating into the international economy. It will help all branches of our economy to develop and keep abreast of regional and international development. However, the decisive factor that will bring success to this process is our internal strength, our programme of economic renovation and administrative reform.

+Difficulties;

As we are about to join the WTO, we see that we have many advantages and still a few challenges. Many things need to be done after we become a member of the WTO.

First, we must increase awareness at all levels, and in all branches especially businesses directly affected by stipulations of the WTO which are our are our multilateral and bilateral commitments. At the same time, we have to revise and develop more than 30 laws and ordinances to make them compatible with the agreements on tarrifs, agriculture, industry, investment, trade barriers, import licensing procedure, quarantine etc.. These demands must be met and still conform to Vietnam’s socialist-oriented market economy.

Second, we must build a transparent, stable and predictable system of policies, creating favorable conditions for businesses and removing the mechanism of "request and give". We must change the mechanism of managing imports and exports by eliminating the issuance of licenses by line and functional ministries and instituing a licencing program that functions under set laws, technical specifications and other tools which conforms to international practices. As we commit to lower tariffs in joining the WTO, we must change our source of revenue from import taxes to internal revenue and also increase the import and export turnover to make up for the tax reduction.

Third, we must rapidly restructure the economy, bringing into play immediate and long-term advantaged branches. We must concentrate investment in producing export goods with competitive value and quality which meet the market demands in order to enter the world market. Our neighbor, Malaysia, has a population of 25 million. But its export turnover reaches US $ 89 billion. Thailand has 65 million people. Its export turnover in 2003 was US$ 80 billion. Vietnam has a population of 80 million. To achieve the objective "to make the people prosperous, country strong and society equitable, democratic and civilized", we need an export turnover of US $ 100, or four times what it is now.

Fourth, services is an important economic branch. Industrialized countries consider services to be a yardstick of economic development. In the United States, services account for 80% of the GDP while industry accounts for only 18% of its GDP. Its aquaculture and agriculture made up a mere 2%. Services in the EU range from 60-70% depending on each country. In China and Thailand, services account for 50% of their GDP. Meanwhile, our services are decreasing. In 2003, services dropped down to 39% of our GDP. We have to develop this branch rapidly. The State must manage public services. Other services can be open to the participation of businesses from all other economic sectors of Vietnam.

Fifth, we must train a contingent of layers and officers who work on the process of integration so that they can take part in the activities of international organizations including the WTO. They must be able to negotiate in all areas to protect our interests. Businesses are the central force behind the process of integrating into the international economy and joining the WTO. We need to train managers in businesses of all economic sectors as well as a contingent of officers and skilled workers who are fluent in foreign languages.

As an example, Chinese border provinces have a policy that their officials working in trade must speak Vietnamese. The US embassy in Vietnam also stipulates that all embassy staff must learn and speak Vietnamese. Meanwhile, we have not yet paid sufficient attention to the learning of foreign languages to facilitate regional and international integration.

Sixth, to gain access to global markets, we must open our market. Competition will be fierce as most of our businesses are medium and small businesses. The State must have supportive policies that can work within WTO regulations. Assistance will be needed to improve the quality of goods and packaging, develop new products, breaking into new markets and while maintaining old customers, facilitate exports transportation and to provide to staff training.

In the new competitive market, most business will survive and grow. However some will not. Realizing this, we must provide some form of job security to protect laborers and maintain social stability. During the last decade, businesses have focussed on the domestic markets. This is no longer enough. We have to rapidly set up a sales networks of sale to organise the domestic markets before we open our markets for complete integration and gain accession into the WTO.

It is a fact that most WTO member countries including China and some East European countries are rapidly developing economies. Some countries which face difficulties due to their poor management and incomplete reform. If we now take advantage of this period of integration to the WTO and rapidly implement reforms initiated by the Party and Government, we can turn challenges into opportunities and take the economy along the path of development and properity.


* Vice Minister of Trade, Secretary General of the National Committee on International Economic Cooperation
BÀI VIẾT THỨ 4
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ MÃI MÃI XỨNG DANH "BỘ ĐỘI CỤ HỒ"
TÁC GIẢ
NỘI DUNG

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân chăm lo, đùm bọc. Trải qua 60 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự đùm bọc của nhân dân; kế thừa truyền thống quật cường của dân tộc, các thế hệ chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, lập nhiều chiến công hiển hách, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhớ lại cách đây đúng 60 năm, ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội ta đã được thành lập theo Chỉ thị của Bác Hồ, và ngay sau ngày thành lập, mặc dù quân số ít, vũ khí thô sơ đã đánh thắng hai trận đầu oanh liệt ở Phay Khắt, Nà Ngần, rồi nhanh chóng phát triển, ngày càng lớn mạnh với tên gọi Việt Nam Giải phóng quân. Cùng với lực lượng vũ trang địa phương, dân quân tự vệ, Việt Nam Giải phóng quân là lực lượng vũ trang nòng cốt để cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi vẻ vang, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông - Nam Á. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh kéo dài suốt 30 năm, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã liên tiếp đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Nêu cao tinh thần cảnh giác, phát huy truyền thống anh hùng xả thân cứu nước, Quân đội ta đã đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc thân yêu và làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, quân đội vẫn là lực lượng nòng cốt thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh hòa bình, Quân đội ta vẫn thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, chủ động và kiên quyết thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và thành quả cách mạng của nhân dân; đồng thời, phối hợp với các lực lượng thực hiện tốt nhiệm vụ phòng thủ đất nước, bảo vệ an ninh các vùng biển, đảo, biên giới, sẵn sàng chủ động đối phó thắng lợi với các tình huống có thể xẩy ra.

Cùng với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, Quân đội ta tích cực tham gia phòng chống thiên tai, bão lụt, bảo vệ tài sản, tính mạng cho nhà nước và nhân dân. Quân đội hăng hái tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế đạt nhiều thành tích trên tất cả các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong lĩnh vực quốc phòng, tham gia phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các ngành công nghiệp, hậu cần, kỹ thuật, dịch vụ... của quân đội cũng từng bước được đổi mới và phát triển. Quân đội đã sản xuất được nhiều vũ khí, trang bị kỹ thuật, đồ dùng thiết yếu phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; sản xuất nhiều mặt hàng dân dụng phục vụ đời sống xã hội...

Quân đội ta là lực lượng nòng cốt, kết hợp kinh tế với quốc phòng, phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa. Quân đội đã tích cực tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng khu kinh tế mới, khu kinh tế kết hợp với quốc phòng; hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách còn nhiều khó khăn, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; tham gia chương trình trồng rừng, bảo vệ rừng, làm đường giao thông, xây dựng trạm y tế, trường học, xóa mù chữ, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng củng cố chính quyền cơ sở, củng cố quốc phòng, an ninh ở các địa bàn xung yếu.

Quân đội ta không ngừng củng cố, xây dựng lực lượng, nâng cao sức mạnh tổng hợp và sức mạnh chiến đấu theo hướng: cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trong huấn luyện, quân đội bám sát phương châm: cơ bản, thiết thực, vững chắc, sát với yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với biên chế tổ chức, trang bị và cách đánh. Quân đội đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng về chính trị làm cơ sở vững chắc để nâng cao sức mạnh chiến đấu, sức mạnh toàn diện, bảo đảm cho Quân đội ta là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Suốt 60 năm qua, chiến đấu dưới lá cờ vinh quang của Đảng và Bác Hồ, được nhân dân đùm bọc, nuôi dưỡng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tròn sứ mạng là lực lượng nòng cốt của phong trào toàn dân đánh giặc, giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, của sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân và giữ vững ổn định chính trị. Lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sỹ Quân đội ta không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, xây đắp nên truyền thống vẻ vang: "Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"; được nhân dân tin yêu, trao tặng danh hiệu cao quý "Bộ đội Cụ Hồ". Đó là bản chất và truyền thống vẻ vang của Quân đội ta. Bản chất và truyền thống ấy được kết tinh bởi những phẩm chất tuyệt vời như: 1- Trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; 2- Quyết chiến quyết thắng, biết đánh và biết thắng; 3- Gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân như cá với nước, cùng chung một ý chí; 4- Đoàn kết nội bộ, cán bộ, chiến sĩ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thương yêu giúp đỡ nhau, trên dưới đồng lòng thống nhất ý chí và hành động; 5- Kỷ luật tự giác nghiêm minh; 6- Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng bảo vệ của công; 7- Lối sống trong sạch, lành mạnh, có văn hóa, trung thực, khiên tốn, giản dị, lạc quan; 8- Ham học tập, cầu tiến bộ, nhạy cảm, tinh tế trong cuộc sống; 9- Đoàn kết quốc tế thủy chung, chí nghĩa, chí tình...

*

* *

Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta ra sức đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới đất nước đi vào chiều sâu, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phấn đấu đến năm 2020 đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.

Quân đội ta cùng với nhân dân cả nước đang tập trung thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng do Đại hội Đảng đề ra trong những điều kiện có nhiều thời cơ và thuận lợi, nhưng cũng có không ít thách thức. Thách thức lớn nhất đối với an ninh nước ta hiện nay là 4 nguy cơ vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào. Những yếu kém trong quản lý, tổ chức phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và các vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân nếu không kịp thời khắc phục có hiệu quả sẽ là nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp; chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động điên cuồng phản kích chủ nghĩa xã hội và các phong trào cách mạng. Chúng coi Việt Nam là một trong những trọng điểm chống phá, vây hãm, làm cho suy yếu. Chúng thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, ép ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Ở trong nước, số phần tử phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, móc nối với số phần tử cơ hội, bất mãn đưa ra những yêu sách chính trị, kích động chia rẽ, chống phá ta quyết liệt.

Trước những đòi hỏi cao của sự nghiệp đổi mới đất nước, trước những thách thức không nhỏ của thời cuộc, Quân đội ta phát huy hơn nữa bản chất "Bộ đội Cụ Hồ", tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với lý tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, khai thác mọi tiềm năng, tận dụng thời cơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng toàn dân tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện với những nội dung cụ thể là:

1 - Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, làm cho quân đội là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ công cuộc lao động hòa bình của nhân dân, góp phần làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, "phi chính trị hóa quân đội" của các thế lực thù địch.

2 - Tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện và trình độ sẵn sàng chiến đấu. Với phương châm: cơ bản, thiết thực, vững chắc, huấn luyện phải đồng bộ, chuyên sâu, sát với thực tế chiến đấu và đối tượng tác chiến, phù hợp với cách đánh truyền thống Việt Nam, phù hợp với sự phát triển nghệ thuật quân sự và yêu cầu tác chiến trong tương lai.

3 - Tăng cường xây dựng quân đội chính quy, rèn luyện kỹ thuật, bảo đảm cho quân đội thống nhất cả về ý chí và hành động, tạo nên môi trường trong sạch, lành mạnh, có sức mạnh vô địch của một đội quân cách mạng.

4 - Xây dựng quân đội có đời sống vật chất tinh thần tốt, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật; nêu cao tinh thần độc lập , tự chủ, ý thức tự lực, tự cường và thực hành tiết kiệm; tham gia lao động sản xuất với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, làm cho quân đội trở thành lực lượng nòng cốt và là nguồn lực mạnh mẽ trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

Vinh quang thay Quân đội nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng! Tự hào thay biểu tượng "Bộ đội Cụ Hồ" đã tạc vào lịch sử!

Kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 15 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, cả nước hân hoan gửi trọn niềm tin yêu và lòng biết ơn "Bộ đội Cụ Hồ".

BÀI VIẾT THỨ 5
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ LỜI CHÚC MỪNG CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
TÁC GIẢ
NỘI DUNG

Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 15 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, qua Tạp chí Cộng sản tôi thân ái gửi đến toàn thể cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng nhiệt liệt.

Chúc Quân đội ta hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước giàu mạnh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Mong các thế hệ cán bộ, chiến sỹ kế tiếp nhau ra sức phấn đấu làm cho Quân đội ta mãi mãi xứng đáng là "Bộ đội Cụ Hồ”, là Quân đội nhân dân anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Chào thân ái và quyết thắng.

Hà nội ngày 10 tháng 12 năm 2004

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI VIẾT THỨ 6
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ QUÂN ĐỘI TA MÃI MÃI XỨNG ĐÁNG LÀ LỰC LƯỢNG
CHÍNH TRỊ - LỰC LƯỢNG VŨ TRANG SẮC BÉN
CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN
TÁC GIẢ Phạm Văn Trà*
NỘI DUNG

Quân đội nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và giáo dục, là quân đội kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân. Quân đội ta sinh ra từ lực lượng chính trị của quần chúng, từ lực lượng vũ trang cách mạng trong cao trào toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, lớn lên trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Sức mạnh của Quân đội ta bắt nguồn từ sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng, Bác Hồ, sự thương yêu, đùm bọc của nhân dân. Đó là sức mạnh của một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, biết kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng, quật cường, bất khuất của dân tộc. Quân đội ta đã sát cánh cùng với nhân dân, với toàn dân tộc lập nên những thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bác Hồ từng nói: Quân đội ta là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, mới ra đời với gậy tày, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công. Khi mười tuổi Quân đội ta cùng toàn dân giành được thắng lợi lớn ở Điện Biên Phủ, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, được đế quốc Mỹ giúp sức. Quân đội ta anh dũng trong kháng chiến và anh dũng trong hòa bình... Quân đội ta cũng đã góp phần tích cực xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, làm tròn nhiệm vụ của một quân đội cách mạng. Điều đó được kết tinh ở danh hiệu mà đồng bào ở mọi miền đất nước đã tặng cho Quân đội ta là "Bộ đội Cụ Hồ". "Bộ đội Cụ Hồ" một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đi dân nhớ, ở dân thương. "Bộ đội Cụ Hồ" biểu hiện hình mẫu về lối sống đẹp. Đối với đồng chí, đồng đội thì quý trọng nhau như ruột thịt, hết lòng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Cán bộ thương yêu chiến sỹ, chia ngọt sẻ bùi với cấp dưới, chiến sỹ tôn trọng cán bộ. Mọi người sống nhân hậu, mình vì mọi người, sống có lý tưởng, kỷ luật, khiêm tốn, giản dị, trung thực, thẳng thắn, lễ độ, quý trọng tình bạn. "Bộ đội Cụ Hồ" biểu hiện tình sâu nghĩa nặng với nhân dân, coi việc giữ gìn tình đoàn kết quân dân như bảo vệ sự sống của mình. Đó chính là cơ sở, nền tảng tạo nên sức mạnh của quân đội nhân dân và là một di sản, một giá trị tinh thần và đạo đức cao quý, một thành tựu tốt đẹp mà lớp lớp các thế hệ cha anh đã dày công xây dựng trong suốt 60 năm qua.

Ngày nay, đất nước đang đẩy mạnh thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Quân đội ta đã và đang phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của mình, làm nòng cốt củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Cùng với toàn dân và lực lượng công an nhân dân, Quân đội ta đã giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ chế độ, xây dựng đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Tình hình thế giới và khu vực những năm qua diễn biến phức tạp. Các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn đang tồn tại, phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện đa dạng và có những nét mới. Trong đó đang nổi lên mâu thuẫn giữa một bên là thế lực đế quốc hiếu chiến mưu toan thống trị thế giới, với một bên là các quốc gia bảo vệ độc lập dân tộc và các lực lượng đấu tranh bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh, khủng bố, chủ nghĩa bá quyền, áp bức, bất công, bần cùng hóa; đòi tôn trọng luật pháp quốc tế và quyền bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc. Trong vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn có thể xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng. Đồng thời, do sự lộng hành của các thế lực hiếu chiến, nên nguy cơ đe dọa hòa bình, ổn định, chủ quyền của các quốc gia, dân tộc tăng lên. Nhưng, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của thế giới ngày nay.

Việt Nam có vị thế chiến lược địa - chính trị, kinh tế quan trọng trong khu vực và trên thế giới, từng là ngọn cờ tiêu biểu của phong trào giải phóng dân tộc, nay là một nước xã hội chủ nghĩa đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới. Hơn nữa, Việt Nam có một thị trường hơn 80 triệu dân, với tiềm năng khá phong phú, lại là một quốc gia có vùng biển rộng gấp ba đất liền, nằm trên tuyến giao lưu quốc tế giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, vì vậy, luôn được các nước mong muốn tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học - kỹ thuật - công nghệ... Mặt khác, các thế lực thù địch lợi dụng thúc đẩy việc thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta.

Mục tiêu chiến lược của họ là thúc đẩy tự do hóa về kinh tế và chính trị, từ đó từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Với những âm mưu và thủ đoạn thâm độc trong thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", họ chống phá Việt Nam một cách toàn diện, chống phá quyết liệt về chính trị, tư tưởng và tổ chức, sử dụng kinh tế làm mũi nhọn, tạo "đội quân ngầm", sử dụng tình báo làm tham mưu và nòng cốt tiến hành "chiến tranh không có khói súng"; kết hợp bạo loạn chính trị không vũ trang hoặc có vũ trang ở trong nước; thực hành răn đe quân sự để hỗ trợ và thúc đẩy bạo loạn lật đổ. Những âm mưu, thủ đoạn trên quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động sâu sắc đến công cuộc đổi mới xây dựng đất nước và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hoạt động "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch sẽ gia tăng. Các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của chúng vào nước ta sẽ tiếp diễn. Do đó, sẽ đe dọa trực tiếp đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đến sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc ta.

Đất nước ta đang đứng trước cả thời cơ lẫn thách thức. Thách thức lớn đối với nước ta hiện nay là 4 nguy cơ vẫn tồn tại và diễn ra phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào. Những yếu kém trong quản lý, tổ chức phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và các vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân nếu không được kịp thời khắc phục có hiệu quả sẽ là nguy cơ tiềm ẩn đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Cần nhận thức rõ bản chất, mục tiêu của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta không hề thay đổi, nhưng những âm mưu, thủ đoạn chiến lược của chúng đã có sự điều chỉnh. Từ xâm lược bằng bạo lực vũ trang là chính, chuyển sang chống phá bằng bành trướng, xâm lược phi vũ trang, "diễn biến hòa bình" trên các mặt: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống là chính, đồng thời vẫn răn đe bằng quân sự và sẵn sàng tiến hành những cuộc phiêu lưu quân sự dưới mọi hình thức. Cuộc đấu tranh đó lại diễn ra theo một hình thái mới, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa là đối tác, vừa là đối tượng đan xen. Do đó, sức mạnh quốc phòng của đất nước ngày nay phải là tổng thể mọi mặt hoạt động: chính trị, kinh tế, quân sự gắn với an ninh, văn hóa - xã hội (bao gồm cả tâm lý, tư tưởng, lối sống), đối ngoại (bao gồm cả đối ngoại quân sự) nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp. Cho nên, quốc phòng và nhiệm vụ quốc phòng ngày nay phải đáp ứng cả yêu cầu đấu tranh thời bình và thời chiến, cả đối nội và đối ngoại, cả đấu tranh quân sự và đấu tranh phi quân sự. Tuy nhiên, quốc phòng luôn lấy các hoạt động quân sự làm hoạt động phổ biến, kết hợp chặt chẽ với những hoạt động phi quân sự khác, lấy các lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân làm lực lượng nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an nhân dân, lực lượng đối ngoại và các lực lượng khác của toàn dân, đấu tranh giữ vững ổn định chính trị - xã hội để phát triển, đồng thời sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống có thể xảy ra.

Trong quá trình thực hiện cần nắm vững quan điểm cơ bản của Đảng là: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích quốc gia cao nhất. Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; coi sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định, nắm chắc nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, lấy đó làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; lấy ổn định chính trị, củng cố an ninh - quốc phòng vững mạnh làm điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội; kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Như vậy, bảo vệ đất nước và xây dựng đất nước gắn bó chặt chẽ với nhau, xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Nếu chúng ta không có những chủ trương, chính sách đúng, để chăm lo phát triển kinh tế - xã hội đem lại đời sống ngày càng tốt đẹp cho nhân dân lao động, thì đất nước không thể ổn định và phát triển trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, cạnh tranh và đấu tranh ngày nay. Ngược lại, nếu chúng ta không biết bảo vệ ngay trong xây dựng để chệch định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cũng sẽ bị sụp đổ ngay trong hòa bình xây dựng. Cho nên, xây dựng phải biết gắn với bảo vệ, bảo vệ phải nhằm mục đích xây dựng, phát triển tốt hơn. Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ là phòng ngừa mà trước hết phải chăm lo xây dựng, làm cho mình mạnh lên, "Kết hợp chặt chẽ xây dựng và bảo vệ từ trong mỗi con người, mỗi cơ sở; việc gì có lợi cho dân, cho nước, có lợi cho độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa thì phải quyết tâm làm. Mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đối nội, đối ngoại... đều phải nắm vững và thực hiện đúng yêu cầu bảo đảm an ninh trong từng lĩnh vực, từng địa phương thuộc phạm vi mình phụ trách, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu an ninh chung theo quan điểm kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược; gắn phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại; lấy việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước làm nền tảng giữ vững ổn định chính trị, củng cố an ninh, quốc phòng làm điều kiện để giữ vững ổn định và phát triển kinh tế - xã hội" (1). Phải chăm lo xây dựng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc cả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc", phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm nòng cốt, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa trang bị, vũ khí kỹ thuật đi đôi với việc không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới.

Bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ hòa bình để phát triển, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra những tiền đề mới cả về vật chất, kỹ thuật và chính trị, tinh thần cho công cuộc củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ trực tiếp góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, làm cho nền tảng chính trị, tinh thần của xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh công - nông - trí thức ngày càng vững mạnh. Điều đó tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng sức mạnh chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân, từng bước tạo ra một lớp người mới phát triển toàn diện: có văn hóa, trí tuệ, học vấn cao, làm chủ khoa học - công nghệ hiện đại, có tư duy khoa học, năng động, sáng tạo. Đó cũng là nguồn cung cấp nhân lực có chất lượng cao cho việc xây dựng quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân chính quy, hiện đại nhằm thực hiện tốt nhất nhiệm vụ quốc phòng; đồng thời, cũng tạo ra những tiền đề mới cho việc phát triển kỹ thuật quân sự, khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời kỳ mới.

Quân đội nhân dân là lực lượng chính trị - lực lượng vũ trang sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, phải không ngừng xây dựng vững mạnh về mọi mặt đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân thực hiện thắng lợi những yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới; trước hết, phải vững mạnh về chính trị - tư tưởng. Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước; nâng cao trình độ hiểu biết và phát huy bản chất cách mạng, bản sắc dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của quân đội nhân dân, của dân tộc. Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự; đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, huấn luyện bộ đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới. Đồng thời, đấu tranh với những biểu hiện dao động, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, những biểu hiện giáo điều, cơ hội, tư tưởng thực dụng chủ nghĩa, vi phạm pháp luật nhà nước, kỷ luật quân đội, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm truyền thống, bản chất "Bộ đội Cụ Hồ".

Sự vững vàng về chính trị, sự gắn bó của quân đội nhân dân với Đảng, với chính quyền và nhân dân; lòng trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, tinh thần hy sinh chiến đấu vì hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc, là sức mạnh tiến công về chính trị của Quân đội ta, nhằm đập tan mọi âm mưu của các thế lực thù địch hòng "phi chính trị hóa" quân đội, tách quân đội khỏi Đảng, chính quyền và nhân dân, làm xói mòn ưu thế tuyệt đối của quân đội nhân dân về chính trị, tinh thần. Chính vì vậy, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực tư duy sáng tạo, nhạy bén, chủ động xử lý những tình huống phức tạp diễn ra trong hoạt động thực tiễn theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước, đó là một yêu cầu cơ bản và là kết quả phải đạt được của nhiệm vụ xây dựng quân đội nhân dân về chính trị. Sự vững vàng về chính trị của quân đội nhân dân cũng là cơ sở tạo nên sự đoàn kết "quân dân một ý chí", sự gắn bó giữa Đảng, chính quyền Nhà nước với quân đội nhân dân và đó cũng là nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Quân đội ta.

Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, sức mạnh về chính trị, tinh thần của quân đội nhân dân chỉ có thể được biểu hiện rõ nhất khi Quân đội ta đủ khả năng đập tan các cuộc bạo loạn lật đổ và làm nòng cốt cho toàn dân đánh thắng bất kỳ cuộc chiến tranh xâm lược trên quy mô nào và từ đâu đến. Do đó, khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, tuyệt nhiên không được coi nhẹ việc xây dựng tiềm lực, sức mạnh quân sự về mọi mặt. Đồng thời, phải gắn việc xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về mọi mặt với việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Vì vậy, cần tiếp tục chấn chỉnh, ổn định tổ chức, biên chế quân đội cho phù hợp với yêu cầu mới. Chấn chỉnh, kiện toàn các cơ quan của Bộ Quốc phòng theo yêu cầu cải cách hành chính, bảo đảm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng và chỉ huy, quản lý các lực lượng vũ trang. Đổi mới và hoàn thiện tổ chức lực lượng, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, cân đối giữa các cơ quan, đơn vị, giữa các quân chủng, binh chủng, giữa chủ lực và địa phương, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị phù hợp với nhiệm vụ thời bình. Đồng thời, sẵn sàng mở rộng, ứng phó kịp thời và có hiệu quả với mọi tình huống phức tạp khác, kể cả khi các thế lực thù địch tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta bằng vũ khí công nghệ cao. Quá trình thực hiện kiện toàn tổ chức theo kế hoạch phải bảo đảm duy trì sức chiến đấu thường xuyên, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách trong xử lý cụ thể; đồng thời phải kết hợp yêu cầu bảo đảm nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ cơ bản, lâu dài. Trên tinh thần đó, cần đẩy mạnh việc xây dựng quân đội nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Nhà nước; chấp hành điều lệnh, điều lệ, chế độ, chức danh, chức trách, nhiệm vụ của quân đội một cách nghiêm túc. Mỗi cán bộ, chiến sỹ với tư cách là một công dân, mọi ứng xử, mọi hành vi phải tuân thủ theo đúng pháp luật Nhà nước, đó cũng là một yêu cầu cơ bản về nhân cách, phẩm chất đạo đức của mỗi quân nhân.

Sáu mươi năm qua, kể từ khi ra đời đến nay, phát huy những truyền thống tốt đẹp, Quân đội ta đã tạo dựng nên "tài sản" tinh thần vô cùng quý giá, đó là mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, được đồng bào các dân tộc tin yêu, đùm bọc, chăm sóc. Gắn bó và thương yêu nhân dân, tôn trọng và góp phần tích cực xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ hệ thống chính trị, bảo vệ thành quả cách mạng, là chức năng thuộc bản chất của Quân đội ta. Bản chất đó đã làm cho Quân đội ta được sống trong lòng dân, được dân tin, dân quý, dân yêu, nhờ đó mà không ngừng lớn mạnh, trưởng thành như ngày nay. Phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của mình trong giai đoạn mới của cách mạng, Quân đội ta phải tăng cường hơn nữa sự gắn bó mật thiết với nhân dân, nêu cao ý thức trách nhiệm, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, tăng cường tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước, nhất là chính sách về dân tộc, tôn giáo... Đồng thời, góp phần tích cực làm cho đồng bào các dân tộc nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, nhất là đối với nhân dân các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo. Song, phải bằng những hành động thiết thực như: tích cực góp phần giúp đỡ nhân dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, phòng bệnh, chữa bệnh; giúp dân phòng chống lụt bão, thiên tai, xây dựng kết cấu hạ tầng, các công trình phúc lợi, quốc phòng, an ninh. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, các đoàn thể, các ngành, các cấp để làm tốt công tác vận động nhân dân trên từng địa bàn, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, phòng chống có hiệu quả những âm mưu, thủ đoạn trong việc thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.

Cán bộ, chiến sỹ nêu cao ý thức tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, tích cực tham gia lao động sản xuất cải thiện đời sống của đơn vị góp phần giảm bớt đóng góp của nhân dân. Dù trong điều kiện khó khăn, gian khổ nào, cho dù đó là vùng đất cằn sỏi đá, hay các quần đảo san hô, ở đâu có bộ đội, ở đó có lời ca tiếng hát, có tăng gia sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Với tiềm năng hiện có và trình độ tổ chức, kỷ luật của mình, Quân đội ta có khả năng lao động sản xuất không chỉ để cải thiện đời sống, mà còn phải nâng cao cơ sở vật chất, khả năng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và góp phần phát triển kinh tế, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Với truyền thống "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội", trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, Quân đội nhân dân Việt Nam nguyện ra sức rèn luyện, học tập, không ngừng nâng cao trình độ năng lực mọi mặt, hoàn thành tốt chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, mãi mãi xứng đáng là một lực lượng chính trị - lực lượng vũ trang sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân.


*. Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
(1) Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr 15-16
BÀI VIẾT THỨ 7
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ HAI THÀNH CÔNG LỚN CỦA ĐẢNG TA
TRONG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI
TÁC GIẢ Lê Xuân Lựu *
NỘI DUNG

Trong 60 năm xây dựng và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, viết nên trang sử oai hùng cho dân tộc và ngày nay đang cùng toàn dân chống âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của kẻ thù, đồng thời, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược.

Sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trước đây cũng như sức mạnh của nó ngày nay đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là quân đội của nhân dân do Đảng ta lãnh đạo và giáo dục. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội ta được thực hiện theo nguyên tắc: tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện; trong đó, nổi lên hai vấn đề cơ bản là đường lối quân sự, lãnh đạo xây dựng nghệ thuật quân sự Việt Nam và xây dựng quân đội về chính trị.

1 - Trong hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đế quốc Mỹ là kẻ có tiềm lực kinh tế, quân sự đồ sộ, khoa học kỹ thuật hiện đại, có quân đội nhà nghề "được trang bị tận răng" và được huấn luyện chính quy.

Quy luật của chiến tranh là mạnh được yếu thua. Bằng trí tuệ của mình, Đảng ta đã lãnh đạo quân và dân ta biết dùng cái ít, cái nhỏ, cái thô sơ tạo thành sức mạnh to lớn để đánh thắng kẻ thù. Quan điểm cơ bản của Đảng ta về tạo ra sức mạnh trong chiến tranh là phát huy sức mạnh tổng hợp. Sức mạnh đó được khai thác từ tinh thần yêu nước của nhân dân, từ tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống xâm lược và từ sức mạnh của thời đại. Đó là sức mạnh của hai ngọn cờ, sức mạnh của dân tộc và thời đại, của ba dòng thác cách mạng.

Trên cơ sở quan điểm, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ta đã đề ra đường lối chiến tranh nhân dân, do toàn dân tiến hành, đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, tư tưởng. Lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Vai trò của mỗi thứ quân có khác nhau, nhưng cho phép kết hợp được với nhau trong đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, đánh địch khắp nơi, để mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi đường phố là một trận địa.

Sức mạnh của chiến tranh còn là sức mạnh kết hợp thành một hệ thống thống nhất của nhiều yếu tố: con người, vũ khí kỹ thuật, chiến thuật, chính trị, tinh thần, tư tưởng, tổ chức và cách đánh. Quan điểm đấu tranh quân sự đi đôi với đấu tranh chính trị là hình thức bạo lực cơ bản của chiến tranh cách mạng. Kết hợp chặt chẽ hai hình thức đấu tranh đó là quy luật cơ bản của phương pháp cách mạng Việt Nam. Tất cả các hình thức và phương pháp đấu tranh của chiến tranh nhân dân là một hệ thống thống nhất, có quan hệ hữu cơ với nhau tạo thành sức mạnh to lớn, tạo điều kiện để thực hiện chiến lược tiến công toàn diện kẻ thù.

Tư tưởng chiến lược tiến công bắt nguồn từ tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân, từ truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc, từ ưu thế về chính trị, tinh thần của cuộc chiến tranh chính nghĩa, từ khả năng to lớn của chiến tranh nhân dân do đường lối chính trị, quân sự, phương pháp cách mạng đúng đắn của Đảng và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân mang lại. Nói tiến công là nói về mặt chiến lược, còn về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật thì không phải không có phòng ngự vì không có một cuộc chiến tranh nào có thể bỏ qua hình thức tác chiến này và có lúc phòng ngự là để tạo điều kiện cho phản công và tiến công.

Chiến tranh là kế tục của chính trị bằng biện pháp khác, biện pháp bạo lực. Cho nên, đường lối chính trị, đường lối quân sự, phương pháp cách mạng, phương thức tiến hành chiến tranh đóng vai trò chỉ đạo nghệ thuật quân sự. Vì thế, nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân. Nó bắt nguồn từ quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp và tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng.

Nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ dựa vào những kinh nghiệm của thời kỳ chống thực dân Pháp được phát triển cao hơn trong điều kiện lịch sử mới. Đó là nghệ thuật luôn luôn hãm địch vào thế bị động, vào thế chiến lược khốn quẫn, lúng túng giữa tiến công và phòng ngự. Do đó, đội quân của địch đông mà hóa ít, mạnh mà hóa yếu, có vũ khí hiện đại và phương tiện cơ động cao nhưng hiệu quả chiến đấu thấp, có sức mạnh mà không phát huy được. Trái lại, lực lượng vũ trang của ta tuy ít về quân số, kém về trang bị, nhưng luôn luôn đánh địch trên thế mạnh, hiệu suất chiến đấu cao, hiệu quả chiến dịch, chiến lược lớn.

Nghệ thuật quân sự của ta là nghệ thuật biết tạo thế làm chủ để tiến công địch. Trong một cuộc chiến tranh không phân tuyến, lực lượng vũ trang của ta có mặt ở khắp nơi và đánh địch ở cả ba vùng chiến lược tuỳ theo tương quan lực lượng giữa ta và địch. Lực lượng vũ trang của ta luôn luôn tạo thế, tạo lực, thường xuyên uy hiếp các vùng trọng yếu, các trung tâm đầu não của địch bằng những trận đánh sâu, đánh hiểm, bằng các lực lượng tinh nhuệ, làm cho cơ quan chỉ huy của địch luôn luôn không được yên ổn, thường xuyên bị uy hiếp.

Nghệ thuật quân sự của ta là nghệ thuật kết hợp 6 phương thức tác chiến chiến lược và ba loại hình tác chiến: tiến công, phản công và phòng ngự, lấy phản công và tiến công là chính để đánh bại địch; là nghệ thuật kết hợp ba thứ quân, kết hợp đánh lớn, đánh vừa và nhỏ, đánh thường xuyên, đánh thành đợt, đánh từng trận, đánh bồi, đánh nhồi, đánh theo chiến dịch, đánh độc lập từng binh chủng, đánh hiệp đồng binh chủng, đánh bằng vũ khí thô sơ và hiện đại, đánh bằng trang bị của ta và trang bị lấy được của địch.

Nghệ thuật quân sự của ta coi trọng đánh vào những vị trí, cơ sở trọng yếu của địch bằng những trận đánh ít lực lượng; đồng thời, coi trọng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô vừa và lớn để tiêu diệt những đơn vị chủ lực tinh nhuệ của địch.

Trong chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, bảo vệ hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nghệ thuật quân sự của ta là tiến công tiêu diệt địch và chủ động phòng, tránh để hạn chế những tổn thất về người và của; là chủ động nắm quy luật của địch, dự đoán các hướng tiến công của chúng, chủ động tạo thế trận để đánh trả và phòng, tránh có hiệu quả; là kết hợp lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động, thiết lập thế trận liên hoàn các lực lượng phòng không của ba thứ quân, tạo thành lưới lửa dày đặc, nhiều tầng để đánh quân địch; là kết hợp đánh địch với bảo vệ giao thông vận tải để bảo đảm cho việc cung cấp nhu cầu chiến đấu ở miền Nam. Do vậy, không phải chỉ có lực lượng không quân, tên lửa, pháo cao xạ mà cả đến súng trường của dân quân đều có thể bắn rơi máy bay và bắt giặc lái.

Nghệ thuật tác chiến phòng không đã phát triển thành những chiến dịch ở các hướng trọng điểm, nhất là các chiến dịch đập tan các cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng.

Nghệ thuật quân sự của ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chẳng những đã đưa quân và dân ta giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống hai tên đế quốc hùng mạnh, mà còn là một đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận quân sự của chiến tranh cách mạng. Ngày nay, Đảng ta đang lãnh đạo nghiên cứu phát triển nó lên một đỉnh cao mới để sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược với mọi cách đánh mà kẻ địch có thể gây ra.

2 - Đảng lãnh đạo, xây dựng quân đội trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, nhưng lấy xây dựng chính trị làm nền tảng cho việc xây dựng sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Để xây dựng quân đội về chính trị, Đảng đã lãnh đạo xây dựng, giáo dục các vấn đề chủ yếu sau đây:

a - Xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc cho quân đội

Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của giai cấp tổ chức ra nó và lãnh đạo nó. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đã cùng nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng ta lãnh đạo, cho nên Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân của giai cấp công nhân; đồng thời, là đội quân của nhân dân các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân dân ta thống nhất làm một, hợp thành bản chất cách mạng của Quân đội ta. Việc xác định được bản chất giai cấp này sẽ giúp cho việc xây dựng quân đội có phương hướng chính trị, giai cấp rõ ràng làm nền tảng cho xây dựng sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, bản chất giai cấp công nhân là cốt lõi, là nền tảng, là quyết định. Vì rằng, việc phát huy tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội cũng phải dựa trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp công nhân đưa lại tính khoa học cho việc xây dựng và phát huy tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội. Việc xây dựng, phát huy tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội làm cho bản chất giai cấp công nhân thêm phong phú và hài hòa với truyền thống yêu nước bất khuất và các truyền thống văn hóa tốt đẹp khác của dân tộc.

b - Chăm lo giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho quân đội

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, giai cấp tiên tiến nhất trong thời đại ngày nay, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, là vũ khí lý luận, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, của Quân đội ta. Nó trang bị cho quân đội thế giới quan cách mạng, phương pháp luận khoa học để có thể xem xét, đánh giá và giải quyết đúng đắn công việc và hoạt động thực tiễn phù hợp với quy luật.

Quán triệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho quân đội là quán triệt bản chất cách mạng và khoa học của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, làm cho nó trở thành hệ tư tưởng thống trị trong Quân đội ta, tạo cơ sở để quân đội tiếp thu và thực hiện đúng đắn, sáng tạo đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ mà quân đội được giao, tạo ra năng lực để quân đội hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Xây dựng quân đội về chính trị là chăm lo giáo dục quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của quân đội, lấy nó làm nhiệm vụ trung tâm của công tác giáo dục, đồng thời, chăm lo giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử quân đội.

Trên cơ sở những nội dung giáo dục trên, Đảng ta đã xây dựng cho quân đội mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lập trường kiên định chống mọi kẻ thù xâm lược; xây dựng tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc, lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, với nhân dân, với sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng tinh thần triệt để chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước, mệnh lệnh của người chỉ huy, đoàn kết thống nhất nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế, tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, vượt qua mọi ác liệt của chiến tranh, mọi thử thách của bão táp cách mạng, kiên quyết đấu tranh hoàn thành sự nghiệp cách mạng.

c - Chăm lo xây dựng đoàn kết nội bộ quân đội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Đoàn kết nội bộ quân đội là yếu tố tạo thành sức mạnh và là nguồn gốc mọi chiến thắng của Quân đội ta. Tình đoàn kết gắn bó keo sơn trong Quân đội ta được xây dựng trên cơ sở quán triệt đường lối cách mạng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, từ đó vạch rõ cán bộ, chiến sỹ trong quân đội đều là chủ thể của sự nghiệp quân sự, bình đẳng về chính trị và nhân cách.

Tình đoàn kết được xây dựng trên cơ sở quán triệt và thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ. Quân đội ta là một tổ chức quân sự có nguyên tắc tập trung nghiêm ngặt "quân lệnh như sơn", nhưng cũng là một tổ chức cách mạng có dân chủ rộng để phát huy trí tuệ của mọi người vào sự nghiệp quân sự. Dân chủ là nền tảng của tập trung. Dân chủ có rộng thì mới có kỷ luật nghiêm và kỷ luật nghiêm là điều kiện bảo đảm cho dân chủ rộng.

Tình đoàn kết còn được xây dựng thông qua việc tự giác thực hiện phê bình và tự phê bình trong quân đội. Tự giác phê bình và tự phê bình, nhìn thẳng vào sự thật, vạch ra ưu điểm để phát huy, khuyết điểm để khắc phục. Nhờ phê bình và tự phê bình mà cá nhân và đơn vị ngày càng hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn, tình đoàn kết, thống nhất nội bộ ngày càng chặt chẽ.

Nhờ xây dựng đoàn kết nội bộ mà mối quan hệ giữa cán bộ với cán bộ, cán bộ với chiến sỹ, cấp trên với cấp dưới, chiến sỹ với nhau là mối quan hệ đồng chí, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, thương yêu nhau như ruột thịt. Mọi người chăm lo cho nhau về đời sống vật chất và tinh thần, dành thuận lợi cho nhau, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ. Nhờ vậy mà cuộc sống trong đại gia đình quân đội dù ở tiền tuyến hay ở hậu phương, thời bình hay thời chiến đều chứa chan tình đồng chí, đồng đội, đùm bọc lẫn nhau, giúp nhau để cùng nhau tiến bộ.

d - Chăm lo xây dựng tình đoàn kết quân dân

Tình đoàn kết quân dân được xây dựng trên cơ sở giáo dục quán triệt cho quân đội hiểu rõ, họ từ nhân dân mà ra, là con em của các dân tộc trên đất nước Việt Nam tập hợp lại dưới ngọn cờ cứu nước, cứu dân do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, là đội quân của dân, do dân và vì dân. Vì vậy, Quân đội ta phải trung với nước, hiếu với dân, vì nhân dân mà hy sinh chiến đấu.

Quân đội lấy lòng dân làm điểm tựa và một khi được nhân dân đùm bọc thì khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Đoàn kết gắn bó với nhân dân, cùng với nhân dân chiến đấu chống kẻ thù xâm lược là mục tiêu lý tưởng, là vấn đề thuộc bản chất của cán bộ và chiến sỹ ta nên không một ai được vi phạm.

Nhờ xây dựng được tình đoàn kết chiến đấu đó mà quân đội hết lòng thương yêu dân, quý trọng dân, bảo vệ dân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, giúp dân tăng gia sản xuất nâng cao đời sống của nhân dân, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Quân đội không được đụng đến cái kim, sợi chỉ của dân nên được dân tin, dân yêu, dân phục, chưa đến thì dân mong, khi đi thì dân nhớ và dân trìu mến gọi Quân đội ta là: "Bộ đội Cụ Hồ".

Nhân dân hết lòng săn sóc nuôi dưỡng quân đội, giúp đỡ và sát cánh cùng quân đội chống kẻ thù xâm lược. Mỗi nơi trú quân, mọi chặng đường hành quân, mỗi trận đánh, từng bước trưởng thành của quân đội đều có công sức của nhân dân đóng góp. Nhân dân là "tường đồng vách sắt" che chở cho quân đội và sức mạnh của nhân dân đã nhân sức mạnh của quân đội lên nhiều lần để chiến thắng kẻ thù.

e - Chăm lo xây dựng tình đoàn kết quốc tế

Đảng ta đã lãnh đạo giáo dục quân đội vừa có lòng yêu nước nồng nàn, vừa có tinh thần quốc tế cao cả đoàn kết với nhân dân và quân đội hai nước anh em Lào và Cam-pu-chia và đoàn kết với nhân dân và quân đội các nước xã hội chủ nghĩa.

Quân đội đã quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Giúp bạn là tự giúp mình", coi sự nghiệp cách mạng của bạn như chính sự nghiệp của mình, coi đoàn kết ba nước Đông Dương là một vấn đề chiến lược của cách mạng cả ba nước, và thường xuyên đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sô-vanh nước lớn. Nhờ vậy, Quân đội ta đã sát cánh cùng quân đội và nhân dân hai nước anh em Lào và Cam-pu-chia cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, giúp họ đánh đuổi kẻ thù xâm lược, bảo vệ độc lập, đập tan âm mưu chia rẽ ba nước Đông Dương để thôn tính.

Nhờ đoàn kết với quân đội các nước xã hội chủ nghĩa mà Quân đội ta đã được giúp đỡ về kinh nghiệm chiến đấu và trang bị, nên sức mạnh tăng lên gấp bội.

g - Chăm lo giáo dục, xây dựng tính nhân văn, lòng nhân đạo của đội quân cách mạng đối với kẻ thù

Với sự nghiệp chính nghĩa của mình, Quân đội ta phải biết đánh vào lòng người bằng công tác binh, địch vận làm tan rã hàng ngũ địch và thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách đầy nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với hàng binh, tù binh và thương binh địch. Bởi vì, hầu hết họ đều là người lao động do bị đầu độc hay vì sinh kế mà phải cầm súng chống lại cách mạng.

*

* *

Nhờ những thành công lớn của Đảng ta trong lãnh đạo, xây dựng quân đội mà Quân đội ta đã có những phẩm chất chính trị, tinh thần, đạo đức, văn hóa cao đẹp tạo nên sức mạnh chiến đấu cao, làm cho Quân đội ta thực sự là một đội quân anh hùng của một dân tộc anh hùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên dương Quân đội ta: "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Lời tuyên dương này là một khái quát cao những phẩm chất tốt đẹp của Quân đội ta và là lời tâm nguyện mãi mãi của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ trong Quân đội ta.

Ngày nay, trong hòa bình, công tác xây dựng quân đội có nhiều thuận lợi mới, nhưng cũng có không ít khó khăn, phức tạp. Mặt trái của nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường đang là môi trường thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân phát triển và hướng con người chạy theo lợi ích cá nhân bằng mọi cách đã tác động tiêu cực đến công cuộc xây dựng phẩm chất chính trị, tinh thần, đạo đức của quân đội. Ý thức được điều ấy, Đảng và Nhà nước ta không ngừng chăm lo cho quân đội, giáo dục và rèn luyện quân đội một cách hệ thống. Trình độ chính trị, văn hóa và bản lĩnh chiến đấu của cán bộ chiến sỹ ngày càng được nâng lên. Với những truyền thống cao đẹp sẵn có, chúng ta tin tưởng rằng nhất định Quân đội ta sẽ khắc phục được những tác động tiêu cực đó và không ngừng phát huy truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.


* Trung tướng, Giáo sư
BÀI VIẾT THỨ 8
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ COMMUNIST REVIEW – Edition No. 24
(Issued in December 15, 2004)
TÁC GIẢ
NỘI DUNG

Marking the 60th anniversary of the Vietnam People’s Army (Dec. 22) and the 15th anniversary of the People’s National Defence Day (Dec. 22)

EDITORIAL: Forever deserving the title "Uncle Ho’s soldier"

The Vietnam People’s Army is a new-styled army of the Vietnamese working class and people. It was organized, led, educated and trained by the Vietnam Communist Party and President Ho Chi Minh and cared for and protected by the people. Over the last 60 years, the army has fulfilled its mission as the core force in national liberation and defence and in building a people’s national defence and maintaining political stability. Army officers and soldiers have promoted their fine revolutionary nature and built their glorious tradition of "Being loyal to the country and Party, filial to the people, and prepared to fight and sacrifice for national independence, freedom and socialism, fulfilling any duty, overcoming any obstacles and defeating any enemy." People called them Uncle Ho’s soldiers, and they have always been in the frontline of the process of national renewal, national construction and defence and the building of rich people, strong country, and fair, democratic and civilised society.

*** Best wishes from General Vo Nguyen Giap

PHAM VAN TRA – Our Army will forever deserve a sharp political and armed force of the Party, State and people

The Vietnam People’s Army was established, led and educated by the Vietnam Communist Party and Uncle Ho. This new-styled army has the nature of the working class. Promoting its tradition of being closely connected to the people, over the last 60 years, the Army has won the people’s trust, protection and care, and has made an important contribution to building and defending the Party, the administration, political system and revolutionary fruits. In the current period, the Army should further strengthen its close connection with the people, highlight its sense of responsibility and realise its functions. It should help the Party and Government disseminate their guidelines, policies and laws to the people to make them aware of hostile forces’ schemes and tricks. The Vietnam People’s Army should accelerate education and training to improve its knowledge and skills and fulfill all functions of a fighting and working army to deserve its role as a sharp political and armed force of the Party, State and people.

NGUYEN PHUC THANH – The National Assembly and the building of the Vietnam People’s Army over the last 60 years

The National Assembly is the highest representative agency of the people and holds supreme power. It has given special concern to national defence and the army. In each revolutionary period, the National Assembly institutionalised tasks relating to national defence and security into laws to gradually complete the legal system in this area. The Army’s history over the last 60 years has been closely connected with parliamentary work. Currently, it is very necessary to strengthen State management over national defence and security. The National Assembly is entitled to institutionalise this task into law, and determine a budget to ensure their enforcement and supervision. In the spirit of national renewal, the Vietnam National Assembly will further and effectively be concerned with national defence and the Army to make it the core force in defending the socialist Vietnamese homeland.

LE XUAN LUU – Two major successes of our Party in Army building

The development and victory of our Army over the past 60 years has been attributed to the leadership of the Vietnam Communist Party. Our Party obtained two major successes in leading the Army. It worked out military guidelines, developed Vietnam’s military arts and strengthened the Army’s political stand. First, the Party has pursued a policy of promoting the people’s integrated strength in the war, combining the regular army, local army and militiamen and guerillas, and fighting the enemy in all military, political, diplomatic, economic, cultural and ideological fields, with a military art to take the initiative to overwhelm the enemy’s important positions and headquarters. Second, under the Party leadership, the Army has strengthened its working class nature, people and national characteristics. The Army has been educated in Marxism – Leninism, Ho Chi Minh’s thought and Party guidelines and policies to strengthen the unity within it, with the people and with the world to consolidate its humanity toward the enemy.

RESEARCH – DISCUSSION

LUONG VAN TU – WTO accession – advantages and obstacles confronting Vietnam after it becomes WTO member

The Vietnam Communist Party, in its 8th National Congress, issued guidelines on the expansion of diplomatic relations and active participation in international and regional organisations. The Party reaffirmed these guidelines in its 9th National Congress. They included making the most of Vietnam’s internal strengths while taking the advantage of external resources and actively integrating in the international economy for rapid, effective and sustainable development. The guidelines were specified in Resolution No. 07/NQ-TW issued by the Political Bureau on Nov. 27, 2001 on international economic integration. The Resolution points out that we should accelerate the negotiation process for WTO accession with logical methods and a realistic roadmap. We should combine negotiation with national comprehensive renewal. Vietnam applied for WTO membership in January 1995. The application was accepted and Vietnam was acknowledged as an observer of the organisation. If we can take the advantages of the integration process and WTO accession, accelerate the Party and Government’s reform process and turn challenges into opportunities, our economy is certain to develop further.

LE TRONG AN – Democracy and the promotion of democracy among the people in the national renewal process

A democratic regime is a political system in which power belongs to the people. Proletarian democracy is an actual democracy for a majority of labouring people. It is a new form of democracy with public ownership of production means as its economic foundation. Over the past 18 years of the national renewal process, Vietnam has obtained major economic, political and social achievements, generating a firm basis for political stabilisation and favourable conditions for democratic promotion. In order to make democracy work better, we should further consolidate the Party’s leading role and fighting strength, and continue administrative reforms to complete the political system and apparatus of a socialist State governed by law. We should review the actual situation, strengthen supervision and monitoring activities of Party officials and members and government officials, and educate people to help them improve their legal knowledge.

TRUONG GIANG LONG – Economic growth and social equity in the current trend of integration

Economic development combined with social equity and progress is the rule, which helps Vietnam actively integrate in the world economy and develop in the renewal process. Vietnam has recorded major successes in the process of national renewal and developing a socialist-oriented market economy, combining economic growth with social equity and progress. People’s lives have changed for the better. Positive changes have been seen in economic restructuring and society. People’s dynamism and creativity have been promoted. In order to develop the economy and combine economic growth with social equity and progress, we should adopt open policies, creating levers to liberate productive forces, consistently implementing policies to develop all economic sectors, bridging the gap between the rich and the poor, and preventing the trend of illegal enrichment.

LE HUY BA – Behaviors and conducts for environment protection and sustainable development

Correct behavior and conduct for sustainable development is the concern of the State and administration at all levels and social organisations in all countries. As a result, people will live longer and develop sustainable resources for the next generation. Behaviour and conduct can be seen in the way we think and act, constraints in national resource protection and sustainable development, attitudes towards the environment and natural resources, correct solutions for global sustainable development, and the transitional period to adopt correct environmental behaviour.

NGO THAO – Stage performance in Vietnam – the actual situation and development trend

Since the renewal process, the State has removed subsidies for all art troupes and as a result, stage performances have fallen into a crisis. In order to restore and develop stage performances in the coming years, the following tasks should be realised. Traditional theatre should review its scripts, music, and performance arts. A major revolution is required to improve the stage environment, theater structure, art guidelines for the performance and actors and actresses. Lecturers and trainers from stage and cinematography schools should be trained and retrained in the country and abroad. At the same time, stage performances must create art to young people’s taste. Stage art should be talented, skilled and beautiful.

REALITY & EXPERIENCES

DANG QUAN THUY – Further promoting the quality of the revolutionary army to deserve the title of a Party’s mainstay at the community level

Over the last 15 years of development, the Vietnam War Veteran Association has affirmed its position as a socio-political organisation and a reliable mainstay for Party committees and authorities at all levels, particularly at the community level. It has created a good image among people and become a cozy nest for war veterans in the country. In order to further promote its role and tradition, in the coming period, the association must make itself stronger and healthier. It should coordinate with the Fatherland Front closer to promote grassroots democracy and construct the great national unity, participate in negotiating community disputes and contribute to political stability and social order.

NGUYEN VAN THANG – Building a defensive area in the 5th military zone – outcomes and major directions in the new situation

The Political Bureau of the 6th Party Central Committee has issued Resolution 02/NQ/TW on national defence tasks in order to realise the strategy on development of military potential and people’s national defence to ensure the success of national construction and defence, and the national renewal and development process. Realising the Resolution, over the last 15 years, provinces and cities within the fifth military zone have obtained important achievements in building themselves into strong defensive areas with the development of political-moral, socio-economic and national defence-security potential.

These provinces and cities have further promoted their successes to meet the requirements of national construction and defence in the new situation.

NGUYEN THI NHIEU – The Vietnam-US Trade Pact: New opportunities and challenges for Vietnam’s trade development and foreign direct investment attraction

The Vietnam-US Trade Pact has exerted positive impacts on Vietnam’s economic development over the last three years since its signing. It has generated new opportunities for exports, and the import of resource technological products and high quality materials for the national industrialisation and modernisation process. It has attracted US direct investment in the development of Vietnam’s socio-economy and institutional and professional capacity building. However, Vietnam has confronted major challenges such as US trade barriers and growing competition. In order to develop exports to the US and attract more US direct investment, Vietnam should adopt new laws and amend existing laws to make them consistent with by-law documents compatible with international laws and commitments in the Vietnam-US Trade Pact. Businesses are required to prepare themselves to operate in the new environment, and develop joint ventures, partnerships, trademarks, national export culture and business culture.

DAO VAN HUNG – Electricity of Vietnam, 50 years of development

Reality has proven the connection between the development of Electricity of Vietnam (EVN) and the national liberation struggle. In the international economic integration process, EVN has broadened relationship with international financial institutions and banks in developed countries, and diversified forms to mobilise funds from domestic sources to invest in the application of technological advances and human resource training to improve its customer services and meet the State’s plan for commercial electricity. EVN has received the most distinguished award from the State, the Gold Star Order. It will further strive to assert its position in order to supply better quality electricity for the national industrialisation and modernisation process.

IDEOLOGICAL ACTIVITIES

NGUYEN XUAN KHOAT – My story

READERS AND THE REVIEW – THE REVIEW AND READERS

*** Heartfelt comments from readers to the Review this year

WORLD: ISSUES – EVENTS

NGUYEN THI HOA – Developing countries and challenges in international economic integration

Integration and how to integrate in the globalisation process has become vital for developing countries. Currently, they are facing many opportunities and challenges, and should realise the challenges to sustainable development to reduce negative impacts of globalisation, and turn potential into development opportunities to positively integrate into the world economy. Developing countries should integrate into the world to strengthen South-South cooperation, and build a new, more equal, fair and logical international economic order to ensure globalisation for all people, including the poor. This process cannot be realised in a day, but requires developing countries to spend time and efforts to cooperate, unite and fulfill their role.

DO DUC DINH – The Philippines: Warning of an economic and financial crisis

After the Asian economic crisis, the Philippines has not accelerated its reform process and as a result, signs of a crisis have emerged. They include a large budget deficit and trade imbalance and debts have risen to an alarming level. Government measures to prevent budget deficit have appeared ineffective. The banking system has been weak and not reformed. Businesses have operated ineffectively, foreign investment has fallen sharply and corruption prevails. The Philippines Government has taken efforts to get rid of these problems. It is a lesson for Vietnam to take immediate preventive measures after witnessing the negative signs to ensure national economic sustainable development.

THEORETICAL – PRACTICAL ACTIVITIES

*** Conference on implementation of the National Assembly’s Resolution on budget and financial tasks in 2005.

BÀI VIẾT THỨ 9
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ TIẾN TRÌNH GIA NHẬP
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
VÀ NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN
KHI VIỆT NAM TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN CỦA WTO
TÁC GIẢ Lương Văn Tự *
NỘI DUNG

1 - Tình hình đàm phán gia nhập WTO

Sau một thời gian dài chuẩn bị, tháng 7-1998, Việt Nam bắt đầu tiến hành phiên đàm phán gia nhập WTO đầu tiên.

WTO ra đời năm 1995 (tiền thân của tổ chức này là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT). Được thành lập năm 1947, GATT chỉ giải quyết các vấn đề liên quan đến thương mại hàng hóa (tức thuế quan). Quá trình vận động và phát triển của thương mại thế giới đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực, như: dịch vụ và đầu tư, sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại... WTO đã đáp ứng được khái niệm mở rộng của thương mại, bao gồm: thương mại hàng hóa (như GATT đã đề cập); thương mại dịch vụ (bao gồm 11 ngành và 155 phân ngành); đầu tư liên quan tới thương mại; sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại. Khi mới thành lập, tổ chức này có 125 nước và vùng lãnh thổ tham gia, đến nay đã có 148 thành viên, chiếm 85% thương mại hàng hóa và 90% thương mại dịch vụ toàn cầu. Ngoài ra còn có 24 nước, trong đó có Việt Nam, đang trong quá trình đàm phán để gia nhập. Trong tương lai gần, tổ chức này sẽ có số thành viên bằng số thành viên của Liên hợp quốc (191 nước). WTO giữ vị trí quan trọng, điều tiết hầu hết các chính sách thương mại toàn cầu. Hiện nay, trong ASEAN chỉ còn Việt Nam và Lào chưa phải là thành viên của WTO; trong số 21 nền kinh tế APEC chỉ còn Nga và Việt Nam và trong số 38 thành viên ASEM chỉ còn Việt Nam và Lào chưa phải là thành viên của WTO.

Tháng 11-2001, WTO phát động vòng đàm phán mới với mục tiêu tự do hóa thương mại toàn cầu trong tất cả các lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ và thực hiện các ưu đãi cho các nước kém phát triển; tự do hóa ngành dệt may thông qua việc bỏ hạn ngạch và quy định lộ trình kết thúc đàm phán là vào ngày 1-1-2005. Do thất bại của hội nghị Can-cun, lộ trình đã phải lùi lại. Ngày 1-8-2004, trong cuộc họp ở Giơ-ne-vơ, Đại hội đồng WTO đã thông qua được Hiệp định khung và đề ra chương trình cố gắng kết thúc vòng đàm phán mới, đầy tham vọng, vào tháng 12-2005 (tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế thương mại ở Hồng Công). Nhiều nhà phân tích dự đoán, vòng đàm phán Đô-ha có thể bị kéo dài do mâu thuẫn lợi ích giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển, trừ phi có sự nhượng bộ lớn...

Đại hội VIII của Đảng đã đề ra đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực. Đường lối này tiếp tục được Đảng ta khẳng định tại Đại hội IX. Đó là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Những đường lối này đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 07/NQ-TW, ngày 27-11-2001, của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết chỉ rõ rằng, chúng ta cần tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập WTO theo các phương án và lộ trình hợp lý... Gắn kết quá trình đàm phán với quá trình đổi mới mọi mặt ở trong nước.

Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO vào tháng 1-1995; đã được tiếp nhận và được công nhận là quan sát viên của tổ chức này. Sau 10 năm, trải qua 8 phiên đàm phán đa phương và gần 100 cuộc đàm phán song phương với sự tham gia của tất cả các bộ, ngành kinh tế, bộ, ngành tổng hợp, Văn phòng Quốc hội, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, Việt Nam đã trả lời trên 2 000 câu hỏi của các thành viên Ban công tác WTO về chính sách kinh tế thương mại của Việt Nam. Chúng ta phải xây dựng các chương trình hành động để bảo đảm khi gia nhập có thể thực hiện các cam kết của mình, như: Chương trình xây dựng pháp luật, Chương trình thực hiện Hiệp định trị giá Hải quan (CVA), Chương trình thực hiện Hiệp định về các rào cản kỹ thuật (TBT), Chương trình thực hiện Hiệp định về đầu tư (Trims), Chương trình thực hiện Hiệp định về sở hữu trí tuệ (Trips), Chương trình thực hiện Hiệp định về kiểm dịch động, thực vật (SPS), Chương trình thực hiện Hiệp định kiểm tra trước khi xếp hàng (PSI), Thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP) và Quy tắc xuất xứ "ROO" v.v... Đây là cuộc đàm phán thương mại dài nhất từ trước tới nay. Để gia nhập ASEAN, chúng ta chỉ mất khoảng 2 năm đàm phán; Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ chỉ mất khoảng 4 năm đàm phán. Để gia nhập WTO, chúng ta vừa phải đàm phán với Ban công tác của gần 40 nước thành viên về các cam kết đa phương liên quan đến 16 hiệp định chính của WTO và các quy tắc chứa đựng trong 30 000 trang, đồng thời vừa phải đàm phán mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ với trên 20 thành viên của WTO.

Cuộc đàm phán gia nhập WTO khác với tất cả các cuộc đàm phán khác. Các cuộc đàm phán khác là đàm phán "có đi, có lại", đối tác dành cho ta lĩnh vực này thì ta dành cho họ lĩnh vực khác. Còn đàm phán để gia nhập WTO là đàm phán một chiều. Chúng ta phải căn cứ vào quy định của WTO, cam kết của các nước mới gia nhập và yêu cầu của các nước để thương lượng, thuyết phục. Chúng ta tiến hành đàm phán trong điều kiện rất khó khăn, do các nước mới gia nhập cam kết rất cao và càng gia nhập sau, cam kết phải càng cao hơn các nước trước. Ví dụ, Cam-pu-chia, một nước kém phát triển, đã cam kết mức thuế trung bình dưới 20% cho cả hàng công nghiệp và hàng nông nghiệp. Trung Quốc phải chấp nhận 3 điều kiện bị phân biệt đối xử để gia nhập. Bên cạnh đó, vòng đàm phán Đô-ha tuy có trở ngại nhưng vẫn tiến triển. Một số nước, nhiều ít khác nhau, đã lấy những yêu cầu đàm phán mới để ép các nước mới gia nhập phải mở cửa thị trường lao động rộng hơn. Ví dụ, Ấn Độ là nước xuất khẩu lao động đứng đầu thế giới, mỗi năm thu về cho nền kinh tế 13 tỉ USD. Ngoài ra, Việt Nam là một thị trường với trên 80 triệu dân, có vị trí thuận lợi, ổn định chính trị, có tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai thế giới trong 20 năm liền; một số mặt hàng xuất khẩu như cà phê, đứng thứ hai, thứ ba thế giới, hạt tiêu và hạt điều đứng thứ hai thế giới, nên mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu khác của ta mới đạt khoảng 45 tỉ USD (năm 2003), nhưng các nước vẫn đưa ra yêu cầu cao, với lý do tiềm lực của ta trong tương lai lớn. Chính vì thế, có nhiều nước Mỹ La-tinh, như Cô-lôm-bi-a, Pa-ra-guay, U-ru-goay, En-xan-va-đo, mặc dù chưa có quan hệ buôn bán với ta, nhưng vẫn có yêu cầu đàm phán.

2 - Những thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO

+ Về thuận lợi:

Thứ nhất, chúng ta đã có chủ trương thống nhất từ Trung ương đến địa phương là, cần sớm gia nhập WTO để có thị trường toàn cầu cho hàng hóa và dịch vụ của ta; để hàng hóa và dịch vụ của ta được hưởng ưu đãi và đối xử công bằng hơn; để ta được quyền tham gia vào các chính sách thương mại toàn cầu, chứ không phải chỉ chạy theo như lâu nay; để luật pháp và chính sách của ta minh bạch, ổn định, dễ dự đoán, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, hạn chế các tiêu cực trong xã hội. WTO sẽ bỏ hạn ngạch dệt may vào ngày 1-1-2005, do vậy, nếu là thành viên, ta sẽ được hưởng quy chế này, và khi xảy ra tranh chấp, như các vụ chống bán phá giá, chống trợ cấp tôm, cá tra, cá ba sa, xe đạp, dày dép... chúng ta được quyền đưa ra WTO và sẽ được giải quyết công bằng hơn. Ví dụ, Bra-xin kiện Hoa Kỳ trợ cấp bông; hai nước không giải quyết được, đưa lên WTO, Bra-xin đã thắng.

Thứ hai, cho đến nay, tất cả các nước và các tổ chức quốc tế đều ủng hộ Việt Nam sớm gia nhập WTO. Chúng ta cũng cần phân biệt giữa ủng hộ về mặt ngoại giao với quyền lợi dân tộc. Không ít nước muốn thông qua cuộc đàm phán này để ép chúng ta mở cửa thị trường tối đa cho họ.

Thứ ba, qua tiến trình đàm phán, sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ sát hơn, sự phối hợp giữa các bộ, ngành chặt chẽ hơn. Các thành viên của Đoàn đàm phán, qua đào tạo và cọ xát cũng trưởng thành hơn.

Về đàm phán đa phương, đến phiên thứ 8, ông Chủ tịch Ban công tác của WTO đã kết luận, từ phiên thứ 9 (tháng 12-2004), Việt Nam sẽ chuyển sang thảo luận Báo cáo của Ban công tác. Đây là tài liệu quan trọng, thể hiện sự cam kết đa phương của Việt Nam để gia nhập WTO.

Về đàm phán song phương, đến nay chúng ta đã đưa ra 4 bản chào về hàng hóa và dịch vụ. Mức thuế chúng ta chào, trung bình là 18% với lộ trình 3 - 5 năm dịch vụ. Chúng ta đã chào 10 ngành, gồm dịch vụ kinh doanh, dịch vụ thông tin, dịch vụ ngân hàng và tài chính, dịch vụ phân phối, dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật có liên quan, dịch vụ y tế và xã hội, dịch vụ du lịch, dịch vụ văn hóa và giải trí, dịch vụ vận tải, dịch vụ giáo dục, và 92 phân ngành.

Mặc dù bị sức ép rất lớn của tất cả các nước, chúng ta vẫn kiên trì nguyên tắc: Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, nên mức độ mở cửa thị trường phải phù hợp và có thời kỳ quá độ. Cho đến nay, chúng ta đã kết thúc đàm phán song phương với 5 nước và có thể sẽ kết thúc thêm với một số nước, nhưng vẫn giữ được nguyên tắc này. Ví dụ với EU, chúng ta kết thúc đàm phán song phương với mức thuế nhập khẩu hàng công nghiệp trung bình là 16%, thủy sản: 22%, nông sản: 24% và dịch vụ thời kỳ chuyển đổi cao nhất là 7 năm kể từ khi gia nhập.

Gia nhập WTO là bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Nó có tác dụng thúc đẩy các ngành kinh tế của ta phát triển từng bước, theo kịp với sự phát triển của khu vực và thế giới. Song, yếu tố quyết định sự thành công của tiến trình gia nhập này vẫn là nội lực, là chương trình cải cách kinh tế và cải cách hành chính của chúng ta.

+ Về khó khăn:

Việc gia nhập WTO tạo cho ta những thuận lợi, song cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức, nhiều công việc phải làm khi gia nhập và sau khi đã trở thành thành viên của WTO.

Thứ nhất, phải tăng cường công tác tuyên truyền để các cấp, các ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp, hiểu được các quy định của WTO và những cam kết đa phương, song phương. Đồng thời, phải sửa đổi và xây dựng mới trên 30 luật và pháp lệnh, để cho những luật và pháp lệnh này phù hợp với các hiệp định về thuế quan, nông nghiệp, công nghiệp, đầu tư; hiệp định về các rào cản thương mại, thủ tục cấp phép nhập khẩu, kiểm dịch động, thực vật v.v... Yêu cầu này cũng phù hợp với yêu cầu cải cách nền kinh tế và cải cách hệ thống pháp luật cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, phải xây dựng một hệ thống chính sách minh bạch, ổn định dễ dự đoán, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp để xóa cơ chế "xin - cho"; chuyển cơ chế điều hành xuất nhập khẩu của các bộ tổng hợp và các bộ chuyên ngành từ điều hành trực tiếp bằng cấp phép, định lượng sang điều hành gián tiếp bằng luật, tiêu chuẩn kỹ thuật và các công cụ khác, phù hợp với thông lệ của thương mại thế giới. Chuyển nguồn thu từ thuế nhập khẩu, do chúng ta phải cam kết giảm thuế để hội nhập, sang nguồn thu từ trong nước và tăng kim ngạch xuất nhập khẩu để bù vào mức thuế giảm.

Thứ ba, phải nhanh chóng đổi mới cơ cấu nền kinh tế, phát huy các ngành hàng có lợi thế trước mắt và lâu dài, tập trung đầu tư vào sản xuất hàng xuất khẩu vừa có chất lượng phù hợp với yêu cầu thị trường, vừa có khả năng cạnh tranh để thâm nhập vào thị trường thế giới. Các nước láng giềng của ta như Ma-lai-xi-a, mặc dù chỉ có 25 triệu dân, đã xuất khẩu tới 89 tỉ USD; Thái Lan có 65 triệu dân, xuất khẩu 80 tỉ USD (năm 2003). Việt Nam có trên 80 triệu dân. Để thực hiện được mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh", chúng ta phải xuất khẩu mỗi năm khoảng 100 tỉ USD, tức phải tăng xuất khẩu lên 4 lần trong những năm tới.

Thứ tư, dịch vụ là ngành kinh tế quan trọng. Các nước công nghiệp phát triển coi dịch vụ là thước đo trình độ phát triển kinh tế. Ơở Mỹ, ngành dịch vụ chiếm 80% GDP, trong khi công nghiệp chỉ chiếm 18% GDP, còn ngư nghiệp và nông nghiệp chỉ chiếm 2% GDP. Ngành dịch vụ của EU chiếm từ 60% đến 70% GDP, tùy theo các nước thành viên. Ngành dịch vụ của Trung Quốc và Thái Lan chiếm trên 50% GDP. Trong khi đó, ngành dịch vụ của ta lại có xu hướng giảm. Năm 2003, dịch vụ chỉ còn có trên 39% GDP. Vì vậy, cần nhanh chóng phát triển ngành này. Những lĩnh vực dịch vụ công, Nhà nước phải quản lý, còn những lĩnh vực khác, nên từng bước mở cho các doanh nghiệp của các thành phần khác của Việt Nam tham gia.

Thứ năm, cần nhanh chóng đào tạo đội ngũ luật sư, cán bộ làm công tác hội nhập và tham gia hoạt động trong các tổ chức quốc tế, trong đó có WTO, để tham gia các cuộc đàm phán trên tất cả các lĩnh vực, bảo vệ quyền lợi cho đất nước. Doanh nghiệp là trung tâm của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như gia nhập WTO, nên phải tăng cường đào tạo cán bộ quản lý cho doanh nghiệp ở tất cả các thành phần kinh tế, đồng thời đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân lành nghề về chuyên môn và có ngoại ngữ.

Đơn cử, các tỉnh Trung Quốc có biên giới chung với nước ta đều quy định, lãnh đạo các cấp làm công tác thương mại với Việt Nam phải biết tiếng Việt. Sứ quán Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng quy định, tất cả cán bộ và nhân viên phải học và nói được tiếng Việt. Trong khi đó, việc học tiếng nước ngoài để phục vụ cho công việc hội nhập khu vực và quốc tế chưa được chúng ta coi trọng đúng mức.

Thứ sáu, muốn có thị trường toàn cầu chúng ta phải mở cửa thị trường trong nước. Công cuộc cạnh tranh sẽ quyết liệt, bởi vì đa số doanh nghiệp của ta thuộc loại nhỏ và vừa. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ phù hợp với các quy định của WTO, như: hỗ trợ nâng cao chất lượng hàng hóa và bao bì, hỗ trợ phát triển mặt hàng mới, thị trường mới và giữ vững các thị trường cũ, hỗ trợ cước vận tải hàng xuất khẩu, hỗ trợ đào tạo cán bộ v.v...

Trong cuộc cạnh tranh mới, đa số doanh nghiệp sẽ vươn lên, nhưng một số sẽ dừng lại. Do vậy, vấn đề an sinh phải đặt ra để bảo vệ người lao động, tạo ra sự ổn định xã hội. Trong thời gian qua, chính sách và các doanh nghiệp đã bắt đầu chuyển biến, quan tâm đến thị trường trong nước hơn. Song như vậy vẫn chưa đủ. Chúng ta phải đẩy nhanh việc hình thành các mạng lưới tiêu thụ để chiếm lĩnh thị trường trong nước, trước khi phải mở cửa hoàn toàn để hội nhập và gia nhập WTO.

Thực tế cho thấy, đa số các nước gia nhập WTO đều có nền kinh tế phát triển nhanh, như Trung Quốc và các nước Đông Âu (trừ một vài nước, do quản lý kém và cải cách trong nước không đồng bộ thì gặp khó khăn). Nếu chúng ta tranh thủ được lợi thế của tiến trình hội nhập và gia nhập WTO, đẩy nhanh quá trình cải cách mà Đảng và Chính phủ đã đề ra, biến các thách thức thành thời cơ mới, chắc chắn nền kinh tế của chúng ta sẽ có cơ hội phát triển cao hơn.


* Thứ trưởng Bộ Thương mại, Tổng Thư ký Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế
BÀI VIẾT THỨ 10
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ:
NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC MỚI
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI
VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
CỦA VIỆT NAM
TÁC GIẢ Nguyễn Thị Nhiễu*
NỘI DUNG

1 - Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đối với phát triển thương mại Việt Nam

Sau gần 3 năm thực hiện Hiệp định (1), kim ngạch ngoại thương Việt Nam - Hoa Kỳ đã vượt ngưỡng 5 tỉ USD năm 2003, riêng 9 tháng năm 2004 đã đạt trên 4 tỉ USD, tăng 9,8% so cùng kỳ năm trước, đưa Hoa Kỳ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Điều đó cho thấy những ảnh hưởng tích cực của Hiệp định đối với thương mại Việt Nam.

1.1- Cơ hội mới cho phát triển xuất khẩu của Việt Nam

Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã tạo cơ hội tiếp cận thị trường rất lớn cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là những sản phẩm chế tạo sử dụng nhiều lao động, trước đây chịu mức thuế quan cao tới 40%, nay Việt Nam được hưởng Quy chế tối huệ quốc (MFN), Quy chế thương mại bình thường (NTR) nên mức thuế suất nhập khẩu chỉ còn 3 - 4%. Điều này đã mở đường cho sự tăng trưởng của ngoại thương giữa hai nước trong năm 2002 và tiếp tục từ đó tới nay. Năm 2002, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng 128%, tiếp tục tăng 64,5% và đạt 3,9 tỉ USD. Hoa Kỳ đã củng cố vị trí là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam hiện nay. Sự bùng nổ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã đóng góp tới 90% trong tổng mức tăng trưởng xuất khẩu (10%) năm 2002 và 77% trong tổng mức tăng trưởng xuất khẩu (19%) năm 2003 của Việt Nam. Điều đáng nói ở đây là sự tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam sang Hoa Kỳ. Xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng 502% năm 2002, trong đó những mặt hàng có kim ngạch lớn và mức tăng trưởng xuất khẩu cao phải kể tới: hàng dệt may tăng gần 18 lần (đạt 900 triệu USD), hàng giày dép tăng 70% (đạt 224,8 triệu USD), đồ gỗ tăng 499% (đạt trên 80 triệu USD), hàng phục vụ du lịch tăng 54 lần (đạt 49,5 triệu USD), hàng điện tử tăng 270% (đạt gần 5 triệu USD)... Năm 2003, xuất khẩu các sản phẩm này vẫn tiếp tục tăng trưởng cao: hàng dệt may tăng 119,3% (đạt 1,97 tỉ usd), hàng giày dép tăng 25,7% (đạt 282 triệu USD), hàng điện tử và vi tính tăng 865,3% (đạt 47 triệu USD), đồ gỗ tăng 44,9% (đạt 116,5 triệu USD)... Rõ ràng với mức thu nhập từ xuất khẩu các sản phẩm chế tạo tăng sẽ cho phép Việt Nam đầu tư trở lại để phát triển các sản phẩm này, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tốt hơn.

Với quy mô của một thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới, hàng năm nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ lên tới khoảng 1 200 tỉ USD, thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ hiện cũng chỉ chiếm khoảng 3% kim ngạch nhập khẩu của thị trường này. Có thể nói, nhu cầu của thị trường Mỹ lớn đến mức mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi được phỏng vấn đã trả lời rằng, nỗi lo lắng của họ không phải là ở nhu cầu của thị trường, hay cạnh tranh về giá cả mà chính là ở khả năng cung cấp chỉ có hạn, chưa đáp ứng được các đơn đặt hàng với số lượng lớn của đối tác.

1.2 - Cơ hội tốt cho nhập khẩu các sản phẩm công nghệ nguồn và các nguyên vật liệu chất lượng cao phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đối với nhập khẩu, năm 2002, nhập khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam còn rất khiêm tốn (chỉ bằng khoảng 21% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ) và tăng trưởng nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Hoa Kỳ cũng thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng xuất khẩu (tăng 26% năm 2002). Nhưng tình hình năm 2003 đã có thay đổi lớn: lần đầu tiên, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ Hoa Kỳ đã lớn hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này (nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ tăng 97%, trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ chỉ tăng 64,5%). Cùng với mức tăng trưởng cao hơn của nhập khẩu so với xuất khẩu thì xuất siêu của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2003 đã giảm nhiều và kim ngạch nhập khẩu đã tăng lên bằng 29% kim ngạch xuất khẩu. Giảm xuất siêu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ theo chúng tôi là một sự bảo đảm lành mạnh cho cán cân thương mại giữa hai nước. Hơn nữa, đây cũng là một tín hiệu tốt bởi Hoa Kỳ là thị trường công nghệ nguồn hàng đầu thế giới, nhập khẩu máy móc thiết bị từ Hoa Kỳ sẽ giúp chúng ta có được các trang thiết bị hiện đại phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngoài ra, chúng ta còn có thể nhập khẩu các nguyên liệu cần thiết mà trong nước chưa làm được để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu trở lại Hoa Kỳ như nguyên phụ liệu của ngành dệt may, giày dép, linh kiện điện tử và vi tính, chất dẻo nguyên liệu, hay các vật tư cần thiết phục vụ sản xuất và đời sống như phân bón, sắt thép, tân dược... Điều này được phản ánh trong cơ cấu hàng nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ: năm 2002, các sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm tới 75% tổng trị giá nhập khẩu từ Hoa Kỳ, trong đó chủ yếu là các sản phẩm máy móc và thiết bị giao thông, nguyên liệu và vật tư phục vụ cho sản xuất trong nước và cho xuất khẩu. Nhập khẩu hàng tiêu dùng chỉ chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Năm 2003, tỷ trọng nhập khẩu các sản phẩm chế tạo tăng lên 77% tổng kim ngạch nhập khẩu trong đó nhập khẩu máy móc, thiết bị đạt 709,4 triệu USD, chiếm 62% tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 61,5% so với 2002, nhập khẩu các nguyên liệu và vật tư cần thiết khác đạt 173,7 triệu USD bằng 15% tổng kim ngạch nhập khẩu....

2 - Cơ hội thu hút đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ cho việc phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

Trong khi đầu tư trực tiếp (FDI) của Hoa Kỳ vào Việt Nam từ 1988 đến 1993 (khi lệnh cấm vận chưa bị dỡ bỏ), chỉ đạt 3,3 triệu USD, thì chỉ sau năm đầu tiên (1994) bỏ lệnh cấm vận, con số này đạt trên 266 triệu USD (tức trên 80 lần của toàn bộ 6 năm trước). Như vậy, sau hơn một năm bỏ cấm vận, Hoa Kỳ đã chuyển từ vị trí thứ 11 (năm 1994) lên vị trí thứ 8 trong tổng số trên 50 nước có vốn đầu tư vào Việt Nam và nếu chỉ tính riêng năm 1995 thì Hoa Kỳ đã chuyển lên vị trí thứ 6, chỉ sau Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Xin-ga-po và Thụy Điển. Điều đáng quan tâm là những công ty tầm cỡ thế giới của Hoa Kỳ đã tham gia chính với những dự án, quy mô lớn và có tầm quan trọng đối với tương lai phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Chẳng hạn như Mobil Oil với dự án khí (Mỏ Thanh Long) 55 triệu USD; dự án khu du lịch Non Nước của tập đoàn BBI China Beach Ltd 243 triệu USD...

Có thể nói tốc độ đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng nhanh hơn so với Nhật Bản kể từ khi lệnh cấm vận được bãi bỏ. Nhưng thị phần của Việt Nam trong FDI của Hoa Kỳ thì còn rất nhỏ bé. Các nước và các khu vực khác có lợi thế cạnh tranh hơn so với Việt Nam, thì đó là lợi thế cạnh tranh cấp cao (lợi thế động: vốn lớn, công nghệ hiện đại, người lao động có chuyên môn cao...) còn lợi thế cạnh tranh của Việt Nam lại thuộc cấp thấp (lợi thế tĩnh: tài nguyên tự nhiên không có khả năng tái sinh, tiền lương thấp, tỷ lệ lao động có trình độ tay nghề cao còn hạn chế). Mặt khác, do Nhật Bản và Hoa Kỳ có tiềm lực kinh tế mạnh và có nhiều lợi thế cạnh tranh cấp cao nên thị trường đầu tư của các nước này là trên phạm vi toàn cầu, phù hợp với phạm vi hoạt động rộng lớn của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và để thực hiện liên kết sản xuất theo chiều ngang - trong một ngành sản xuất, như thế hiệu quả kinh tế sẽ lớn hơn. Điều đó khác với các đối tác khác như Đài Loan, Xin-ga-po, Hồng Kông còn kém Hoa Kỳ và Nhật Bản ở nhiều mặt vì thế các tập đoàn lớn của Nhật Bản mới chỉ đầu tư vào Việt Nam với tính chất thăm dò; còn các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ mới chỉ là bước đầu đến thị trường Việt Nam...

Trước Diễn đàn thương mại tại Oa-sinh-tơn, các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã tuyên bố tăng nhanh tốc độ khai thác đầu tư ở Việt Nam và hy vọng Hoa Kỳ sẽ là một trong những đối tác có vốn đầu tư lớn nhất ở thị trường này. Cùng với những dự án đầu tư mới, hiện nay đã xuất hiện một số tập đoàn lớn của Hoa Kỳ ở Việt Nam như tập đoàn Mobil Oil, hãng thang máy Otis, hãng máy bay Boeing, hãng hàng không America Airline, Ngân hàng City Bank...

Tuy đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam còn khiêm tốn (tính đến tháng 4-2003, tổng vốn FDI cam kết đạt 1 128 triệu USD và vốn FDI thực hiện là 563 triệu USD, chiếm tỷ trọng tương ứng là 2,9% và 2,6% trong tổng vốn FDI của nước ngoài tại Việt Nam), nhưng chúng ta có thể lạc quan với tình hình chính trị ổn định, kinh tế phát triển liên tục và tương đối chắc chắn, môi trường đầu tư và kinh doanh ngày càng thuận lợi do việc thực hiện Hiệp định Thương mại song phương, Việt Nam sẽ là một địa chỉ ngày càng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Hoa Kỳ.

3 - Việc thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và những cơ hội mới cho xây dựng năng lực thể chế và chuyên môn của Việt Nam

Có thể nói, việc thực thi Hiệp định Thương mại song phương giúp Việt Nam có điều kiện để rèn luyện khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của mình, điều này tạo ra những thuận lợi cơ bản cho việc xây dựng năng lực làm việc trong cơ chế kinh tế thị trường. Những kết quả này thật khó lượng hóa nhưng rõ ràng thông qua việc đàm phán, ký kết và thực thi hiệp định, kể cả việc theo đuổi và giải quyết các vụ tranh chấp về cá tra, cá ba-sa và hiện nay là vụ tranh chấp về tôm với phía Hoa Kỳ, Việt Nam được rèn luyện, cọ xát với những thực tiễn sinh động của thương mại quốc tế, rút ra được các bài học và chuẩn bị những hành trang cần thiết để giải quyết tốt hơn các mối quan hệ kinh tế, thương mại với nước ngoài, xử lý tốt hơn tranh chấp thương mại có thể xảy ra trong tương lai. Những bài học từ việc đàm phán, ký kết và phê chuẩn Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ là bài học tốt cho các nhà đàm phán Việt Nam khi tham gia đàm phán ký kết các Hiệp định Thương mại song phương và đa phương khác, đặc biệt là đàm phán gia nhập WTO. Có thể nói ngay khi tham gia đàm phán ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, các nhà đàm phán và Chính phủ Việt Nam đã có điều kiện để học tập và rèn luyện các kỹ năng để đàm phán thành công. Mặt khác việc thực hiện các điều khoản của Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cũng tạo sức ép cho Việt Nam phải cải cách, chỉnh sửa và bổ sung nhiều luật hiện còn chưa phù hợp với các cam kết trong Hiệp định và với thông lệ quốc tế. Việc chỉnh sửa và bổ sung này sẽ cho phép luật pháp của chúng ta có sự hài hòa hơn với luật pháp và thông lệ quốc tế, đồng thời cũng tạo ra sự minh bạch cao hơn và hiệu lực thực thi tốt hơn của hệ thống pháp luật nước nhà...

4 - Những thách thức mới đối với phát triển thương mại và thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam

- Áp đặt thuế chống phá giá, rào cản thương mại mới đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam: Những phán quyết thiếu khách quan và công bằng của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Ủy Ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ đối với cá tra và cá ba-sa xuất khẩu của Việt Nam và việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với cá tra và ba-sa xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua đã gây ra những khó khăn lớn cho xuất khẩu các sản phẩm này của Việt Nam sang Hoa Kỳ, làm cho mức xuất khẩu giảm nhiều so với thời gian trước. Đó là chưa kể tới vụ kiện bán phá giá tôm của Liên minh tôm miền Nam Hoa Kỳ (SSA) đối với 6 nước xuất khẩu tôm vào Hoa Kỳ trong đó có Việt Nam ngày 31-12-2003... Mới đây, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã quyết định tôm Việt Nam sẽ chịu mức thuế 4,1 - 25,8% (so với phán quyết trước đây của ITC là 14,9 - 93%). Đây thực sự vẫn còn là một trong những thách thức mới đối với xuất khẩu tôm, một sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Chưa biết được trong thời gian tới các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ còn phải đương đầu với những đòn thương mại gì nữa từ phía Hoa Kỳ?!

- Hiệp định dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ và việc áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam: Ngoài việc áp thuế chống phá giá, phía Hoa Kỳ còn áp dụng hạn ngạch đối với xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Hoa Kỳ và cũng tạo ra những thách thức mới cho Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường này.

- Các rào cản kỹ thuật khác: Bao gồm việc Hoa Kỳ áp dụng Luật chống khủng bố sinh học, trong đó yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh chế biến thực phẩm phải đăng ký với Cơ quan dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) sẽ gây khó khăn lớn hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu.

- Sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng tăng đối với các doanh nghiệp Việt Nam cả ở thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu Hoa Kỳ: Việc thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ thời gian tới sẽ tạo những sức ép cạnh tranh mới lên các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nước nhà khi chúng ta thực hiện các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ cho các đối tác nước ngoài và thực hiện nguyên tắc "đối xử quốc gia"...

Hơn nữa, việc Hoa Kỳ ký kết Hiệp định Khu vực Thương mại tự do (FTA) với các nước đã tạo ra những ưu đãi thương mại mới cho các nước có Hiệp định này với Hoa Kỳ, vì vậy xuất khẩu của các nước có FTA với Hoa Kỳ sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại của chúng ta...

- Lợi thế cạnh tranh về thu hút FDI của nước ta kém hơn so với một số nước trong khu vực (các nước có Hiệp định tự do thương mại - FTA với Hoa Kỳ), nhất là so với Trung Quốc.

5 - Một số giải pháp phát triển xuất khẩu sang Hoa Kỳ và thu hút đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam

Thứ nhất, trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Việt Nam yêu cầu phía Hoa Kỳ thực hiện các trách nhiệm đã cam kết trong Hiệp định. Đồng thời, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp trong công tác tuyên truyền vận động tạo môi trường tâm lý xã hội thuận lợi, hiểu biết lẫn nhau, phát triển quan hệ đối tác, đôi bên đều có lợi để phát triển xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ.

Thứ hai, Việt Nam chuẩn bị sẵn sàng các hành trang cần thiết để đối phó thắng lợi với các vụ tranh chấp thương mại đã, đang và có thể sẽ xảy ra trong tương lai. Chúng ta, một mặt, phải học cách thích ứng với thực tiễn kinh doanh quốc tế, trong đó các tranh chấp thương mại là hiện tượng bình thường, bằng cách phối hợp chặt chẽ với các bị đơn khác để có tiếng nói thống nhất phản đối đơn kiện; thuê khoán tư vấn pháp lý giỏi... Mặt khác, phát huy vai trò của các hiệp hội xuất khẩu Việt Nam trong việc phối kết hợp các doanh nghiệp trong nước, các nhà nhập khẩu hàng của Việt Nam ở Hoa Kỳ, người tiêu dùng Hoa Kỳ, kể cả các chính khách... Tiến hành những cuộc tuyên truyền vận động về sản phẩm của Việt Nam không hề bán phá giá, về lợi ích của việc tăng cường trao đổi buôn bán sản phẩm giữa hai bên...

Thứ ba, Nhà nước ban hành mới và chỉnh sửa các luật hiện có để tạo sự thống nhất giữa luật và các văn bản dưới luật, phù hợp với hệ thống luật quốc tế và những cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ nhằm tạo môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, giúp các doanh nghiệp cả Việt Nam và các đối tác Hoa Kỳ yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh, tích cực đầu tư và tìm kiếm các đối tác thương mại tại Việt Nam. Nhà nước cũng đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh và sớm triển khai ứng dụng chính phủ điện tử ở nước ta... Ngoài ra, Nhà nước phát triển các công cụ, cơ chế, chính sách đa dạng hỗ trợ xây dựng năng lực quản lý, kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thứ tư, đối với các doanh nghiệp, điều cốt yếu là phải tự trang bị cho mình năng lực hoạt động hiệu quả trong môi trường kinh doanh của kinh tế thị trường. Doanh nghiệp cần bắt đầu bằng việc xây dựng và triển khai các chiến lược kinh doanh hiệu quả dựa trên việc phân tích và đánh giá đúng những điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức, vị thế của doanh nghiệp hiện tại và đích cần đạt tới... Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thì việc thực hiện một chiến lược ma-két-tinh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ là điều phải tính đến trước tiên. Nhà nước, các tổ chức hỗ trợ thương mại tạo điều kiện và hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu kỹ thị trường Hoa Kỳ để có chính sách đúng đắn nhằm đẩy mạnh việc xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Thứ năm, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp chủ động liên doanh, liên kết và tích cực xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với các doanh nghiệp Hoa Kỳ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư trực tiếp từ phía Hoa Kỳ.

Để trở thành đối tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế và với các doanh nghiệp Hoa Kỳ, ngoài vai trò quan trọng của Nhà nước ở tầm vĩ mô, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần hướng tới hình thành các tập đoàn kinh tế lớn - công ty đa quốc gia bao gồm hợp tác đầu tư với các tập đoàn kinh tế, công ty đa quốc gia, hình thành công ty con của các tập đoàn - công ty đa quốc gia này trên lãnh thổ Việt Nam; tiến hành các liên kết kinh tế dọc, ngang với các doanh nghiệp trong nước, hình thành tập đoàn kinh tế lớn - công ty đa quốc gia ở Việt Nam. Mở rộng các hoạt động sáp nhập, hợp nhất với các doanh nghiệp, hình thành các tập đoàn kinh tế tổng hợp, đủ sức cạnh tranh xuất khẩu; đẩy nhanh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước; phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam; tăng cường các liên minh chiến lược để hình thành các tập đoàn thương mại đủ mạnh trong cạnh tranh xuất khẩu...

Thứ sáu, doanh nghiệp xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong kinh doanh quốc tế. Xây dựng được thương hiệu nổi tiếng góp phần tạo dựng uy tín doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam. Muốn vậy, trước hết doanh nghiệp phải đăng ký hoàn tất thủ tục về sở hữu công nghiệp và bản quyền nhãn mác hàng hóa. Tuy nhiên, để xây dựng được thương hiệu riêng nổi tiếng là kết quả tổng thể của nhiều yếu tố được tạo ra từ các giải pháp vĩ mô và vi mô.

Thứ bảy, xây dựng văn hóa xuất khẩu quốc gia và văn hóa kinh doanh ở doanh nghiệp. Điều này chỉ đạt được khi có một trình độ phát triển cao trong xuất khẩu, các đối tác liên quan đều ý thức về tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước và có những nỗ lực của quốc gia và cộng đồng cho sự phát triển xuất khẩu theo hướng phát huy tối đa những lợi thế so sánh động để thúc đẩy xuất khẩu. Văn hóa xuất khẩu có một vị trí quan trọng trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.


* TS, Bộ Thương mại
(1) Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được ký kết tháng 7-2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 10-12-2001
BÀI VIẾT THỨ 11
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY
TÁC GIẢ Phạm Thắng
NỘI DUNG

Lịch sử phát triển kinh tế - xã hội nước ta đã cho thấy, sự phát triển, tiến bộ và phồn vinh của đất nước không thể bỏ qua, tách rời sự phát triển của khu vực nông thôn. Do đó, vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn ở nước ta thực sự được quan tâm và luôn chiếm vị trí quan trọng trong các chương trình nghị sự của Đảng và Nhà nước.

Kể từ sau đổi mới, đặc biệt là tại Đại hội Đảng lần thứ IX, quan niệm về phát triển nông thôn ở nước ta có nhiều thay đổi và được mở rộng. Đại hội đã đặt mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là cơ sở để đưa nước ta tiến lên trên con đường phát triển toàn diện, vững chắc. Văn kiện chỉ rõ: Chú trọng điện khí hoá ở nông thôn, phát triển mạnh công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp gia công và dịch vụ; liên kết nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trên từng địa bàn và trong cả nước. Tiếp đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 (khoá IX) đã đưa ra các Nghị quyết quan trọng liên quan đến các nội dung phát triển nông nghiệp, nông thôn: đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân; nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường.

Như vậy, vấn đề phát triển nông thôn hiện nay được mở rộng thêm và mang nhiều nội dung. Về kinh tế: thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Về xã hội: tập trung nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xoá đói giảm nghèo và từng bước thực hiện công bằng xã hội. Về chính trị: phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở dưới sự lãnh đạo của Đảng …

Việc nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề phát triển nông thôn, cùng với những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã phát huy được tiềm năng của nông nghiệp, nông thôn trong tiến trình đổi mới.

1.Thành tựu phát triển nông thôn trong những năm đổi mới

Cùng với sự thay đổi về nhận thức, đặc biệt từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI), tình hình kinh tế - xã hội ở nông thôn nước ta đã có những thay đổi sâu sắc và toàn diện. Các hoạt động kinh tế ở nông thôn được mở rộng, phát triển, đời sống và thu nhập của người dân không ngừng được cải thiện, bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn có nhiều chuyển biến. Cụ thể là:

a. Về phát triển nông, lâm ngư nghiệp

Trong thời gian qua, sản xuất nông nghiệp nước ta tăng trưởng khá và ổn định. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân hàng năm đạt khoảng 5%/năm. Cả trồng trọt và chăn nuôi đều phát triển mạnh theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng đất đai và lao động.

Sản xuất lương thực, thực phẩm tăng nhanh và ổn định cả về diện tích, năng suất, lẫn sản lượng và chất lượng. Điều này đã góp phần tích cực giúp Việt Nam đảm bảo an toàn lương thực quốc gia, đẩy lùi tình trạng thiếu đói lúc giáp vụ, và xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Cây công nghiệp, cây ăn quả cũng phát triển mạnh và đã xuất hiện nhiều vùng sản xuất tập trung quy mô lớn.

Sản xuất lương thực tăng, nguồn thức ăn cho chăn nuôi dồi dào đã tạo điều kiện để ngành chăn nuôi phát triển mạnh và ổn định; đàn lợn tăng bình quân hàng năm khoảng 4%; đàn bò nay đã tăng lên 4 triệu con; đặc biệt, đàn gia cầm tăng mạnh nhất, trung bình khoảng 20%/năm. Trong những năm gần đây, do tiếp thu phương thức chăn nuôi theo kiểu công nghiệp, ngành chăn nuôi đã bước đầu hình thành những vùng sản xuất hàng hoá tương đối rõ rệt.

Phát triển lâm nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn, song vẫn đạt những tiến bộ nhất định. Tình trạng phá rừng tự nhiên giảm rõ rệt, màu xanh đã trở lại với nhiều vùng đất trống, đồi núi trọc. Hơn nữa, chủ trương giao đất, khoán rừng đến hộ nông dân đã góp phần bảo vệ và phát triển vốn rừng, nâng cao độ che phủ của rừng và xây dựng nền kinh tế lâm nghiệp hàng hoá.

Thuỷ sản có bước phát triển đáng kể, công tác nuôi trồng thuỷ sản được coi trọng, nhất là vùng ven biển. Việc đánh bắt hải sản đang được khôi phục và phát triển ở nhiều địa phương. Tầu thuyền và các phương tiện đánh bắt được tăng cường. Ở nhiều tỉnh đang triển khai dự án đánh bắt xa bờ, tiềm lực của thuỷ sản được nâng cao. Nhờ vậy, sản lượng thuỷ sản tăng nhanh, bình quân tăng gần 10%/ năm, xuất khẩu thủy sản trở thành mũi nhọn của nền kinh tế.

b. Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế nông thôn đang dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP liên tục giảm, công nghiệp và dịch vụ tiếp tục tăng cả về quy mô lẫn tỷ trọng. Sự chuyển dịch này đã dần dần tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý theo ngành ở nông thôn Việt Nam.

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở các vùng khác nhau mang nhiều nét rất khác nhau. Đối với vùng Đông Nam Bộ, do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh, nên cơ cấu kinh tế nông thôn ở vùng kinh tế này chuyển dịch nhanh chóng. Tỷ trọng nông nghiệp giảm, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng theo hướng hiện đại hoá. Vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng có những thay đổi đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến phục vụ nông nghiệp. Xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở xay xát và đánh bóng gạo xuất khẩu; nhiều hộ nông dân có thuyền trọng tải lớn chuyên làm dịch vụ vận chuyển hàng hóa phục vụ nông nghiệp. Các vùng kinh tế khác như vùng Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn diễn ra chậm hơn so với hai vùng trên, nhưng cũng có nhiều khởi sắc. Nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, đồng thời xuất hiện nhiều nghề mới. Điều đó đã và đang tạo ra sự phân công lao động mới ở các vùng kinh tế.

c.Về kết cấu hạ tầng nông thôn

Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội nông thôn cũng được đổi mới, chẳng hạn như hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được nâng cấp và hoàn thiện. Cuối năm 2001, cả nước có 86% xã, 77% thôn, 79% hộ có điện sinh hoạt. Số hộ có điện sinh hoạt tăng nhanh nhất là các tỉnh vùng núi Tây Nguyên (3,9 lần), Tây Bắc (2,9 lần). Hệ thống giao thông nông thôn có bước phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng; 94,5% số xã có đường ô tô đến tận trung tâm xã,16% đường liên thôn được nhựa hoá, 50% được bê tông hoá.

Hệ thống các cơ sở giáo dục, trạm y tế, chợ nông thôn tiếp tục được tăng cường, mở rộng. Đến hết năm 2001, trên phạm vi cả nước đã có 99% số xã có trạm y tế; 83,8% Uỷ ban nhân dân xã có máy điện thoại; 56,9% số xã có hệ thống loa truyền thanh; 54,8% số xã có bưu điện văn hoá; 14% số xã có nhà văn hoá và 7% số xã có thư viện.

d. Về thu nhập và đời sống của người dân các vùng nông thôn

Thu nhập tăng, cùng với sự phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở nông thôn được cải thiện rõ rệt: tỷ lệ hộ có máy thu hình chiếm trên 40%; số hộ có điện thắp sáng là 60%; số trẻ em được đến lớp tăng từ 15,5 triệu em lên 17,87 triệu em; tuổi thọ bình quân đã được nâng lên trên 70,9 tuổi (năm 2000) ; tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em giảm.

e. Về tổ chức sản xuất ở nông thôn

Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn đã dần hình thành và đang ngày càng được hoàn thiện, phát huy tối đa lợi thế của từng hình thức. Sản xuất nông hộ đã được thừa nhận và đang phát triển lên với nhiều hình thức tổ chức sản xuất mới như kinh tế trang trại, doanh nghiệp nông thôn. Phong trào xây dựng và chuyển đổi các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới trong nông thôn tiếp tục phát triển theo hướng bền vững. Liên kết kinh tế - chìa khoá để phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế cũng đang được mở rộng. Đến nay, trong nông thôn có trên 8.000 hợp tác xã, trong đó có 7.694 hợp tác xã nông nghiệp làm dịch vụ cho kinh tế hộ. Kinh tế trang trại phát triển mạnh ở hầu hết các vùng. Đến hết năm 2003, cả nước có trên 86.000 trang trại, sử dụng 441,5 ngàn ha đất nông nghiệp, giá trị sản lượng hàng hoá đạt 8.722 tỉ đồng. Những kết quả trên đánh dấu sự chuyển biến tích cực trong tổ chức sản xuất ở nông thôn nói riêng, quan hệ sản xuất nói chung ở nông thôn Việt Nam thời gian qua.

2.Một số vấn đề đặt ra hiện nay

Những năm qua, nông thôn Việt Nam đã có nhiều khởi sắc trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội, tuy nhiên, những kết quả đó vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng và mục tiêu đặt ra. Vì vậy, để phát triển nông nghiệp, nông thôn mạnh mẽ hơn nữa, cần khai thác có hiệu quả những tiềm năng sẵn có, những lợi thế so sánh vốn có trong sự nghiệp đổi mới. Có một số nhiệm vụ đặt ra cần tập trung thực hiện như sau:

Một là: Hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp sản xuất lớn hàng hóa.

Sản xuất nông nghiệp ở nước ta tuy đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, nhưng phổ biến vẫn là sản xuất với quy mô nhỏ. Kết quả này do công tác quy hoạch còn nhiều bất cập và hạn chế. Đất sản xuất nông nghiệp bị chia nhỏ, manh mún, nên quy mô sản xuất nông nghiệp bị phân tán, gây trở ngại đối với quá trình hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Hơn nữa, kết cấu hạ tầng nông thôn còn nhiều lạc hậu, chất lượng các dịch vụ hỗ trợ phát triển nông thôn như điện, nước, còn nhiều yếu kém và thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh các quy hoạch vùng, ngành, lĩnh vực trong sản xuất nông nghiệp còn lúng túng, chậm nên chưa phát huy được hết các lợi thế so sánh của từng địa phương. Chính những điều này đã gây cản trở cho nền nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá hướng ra xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế. Điều đó đặt cho chúng ta nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong những năm tới đó là: (1) Công tác quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá cần phải căn cứ vào tiềm năng, lợi thế so sánh của từng địa phương, từng vùng; (2) Kết hợp quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá với quy hoạch, kế hoạch sử dụng và khai thác đất nông nghiệp, lao động ở từng địa phương; với quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất; với quy hoạch lại dân cư gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

Hai là: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn

Nhìn chung, cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta hiện nay có nhiều chuyển biến theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng tốc độ còn chậm. Cơ cấu lao động ở nông thôn cũng chậm chuyển dịch. Có thể nói, trong suốt thời kỳ đổi mới, hầu như toàn bộ lực lượng lao động trong nông thôn vốn sống dựa vào nông nghiệp. Do đó, để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn. Cụ thể là: (1) Khuyến khích phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp như các ngành thủ công truyền thống, công nghiệp chế biến, các hoạt động dịch vụ; (2) Khuyến khích sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp tư nhân, các cơ sở sản xuất chế biến vừa và nhỏ; (3) Gắn chuyển dịch cơ cấu theo ngành với chuyển dịch cơ cấu theo vùng và cơ cấu lao động.

Ba là: Nâng cao thu nhập, giảm bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống của người dân ở nông thôn đang dần có sự cải thiện, nhưng chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị đang có xu hướng gia tăng. Chính vì vậy, Nhà nước cần có nhiều biện pháp nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn để góp phần giảm bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị như: (1) Tăng cường hỗ trợ các hộ nghèo giảm bớt khó khăn về nguồn lực sản xuất như cho vay vốn ưu đãi, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và phổ biến kinh nghiệm làm ăn; (2) Tạo nhiều cơ hội để người nghèo thực hiện chuyển đổi các hoạt động sản xuất, tìm được việc làm phù hợp; (3) Giúp người nghèo vượt qua được các rủi ro và hoàn cảnh éo le thông qua các chương trình khám chữa bệnh, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.

Bốn là: Hoàn thiện tổ chức sản xuất ở nông thôn

Mặc dù tổ chức sản xuất ở nông thôn đang ngày càng hoàn thiện, nhưng còn mang tính hình thức và chưa ổn định. Doanh nghiệp nhà nước hoạt động còn hạn chế; kinh tế hợp tác xã chuyển đổi chưa nhiều, mang tính hình thức là chủ yếu; kinh tế hộ gia đình tuy phát triển nhưng mang tính tự phát và không đều giữa các vùng, các địa phương; số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn chưa nhiều, trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp còn yếu kém. Các hình thức liên kết kinh tế mang tính tự phát, tổ chức lỏng lẻo. Chính vì vậy, để phát triển kinh tế nông thôn chúng ta cần phải: (1) Đổi mới, cổ phần hoá, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước ở nông thôn; (2) Nhà nước cần hỗ trợ hơn nữa đối với các hình thức kinh tế hộ, các doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn về công tác tổ chức sản xuất, đào tạo tay nghề, tìm kiếm thị trường . . .; (3) Hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã; kiên quyết giải thể các hợp tác xã hoạt động hình thức; (4) Khuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế liên doanh, liên kết với nhau trong các khâu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm ở nông thôn.

Năm là: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Bên cạnh sự bất bình đẳng, tăng trưởng kinh tế nhanh cũng đặt ra nhiều lo ngại đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái. Suy thoái môi trường là một trong những mối lo ngại chính và nó càng trở nên bức thiết hơn trong quá trình phát triển các vùng nông thôn Việt Nam. Thực vậy, rừng vẫn đang bị tàn phá ở nhiều nơi, độ che phủ của rừng chỉ còn trên 30%. Tình trạng sói mòn, thoái hoá đất, ô nhiễm nguồn nước do sử dụng hoá chất và do chất thải diễn ra khá nghiêm trọng, đe dọa tính bền vững của môi trường sinh thái và phát triển bền vững ở nông thôn Việt Nam. Do đó, trong thời gian tới, chúng ta cần: (1) Tăng cường đầu tư và quản lý sát sao hơn nữa công tác chăm sóc và bảo vệ vốn rừng, khuyến khích các chương trình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; (2) Tăng cường nghiên cứu và triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật, công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp để thực hiện phương thức sản xuất nông nghiệp bền vững, sản xuất phù hợp với môi trường sinh thái mà không làm thay đổi hoặc phá vỡ các quy luật cân bằng sinh thái vốn có của các vùng nông thôn.

Sáu là: Nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở nông thôn

Trong thời gian qua, hệ thống chính trị ở các cơ sở, cùng với nhân dân đã tạo nên những thành tựu về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt ở nông thôn. Như vậy, nói đến phát triển nông thôn, không thể không nói tới việc nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở. Mặc dù đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn trong những năm qua, nhưng hệ thống chính trị ở nông thôn hiện nay còn nhiều mặt yếu kém. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vi phạm quyền làm chủ của dân, xảy ra ở một số nơi. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạnh, nội dung và phương pháp hoạt động chậm đổi mới. Chính vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi phát triển nông thôn, hệ thống chính trị ở nông thôn cần phải được điều chỉnh theo hướng: (1) Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướng vào phục vụ dân, sát với dân và được dân tin tưởng; (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, lãng phí; (3) Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở nông thôn theo Quy chế dân chủ ở cơ sở.

BÀI VIẾT THỨ 12
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN - ĐỘNG LỰC TINH THẦN
CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
TÁC GIẢ Trương Giang Long
NỘI DUNG

Đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều đó đã được thực tiễn lịch sử hơn 70 năm qua khẳng định và thừa nhận. Ngày nay cách mạng đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới khác hoàn toàn về chất: xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa - một việc chưa từng có trong tiền lệ. Nhiệm vụ đó được thực hiện trong xu thế toàn cầu hoá và sự cạnh tranh rất quyết liệt, trước sức ép của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, trước sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ. Trong hoàn cảnh ấy, đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng trở thành nhu cầu không thể thiếu.

Gần hai mươi năm qua, nhờ đường lối đổi mới đúng đắn, đất nước ta đã tạo được thế và lực mới, từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn sinh lực của đổi mới đang có dấu hiệu suy giảm. Xét về tổng thể, chúng ta đang đối mặt với không ít khó khăn. Để ngang tầm với những nhiệm vụ mà lịch sử giao phó, Đảng cần phải tiếp tục đổi mới hơn nữa.

Thứ nhất, phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện đường lối.

Thực tiễn cho thấy, sức sống của một đảng chính trị tập trung trước hết ở đường lối của chính đảng ấy. Là một Đảng cầm quyền, Đảng ta lãnh đạo cách mạng bằng chính đường lối chính trị của mình. Lúc sinh thời, Bác Hồ từng khẳng định: "Đường lối chính sách của Đảng là nguồn gốc của mọi thắng lợi"(1). Đường lối ấy được xây dựng trên những luận cứ khoa học vững chắc là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ thực tiễn sôi động của cách mạng nước ta. Trong lịch sử, nhờ có đường lối đúng, chúng ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: từ Cách mạng Tháng Tám thành công, đến đại thắng Mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn đất nước, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một giai đoạn đã qua với những kỳ tích đáng để chúng ta trân trọng và tự hào. Chuyển sang giai đoạn mới, như Lê-nin đã cảnh báo, ưu điểm của ngày hôm qua không thể kéo dài sang đến hôm nay.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa rõ ràng đang đặt ra những vấn đề hoàn toàn mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn. Mác, Ăng-ghen, Lê-nin và các lãnh tụ tiền bối của Đảng ta cũng chưa đề cập đến vấn đề này. Để đạt mục tiêu, đòi hỏi chúng ta phải hoàn toàn sáng tạo. Trên cơ sở "dĩ bất biến, ứng vạn biến", Đảng phải tìm được con đường đi riêng phù hợp với thực tiễn của đất nước. Con đường ấy thể hiện sự trung thành với quá khứ, nhưng không lệ thuộc vào quá khứ. Có thể nói, trong đường lối đổi mới, đôi khi tư tưởng "vọng cổ, hoài cổ" còn khá nặng nề. Trong kinh tế, chúng ta, một mặt, rất muốn phát triển, nhưng, mặt khác, lại ngại đổi mới, phát triển vượt khỏi khuôn khổ, chuẩn mực của chủ nghĩa xã hội theo những tiêu chí truyền thống. Vì vậy, đường lối kinh tế vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của lối tư duy cũ, tư duy thời kế hoạch hoá - bao cấp, đối lập với kinh tế thị trường. Kết quả là, đường lối đổi mới trong kinh tế chưa thực sự khơi dậy mọi nguồn lực hiện có. Nguy cơ tụt hậu về kinh tế ngày càng xa hơn là có thật. Do đó, Đảng và Nhà nước cần phải thiết kế một hệ thống chính sách đồng bộ, ổn định nhằm tạo điều kiện để tất cả mọi công dân ở trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia hoạt động kinh tế, theo những định hướng vĩ mô của Nhà nước, trong khuôn khổ của luật pháp. Đường lối kinh tế ấy phải tập trung khai thác và phát huy tối đa sức mạnh nội lực, đồng thời tranh thủ khai thác, thu hút và sử dụng có hiệu quả yếu tố ngoại lực. Chúng ta phải thừa nhận, trước xu thế quốc tế hoá, sức ép cạnh tranh và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ như hiện nay, không một dân tộc nào lại có thể phát triển thuần tuý chỉ bằng dựa vào nội lực. Phải tìm cho đất nước một thế đứng mới với đúng nghĩa "Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị". Để thể chế hoá điều đó, đường lối kinh tế của chúng ta phải tính đến sự kết hợp tốt và hài hoà các lợi ích: Bảo đảm và tôn trọng sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu cả trong và ngoài nước, bảo vệ lợi ích chính đáng của những người lao động ở trong mọi loại hình doanh nghiệp, đồng thời phải tính đến lợi ích của toàn xã hội mà người đại diện cho lợi ích đó là Nhà nước.

Tóm lại, đường lối kinh tế của chúng ta phải chuyển từ cơ chế bao biện làm thay cho dân sang cơ chế tổ chức để dân tự làm chủ lấy công việc của mình, không nên có sự phân biệt đối xử giữa công hữu và tư hữu, doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, cá thể và tập thể… Thông qua chủ trương, đường lối của mình, Đảng phải thể hiện trên thực tế, Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài việc phục vụ vô điều kiện lợi ích của nhân dân, tạo mọi điều kiện để người dân được làm giàu chính đáng bằng chính sức lao động của mình, thông qua việc đa dạng hóa các loại hình sở hữu và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Trong kinh doanh, không nên nuôi dưỡng chủ nghĩa bảo hộ và cơ chế độc quyền bất hợp lý. Phải xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ nhằm tập trung giải phóng sức phát triển của lực lượng sản xuất ở trong nước, thu hút tốt nguồn lực ở ngoài nước, ưu tiên phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh và một xã hội thực sự dân chủ, sau đó từng bước phấn đấu thực hiện một xã hội công bằng và văn minh. Một đường lối như vậy không thể có được nếu không sớm loại bỏ tư duy giáo điều và bảo thủ.

Thứ hai, nói đến Đảng, không thể không nói đến công tác cán bộ của Đảng. Để lãnh đạo việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách đã đề ra, Đảng phải nắm và làm tốt công tác cán bộ. Bác Hồ dạy "Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích"(2). Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Nếu trong cách mạng giải phóng dân tộc và cả trong giai đoạn đầu của sự nghiệp đổi mới, chúng ta có quyền tự hào về các thế hệ cán bộ đảng viên của Đảng, thì ngày nay, có rất nhiều vấn đề về cán bộ và công tác cán bộ đáng làm chúng ta suy ngẫm. Xét một cách toàn diện, chuyển sang giai đoạn mới, cán bộ của chúng ta ở cả cấp vi mô lẫn vĩ mô đều có tình trạng ở nhiều nơi vừa yếu và vừa thiếu so với những nhiệm vụ đang đặt ra. Sự suy thoái về chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vượt ra khỏi tầm kiểm soát của tổ chức đảng và của cả hệ thống pháp luật. Nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của chế độ từ sự thoái hoá biến chất của một số cán bộ Đảng viên đang thực sự trở thành mối lo chung của toàn xã hội. Giải pháp ngăn chặn sự xuống cấp và suy thoái ấy chưa có hiệu quả cao. Thực trạng trên đây là miếng đất rất tốt cho chủ nghĩa cơ hội, bè phái, tư tưởng cục bộ bản vị trỗi dậy. Đã đến lúc Đảng phải thật kiên quyết xử lý không khoan nhượng đối với các hành vi tiêu cực, đồng thời phải mạnh dạn đổi mới chính sách cán bộ. Trên cơ sở những tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, Đảng nên tổ chức đào tạo và thi tuyển cán bộ để bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo như thi tuyển đối với công chức nhà nước. Để tuyển dụng và bố trí cán bộ tài năng vào đúng những vị trí thích hợp, vấn đề tiêu chuẩn hoá, dân chủ hoá và công khai hoá công tác cán bộ phải trở thành phổ biến trong đời sống chính trị. Xem nhẹ hoặc không làm tốt công tác cán bộ sẽ dẫn đến nguy cơ Đảng tự đánh mất đi vai trò lãnh đạo, cách mạng không thể thắng lợi. Cùng với đường lối đúng, công tác tổ chức, công tác cán bộ của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Điều đó ai cũng thừa nhận, nhưng để thực hiện thì không đơn giản. Giáo điều, bảo thủ và chậm đổi mới công tác tổ chức, công tác cán bộ chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến suy thoái và yếu kém hiện nay.

Thứ ba, vấn đề dân chủ trong Đảng. Có thể nói, đây là một trong những vấn đề được bàn đến khá nhiều. Có một câu hỏi tưởng chừng như rất đơn giản nhưng trả lời không dễ. Đó là: chúng ta đang vận hành xã hội theo cơ chế nào, tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung? Lúc sinh thời, Bác Hồ dạy rằng, sức mạnh của chế độ ta là nền dân chủ kiểu mới. Theo Bác, dân chủ chính là lãnh đạo tập thể. Mọi quyết định về công việc chung phải được đưa ra bàn bạc, trao đổi, tranh luận công khai trong tập thể và sau đó biểu quyết theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Trên cơ sở nghị quyết của tập thể mà cá nhân phụ trách điều hành và sáng tạo để thực hiện các nghị quyết của tập thể. Bác chỉ rõ: "Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán chủ quan. Kết quả là hỏng việc,…. Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung"(3). Đoạn trích trên đây cho thấy, Bác Hồ không nói đến tập trung trước mà nói đến dân chủ trước. Bởi vì Bác biết, nếu tập trung, tức là đặt cá nhân lên trước tập thể, đề cao cá nhân thì khó tránh khỏi "tệ bao biện, độc đoán chủ quan", dẫn đến mất dân chủ. Tập thể lãnh đạo nghĩa là mọi chủ trương, chính sách thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng phải được bàn bạc dân chủ, công khai trong các tổ chức của Đảng từ địa phương đến Trung ương. Nó thể hiện trí tuệ và ý chí của tập thể. Đó chính là sức mạnh của Đảng. Nhấn mạnh nguyên tắc lãnh đạo tập thể, đề cao việc thực hiện dân chủ trước chính là nhằm hạn chế thói độc đoán chuyên quyền, lạm dụng quyền lực vi phạm dân chủ. Nhưng mặt khác, không vì vậy mà Bác hạ thấp vai trò tập trung, vai trò của cá nhân người phụ trách. Bác căn dặn, những vấn đề lớn nhất thiết phải xin ý kiến tập thể và điều hành theo nghị quyết của tập thể, nhưng những việc bình thường và những việc đột xuất, cá nhân có quyền cân nhắc tự quyết định, sau đó phải báo cáo lại cho tập thể và phải chịu trách nhiệm trước tập thể về các quyết định của mình. Rõ ràng ở đây vấn đề tập trung và trách nhiệm cá nhân trong lãnh đạo, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu, được Bác rất đề cao.

Nếu cơ chế dân chủ tập trung không được vận hành đúng sẽ hạn chế tính dân chủ, tính công khai, tính tập thể. Thông tin bị che chắn, vai trò cá nhân được đề cao dễ dẫn đến độc đoán và vi phạm dân chủ. Nếu tập trung mà không thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt, quyền lực trong tay những người đứng đầu rất dễ bị lạm dụng. Bài học về tập trung quyền lực vào trong tay một số người đã làm cho Liên Xô sụp đổ trước đây rất đáng để chúng ta xem xét. Vì vậy, rất cần quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu bộ máy lãnh đạo các cấp của Đảng và Nhà nước, nhất là trong công tác cán bộ.


(1) Hồ Chí Minh: Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 5, tr 520
(2) Hồ Chí Minh: Sđd Tr, 520.
(3) Sách đã dẫn, Tập 5, Tr 505

BÀI VIẾT THỨ 13
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ CÁC THÀNH TỐ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Ở VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
TÁC GIẢ Anh Phương
NỘI DUNG

1- Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời cũng là thành viên của hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị là một hệ thống và thiết chế chính thống được Nhà nước và pháp luật thừa nhận. Hệ thống chính trị không bao quát tất cả các quan hệ chính trị mà chỉ gồm những quan hệ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền lực chính trị. Ở nước ta, mọi quyền lực thuộc về nhân dân và đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hoạt động của cả hệ thống chính trị.

Hệ thống chính trị được hiểu một cách khái quát là một cơ chế xã hội, nhờ đó mà giai cấp thống trị thực hiện quyền lực của mình đối với toàn xã hội. Hệ thống chính trị bao trùm và điều chỉnh quan hệ về vấn đề quyền lực giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các dân tộc, sắc tộc, giữa tập thể và cá nhân. Hệ thống chính trị đề ra và thực hiện các chính sách. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân hoạt động theo cơ chế phù hợp, nhằm xây dựng và hoàn thiện từng bước nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Kể từ năm 1986 đến nay, hệ thống chính trị ở nước ta được đổi mới và là một bộ phận của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, có ý nghĩa như một bước ngoặt của một giai đoạn cách mạng mới. Đổi mới kinh tế và đổi mới các lĩnh vực khác luôn luôn gắn liền và không thể tách rời với đổi mới chính trị. Đổi mới phải đồng bộ, song giai đoạn đầu lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời thực hiện đổi mới từng bước hệ thống chính trị. Từ đổi mới kinh tế mới thấy rõ yêu cầu, nội dung đổi mới hệ thống chính trị. Đổi mới kinh tế có kết quả là điều kiện quan trọng cho đổi mới hệ thống chính trị. Khi chưa chuẩn bị các tiền đề cần thiết đã nóng vội đẩy nhanh đổi mới hệ thống chính trị dễ dẫn đến mất ổn định chính trị. Song cũng không phải vì thế mà chậm đổi mới hệ thống chính trị, vì đó là điều kiện để phát triển kinh tế và thực hiện dân chủ.

Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo toàn xã hội. Đây là vấn đề mang tính khách quan, do lịch sử cụ thể của nước ta quy định. Một hệ thống chính trị chỉ có một đảng lãnh đạo duy nhất là điều kiện thuận lợi để duy trì và củng cố sự nhất trí về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động trong toàn bộ hệ thống và trong toàn xã hội. Các quyết định chính trị của Đảng sẽ được thể chế hoá về mặt Nhà nước và cụ thể hoá bằng hoạt động của các đoàn thể để đi vào cuộc sống. Đảng lãnh đạo toàn diện, về mọi phương diện chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành động; trên mọi lĩnh vực kinh tế, giáo dục, văn hoá, xã hội; lãnh đạo mọi thành phần, giai cấp, dân tộc... với những yêu cầu, mục tiêu cụ thể khác nhau.

Đảng Cộng sản Việt Nam là một thành viên của hệ thống chính trị, nhưng Đảng lại đảm nhiệm sứ mệnh vô cùng cao cả và thiêng liêng là lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị. Vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, Đảng là thành viên của hệ thống chính trị thì mối quan hệ giữa Đảng với các thành viên khác hoàn toàn mang tính bình đẳng. Ở đây là sự bình đẳng tuyệt đối, không có sự lãnh đạo, chỉ đạo hay áp đặt từ bất cứ phía nào; mọi việc giữa các thành viên phải được giải quyết dựa trên cơ sở dân chủ và đồng thuận. Lại có ý kiến khác cho rằng, các thành viên khác của hệ thống chính trị phải phấn đấu bảo đảm tính độc lập của mình đối với Đảng. Cả hai quan điểm nêu trên đều không thể chấp nhận, bởi vì hệ thống chính trị là một bộ máy tổ chức mang tính khoa học. Mà đã là tổ chức phải có người lãnh đạo và người bị lãnh đạo. Đảng lãnh đạo đất nước, dân tộc, toàn bộ hệ thống chính trị là sứ mệnh cao cả và thiêng liêng mà lịch sử giao phó. Không nắm được vị thế ấy tức là Đảng tự thủ tiêu vai trò lãnh đạo của mình. Còn các thành viên khác của hệ thống chính trị có vị trí, chỗ đứng riêng. Nhưng vị trí ấy là vị trí của người bị lãnh đạo, có tính độc lập nhưng chỉ có tính chất tương đối. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; "Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị".

Nhìn lại quá trình lãnh đạo của Đảng, trong mỗi giai đoạn cách mạng, cùng với việc xây dựng đường lối và tổ chức, Đảng luôn quan tâm đến công tác lãnh đạo. Đảng phải xác định đường lối chính trị thật đúng đắn cho toàn xã hội, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và quy luật của thời đại. Đường lối đó phải phù hợp với quy luật khách quan, nắm vững được sự vận động của quy luật khách quan trong hiện tại và dự báo tương đối chính xác sự vận động của nó trong tương lai. Nếu Đảng đề ra đường lối sai thì các thành viên trong hệ thống chính trị sẽ mất phương hướng hoạt động, dễ dẫn đến rối loạn, tan vỡ. Phương pháp lãnh đạo không chỉ bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng có hiệu quả, mà còn góp phần hoàn thiện đường lối cách mạng, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên. Thực tế cho thấy, có đường lối đúng, có tổ chức hợp lý mà không có phương thức lãnh đạo phù hợp, không giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, với các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội ở các cấp, trên từng lĩnh vực thì hiệu quả lãnh đạo thấp.

2- Mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước

Bản chất của mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là Đảng lãnh đạo Nhà nước, Nhà nước triển khai tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng bằng các hoạt động quản lý, tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các chủ trương, nghị quyết; thông qua vịêc bố trí cán bộ; quyền kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chủ trương, đường lối. Sự lãnh đạo của Đảng còn thông qua những đảng viên phụ trách và công tác trong Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.

Cần phân biệt sự lãnh đạo của Đảng với quyền lực của nhà nước để tìm ra phương thức lãnh đạo cho phù hợp, tránh sự lẫn lộn, chồng chéo chức năng. Điểm khác nhau giữa quyền lực của Đảng với quyền lực của nhà nước thể hiện dưới những khía cạnh chính:

+ Về chủ thể quyền lực: Chủ thể quyền lực của Đảng chỉ là một tổ chức tập hợp một bộ phận nhỏ trong cộng đồng dân tộc (hiện nay là 2,7 triệu đảng viên), còn chủ thể quyền lực nhà nước là toàn thể nhân dân lao động (gần 82 triệu). Nhà nước chỉ là cơ quan đại diện của nhân dân, thực thi quyền lực mà nhân dân giao phó.

+ Về phạm vi tác động: Quyền lực của Đảng chỉ có hiệu lực trong nội bộ Đảng, còn quyền lực nhà nước có tác động trên phạm vi toàn xã hội. Đảng hoạt động dựa trên nguyên tắc dân chủ tập trung, bằng Điều lệ đảng, bằng các chủ trương, đường lối, bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động…; quyền lực nhà nước ngoài các phương thức trên còn có biện pháp cưỡng chế những người vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích của nhân dân.

Như vậy, thực chất mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước là mối quan hệ giữa hai loại quyền lực, quyền lực lãnh đạo nhà nước, xã hội với quyền lực do nhân dân uỷ quyền thực thi nhiệm vụ. Lý luận và thực tiễn đều khẳng định, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy hiệu lực của Nhà nước là hai mặt thống nhất. Cơ sở của tính thống nhất ấy là tuy Đảng và Nhà nước có vai trò và chức năng khác nhau cần phân định rõ, nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đều phấn đấu vì lợi ích của nhân dân. Thực tế cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, trong những năm qua, đã bộc lộ nhiều yếu kém cần khắc phục, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Nguyên nhân khách quan là đất nước phải chia cắt do chiến tranh. Nguyên nhân chủ quan là do không tuân thủ nguyên tắc thống nhất dẫn đến buông trôi sự lãnh đạo hoặc khoán trắng cho các cơ quan nhà nước; hoặc vô tình hay cố ý, Đảng lấn át quyền hành và làm thay công việc của các cơ quan nhà nước. Để khắc phục nhược điểm đó, phải tạo ra ranh giới giữa quyền lực lãnh đạo của Đảng với quyền quản lý của Nhà nước bằng các chuẩn mực pháp lý và các quy phạm chính trị do Đảng đề ra. Nhưng đó không thể là sự phân định một cách máy móc mà phải quy chuẩn hoá thành các văn bản chính thức. Đây là công việc thực sự khó khăn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, bởi vì cuộc sống hết sức đa dạng, phong phú, không phải việc gì cũng phân định được rành mạch chức năng giữa Đảng và Nhà nước.

Để phân định được chức năng giữa Đảng và Nhà nước: Thứ nhất, cần căn cứ vào nội dung, tính chất, đặc điểm của đối tượng lãnh đạo và quản lý; thứ hai, các tổ chức đảng kiên quyết không làm thay công việc của cơ quan nhà nước, và phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ, quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước; thứ ba, có sự phối kết hợp trong hoạt động giữa tổ chức của Đảng với các cơ quan nhà nước nhằm không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Việc pháp luật hoá quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể trong hệ thống chính trị xuất phát từ nhu cầu phải tiếp tục củng cố địa vị pháp lý và uy tín của Đảng trong hệ thống chính trị.

Nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới sự quản lý của Nhà nước gắn liền với công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VII) đã xác định, mục tiêu của cải cách hành chính của Nhà nước ta là xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức làm nền tảng, thực hiện dân chủ của nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp nhịp nhàng giữa ba quyền. Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Cải cách thể chế nền hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, thực hiện quyền lực của dân, phục vụ lợi ích và nguyện vọng của dân, phù hợp với kinh tế thị trường, tạo sự thích ứng về thể chế trong quan hệ đối ngoại với luật pháp và tập quán quốc tế. Từng bước nâng cao dân trí, không ngừng nâng cao trình độ phát triển kinh tế - xã hội; tập trung cải cách thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân; hoàn chỉnh cơ chế kinh tế thị trường; nâng cao vai trò của pháp luật, tăng cường pháp chế, đổi mới quy trình lập pháp, lập quy của Quốc hội và Chính phủ. Chấn chỉnh tổ chức bộ máy và quy chế hoạt động của các cơ quan nhà nước, sắp xếp lại tổ chức, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, tránh chồng chéo, trùng lặp. Về chính quyền địa phương, đề cao trách nhiệm của hội đồng nhân dân đối với việc chấp hành pháp luật, quyết định của cơ quan hành chính cấp trên và vấn đề quyết định chi tiêu ngân sách. Thực tiễn qua 18 năm đổi mới cho thấy, nền hành chính nhà nước đã được cải cách và đổi mới từng bước, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, vị thế của đất nước được nâng lên, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đó là thành quả của những chủ trương đúng đắn của Đảng, chính sách của Nhà nước, lòng quyết tâm nỗ lực vươn lên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

3- Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể trong hệ thống chính trị

Trong cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Về thực chất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị, một tổ chức liên hiệp tự nguyện của các đoàn thể nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo; là tổ chức đại diện cho ý chí đại đoàn kết và nguyện vọng chân chính của nhân dân; nơi tập hợp trí tuệ của người Việt Nam yêu nước, nơi thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên, phối hợp với chính quyền thực hiện dân chủ, chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân; giám sát, bảo vệ, tham gia xây dựng nhà nuớc, quản lý xã hội.

Các đoàn thể quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đều mang tính cách mạng, ra đời và đi sát phong trào đấu tranh của quần chúng. Qua thực tiễn hoạt động, để phát huy có hiệu quả vai trò của các đoàn thể quần chúng có thể rút ra một số vấn đề như: Đảng phải có đường lối đúng; các đoàn thể phải vừa tập hợp lực lượng rộng rãi, vừa phải có nòng cốt chắc chắn, tránh rơi vào tình trạng cực đoan hay hẹp hòi, cô độc hay mở rộng tràn lan không cần thiết; các đoàn thể phải có những hình thức hoạt động đa dạng, gắn tính chính trị với tính xã hội; đào tạo và biết sử dụng đội ngũ cán bộ phong trào tốt; quan tâm tới các đoàn thể Đảng, lãnh đạo song không bao biện làm thay, nhưng cũng không buông lỏng, không tăng cường kiểm tra, giám sát. Đảng chỉ rõ một trong những nguyên nhân chủ quan khiến cho hệ thống chính trị kém hiệu quả là việc giải quyết không tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể. Đó là khuynh hướng thụ động, trông chờ vào các cấp uỷ Đảng của các đoàn thể. Điều này, trước hết là lỗi của các cấp uỷ không nhận thức và mạnh dạn khuyến khích tính năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ đoàn thể.

Mặt trận Tổ quốc có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị từ cấp trung ương đến cơ sở; là tổ chức bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội, các nhân sỹ, trí thức; có chức năng tham chính, tham nghị và giám sát. Mặt trận Tổ quốc chỉ có thành viên mà không có hội viên, có vai trò đoàn kết nhân dân, chăm lo đời sống lợi ích của các thành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ của công dân, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đoàn kết nhân dân là một trong những động lực chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội. Ngày nay, đoàn kết phải lấy mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, lấy lợi ích kinh tế, công bằng xã hội làm tiền đề. Khi giải quyết những vấn đề này, ở nơi nào thiếu dân chủ, tồn tại thói hám danh, hám lợi, cụ bộ, phe cánh thì nơi đó không thể có đoàn kết. Những năm qua, Mặt trận Tổ quốc đã phát động được nhiều phong trào, nhiều cuộc vận động lớn có ý nghĩa to lớn về chính trị, kinh tế và xã hội như "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư"; " Ngày vì người nghèo"; "Đền ơn đáp nghĩa"; "Uống nước nhớ nguồn"; "Xoá đói giảm nghèo"… Mặt trận Tổ quốc cũng tích cực tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, nhất là tham gia tổ chức các cuộc bầu cử cơ quan dân cử. Có vai trò to lớn trong việc bảo đảm an ninh trật tự ở các địa bàn bằng các phong trào như phong trào nhân dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, quỹ công ích quốc phòng…

Mặt trận với tư cách là tổ chức đại đoàn kết toàn dân, có đủ tư cách tham gia góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những kiến nghị của Mặt trận dù không có tính quyết định nhưng có giá trị như là những đề xuất, những phản biện để chính quyền tham khảo. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phối hợp trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân và tình hình thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật; kiến nghị, phản ánh với Đảng và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền những vấn đề cần được bổ sung, sửa đổi, thay thế. Các đoàn thể nhân dân cùng với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp tổ chức vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, hướng dẫn nhân dân xây dựng hương ước, quy ước về nếp sống văn minh phù hợp với pháp luật, góp phần xây dựng chính quyền ngày càng vững mạnh.

BÀI VIẾT THỨ 14
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI TRONG NHẬN THỨC
VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở NƯỚC TA
TÁC GIẢ Đông Hải
NỘI DUNG

Nhận thấy ý nghĩa quan trọng của việc giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc, cũng như những thuận lợi, khó khăn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là một trong những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, luôn xác định rằng, mặc dù có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội giữa các vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng dân tộc Kinh và đồng bằng, song đó không phải là khó khăn không thể tránh khỏi. Vấn đề đặt ra là, chúng ta cần có chủ trương, chính sách đúng đắn để giải quyết khó khăn đó. Trong Thư gửi Đại hội Các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây Cu (tháng 4 - 1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: " Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Sê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt… Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta"1. Tiếp đó, tại Đại hội II (năm 1951), Đảng ta khẳng định: " Các dân tộc sống trên đất Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc"2. Tại các kỳ Đại hội III, IV, V, Đảng ta kiên trì chủ trương: Thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc để đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Có thể nói, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng ta về vấn đề dân tộc ngày càng sáng rõ và được cụ thể hoá trong hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay, việc thực hiện chính sách dân tộc đã đem lại sự biến đổi sâu sắc, tích cực trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đến nay, về điều kiện sản xuất: Có 60 - 90% diện tích canh tác được tưới tiêu bằng thủy lợi. Về giao thông: Tất cả các tỉnh đều có đường ô tô đến trung tâm xã; nhiều tỉnh có đường ô tô đến tận các buôn, làng. Về giáo dục: Trường phổ thông được xây dựng đều khắp ở các xã; nhiều xã, huyện vùng cao có trường tiểu học hoàn chỉnh. Về y tế: 100% số xã có trạm y tế, trong đó có trên 80% số trạm được xây dựng kiên cố, 70% số trạm có đủ trang thiết bị. Về đời sống văn hoá: Hầu hết các xã có bưu điện văn hoá xã; 90% số xã được phủ sóng phát thanh và 75% số xã được phủ sóng truyền hình. Về xoá đói giảm nghèo: Số hộ thuộc diện xoá đói giảm nghèo xuống dưới mức 30%.

Đại hội VI của Đảng đã chỉ rõ những hạn chế, yếu kém trong thực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc, đồng thời đề ra nhiều nội dung, phương hướng thiết thực, cụ thể để giải quyết tốt vấn đề dân tộc, trong đó nhiệm vụ trong tâm là phát triển lực lượng sản xuất trên cơ sở đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; coi phát triển kinh tế hàng hoá là cơ sở kinh tế của việc giải quyết quan hệ dân tộc. Văn kiện Đại hội chỉ rõ: Đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết hợp với động viên tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân các dân tộc để khai thác, bảo vệ và phát huy thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú.

Có thể khẳng định rằng, Đại hội VI của Đảng là dấu mốc quan trọng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta. Từ đây, Đảng và Nhà nước ta thực sự có bước phát triển mới trong nhận thức và thực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc. Từ sau Đại hội VI, Đảng ta thường xuyên đề ra những chủ trương, đường lối phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của các vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó, Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và các Văn kiện Đại hội VII, VIII, IX có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Đặc biệt, Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị có thể được coi như một nghị quyết đặc thù, dành riêng cho việc giải quyết vấn đề dân tộc.

Điều đáng lưu ý trước hết là, Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị khái quát tất cả những hạn chế, yếu kém trong việc giải quyết vấn đề dân tộc nói chung và chính sách dân tộc nói riêng ở nước ta trong một thời kỳ dài xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những hạn chế, yếu kém đó " bắt nguồn từ những khuyết điểm trong chính sách kinh tế - xã hội đối với miền núi và trong việc thực hiện chính sách đó"3; từ việc "sử dụng vốn đầu tư chưa đúng, nhất là chưa chú trọng đúng mức đến xây dựng kết cấu hạ tầng của miền núi"4, mà nguyên nhân sâu xa là chưa nhận thức rõ những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội miền núi.

Một thí dụ điển hình là vấn đề định canh, định cư. Du canh, du cư là tập quán rất lâu đời của đồng bào các dân tộc, song đó là tập quán lạc hậu, thường dẫn đến sự nghèo đói. Mặc dù chủ trương, chính sách định canh, định cư của Đảng và Nhà nước ta đã được thực hiện từ nhiều năm nhưng hiệu quả không cao. Nguyên nhân chính là do chúng ta áp dụng một cách máy móc mô hình định canh, định cư của đồng bào Kinh ở miền xuôi vào điều kiện sinh sống của đồng bào các dân tộc, không tính đến đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của các vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Để phát triển kinh tế ở miền núi, cần có chính sách chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế hàng hoá để phá vỡ thế tự cấp, tự túc, cải thiện quan hệ giữa các dân tộc. Bàn về vấn đề này, Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị chỉ rõ, cần "áp dụng rộng rãi các hình thức kinh tế hợp tác, quá độ thích hợp từ thấp đến cao, đặc biệt coi trọng kinh tế hộ gia đình"5.

Bên cạnh chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế, Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị còn đề ra chủ trương phát triển văn hoá, giáo dục, xây dựng nếp sống mới, chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đây là vấn đề được Đảng ta coi là một trong những biện pháp quan trọng góp phần cải thiện quan hệ dân tộc. Theo đó, trước mắt cần tăng cường mức đầu tư cho hệ thống y tế miền núi; có chính sách trợ cấp điều trị tại các bệnh viện cho những cán bộ và nhân dân sinh sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng đang có nhiều khó khăn.

Để cụ thể hoá và hiện thực hoá văn kiện Đại hội VI và Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, ngày 13-3-1990, Chính phủ ra Quyết định 72 Về một số chủ trương - chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Với 38 điều, Quyết định đã đề cập đến nhiều nội dung khác nhau nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng sản xuất hàng hoá. Quyết định chỉ rõ: Xây dựng cơ cấu kinh tế của miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng, tiểu vùng; phát huy thế mạnh về lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, lương thực, chăn nuôi đại gia súc; phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, du lịch…

Sự chênh lệch tương đối lớn về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc, nhất là giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến mâu thuẫn trong quan hệ tộc người.

Các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội đang ra sức lợi dụng những khó khăn nhất thời trong đời sống của đồng bào các dân tộc và việc giải quyết chưa ổn thoả về vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc để kích động sự hằn thù dân tộc, tạo ra hố ngăn cách trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Bởi vậy, Đảng và Nhà nước ta cho rằng, vấn đề cấp thiết đặt ra trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay là, thực hiện bằng được sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, để sao cho tất cả các dân tộc đều có khả năng, điều kiện phát triển toàn diện và thoả mãn những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần. Cần "chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc"6 ; "kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc"7.

Vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc, xét đến cùng, là sự bình đẳng về lợi ích. Không có sự bình đẳng về lợi ích, khó có thể giải quyết hài hoà, tốt đẹp quan hệ giữa các dân tộc. Song, có một thách thức lớn là, để vươn tới sự bình đẳng về lợi ích, đồng bào các dân tộc không thể không vươn lên trình độ sản xuất tiên tiến. Trong khi đó, điều kiện sinh sống khó khăn, thiếu thốn, phong tục tập quán cổ hủ, phương thức canh tác lạc hậu làm cho đồng bào các dân tộc khó có thể tự vươn lên, nếu không có sự tương thân, tương ái, giúp đỡ của các dân tộc anh em khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Như vậy, để giải quyết tốt vấn đề dân tộc, chúng ta cần thực hiện được một hệ thống chính sách dân tộc đúng đắn, phù hợp với điều kiện sinh sống của đồng bào các dân tộc, và hệ thống chính sách đó phải được bảo đảm bằng cơ chế, được luật hoá. Hơn nữa, hệ thống chính sách đó không chỉ đề cập đến lĩnh vực kinh tế như giảm thuế nông nghiệp cho sản xuất lương thực, miễn thuế lưu thông cho một số sản phẩm thiết yếu…, mà còn đề cập đến các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục, đào tạo, xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ ở cơ sở, đội ngũ già làng, trưởng bản. Tính đến nay, ở nước ta có tới 26 luật, bộ luật và 3 pháp lệnh trực tiếp đề cập đến vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc. Trong đó, có 5 điều qui đinh trong Hiến pháp năm 1992, có 45 điều qui định trong các luật và bộ luật, 3 điều qui định trong pháp lệnh.

Thực tiễn quan hệ dân tộc ở nước ta thời gian qua cho thấy, việc cải thiện quan hệ giữa các dân tộc không chỉ phụ thuộc vào những chủ trương, chính sách lớn, lâu dài, mang tính tổng thể về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng-an ninh của Đảng và Chính phủ, mà còn phụ thuộc vào những chính sách rất cụ thể của Chính phủ về định canh, định cư, giao đất, giao rừng, tiếng nói, chữ viết, dùng muối i ốt, xoá bỏ trồng cây thuốc phiện… Chính vì vậy, trong thời gian qua, chính phủ đã đề ra nhiều chính sách, chỉ thị, biện pháp, cụ thể phù hợp với đặc điểm của từng vùng đồng bào dân tộc, mà nội dung là tập trung vào những nhiệm vụ chính yếu như chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng hệ thống giao thông, lưới điện sinh hoạt, đẩy mạnh giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí…Đó là các văn bản:

+ Chỉ thị 525/TTg ngày 2-11-1993 của Thủ tướng Chính phủ Về một số chủ trương tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Trong đó, Chỉ thị tập trung vào một số nhiệm vụ chủ yếu: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ rừng và tài nguyên rừng, đầu tư cho đường giao thông, nước sản xuất và sinh hoạt, điện, giáo dục và đào tạo...

+ Nghị quyết 06/CP ngày 29- 01-1993 của Chính phủ Về tăng cường phòng chống và kiểm soát ma tuý, trong đó có vấn đề thay thế cây thuốc phiện.

+ Quyết định số 960-TTg ngày24-12-1996 của Thủ tướng Chính phủ Về định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc. Trong đó, Quyết định tập trung vào nhiệm vụ: phát triển hệ thống giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã, qui hoạch, bố trí dân cư, thực hiện định canh, định cư, xoá đói giảm nghèo…

+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 393-TTg ngày10- 6-1996 Về quy hoạch dân cư, tăng cường cơ sở hạ tầng, sắp xếp sản xuất ở vùng dân tộc và miền núi. Chỉ thị đã nêu rõ: đến năm 2000 phải cơ bản hoàn thành việc xây dựng các trường phổ thông dân tộc nội trú ở tỉnh, huyện và trường bán trú ở xã; các huyện đều có trung tâm y tế…; các huyện và trung tâm cụm xã đều có trạm phát hình và phát thanh…để đồng bào được hưởng các dịch vụ văn hoá, phúc lợi xã hội.

+ Đặc biệt, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 135/1998 QĐ - TTg ngày 31- 7-1998 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135). Trong đó, Chương trình đề cập đến những nội dung chủ yếu như xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, điện, nước…), đào tạo cán bộ, quy hoạch dân cư, phát triển kinh tế …nhằm đạt mục tiêu đến năm 2005 giảm các hộ nghèo xuống còn 25%. Từ khi có Quyết định này, Nhà nước đã huy động vốn đầu tư khá lớn (22 880 tỉ đồng giai đoạn 2001-2005) để các vùng dân tộc thiểu số và miền núi phát triển kinh tế -xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần, góp phần thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch với đồng bằng và thành thị. Thực tế, với mức đầu tư 400 triệu đồng/xã, Chương trình 135 đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở 3 tỉnh Hoà Bình, Lai Châu, Sơn La.

Tóm lại, từ khi thực thi công cuộc đổi mới đến nay, đặc biệt là những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta liên tục đề ra và thực hiện những đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn, sát thực về vấn đề dân tộc. Nhờ vậy, vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc ở nước ta được cải thiện rõ rệt; kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, quốc phòng - an ninh ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi có bước phát triển vượt bậc và từng bước được củng cố vững chắc. Có thể nói, đó là kết quả của bước phát triển mới trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam.


1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 4, tr 217
2 Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t2, tr 440
3 Một số văn kiện về chính sách dân tộc, miền núi của Đảng và Nhà nước, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992, tr 5
4 Sđd, tr17
5 Sđd, tr 21
6 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr128
7 Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr35
BÀI VIẾT THỨ 15
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ HÀNH VI ỨNG XỬ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN,
MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TÁC GIẢ Lê Huy Bá*
NỘI DUNG

1 - Một số suy nghĩ và hành vi ứng xử không phù hợp đối với môi trường

Thế giới đang đứng trước tình trạng môi trường tài nguyên ngày một suy thoái nghiêm trọng. Để có một tương lai an toàn hơn, tránh các hiểm họa cho toàn cầu, chúng ta không chỉ khắc phục về kỹ thuật xử lý, mà sâu xa hơn là phải chỉnh đốn, thay đổi các hành vi ứng xử, có thái độ đúng đắn đối với môi trường sống, xem đó là tiêu chuẩn để đánh giá về mặt đạo đức, trình độ văn minh, phẩm chất của mỗi người.

Thế nhưng hiện trên thế giới vẫn còn có những cách nghĩ không đúng, những hành vi ứng xử với môi trường không phù hợp. Chẳng hạn như:

- Thế giới có nguồn tài nguyên vô tận, cho phép con người sử dụng, không cần phải để dành cho các thế hệ mai sau.

- Tự nhiên là một cái gì đó bị chế ngự. Công nghệ trở thành công cụ để con người chinh phục tự nhiên. Thế nhưng chính điều này lại mâu thuẫn với sự phát triển bền vững, vì phát triển bền vững không có nghĩa là con người phải chế ngự tự nhiên mà phải tôn trọng sự tồn tại và phát triển của tự nhiên như là một tất yếu.

- Thái độ bàng quan với môi trường tài nguyên, thờ ơ đối với các quá trình diễn biến xã hội, coi sự giới hạn của tài nguyên và sự ô nhiễm môi trường như là một vấn đề đối với người khác chứ không phải của mình.

- Hành vi ứng xử tự cho mình là trung tâm. Hậu quả của triết lý "bản thân mình là trung tâm" sẽ đi đến một cuộc sống có nguy cơ ô nhiễm môi trường toàn cầu.

- Ngược lại với quan điểm "cá nhân là trung tâm", không ít người cho rằng, vai trò của cá nhân mình quá nhỏ bé. Thực ra, rắc rối bắt đầu từ đây. Bởi vì, hơn 6 tỉ người trên thế giới này đều suy nghĩ như vậy, hoạt động của họ đã tạo ra ô nhiễm môi trường khắp nước và toàn cầu, rồi chúng ta sẽ tự hủy diệt mình.

- Con người hiện nay đã quá lạm dụng kỹ thuật. Nhiều vấn đề của ngày hôm nay là kết quả của sự phát triển và áp dụng công nghệ một cách thiếu suy nghĩ, từ "chủ nghĩa lạc quan kỹ thuật" về khả năng của công nghệ để giải quyết các vấn đề. Điều này đang xảy ra khắp mọi nơi. Thí dụ như: Trong nỗ lực làm giảm sự hủy diệt lớp ô-dôn ở tầng bình lưu, DuPont và các công ty khác tìm kiếm sự thay thế chất Chlorofluorocarbons, chất thay thế như là một giải pháp về mặt kỹ thuật, chất HCFC- 22, nó làm giảm 20 lần so với mức độ tàn phá của chất CFCs. Nhưng một cuộc kiểm tra gần đây cho thấy chất này cũng lại là loại khí gây hiệu ứng nhà kính. Điều tệ hại hơn, HCFC lại có tác hại làm nóng bầu khí quyển hơn chất carbon dioxyde. Hay nói cách khác, việc cố gắng giải quyết bằng kỹ thuật này, chúng có thể tạo ra vấn đề khác tồi tệ hơn.

Ngày nay, sự hủy diệt các loài, sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự ô nhiễm thế giới nhắc nhở: Thế giới chúng ta đang sống có giới hạn, và đòi hỏi con người phải xử sự đúng đắn để bảo đảm sự phát triển bền vững của trái đất.

2 - Xử thế với môi trường đúng đắn - nguồn gốc hình thành sự phát triển bền vững của trái đất

"Xử thế đúng đắn sự phát triển bền vững của trái đất" được gọi tắt là "xử thế đúng đắn bền vững". Trong đó, quan điểm rõ nét: trái đất cung cấp có hạn nguồn tài nguyên và con người là sản phẩm của chính tự nhiên, một phần không thể thiếu được của tự nhiên.

Sự thừa nhận chủ yếu của xử thế với môi trường đúng đắn là "không có gì vô tận", trái đất cung cấp có hạn nguồn tài nguyên không thể tái tạo được như kim loại, dầu... Ngay cả nguồn tài nguyên có thể tái tạo được cũng sẽ bị cạn kiệt bởi sự quản lý không đúng. Chúng ta cần phải nhận ra rằng, sự gia tăng sản xuất và tiêu dùng cũng là một nguyên nhân có thể gây thiệt hại cho môi trường sống.

Những nhận thức quan trọng này sẽ dẫn đến chiến lược mới về tiêu thụ nguồn tài nguyên. Thứ nhất, là sự bảo tồn, giảm bớt việc sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên. Thứ hai, chiến lược tái sử dụng và tái quay vòng tất cả các vật chất. Thứ ba, tăng cường sử dụng nhiều hơn các nguồn tài nguyên có thể tái tạo thay cho tài nguyên không tái tạo (ánh sáng mặt trời) và hạn chế sử dụng nguồn tài nguyên không thể tái tạo (than và dầu). Thứ tư, kiểm soát sự gia tăng dân số.

Như chúng ta biết: trái đất không phụ thuộc vào con người, mà con người phụ thuộc vào trái đất, tất cả mọi thứ đều có mối quan hệ giống như máu chảy đến từng bộ phận trong cơ thể.

Xử thế môi trường đúng đắn là bao gồm giải quyết tốt mối quan hệ với đất đai, không khí, nước và tất cả các sinh vật sống, cùng với các thế hệ tương lai. Điều này góp phần nuôi dưỡng lòng kính trọng đối với cuộc sống, và giảm bớt cách nhìn của chúng ta về tầm quan trọng của riêng mình, tôn trọng môi trường sống, có ý thức bảo vệ tự nhiên, loại bỏ lối sống vị kỷ hẹp hòi trong xã hội vận hành theo cơ chế thị trường.

Xử thế môi trường đúng đắn đòi hỏi phải thực hiện những nguyên tắc chung trên đây. Nó không loại trừ bất cứ chế độ xã hội nào. Đây là cội nguồn trong khoa học sinh thái môi trường, một lý thuyết dựa trên cơ sở của thực tế.

Có nhiều lợi ích từ thực tiễn và đạo đức của triết lý mới này:

Thứ nhất, xử thế đúng đắn môi trường bền vững cho chúng ta việc kiểm tra các quyết định về "Kinh tế tài nguyên" "Kinh tế sinh thái" một cách cẩn thận hơn khi chúng ảnh hưởng đến tính toàn bộ, tính ổn định và vẻ đẹp của thế giới. Chính những suy nghĩ và hành vi vụ lợi cá nhân đã cướp đi của chúng ta về sự an ninh, hạnh phúc, vẻ đẹp và sức khỏe. Phấn đấu cho một sự tồn tại chất lượng, nghĩa là kiểm soát được môi trường tài nguyên bằng những công cụ như ISO 14000, LCA, LCM, EPD.

Thứ hai, chúng ta ngày càng nhận thấy mối quan hệ "quốc tế" các thành phần của trái đất và các hoạt động của con người thường có nhiều ảnh hưởng bất ngờ. Kiến thức chúng ta về mối quan hệ toàn cầu gia tăng và có thể đạt đến việc quan tâm tất cả các hoạt động của nhân loại.

Thứ ba, như một kết quả tự nhiên của sự thay đổi trong cách nhìn, chúng ta có thể thực hiện một cách thận trọng hơn trong các khía cạnh của cuộc sống về mặt công nghệ và phát triển. Ví dụ: có một câu hỏi mới đặt ra "có thể xây dựng nhà máy điện hạt nhân không?", và ngay sau đó, một câu hỏi quan trọng khác sẽ là: "Hậu quả của ô nhiễm và sự cố môi trường sẽ như thế nào?"

Các nhà môi trường cho rằng, động vật, thực vật và các sinh vật khác có quyền đòi hỏi tương tự những cái chúng ta đòi hỏi. Có trách nhiệm bảo vệ các loài sinh vật, xử thế đúng đắn môi trường bền vững là một tiêu chuẩn đạo đức. Nếu không đối xử với "người hàng xóm" bằng lòng kính trọng và sự tử tế, thì không mong "người hàng xóm" đối xử tốt với ta. Chúng ta phải có hành vi đối xử với các loài sinh vật không phải là con người một cách công bằng hơn.

Xử thế môi trường đúng đắn giúp chúng ta thấy sự sai lầm trong quan niệm tự cho mình là trung tâm, để hành động vì lợi ích đối với xã hội và trái đất.

Hệ thống xử thế môi trường đúng đắn là một mẫu mới, nền tảng của một xã hội bền vững. Tuy nhiên, nó có thể khác biệt, nó không cần thiết phải loại bỏ hết công nghệ, tất cả sự phát triển, hay tất cả các sản phẩm vật chất. Thay vào đó, nó biện hộ cách nhìn sâu sắc về tình trạng hoạt động của chúng ta trong một thời gian dài và ước lượng tầm quan trọng của công nghệ, sự gia tăng dân số và chủ nghĩa vật chất.

3 - Cân nhắc và đưa ra quyết định cho hành vi môi trường

Hằng ngày con người phải đối mặt với hàng chục các quyết định, nhiều trong các quyết định này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Chẳng hạn như anh nên đi xe máy hay đi xe đạp khi đi làm việc, đi chơi? Tổng các quyết định của hàng triệu cá nhân cộng vào, sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường sống của chúng ta. Các công ty và chính quyền phải đối mặt với nhiều quyết định như vậy. Lại có các quyết định của những người này tác động sâu sắc đến hàng triệu cá nhân khác. Thí dụ, nên phát triển năng lượng hạt nhân hay đẩy mạnh sự bảo tồn năng lượng truyền thống? Nên sử dụng giấy tái sinh hay mua nguyên vật liệu? Việc hiểu biết các quyết định được tạo ra như thế nào và học hỏi cách tạo ra quyết định có thể giúp chúng ta biết được trách nhiệm của mình đối với môi trường.

Phần lớn các quyết định bị ảnh hưởng bởi các giá trị, cái nhìn đúng hay sai, khao khát hay không khao khát của chúng ta.

Xử thế đúng đắn môi trường bền vững có thể được coi như hệ thống các giá trị tinh thần, đạo đức, nó kêu gọi mọi người xem xét một biến cố mới khi ra quyết định, nó giữ cho chúng ta nơi ở trên thế giới và cầu khẩn chúng ta hành động trong sự hợp tác và cân nhắc, hơn là sự cách biệt và ích kỷ.

4 - Bước chuyển tiếp tạo nên hành vi môi trường đúng đắn

- Các biểu hiện thay đổi thái độ và hành vi

Một sự thay đổi sâu sắc trong thái độ là điều cần thiết để bắt đầu một tiến trình. Khi con người chấp nhận và thực hiện xử thế môi trường đúng đắn, sẽ tự tạo ra nó.

Sự thay đổi trong lối sống này dẫn đến một trật tự xã hội mới. Đó là điều cần thiết để có các luật lệ mới và sự thay đổi niềm tin. Nhiều người lại tin rằng tai họa môi trường là cần thiết để làm thay đổi thái độ và lối sống, bởi vì nó sẽ đạt đến "khủng hoảng". Các nhà môi trường lại cho rằng, các cuộc khủng hoảng thì quá hỗn loạn và cần phải tránh khủng hoảng khi đạt đến đức tin và hành vi.

Niềm tin và hành vi đúng có thể sẽ tạo ra thử thách tối thiểu để lựa chọn. Tuy vậy, nó cũng có thể là cái khó khăn nhất, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc trong các vấn đề và các giải pháp của chúng ta. Khả năng bền vững môi trường toàn cầu tăng theo sự thay đổi về suy nghĩ và hành động của mọi người trên thế giới.

- Thực tế đã có sự thay đổi hành vi ứng xử môi trường theo hướng đúng

Không nghi ngờ gì nữa, thái độ với môi trường của quần chúng đang thay đổi. Thái độ mới này là do sức ép của sự phát triển của các quốc gia trước việc nguồn tài nguyên cung cấp đang cạn dần và các vấn đề kinh tế không đủ tạo ra một xã hội bền vững, trước hết do nhu cầu hội nhập quốc tế. Yếu tố chính trong chiến lược đang đạt được là sửa đổi lại những cách làm không hiệu quả.

Để đạt được một xã hội và môi trường thực sự bền vững, cần có thái độ, biểu hiện, một mặt duy trì mức sống của con người, mặt khác giảm những đòi hỏi nguồn tài nguyên xuống, hướng đến một xã hội bền vững là phát triển thái độ "sử dụng ít hơn cái mình có". Có nghĩa là cần phải thay đổi cách vận hành, sử dụng xe tiêu hao ít năng lượng; sử dụng phương tiện giao thông công cộng và đi bộ; sử dụng chung các công cụ với hàng xóm hay thuê chúng, bỏ đi các thói quen xa hoa.

- Tránh những cạm bẫy khi ứng xử môi trường đúng đắn

Tạo sự chuyển tiếp đến một môi trường xã hội bền vững là sự thử thách và là cơ hội. Nhưng để làm được điều đó, cần phải tránh:

Trước tiên, là tình trạng tê liệt do nạn thiếu hụt lương thực, thực phẩm, chiến tranh, ô nhiễm môi trường.

Thứ hai, tránh "sự lạc quan tếu" các giải pháp kỹ thuật. Muốn vậy, đòi hỏi các kỹ thuật này phải mang lại lợi ích tối đa và thiệt hại tối thiểu đối với môi trường và sức khỏe của con người.

Thứ ba, tránh các giải pháp lỗi thời như xây dựng các nhà máy đường, nhà máy xi măng lạc hậu... Tuy nhiên, cần phải cẩn thận với các việc làm của mình vì các vấn đề của ngày mai là hậu quả của những việc làm hiện nay. Các giải pháp mới đối với các vấn đề mới cần có thời gian, nhưng chúng ta cũng cần phải cập nhật.

Thứ tư, phải tránh những ý tưởng hẹp hòi và sự tưởng tượng sai lệch. Tất cả sáng tạo, sự hợp tác và lòng kiên nhẫn sẽ được kêu gọi để đạt được một "môi trường xã hội bền vững", ngay cả khi chúng ta không biết chính xác hình dạng của nó trong tương lai.

Thứ năm, phải tránh thái độ bàng quang và thái độ ỷ lại, cho rằng một người nào đó sẽ giải quyết vấn đề thay mình. Chúng ta cần tích cực và làm nên sự thay đổi; cần bắt đầu với những vấn đề bao quanh chúng ta, ngay lập tức.

Chúng ta sống trong thời đại hợp tác. Muốn thành công cần cùng nhau làm việc. Thành công đến khi mỗi một người tạo ra sự thay đổi nhỏ để cuối cùng sẽ làm thay đổi môi trường toàn cầu.

Tóm lại, xây dựng một môi trường bền vững đòi hỏi một chiều hướng mới của lòng tin đạt đến hệ thống xử thế đúng đắn, bởi vì thái độ của chúng ta hướng đến tự nhiên xác định giữa chúng ta với môi trường ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào.

Mọi người chắc chắn sẽ được sống trong một môi trường sạch sẽ, nâng cao tuổi thọ và tạo ra tài nguyên môi trường bền vững cho thế hệ con cháu mai sau, nếu hành vi xử thế môi trường bền vững đúng đắn, được sự quan tâm đúng mức của Nhà nước, các tổ chức, của các cấp chính quyền và các tổ chức quần chúng, của toàn thể xã hội, toàn thể các quốc gia trên thế giới.


* GS, TS, Trường đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
BÀI VIẾT THỨ 16
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ VẤN ĐỀ DÂN SỐ –
TỪ GÓC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
TÁC GIẢ Anh Nguyễn
NỘI DUNG

Quan điểm phát triển phải hướng tới việc tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người, đồng thời quan tâm đến việc phân bổ năng lực công bằng hơn trong toàn bộ dân cư cho thấy, giữa dân số, tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy lẫn nhau. Tăng trưởng kinh tế là cơ sở, là điều kiện để thực hiện công bằng xã hội, mặt khác công bằng xã hội được thực hiện sẽ tạo ra động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Công bằng xã hội ở đây được hiểu theo nghĩa cống hiến thế nào hưởng thụ thế ấy và mọi người được tạo cơ hội ngang nhau cho việc cống hiến và hưởng thụ. Việc tạo cơ hội và khả năng tiếp cận cơ hội chính là một trong những vấn đề quan trọng để có cơ sở vững chắc thực hiện công bằng xã hội. Ở khía cạnh này, giải quyết vấn đề dân số có ý nghĩa quan trọng và trực tiếp. Từ cuối thế kỷ trước, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã cảnh báo rằng bất công lớn nhất trong thế kỷ 21 có thể bắt nguồn từ vấn đề dân số và môi trường. Nhận thức mối đe dọa đó, cộng đồng quốc tế đã thực hiện nhiều biện pháp để kiểm soát dân số, bảo vệ môi tường. Tuy nhiên, cho đến nay "quả bom dân số" vẫn treo lơ lửng trên đầu nhân loại.

Ở Việt Nam, thực hiện đường lối đổi mới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã khẳng định trong Văn kiện Đại hội lần thứ VII : "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất, lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, cũng như ở điều kiện phát triển năng lực của mọi thành viên cộng đồng"(1). Đến Đại hội VIII, tư tưởng trên đây được làm rõ thêm: "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất, lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội và sử dụng tốt năng lực của mình"(2).

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và vững chắc thì kết quả của tăng trưởng kinh tế sẽ được chia sẻ công bằng hơn cho mọi người dân nếu như chúng ta giải quyết tốt vấn đề cơ cấu, quy mô, chất lượng dân số. Nâng cao chất lượng dân số, xây dựng quy mô dân số hợp lý sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế, và kết quả GDP bình quân đầu người sẽ tăng nhanh hơn, đồng thời khoảng cách thu nhập giữa người dân ở các vùng miền khác nhau trong cả nước có xu hướng giảm xuống.

Nước ta trong thời gian qua đã thu được những thành tựu đáng kể trong việc thực hiện Chương trình dân số. Nhận thức của toàn xã hội về vấn đề dân số - kế hoạch hóa gia đình có bước chuyển biến rõ rệt. Quy mô gia đình ít con được đông đảo tầng lớp nhân dân tự nguyện chấp nhận. Sự chuyển biến to lớn về nhận thức đã góp phần đáng kể làm giảm tỷ lệ mức sinh. Theo dự đoán, nước ta có khả năng đạt đến mức sinh thay thế vào năm 2005, sớm hơn 10 năm so với mục tiêu đề ra. Chất lượng dân số được nâng cao.

Việc thực hiện đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước đạt mức tăng trưởng cao và trong thời gian dài. Thành tựu trong phát triển kinh tế và trong thực hiện Chiến lược dân số đã góp phần làm tăng đáng kể thu nhập bình quân đầu người trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới vừa qua. Trong giai đoạn 1991 - 2000, GDP của Việt Nam tăng trung bình 7,56% mỗi năm. Đến năm 2000, GDP tăng gấp 2,07 lần năm 1990, đạt và vượt mức mục tiêu tổng quát đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000. Đồng thời, tỷ lệ tăng dân số đã giảm nhanh, đạt mức 1,7%/ năm. Do vậy tỷ lệ tăng GDP bình quân đầu người cao nhất trong 3 thập kỷ qua, đạt 5,86%/năm. So sánh thứ bậc của nước ta trên thế giới giữa chỉ số HDI và GDP bình quân đầu người cho thấy, HDI của Việt Nam cao hơn 26 bậc so với thứ bậc GDP bình quân đầu người. Tổ chức Phát triển của Liên Hợp quốc đã khẳng định, Việt Nam đã thành công trong việc chuyển hoá thành quả của sự tăng trưởng kinh tế thành chất lượng cao hơn tương ứng cho cuộc sống của người dân. Việt Nam cũng được thừa nhận là nước sẽ về đích sớm trong việc thực hiện Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.

Tuy vậy, nước ta vẫn nằm trong danh sách các nước nghèo và vẫn đang đứng trước những thách thức không nhỏ trong giải quyết vấn đề dân số. Đó là tốc độ tăng dân số còn cao và có nguy cơ bùng phát trở lại, phân bố dân cư không đều, di dân tự do tự phát… làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã nhận định: "Gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hoá, thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt".

Mức độ của những thách thức càng tăng lên khi đặt trong bối cảnh kinh tế tri thức, đặt trong đòi hỏi phải nhanh chóng cải thiện chất lượng dân số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Một khía cạnh trong những thách thức cần được đề cập đến là vai trò của tri thức trong tăng trưởng kinh tế và cùng với nó là những bất bình đẳng mới nảy sinh cần được quan tâm trong bối cảnh hiện nay.

Một trong những đặc trưng cơ bản nhất trong tăng trưởng kinh tế của thế kỷ 20, đặc biệt vào những thập niên cuối là sự đóng góp của các phát minh, sáng chế. Động lực để có những phát minh sáng chế đó là sự bùng nổ của tri thức. Vì thế, trong Báo cáo về tình hình phát triển thế giới năm 1998/99 của UNDP đã khẳng định "Tri thức là chìa khóa cho sự phát triển, tri thức là phát triển". Vai trò quyết định của tri thức đối với tăng trưởng kinh tế đã làm cho cán cân giữa các nguồn lực cho phát triển nghiêng hẳn về nguồn lực tri thức. Vai trò quyết định của trí lực trong bộ phận cấu thành động nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy lực lượng sản xuất có những bước nhảy vọt, đạt tốc độ phát triển nhanh, mạnh, sôi động chưa từng thấy trong lịch sử.

Với sự đổi ngôi của các nguồn lực quyết định sự phát triển, cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế cũng có những thay đổi quan trọng, nhiều ngành nghề cũ đang và sẽ mất đi, nhiều ngành nghề mới xuất hiện và lên ngôi. Tri thức và công nghệ sẽ là những nhân tố quyết định trong sự cạnh tranh và phân công lao động quốc tế. Đường biên giới của cạnh tranh không chỉ giới hạn ở chỗ tăng chất lượng, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm… mà sẽ mở rộng tới các hoạt động nghiên cứu triển khai sản phẩm, thậm chí tới cả giai đoạn nghiên cứu cơ bản - nơi tạo ra tri thức mới. Với vai trò quyết định của mình trong tăng trưởng kinh tế, nguồn tri thức mang lại cho con người cách thức mới để khắc phục giới hạn của tự nhiên, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người. "Trong khi thiên nhiên chỉ ra khuynh hướng lợi nhuận giảm, con người … lại chỉ ra khuynh hướng lợi nhuận tăng… Tri thức là động cơ sản xuất mạnh nhất của chúng ta. Nó tạo điều kiện cho chúng ta chinh phục thiên nhiên và thỏa mãn những ham muốn của chúng ta"(3).

Vai trò mới của tri thức trong phát triển cho thấy, tăng trưởng kinh tế sẽ chững lại và không thể tiếp tục đạt mức cao và ổn định trong thời gian dài nếu chất lượng nguồn nhân lực – một vấn đề gắn bó chặt chẽ với dân số không được cải thiện đáng kể.

Trên thế giới hiện nay, ở cả những nước giàu và những nước đang phát triển vẫn đang tồn tại tình trạng phân hóa giàu nghèo, hiện tượng bất bình đẳng trong xã hội. Việc tạo lập sự bình đẳng về cơ hội cho mọi người dân không phân biệt tầng lớp, tôn giáo, giới tính… chưa được thực hiện. Điều đó tạo nên khoảng cách trong việc thu nhận, tiếp cận và khoảng cách trong cơ hội tiếp cận với các kỹ năng, công nghệ mới, tri thức mới giữa nước giàu với nước nghèo, giữa người giàu với người nghèo. Những người không tiếp cận, không có cơ hội tiếp cận được với thông tin, với công nghệ cao sẽ bị tụt sau những người có lợi thế và họ sẽ bị tách ra khỏi quá trình phát triển. Việc san lấp khoảng cách về tri thức không đơn giản, bởi khoảng cách còn lớn hơn khoảng cách về tri thức là khoảng cách về năng lực tạo ra tri thức. Đó là một thiệt thòi rất lớn cho những nước nghèo, người nghèo bởi họ sẽ hầu như không tìm được việc làm, việc làm có thu nhập tốt trong một xã hội đòi hỏi kỹ năng cao. Đây là một khía cạnh mới của tình trạng bất bình đẳng xã hội trong xã hội hậu công nghiệp. Không chỉ có các nước phát triển đang phải đối mặt với tình trạng này mà ngay cả nhiều nước đang phát triển cũng đang phải tìm cách ngăn chặn, giảm bớt nguy cơ phân cách về tri thức này. Một biểu hiện đặc thù của "sự phân cách kiến thức" được gọi là "phân cách số hóa". Những thế hệ công nhân và quản lý già hơn ngày càng giảm đi để thay thế bằng những thế hệ trẻ - những người thành thạo hơn trong việc sử dụng thông tin mới, công nghệ truyền thông mới trong công việc, học tập, giải trí… Sự phân cách này sẽ có những tác động về mặt xã hội - chính trị. Sự phân cách tri thức tăng sẽ còn dẫn tới tình trạng thất nghiệp cơ cấu và hậu quả là gia tăng sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có kỹ năng với những người không có kỹ năng phù hợp với những công việc, ngành nghề mới.

Ở Việt Nam cũng đang tiềm ẩn những yếu tố để tạo nên sự bất bình đẳng thuộc dạng trên. "Mức sinh ở nước ta có giảm nhưng chưa vững chắc và mức giảm cũng khác nhau giữa các vùng. Khu vực nông thôn chiếm gần 80% dân số cả nước có mức sinh cao hơn khu vực thành thị là 0,9 con (2,6 con so với 1,7 con). Đến năm 1999, ba vùng có tổng mức sinh bằng và dưới mức thay thế là đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Ở các vùng còn lại, mức sinh vẫn trên ngưỡng thay thế. Hai vùng có mức sinh cao nhất là Tây Bắc và Tây Nguyên với tổng mức sinh tương ứng là 3,6 và 3,9 con"(4).

Hiện tượng này không nằm ngoài tình trạng chung trên thế giới: tốc độ gia tăng dân số đến chóng mặt tập trung ở những nước nghèo, kinh tế chậm phát triển, chất lượng cuộc sống thấp…, còn ở những nước phát triển thì tốc độ này rất thấp, cá biệt có những nước tốc độ bằng 0, thậm chí âm. Số liệu nêu trên cho thấy, ở Việt Nam, vùng thành thị – nơi có mức sống tương đối cao hơn, có khả năng tiếp cận với tri thức mới, cập nhật thông tin, sử dụng công nghệ hiện đại có tỷ lệ sinh thấp, mức sinh giảm nhanh hơn. Với chênh lệch về mức sinh như vậy trong một đất nước đa số dân sống ở nông thôn sẽ dẫn tới tình trạng số dân sống ở vùng nghèo sẽ tăng nhanh và nhiều hơn số dân sống ở đô thị, vùng có thu nhập khá. Cơ cấu và tốc độ tăng dân số như vậy sẽ gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chất lượng tăng trưởng kinh tế, cũng như thực hiện các chính sách để đảm bảo công bằng xã hội và tăng nhanh thu nhập GDP bình quân đầu người, đảm bảo phát triển bền vững.

Như vậy, việc giải quyết vấn đề dân số gắn liền với việc thực hiện chương trình và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội. Thu nhập tăng, đời sống vật chất, tinh thần và trình độ dân trí được nâng lên thì hiệu ứng đi theo là mức tăng dân số sẽ giảm. Từ những phân tích trên có thể thấy, để góp phần giải quyết vấn đề dân số, đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với việc giải quyết tốt công bằng xã hội, phát triển bền vững, những nhiệm vụ sau đây vẫn là trọng tâm cần được tập trung giải quyết:

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đặc biệt là phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông thôn là góp phần tạo cơ hội cho gần 80% dân cư tham gia vào quá trình tăng trưởng kinh tế và hưởng thụ thành quả của sự tăng trưởng đó. Từ đó, giảm chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa nông thôn với thành thị, giảm tỷ lệ thất nghiệp.

- Tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo là đòi hỏi bức thiết hiện nay. Kinh nghiệm một số nước trong khu vực cho thấy họ đang rất nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và đào tạo lại; đa dạng hóa các nguồn và hình thức đào tạo, đào tạo lại; xây dựng chế độ học tập suốt đời, bổ sung kỹ năng, tăng cơ hội cho người dân tìm việc làm mới... Thí dụ: Chính phủ Xin-ga-po cam kết đào tạo lại nghề cho những người có thu nhập thấp, tăng đầu tư cho con em họ là nhóm trẻ em có nguy cơ chịu thiệt thòi trong giáo dục, qua đó, thế hệ trẻ trong các gia đình nghèo có cơ hội vượt qua hoàn cảnh, tiếp cận tri thức, có cơ hội tìm việc làm tốt; nhà nước có chương trình hỗ trợ cho vùng nghèo, trẻ em nghèo để tránh "cái bẫy đói nghèo"…

- Thực hiện tốt các chính sách xã hội, chương trình xóa đói giảm nghèo, chống tái nghèo ở những vùng sâu, vùng xa…

- Thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động về dân số, kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng có mức sinh cao và nhiều khó khăn. Những thông tin về dân số - kế hoạch hóa gia đình đối với người dân thành thị hay ở những vùng có điều kiện tiếp nhận thông tin có thể đã trở thành quen thuộc, nhưng ở vùng sâu, vùng xa, các phương tiện thông tin đại chúng thiếu vắng hoặc không đến được thì tình hình không hẳn như thế.


(1) Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ.
(2) Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII tại Đại hội Đảng lần thứ VIII
(3) Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tri thức cho phát triển, NXB Chính trị Quốc gia, 1998
4) Xem Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Những vấn đề về dân số trong phát triển kinh tế ở miền Nam Việt Nam hiện nay" tổ chức tại Huế, tháng 4 năm 2003.
BÀI VIẾT THỨ 17
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
TRONG GIA ĐÌNH
TÁC GIẢ Nguyễn Linh Khiếu*
NỘI DUNG

Trong truyền thống giáo dục gia đình Việt Nam, hầu như không đề cập đến các khía cạnh giới tính và tình dục, còn sức khoẻ sinh sản vị thành niên là một khái niệm của xã hội hiện đại nên nó càng xa lạ đối với giáo dục gia đình. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm này không phải là cái gì hoàn toàn mới lạ đối với chúng ta. Thực ra, nó bao gồm chủ yếu là các vấn đề "sức khoẻ" và "văn hoá" của tâm - sinh lý lứa tuổi, sự phát triển và biến đổi của tuổi dậy thì, tình bạn, tình yêu, tình dục, mang thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, hôn nhân, các biện pháp tránh thai và những vấn đề xã hội nảy sinh từ các quan hệ này.

Trong các tài liệu được phổ biến hiện nay, sức khỏe sinh sản vị thành niên được hiểu là một trạng thái hoàn toàn mạnh khỏe và phát triển lành mạnh của bản thân mỗi trẻ vị thành niên về thể chất, tinh thần và xã hội. Đó là sự phát triển toàn diện và hoàn thiện cơ thể, hệ thống cơ quan sinh sản, năng lực tình dục, sự phát triển một cách hài hòa về nhân cách và tâm - sinh lý của tuổi dậy thì, tình bạn, tình yêu, tình dục, thụ thai, các biện pháp tránh thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, gia đình có nhiều chức năng, nhưng giáo dục gia đình là một chức năng đặc biệt quan trọng. Gia đình Việt Nam là cái nôi quan trọng nhất trong giáo dục nhân cách, giáo dục làm người đối với trẻ vị thành niên. Vậy, trong điều kiện hiện nay, gia đình sẽ thực hiện chức năng giáo dục đối với vấn đề sức khoẻ sinh sản cho vị thành niên như thế nào? Quan sát đời sống của các gia đình, mọi người đều có cảm giác, hiện nay vai trò của gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên còn hết sức mờ nhạt. Như thế, cần làm gì để nâng cao vai trò của gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên?... Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên trong gia đình là một vấn đề mới mẻ của công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, vì vậy, nghiên cứu thực trạng, tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy việc nâng cao vai trò của gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên sẽ có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với việc thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010, mà hơn thế, sẽ thực sự góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng nguồn nhân lực của nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Mặc dù mới được tuyên truyền và phổ biến ở nước ta cùng với công cuộc đổi mới đất nước, nhưng vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên đã thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, nhất là sự chú ý nghiên cứu tìm hiểu của nhiều nhà khoa học và giáo dục. Kết quả của các đề tài, dự án nghiên cứu và triển khai bước đầu cho ta nhận diện một số vấn đề cơ bản về sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, vào thời điểm hiện nay, trẻ vị thành niên ở nước ta, nhìn chung, có sự hiểu biết tương đối phong phú về các khía cạnh khác nhau của sức khỏe sinh sản vị thành niên như tuổi dậy thì, tâm lý lứa tuổi, tình bạn khác giới, tình yêu, tình dục, thụ thai, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV/AIDS... Tuy nhiên, sự hiểu biết này còn sơ sài, phiến diện và nhiều khi thiếu chính xác. Sở dĩ sự hiểu biết của các em như thế là vì các kiến thức mà các em có được từ lĩnh vực này không phải từ nhà trường mà chủ yếu từ các kênh truyền thông đại chúng và sách báo hoặc tự trao đổi với bạn bè.

Thứ hai, điều bất ngờ là các bậc cha mẹ khi được hỏi về các vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên lại tỏ ra hết sức lúng túng. Kiến thức mà họ có được về các vấn đề này rất nghèo nàn, sơ lược và thậm chí còn nhiều lệch lạc. Có thể nói, nhận thức, quan niệm, thái độ và hành vi của các bậc cha mẹ về sức khỏe sinh sản vị thành niên hiện nay còn nhiều thành kiến và lạc hậu. Tuy nhiên, không như trước đây, khi đề cập tới vấn đề này, nhiều bậc cha mẹ tỏ ra lo ngại rằng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ sẽ là "vẽ đường cho hươu chạy", các bậc cha mẹ hiện nay đều khẳng định, trong điều kiện hiện nay vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên đã trở nên hết sức cấp bách.

Thứ ba, cả vị thành niên và các bậc cha mẹ đều khẳng định rằng trong thời điểm hiện nay, mặc dù, gia đình có vai trò cực kỳ quan trọng trong giáo dục trẻ em, nhưng riêng về lĩnh vực giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, vai trò của gia đình còn thể hiện rất mờ nhạt, chưa tương xứng với vị trí và vai trò của mình đối với trẻ vị thành niên. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Đó là, do kinh tế gia đình còn nghèo nên cha mẹ mải tập trung vào kinh tế, chưa có điều kiện quan tâm đến việc dạy dỗ con cái; do kiến thức của cha mẹ về lĩnh vực này cũng rất sơ lược và nghèo nàn; do quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình hiện nay chưa thực sự dân chủ, bình đẳng và cởi mở, do đó trẻ rất ít khi dám tâm sự, hỏi han cha mẹ về các lĩnh vực "thầm kín" và "tế nhị" này...

Thứ tư, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong gia đình hiện nay có những thuận lợi và khó khăn nhất định. Về thuận lợi, đời sống kinh tế, văn hóa tinh thần của các gia đình được nâng cao, đã tạo điều kiện thuận lợi để họ đầu tư nhiều hơn cho việc học tập và chăm sóc sức khỏe cho trẻ vị thành niên. Do kinh tế phát triển, các gia đình có điều kiện mua sắm những phương tiện nghe, nhìn góp phần nâng cao nhận thức và đời sống văn hóa, tinh thần của các thành viên. Các mối quan hệ truyền thống tốt đẹp của gia đình được phục hồi, chức năng của gia đình được thực hiện, vai trò và vị trí của các thành viên trong gia đình cũng được đề cao, vì thế, chức năng giáo dục của gia đình ngày càng được thực hiện tốt hơn. Kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên mặc dù còn mới mẻ nhưng do công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục được xã hội hóa cao, nhất là, sự tích cực của các phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền cộng đồng nên đã bước đầu đạt được hiệu quả xã hội cao. Và, cuối cùng là, vị thành niên nước ta nhìn chung là thông minh, hiếu học, nhạy cảm, ham tìm hiểu những thông tin mới, vì thế, công tác tuyên truyền các kiến thức về lĩnh vực này được các em chủ động tiếp nhận nhanh chóng. Về khó khăn, do cha mẹ mải tập trung xây dựng kinh tế gia đình nên ít có điều kiện chăm sóc giáo dục trẻ vị thành niên. Gia đình trong bối cảnh toàn cầu hóa đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức mới. Kiến thức của cha mẹ và các thành viên gia đình về sức khỏe sinh sản vị thành niên còn rất nghèo nàn và sơ lược. Bản thân các bậc cha mẹ do ảnh hưởng của truyền thống văn hóa Nho giáo nên còn nhiều thành kiến về lĩnh vực này. Kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên chủ yếu được truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng nên kém tính hệ thống, chính xác và không đầy đủ. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một chiến lược tổng thể quốc gia về sức khỏe sinh sản vị thành niên mang tính dài hạn.

Thứ năm, với thực trạng vai trò của gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên như nêu trên và những thuận lợi, khó khăn trong thực tế, để nâng cao hơn nữa vai trò của gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong điều kiện hiện nay cần thực hiện kịp thời một số giải pháp cơ bản sau:

- Nghiên cứu một cách tổng thể và toàn diện về vị thành niên và các vấn đề cấp bách đang đặt ra đối với vị thành niên trong giai đoạn hiện nay.

- Tiến hành truyền thông rộng khắp nhằm nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội đối với việc giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.

- Biên soạn và phát hành, tuyên truyền một hệ thống giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu khoa học nhằm phổ biến kiến thức về các khía cạnh sức khỏe sinh sản vị thành niên phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận.

- Có những biện pháp, hình thức thích hợp để tuyên truyền, giáo dục nhằm trang bị một cách tương đối đầy đủ các kiến thức về sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh sản vị thành niên cho các bậc cha mẹ và các thành viên trong gia đình.

- Tạo lập mối quan hệ chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình thực hiện giáo dục sức khỏe sinh sản đối với vị thành niên.


* TS, Tạp chí Cộng sản
BÀI VIẾT THỨ 18
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ VÀI NÉT VỀ CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ
DƯỚI CON MẮT CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU
TÁC GIẢ Võ Thủ Phương
NỘI DUNG

Khủng bố đã xuất hiện và tồn tại từ hàng nghìn năm nay, nhưng sự kiện ngày 11-9-2001 mới là mốc đen tang tóc đánh dấu sự hiện diện rất nguy hiểm của khủng bố trong đời sống xã hội quốc tế. Cũng từ thời điểm này, việc nghiên cứu chủ nghĩa khủng bố được triển khai rộng và sâu hơn.

Khái niệm Chủ nghĩa khủng bố, Khủng bố, Hoạt động khủng bố, trong nhiều trường hợp được các nhà nghiên cứu, các học giả, sử dụng với ý nghĩa tương đương, bởi lẽ, có quan điểm khá phổ biến cho rằng với chủ nghĩa khủng bố, tư tưởng được hòa tan trong hành động. Trong hầu hết các nghiên cứu, những khái niệm trên được dùng theo nghĩa song trùng. Tuy nhiên, nếu nhìn chủ nghĩa khủng bố dưới góc độ hệ tư tưởng, theo tiến sĩ luật học N. N.A-pha-na-sép thì: "đặc trưng của hệ tư tưởng của chủ nghĩa khủng bố như là một phức thể các nguyên tắc tư tưởng cực kỳ cấp tiến (cực tả, cực hữu, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, ly khai, chủ nghĩa nước lớn,…), là sự luận chứng cho việc áp dụng bạo lực dưới những hình thức khác nhau một cách bất hợp pháp để đạt đến các mục tiêu xã hội, chủ yếu là về mặt chính trị, của các cơ cấu trên đây".

Lần đầu tiên người ta bắt gặp thuật ngữ chủ nghĩa khủng bố (terrorism) vào năm 1798; thuật ngữ này do nhà triết học người Đức Ê-ma-nu-en Căng sử dụng. Cũng năm ấy, thuật ngữ này xuất hiện trong một phụ lục của Đại từ điển Viện Hàn lâm Pháp.

Khái niệm về chủ nghĩa khủng bố thay đổi theo thời gian. Theo một nghiên cứu của CIA, thì từ năm 1936 đến 1981, có không ít hơn 109 định nghĩa khác nhau về chủ nghĩa khủng bố, và nghiên cứu này cũng bất đồng quan điểm với các định nghĩa đã thu thập được(1). Thực tế cho thấy, do cách nhìn nhận khủng bố từ nhiều góc độ khác nhau, do nhiều nguyên nhân chủ quan (có thể theo một ý đồ nào đó) hoặc khách quan, do các mối quan hệ chính trị biến đổi theo thời gian, nên các định nghĩa về chủ nghĩa khủng bố dễ sai lệch nhau, thậm chí trái ngược nhau. Dưới đây là một vài định nghĩa được nhiều người chấp nhận.

Các cơ quan hữu quan của Liên hợp quốc định nghĩa hoạt động khủng bố như sau: "Hoạt động khủng bố là hoạt động huỷ hoại nhân quyền, quyền dân chủ và tự do cá nhân, uy hiếp sự an toàn và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, tạo sức ép lên quốc gia, phá vỡ văn minh xã hội, là hành vi phạm tội với việc gây hậu quả bất lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội"(2). Tuyên ngôn về vấn đề chủ nghĩa khủng bố của Liên hợp quốc nêu rõ: "Tất cả các hình thức của chủ nghĩa khủng bố, dù xảy ra ở nơi nào, ai là kẻ chủ mưu, và hành vi phạm tội ra sao, cũng không thể thanh minh, cho nên thông qua các điều của Hiệp ước Quốc tế, cần tăng thêm mức độ xử phạt"(3).

Định nghĩa về khủng bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (1998) cho rằng: "Hoạt động khủng bố là một hành động bạo lực có mưu tính trước, nhằm những mục đích chính trị, thực hiện hướng vào những mục tiêu phi quân sự, bởi những tổ chức dưới cấp nhà nước hay bởi những cá nhân bí mật, thường với mục đích gây ảnh hưởng với một đối tượng nào đó" (4).

Theo nhiều nhà nghiên cứu, các loại hình khủng bố có thể kể tới vào thời điểm hiện nay là: 1- Khủng bố nhà nước; 2- Khủng bố mang tính tôn giáo; 3- Khủng bố mang tính chất chính trị; 4- Khủng bố mang mầu sắc chủ nghĩa ly khai; 5- Khủng bố mang tính chất phản kháng, trả thù.

Nói chung, cách phân loại này chỉ mang tính tương đối, bởi trong nhiều trường hợp, các loại hình khủng bố có thể lồng vào nhau, đan xen nhau, và ta khó có thể phân biệt rạch ròi, đâu là loại hình này, đâu là loại hình kia. Chẳng hạn, các hoạt động khủng bố ở Tre-xni-a vừa mang mầu sắc tôn giáo, vừa mang mầu sắc của chủ nghĩa ly khai. Có thể đưa thêm vào loại hình thứ 6: Tổ hợp của các loại hình khủng bố đã nêu trên. Cố nhà báo Eqbal Ahmad (1939-1999), biên tập trị sự của báo Chủng tộc và Giai cấp, còn xem xét hai loại hình nữa của chủ nghĩa khủng bố: chủ nghĩa khủng bố hình sự, và chủ nghĩa khủng bố của (phe) đối lập(5). Tuy nhiên, hai loại hình này dường như đã được bao hàm trong năm loại hình đã nêu.

Nguyên nhân phát sinh và dung dưỡng chủ nghĩa khủng bố

Sẽ là sai lầm nếu cố gắng quy lý do bùng phát chủ nghĩa khủng bố vào một hoặc hai nguyên nhân nào đó. Do hoạt động khủng bố đa dạng và xuất hiện ở nhiều vùng khác nhau, với những điều kiện địa chính trị, xã hội khác nhau, nên nguyên nhân gây ra chúng cũng có thể khác nhau. Về đại thể, giới nghiên cứu lý luận đề cập đến các nguyên nhân cơ bản sau:

1 - Các hệ quả tiêu cực của toàn cầu hóa. Trong khi toàn cầu hóa mang lại cho các nước phát triển những lợi ích to lớn, những cơ hội phát triển mạnh mẽ thì nó mang lại cho các nước đang phát triển đầy những thách thức và rất nhiều khó khăn. Hệ quả của sự kiện này là khoảng cách giầu nghèo ngày càng mở rộng, mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với tình trạng phân phối không công bằng ngày một tăng. Sự bần cùng về kinh tế gạt một bộ phận không nhỏ dân chúng ra bên lề của tiến trình phát triển, và nó góp phần làm suy thoái đạo đức, tư tưởng, tạo ra một khoảng trống về mặt tinh thần, để chủ nghĩa khủng bố có điều kiện xâm nhập. Toàn cầu hóa về văn hóa, bên cạnh những mặt tích cực, cũng có những tác động tiêu cực, nó làm phai nhạt bản sắc văn hóa của dân tộc, tôn giáo, lợi dụng mối đe dọa hiện hữu này rồi thổi phồng nó lên; một số tổ chức Hồi giáo cực đoan đã vận động, tuyên truyền dân chúng, để tạo nên sự phản kháng mạnh mẽ, thậm chí là quá khích. Toàn cầu hóa với mặt trái đầy mâu thuẫn đã tạo ra môi trường dung dưỡng và phát triển cho chủ nghĩa khủng bố. Và, đến lượt mình, chủ nghĩa khủng bố cũng đang trong quá trình toàn cầu hóa.

Mặt tiêu cực của toàn cầu hóa không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra sự bùng phát của chủ nghĩa khủng bố, nhưng nó là một trong những nguyên nhân chủ chốt, không thể xem nhẹ(6).

2 - Tình trạng nghèo đói toàn cầu. Cuối thế kỷ XX đã đi vào lịch sử thế giới như là một thời kỳ bần cùng hoá trên cấp độ toàn cầu. Toàn cầu hoá sự nghèo đói - điều đã xoá bỏ phần lớn những thành tựu của tiến trình phi thực dân hoá sau chiến tranh - bắt nguồn tại Thế giới thứ ba trùng với sự tấn công dữ dội của cuộc khủng hoảng nợ. Từ những năm 90 của thế kỷ XX, tình trạng này đã lan ra nhiều vùng quan trọng trên thế giới, bao gồm cả Bắc Mỹ, Tây Âu, các nước thuộc Liên Xô, cũng như Đông Nam Á và Viễn Đông(7). Tình trạng toàn cầu hoá nghèo đói đã đẩy một phần không nhỏ nhân loại vào cảnh khốn cùng (theo một đánh giá của Liên hợp quốc, tại Đông Phi, 23 triệu người, mà nhiều người trong số đó đã chết, đang ở trong vòng nguy cơ của nạn đói). Những người khốn khổ này sẽ làm gì trên con đường đói khát?. Phản ứng lại xã hội, cái xã hội mà họ cho rằng đã mang đến cho họ đói khổ, là phản ứng tự nhiên. Những thủ lĩnh khủng bố đã và đang tận dụng tâm lý khủng hoảng này để gieo rắc tư tưởng phản kháng, thù hận, và trong nhiều trường hợp chúng đã thành công. Nghèo đói, tuyệt vọng, mất lòng tin vào tương lai, vào xã hội, thế hệ trẻ dễ ngả theo sự dẫn dụ của các tổ chức khủng bố, các tổ chức tội phạm. Chẳng hạn, sự kiện đẫm máu ngày 28-4-2004 tại Thái Lan đã cho thấy lớp trẻ bị lợi dụng và bị đẩy vào một cuộc bạo động không có khả năng chiến thắng. Những kẻ tham gia bạo động mới chỉ từ 15 đến 20 tuổi (có 2 người khoảng 40 tuổi), được trang bị bằng dao rựa, gậy gộc, tấn công hết sức liều lĩnh vào 10 trạm kiểm soát và đồn cảnh sát tại 3 tỉnh miền nam Thái Lan, kết quả là 127 người chết mà hầu hết là thuộc lực lượng nổi dậy.

Nạn nghèo đói có thể được xem là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa tới sự phản kháng, đưa tới tình trạng bạo lực - môi trường thuận lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố. Cựu tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn cho rằng, xã hội Mỹ đang ngày càng giàu, nhưng vấn đề nghèo đói của thế giới lại ngày càng nghiêm trọng. Trong tình hình này, đói nghèo rất dễ trở thành mảnh đất để chủ nghĩa khủng bố phát sinh. Trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau, một bài học mà người Mỹ cần ghi nhớ là "hoa thơm không thể hưởng một mình"

3 - Chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa dân tộc mang tính chất bành trướng có thể sinh ra chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa bá quyền. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan kiểu bảo thủ có thể dẫn đến chủ nghĩa bài ngoại, hoặc chủ nghĩa ly khai. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan được coi là một trong những nguồn gốc dai dẳng nhất, mạnh mẽ nhất và chết người nhất đẻ ra chủ nghĩa khủng bố(8). Tuy nhiên, ở đây cần có sự phân biệt giữa chủ nghĩa cực đoan và chủ nghĩa khủng bố. Chủ nghĩa cực đoan sinh ra từ cách cảm nhận cực đoan về các hiện tượng của đời sống xã hội, còn chủ nghĩa khủng bố ra đời từ những cực đoan của chủ nghĩa cực đoan. Khi kẻ cực đoan ném đá, thì kẻ khủng bố bắt đầu đánh bom; khi kẻ cực đoan mới chỉ đe dọa giết người thì kẻ khủng bố đã ra tay sát hại trên thực tế(9).

4 –Chủ nghĩa Tôn giáo cực đoan. Có một số học giả và cả chính khách trên thế giới cho rằng tôn giáo là vườn ươm để chủ nghĩa khủng bố sinh sôi. Có người còn đánh đồng Hồi giáo với chủ nghĩa khủng bố, cho rằng Hồi giáo là nguyên nhân đẻ ra chủ nghĩa khủng bố, rằng trong tình hình hiện nay, khi các hình thức tôn giáo đi tới chủ nghĩa cực đoan thì chúng càng dễ trực tiếp đẻ ra chủ nghĩa khủng bố. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến phản bác lại các mệnh đề trên.

Việc đánh đồng chủ nghĩa khủng bố với Hồi giáo là không thể chấp nhận được, nhưng cũng không thể phủ định một thực tế là không ít hoạt động khủng bố có nguồn gốc từ tôn giáo. Có thể nhận xét một cách không quá đáng rằng, mọi thứ tư tưởng hệ nuôi dưỡng chủ nghĩa khủng bố về mặt thế giới quan đều có thể quy về chủ nghĩa cực đoan (cực đoan dân tộc, cực đoan tôn giáo,…).

5 - Sự thiếu vắng hệ tư tưởng cách mạng. Theo Eqbal Ahmad, việc thiếu vắng hệ tư tưởng cách mạng đã làm cho khủng bố bành trướng trong thời đại của chúng ta(10).

Sự thiếu vắng một hệ tư tưởng cách mạng đã tạo ra một khoảng trống, mà chủ nghĩa khủng bố có thể lợi dụng để xâm nhập, lôi cuốn, phủ dụ, và đưa không ít người vào con đường lầm lạc. Dĩ nhiên công tác tuyên truyền của các tổ chức khủng bố, các giáo phái cực đoan, quá khích, đóng một vai trò không nhỏ trên lĩnh vực đó.

6 - Chủ nghĩa cường quyền và bá quyền. Dù về mặt lý luận, người ta vẫn chưa thống nhất với quan điểm cho rằng chủ nghĩa cường quyền và bá quyền là một trong những nguyên nhân đưa đến chủ nghĩa khủng bố. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, chủ nghĩa cường quyền, bá quyền là nguyên nhân gây ra sự phản kháng, thậm chí sự phản kháng của cả một dân tộc. Hoạt động khủng bố, trong nhiều trường hợp là thủ đoạn của sự phản kháng. Có thể lấy trường hợp của Bin La-den để phân tích. Vào những năm 80 của thế kỷ XX, Mỹ đã huy động người Hồi giáo chống lại việc Liên Xô can thiệp vào Áp-ga-ni-xtan, Bin La-den là một trong những nhân vật quan trọng được CIA tuyển mộ đầu tiên. Bin La-den đã bôn ba khắp nơi để chiêu binh mãi mã cho cuộc Jihad (chiến đấu) chống chủ nghĩa cộng sản. Nhưng đến năm 1990, Mỹ đưa quân vào A-rập Xê-út, đây là thánh địa của Hồi giáo (quê hương của Mô-ha-mét), để tiến hành Chiến tranh Vùng Vịnh, và sau đó, khi đã kết thúc cuộc chiến tranh này, Mỹ không chịu rút quân, mặc dù đã nhiều lần Bin La-den đề nghị Mỹ "hãy rút đi". Sau đó, như người ta đã biết, để phản kháng lại sự bội tín của ông chủ cũ của mình, Bin La-den lại tiến hành một cuộc Jihad mới, nhưng lần này là để chống Mỹ. Không loại trừ còn có những nguyên nhân khác đưa đến sự phản kháng và hoạt động khủng bố của Bin La-den, song rõ ràng, trong trường hợp này, hậu quả tiêu cực của chủ nghĩa cường quyền, bá quyền đóng vai trò không nhỏ.

Chống chủ nghĩa khủng bố - Cuộc chiến đầy gian nan

Chống chủ nghĩa khủng bố là vấn đề lớn, cấp bách được đặt ra trước toàn nhân loại, nhưng việc giải quyết nó lại không thể nhanh gọn, thời gian không thể tính theo đơn vị tháng, năm, mà phải cần tới cả thập kỷ, nhiều thập kỷ, hoặc lâu hơn thế rất nhiều!. Bởi lẽ, loại trừ chủ nghĩa khủng bố có nghĩa là phải loại trừ mọi căn nguyên sinh ra chủ nghĩa khủng bố, đó là nạn nghèo đói, là những hậu quả tiêu cực của toàn cầu hoá, những mâu thuẫn trong quan hệ Bắc - Nam, là sự biến thái cực đoan của mọi thứ chủ nghĩa cực đoan, là chủ nghĩa cường quyền, bá quyền, v.v.. Bên cạnh đó, việc củng cố và phát huy vai trò của các tổ chức an ninh chống khủng bố như In-ter-pon, tăng cường công tác truyền thông, giáo dục đối với thế hệ trẻ cũng hết sức cần thiết.

Tuy nhiên, đã có nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh từ thực tiễn của cuộc đấu tranh chống khủng bố mà các học giả chuyên nghiên cứu về chủ nghĩa khủng bố đã cảnh báo.

Trước hết, đó là sự lợi dụng chủ nghĩa khủng bố để thực hiện những mưu đồ cá nhân. Có quốc gia đã uỷ thác cho chủ nghĩa khủng bố những vấn đề mà mình khó giải quyết, lại có quốc gia cần tới chủ nghĩa khủng bố như một cái cớ để thực thi chính sách nhà nước. Chủ nghĩa khủng bố trở thành vật hiến tế cho cuộc đấu tranh vì lợi ích(11).

Thứ hai, hiện tượng quốc gia này vì một lý do nào đó đã dung túng cho các tổ chức khủng bố, mà các tổ chức này đã tiến hành khủng bố ở quốc gia khác, đã tạo ra một tình trạng không lành mạnh, thiếu tin tưởng lẫn nhau trong công cuộc chống khủng bố nói riêng, và trong quan hệ quốc tế nói chung.

Không thể chống khủng bố, khi có những thành viên của "liên minh" chống khủng bố lại cần đến khủng bố như một thứ công cụ để thực hiện ý đồ riêng tư.

Chủ nghĩa khủng bố chống lại nhân loại, cho nên việc loại bỏ chủ nghĩa khủng bố ra khỏi đời sống xã hội quốc tế là công việc chẳng của riêng ai. Đây là một quá trình gian nan, phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ dựa trên sự tin cậy lẫn nhau của cộng đồng quốc tế. Đây là một quá trình lâu dài, và về một phương diện nào đó, nó gắn bó hữu cơ với việc thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ mà Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ vào tháng 9-2000 đã đề ra. Đây là một quá trình phải mang tính phi mâu thuẫn, bởi nếu vừa chống khủng bố, vừa nuôi dưỡng khủng bố thì khủng bố sẽ vẫn tồn tại.


(1) Viện Thông tin khoa học xã hội, TN 2004 - 63, tr 3
(2) Dự báo thế kỷ XXI, Nxb Thống kê Hà Nội, 1998, tr 873
(3) Sđd, tr 873
(4) Khía cạnh xã hội và tâm lý của chủ nghĩa khủng bố: Ai trở thành kẻ khủng bố và tại sao, Ban Nghiên cứu Liên bang, Thư viện Quốc hội Mỹ, tháng 9 - 1999, tr 17
(5) Về chủ nghĩa khủng bố, Nxb Chính trị quốc gia, 2002, tr 80
(6) Khủng bố và chống khủng bố với vấn đề an ninh quốc tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2003, tr 26
(7) Chủ nghĩa khủng bố toàn cầu - vấn đề và cách tiếp cận, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội 2004, tr 45-46
(8) Sđd, tr 119-120
(9) Sđd tại chú thích 6, xem tr 48
(10) Về chủ nghĩa khủng bố, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr 84
(11) Viện Thông tin khoa học xã hội, TN 2004 - 64, tr 8
BÀI VIẾT THỨ 19
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
VỚI THÁCH THỨC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
TÁC GIẢ Nguyễn Thị Hoa
NỘI DUNG

Hiện nay, khi xu thế toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, sự liên hệ, phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội giữa các nước ngày càng tăng, thì bất cứ một sự đóng cửa, khép kín của quốc gia, dân tộc nào cũng đều phải trả giá. Quá trình toàn cầu hóa mang lại nhiều cơ hội và những thách thức không thể xem thường đối với các quốc gia, phát triển hay đang phát triển, chủ động hay không chủ động, tự giác hay không tự giác tham gia hội nhập. Làm sao tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức, thực hiện "cất cánh" kinh tế, hay nói một cách ngắn gọn, hội nhập và hội nhập như thế nào vào trào lưu toàn cầu hóa đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi nước, nhất là đối với những nước đang phát triển.

1 - Trước hết, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế - một nội dung cơ bản của quá trình toàn cầu hóa - sẽ mang lại nhiều vận may và cơ hội lớn cho các nước nghèo và đang phát triển. Hiện nay, các hiệp định đều có ảnh hưởng bất lợi đối với những nước không tham gia hội nhập. Thông qua quá trình hội nhập, các nước có thể hưởng những ưu đãi về mậu dịch, tận dụng thời cơ để thúc đẩy việc mở rộng và phát triển sản xuất, khai thông và mở rộng thị trường, đồng thời tiếp nhận những dòng vốn, kỹ thuật, công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, hiện đại để phát triển. Trên cơ sở đó, các nền kinh tế đang phát triển sẽ có cơ hội phát huy nội lực để đi tắt, đón đầu, tạo khả năng phát triển rút ngắn, bắt kịp các nền kinh tế phát triển trên thế giới. Thế nhưng, làm sao để đón bắt, tận dụng và tạo ra được thời cơ đó lại là thách thức đối với các nước đang phát triển cần phải vượt qua. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các nước phải cải cách, chuẩn bị tốt các điều kiện trong nước để phù hợp với những tiêu chuẩn, luật lệ của nền kinh tế toàn cầu hóa, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đa phương và song phương. Đó là điều kiện quan trọng và tất yếu để bảo đảm độc lập, tự chủ và tham gia hội nhập kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, đa số các nước đang phát triển đều đi lên từ các nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở những nước này đều chậm hơn rất nhiều so với các nước công nghiệp phát triển. Thêm nữa, các nước đang phát triển còn phải vật lộn với những gánh nặng nợ nước ngoài. Nợ không còn là vấn đề kinh tế nữa mà đã trở thành vấn đề chính trị. Hơn 1 tỉ người (trong đó có hơn 550 triệu người ở châu Á) vẫn sống trong tình trạng đói nghèo. Họ có nguy cơ bị đẩy ra rìa của tiến trình hội nhập, hoặc đứng giữa ranh giới của sự nghèo đói và phát triển. Không có điều kiện phát triển chính là thách thức lớn nhất mà các nước nghèo phải đối mặt trong quá trình hội nhập quốc tế. Do vậy, về một phương diện nhất định, những tiền đề trong nước chưa thực sự mạnh và đủ để có thể bước vào cuộc. Trong khi đó, quá trình toàn cầu hóa và trào lưu hội nhập diễn ra sôi động trên thế giới, đang tạo ra sức ép rất lớn đòi hỏi các nước đang phát triển không thể chần chừ, nếu không muốn lâm vào thế bất lợi hơn.

2 - Đối với các nước đang phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế không phải là quá trình diễn ra theo đường thẳng. Do thực lực kinh tế của các nước đang phát triển còn yếu, trật tự kinh tế thế giới còn tồn tại nhiều bất bình đẳng, không hợp lý nên trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Thực tế cho thấy, quá trình toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đã bị các nước công nghiệp phát triển và các công ty đa quốc gia thao túng. Nhiều ý kiến cho rằng quá trình toàn cầu hóa đang được "Mỹ hóa" do Hoa Kỳ hiện có lợi thế toàn cầu trong lĩnh vực kinh tế, quân sự, văn hóa, có ảnh hưởng lớn đến các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) lâu nay vẫn được coi là "sân sau" của các nước giàu. Trong danh sách 100 xí nghiệp hàng đầu thế giới hiện nay, có tới 61% là của Mỹ. Ba trung tâm kinh tế mạnh nhất thế giới trong đó có Mỹ, chiếm tới 2/3 GDP toàn cầu.

Sự bất bình đẳng trong trật tự kinh tế hiện thời làm giảm tăng trưởng xuất khẩu của các nước đang phát triển. Theo báo cáo năm 2004 của Tổ chức Lao động thế giới (ILO), tỷ lệ tăng trưởng trung bình hằng năm của thế giới giảm từ 4,6% giữa những năm 1960 - 1980 xuống còn 2,8% giữa những năm 1980 - 2000. Tỷ lệ tăng trưởng của 59 nước đang phát triển (không kể Trung Quốc, Ấn Độ)... hằng năm giảm từ 5,5% xuống 4,5%; tỷ lệ tăng trưởng trung bình hằng năm GDP trên đầu người giảm từ 2,4% xuống còn 1,1%. Như vậy, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, nhiều nước đang phát triển đạt mức tăng trưởng thấp hơn, lợi thế so sánh mất dần và buộc phải chấp nhận điều kiện trao đổi thương mại bất lợi.

Tình trạng mất cân bằng trong hệ thống thương mại thế giới đã chia quyền lực và vùng ảnh hưởng thế giới thành những vùng "ngoại vi" hay "ngoại biên" và vùng "trung tâm". Trong lịch sử, ngoại vi đã trở thành nơi làm giàu cho trung tâm. Và hiện nay, các nước trung tâm vẫn tiếp tục nắm quyền lực kinh tế, giữ vai trò dẫn dắt, chi phối đối với hệ thống kinh tế thế giới bằng cách đề ra và thực hiện các quy định có tính toàn cầu sao cho có lợi cho họ nhất. Hiện thời, việc tập trung quyền lực trong tay một số nước mạnh nhất tạo ra mối quan hệ giữa thống trị và phụ thuộc sẽ làm cho thế giới trở nên nguy hiểm hơn.

Bên cạnh đó, việc Mỹ và Liên minh châu Âu thực thi những chính sách bảo hộ ngành nông nghiệp, đưa ra những khoản trợ giá khổng lồ cho nông nghiệp của nước mình, đã gây bất bình đẳng và thiệt hại cho các nước đang phát triển. Theo báo cáo của WB công bố vào ngày 3-9-2004, nước Mỹ hằng năm hỗ trợ cho ngành trồng bông hơn 3 tỉ USD (lớn gấp 3 lần tiền viện trợ nước ngoài của Mỹ cho châu Phi). Điều này đã làm sụt giảm giá bông trên thế giới và đẩy rất nhiều nông dân ở Tây Phi vào tình trạng nghèo đói. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), hiện nay một nửa số dân nghèo của thế giới sống nhờ vào nông nghiệp. Các nước giàu đã chi 56 tỉ USD/năm các khoản viện trợ cho các nước nghèo, nhưng lại chi 300 tỉ USD/năm để làm giảm thu nhập từ nông nghiệp của các nước nghèo đó (1). Rõ ràng, chính sách bảo hộ nông nghiệp không chỉ gây thiệt hại cho các nước nghèo mà nó còn ảnh hưởng đến các nước phát triển.

Gần đây, nhóm G 90 (nhóm 90 nước nghèo và đang phát triển ở châu Phi, khối Ca-ri-bê và Thái Bình Dương) đã cam kết hình thành mặt trận thống nhất để đấu tranh đòi các nước phát triển xóa bỏ những khoản trợ cấp trị giá hàng tỉ đô la nội địa. Và ngày 1-8-2004 vừa qua, các thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã thông qua một kế hoạch chấm dứt chế độ trợ cấp nông sản và cắt giảm thuế quan trên phạm vi toàn thế giới. Đây thực sự là cánh cửa mở ra thế giới bên ngoài, là cơ hội tạo ra thị trường tốt hơn đối với các nước nghèo và đang phát triển trong việc bán các sản phẩm nông nghiệp của mình tới các nước giàu. Theo ước tính của Ngân hàng thế giới, khi thỏa thuận tự do buôn bán toàn cầu được ký kết thì hơn 140 triệu người trên thế giới sẽ thoát khỏi cảnh đói nghèo vào năm 2015, kinh tế thế giới sẽ được lợi hàng tỉ USD nhờ buôn bán. Tuy đây chỉ là bước khởi đầu nhưng nó thực sự có ý nghĩa quan trọng trong việc dỡ bỏ dần bức tường bảo hộ của các nước giàu, tạo điều kiện cho các nước nghèo và đang phát triển có thêm cơ hội tham gia vào quá trình hội nhập.

Trong một số trường hợp, viện trợ của các nước công nghiệp rất cần thiết đối với các nước đang phát triển trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tham gia tiến trình hội nhập. Tuy nhiên, có một thực tế là lâu nay các nước công nghiệp phát triển vẫn thường gắn chương trình viện trợ với việc gây sức ép kinh tế, buộc các nước đang phát triển phải mở cửa thị trường hơn nữa, thực hiện tự do hóa thương mại, thực hiện tư nhân hóa, "dân chủ hóa", tôn trọng "nhân quyền", bảo vệ môi trường v.v.. Mục đích của họ là vừa xuất khẩu tư bản và giải quyết dư thừa vốn, vừa kéo các nước đang phát triển đi sâu vào vòng ảnh hưởng.

Về mặt lý thuyết, càng mở cửa, hội nhập càng có cơ hội phát triển. Nhưng đối với những nước không có điều kiện phát triển hoặc nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào các nước phát triển thì mở cửa, hội nhập có thể phải trả giá đắt. Sau hai thập kỷ thực hiện chính sách "mở cửa" với đa số tiền vốn do các nước tư bản phương Tây rót vào, bị dồn nén trong áp lực của các chương trình điều chỉnh kinh tế "mang bản sắc Oa-sinh-tơn", giấc mơ về mô hình tự do mới đã bị tiêu tan một cách cay đắng, nền kinh tế các nước khu vực Mỹ La-tinh và châu Phi vẫn nằm trong vòng kiểm soát của các nước phương Tây, không thu hút được đầu tư, tỷ lệ tăng trưởng thấp. Hơn nữa, các nước này vẫn bị kẹt trong vòng vây của sự nghèo đói, dịch bệnh, sự yếu kém hoặc tham nhũng của chính phủ, v.v.. Trong tình hình như vậy, đối với các nước này, càng mở cửa hội nhập, càng phụ thuộc vào bên ngoài, càng mất độc lập, tự chủ, mất khả năng tự bảo vệ, dẫn tới mất ổn định kinh tế - xã hội.

Các nước đang phát triển cũng đang đứng trước áp lực cạnh tranh trong việc tiến hành cải cách, thu hút vốn từ bên ngoài. Bởi luồng FDI ngày càng có xu hướng chảy vào những nước có môi trường đầu tư thuận lợi (kết cấu hạ tầng tốt, lao động có kỹ năng...) như Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi v.v.. Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, cơ cấu kinh tế thay đổi thì lợi thế cạnh tranh cũng thay đổi theo. Vì những lợi thế trong giai đoạn đầu phát triển có thể trở thành yếu điểm trong giai đoạn phát triển cao hơn. Hiện nay, lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, thị trường... đã dần nhường chỗ cho phát triển công nghệ dựa vào tri thức.

3 - Hội nhập quốc tế thúc đẩy sự giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau, làm phong phú thêm bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những thách thức. Thách thức lớn nhất đối với các nước đang phát triển trong quá trình hội nhập quốc tế là làm sao giữ vững và bảo vệ bản sắc dân tộc trước mưu toan "xâm lược", thẩm thấu về văn hóa thông qua các mạng truyền thông và thông tin điện tử, với mục đích thiết lập "trật tự" thông tin toàn cầu, áp đặt một hình thái xã hội với giá trị hình mẫu đơn nhất do các nước tư bản phát triển tiến hành đứng đầu là Mỹ. Theo Báo cáo phát triển con người năm 2004 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), thương mại trong lĩnh vực điện ảnh, phát thanh và truyền hình, âm nhạc, văn học... trên thế giới đã tăng lên gấp bốn lần trong hai thập kỷ qua, từ 95 tỉ USD/năm lên tới 380 tỉ USD/năm. Khoảng 80% trong số kinh phí này chỉ bắt nguồn từ 13 nước, đứng đầu là Mỹ. Riêng các phim sản xuất tại Hoa Kỳ chiếm khoảng 85% trong tổng số phim được trình chiếu trên toàn thế giới.

Các nước phát triển chiếm 15% dân số thế giới nhưng tập trung tới 88% số người truy cập In-tơ-nét. Chỉ tính riêng ở Mỹ, số lượng máy tính còn nhiều hơn cả số máy tính của các nước khác trên thế giới gộp lại. Các nước giàu kiểm soát 97% bằng sáng chế trên toàn thế giới (2).

Không thể hình dung được thế giới sẽ ra sao nếu như trái đất chỉ tồn tại một kiểu văn hóa Mỹ, lối sống Mỹ, một cách tư duy và hành xử theo kiểu Mỹ ?

Lịch sử cho thấy, sự khác biệt về văn hóa không phải là nguyên nhân dẫn đến những xung đột. Văn hóa bị mượn danh chỉ để thoả mãn động cơ, mục đích, lợi ích bá quyền và biện hộ cho sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản mà thôi.

Trong phát biểu đề dẫn tại phiên bế mạc Hội thảo "Sự lãnh đạo thế giới mới vì sự phát triển bền vững" do Viện phát triển bền vững và quan hệ quốc tế Pháp tổ chức vào tháng 4-2003, Tổng thống Cộng hòa Pháp Giắc Si-rắc đã cho rằng cần phải dung hòa giữa nhu cầu về các giá trị toàn cầu cần thiết cho quá trình toàn cầu hóa và sự tôn trọng tính đa dạng của các nền văn minh và văn hóa. Giải pháp để ngăn chặn sự xung đột giữa các nền văn minh chính là sự đối thoại giữa các nền văn hóa: học sống trong sự tôn trọng người khác, tìm hiểu người khác và chấp nhận sự khác biệt của người khác. Báo cáo phát triển con người năm 2004 cho rằng cần biết tôn trọng sự khác biệt và sự đa dạng về văn hóa; việc kìm hãm bản sắc văn hóa sẽ dẫn tới sự xung đột.

Văn hóa là khái niệm mở, không chấp nhận sự áp đặt hay bá quyền. Với chính sách bá quyền của các nước tư bản phát triển hiện nay, xu hướng xảy ra sự xung đột, "va chạm" giữa những giá trị và văn hóa phương Tây (bao gồm cả Mỹ) và "ngoài phương Tây" là không tránh khỏi. Sự va chạm này thể hiện sự phản ứng một cách tự nhiên của các xã hội ngoài phương Tây trước sức tấn công ồ ạt của văn hóa phương Tây. Mỹ và phương Tây đang tìm cách lái phần còn lại của thế giới đi theo quỹ đạo của họ. Mỹ kết hợp dùng "quyền lực cứng" và ảnh hưởng của "quyền lực mềm" - "một lực lượng hòa bình" - để áp đặt mô hình phát triển cho thế giới, xuất khẩu hình thái ý thức và quan niệm giá trị của chủ nghĩa tư bản; thi hành chính sách bao vây, cấm vận, trừng phạt kinh tế, thương mại và tài chính đối với những nước không đi theo "giá trị của Mỹ".

Đây chính là biểu hiện khát vọng của Mỹ về sự thống trị mà không cần có xung đột. Như một nghịch lý, "Mỹ hóa" tất sẽ nảy sinh chống "Mỹ hóa". Nhà nghiên cứu người Mỹ Giô-dép S. Nye, trong bài viết gần đây đăng trên tạp chí Mỹ Foreign Affairs (Các vấn đề đối ngoại) đã bàn về sự suy giảm quyền lực mềm của Mỹ hiện nay như một kết cục tất yếu: "Chủ nghĩa chống Mỹ đã tăng lên trong những năm gần đây và hệ quả là kéo theo sự suy giảm quyền lực mềm của Mỹ".

4 - Trong bối cảnh mà tính không công bằng đã trở thành căn bệnh cố hữu trong đời sống kinh tế quốc tế, những va vấp, tổn thương trong quá trình hội nhập là điều dễ xảy ra. Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là dám chấp nhận "chơi" trên một sân chơi chung mà lợi thế phần lớn nghiêng về các nước giàu, một sân chơi có nhiều cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn đầy cạm bẫy, rủi ro, "đối thủ" là những nước lớn có nền kinh tế mạnh và cực mạnh trên thế giới nắm trong tay quyền chủ đạo định ra các "luật chơi". Do vậy, để hội nhập có hiệu quả mà không bị đánh mất mình, phải có có chính sách khôn khéo, mềm dẻo, bảo đảm độc lập, tự chủ, trên cơ sở nền tảng phát triển vững chắc.

Song vấn đề không phải chờ đến khi tiềm lực kinh tế đất nước mạnh, chuẩn bị tích luỹ đầy kinh nghiệm, nhân lực mới tham gia quá trình hội nhập. Đối với các nước đang phát triển, tham gia hội nhập các khối kinh tế khu vực và tiểu khu vực, thông qua các hiệp định thương mại song phương, sẽ thúc đẩy tự do hóa thương mại đầu tư, thúc đẩy quá trình mở cửa thị trường các quốc gia. Hội nhập khu vực là điều kiện tiền đề cần thiết và là bài học kinh nghiệm trong việc lấy thế mạnh khu vực để tham gia hội nhập quốc tế. Xu hướng này ngày càng rõ khi nhiều tổ chức khu vực hình thành, liên kết, dựa vào nhau, củng cố lẫn nhau để phát triển.

Trước sự gia tăng của những cơ hội đan xen những thách thức trên thế giới, nhiều nước đang phát triển cần nhận thức được đâu là cách thức phát triển bền vững, phù hợp để giảm bớt những mặt tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa, biến tiềm năng thành cơ hội phát triển, chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Các nước đang phát triển ở châu á đang chạy đua với việc đầu tư vào giáo dục và tri thức. Châu Phi đang nỗ lực khai thác mọi tài nguyên và tiềm lực của châu lục, triển khai kế hoạch "đối tác mới vì sự phát triển châu Phi" (NEPAD), nhằm tạo ra một sắc diện mới, từng bước hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Sau sự phá sản của mô hình tự do mới, việc tìm kiếm một nền dân chủ xã hội thực dụng kiểu Mỹ La-tinh là con đường mà nhiều nước trong khu vực này hướng tới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, các nước đang phát triển cần chủ động, tích cực đề ra và thực hiện chiến lược, hướng đi hợp lý, lựa chọn và xác định, đặt trọng tâm các chính sách ưu tiên, những mũi nhọn để "bứt phá," tăng tốc, lựa chọn con đường ngắn nhất, kinh tế nhất, hiệu quả nhất, phù hợp với các điều kiện phát triển cụ thể của đất nước, tranh thủ tận dụng những thuận lợi bên ngoài, khai thác các lợi thế cạnh tranh để có thể hội nhập thành công vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Các bước đi nóng vội, chủ quan, chần chừ hoặc chậm trễ đều có thể dẫn tới sự chệch hướng hay tụt hậu.

Cuối cùng, các nước đang phát triển tham gia hội nhập kinh tế quốc tế nhằm cùng tăng cường hợp tác Nam - Nam, thiết lập, xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế mới bình đẳng, công bằng và hợp lý hơn, một toàn cầu hóa vì người nghèo và cho cả người nghèo. Đây không phải là một quá trình diễn ra nhanh chóng, mà phải có thời gian, sự nỗ lực hợp tác, đoàn kết, thể hiện vai trò của các nước đang phát triển. Do đó, các nước đang phát triển "không thể đơn giản chấp nhận bước vào thế kỷ mới như những nước lạc hậu và nghèo khổ, bại trận và bị bóc lột... Đây là lúc thúc đẩy tinh thần cuộc đấu tranh, sự thống nhất và đoàn kết của các nước trong việc bảo vệ những nguyện vọng của mình"(3). Bởi, xét về một ý nghĩa nào đó, thế kỷ XXI là thế kỷ mà các nước đang phát triển sẽ đuổi kịp và có khả năng một số nước sẽ vượt các nước phát triển; và cũng bởi vì như lời ông M. Mo-rơ, cựu Tổng giám đốc WTO: "Tương lai của nền kinh tế toàn cầu sẽ tùy thuộc vào các nước đang phát triển"(4).


(1) Thông tấn xã Việt Nam: Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 11-7-2002
(2) Xem bài phát biểu của Chủ tịch Cu-ba Phi-đen
Ca-xtơ-rô tại Hội nghị cấp cao phương Nam của nhóm 77 diễn ra tại La Ha-ba-na tháng 4-2000 (bản dịch tiếng Anh)
(3) Xem bài phát biểu của Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô: Tài liệu đã dẫn
(4) Viện thông tin khoa học xã hội: Tài liệu phục vụ nghiên cứu, số TN 2001 - 82