BÀI VIẾT THỨ 1
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ MỤC LỤC TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 4 (2-2006)
TÁC GIẢ
NỘI DUNG

TIẾN TỚI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ X CỦA ĐẢNG

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển (Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng)

Đại hội X của Đảng họp vào lúc toàn Đảng, toàn dân ta kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và đã trải qua 20 năm đổi mới. Đại hội có nhiệm vụ: kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010; tổng kết 20 năm đổi mới; quyết định phương hướng phát triển đất nước và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng Đảng, bổ sung, sửa đổi một số điểm trong Điều lệ Đảng; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

NGUYỄN PHÚC THANH – Không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội

Do đổi mới mạnh mẽ cả về tổ chức và phương thức hoạt động nên hoạt động giám sát của Quốc hội thời gian qua đã không ngừng được nâng cao cả về chất lượng và hiệu quả. Hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội đã từng bước được cải tiến và đi vào nề nếp. Trong thời gian tới, để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, cần chú trọng một số vấn đề cơ bản sau: tiếp tục làm chuyển biến sâu sắc nhận thức tư tưởng của toàn xã hội về hoạt động giám sát; bám sát thực tiễn cuộc sống; giám sát tình hình thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ và các ban, ngành; bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đại biểu Quốc hội; phối hợp tốt với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

NGUYỄN PHI LONG – Về công tác phát triển đảng hiện nay

Công tác phát triển đảng là nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, được Đảng luôn quan tâm và có chủ trương, biện pháp cụ thể, nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Hằng năm, đội ngũ đảng viên mới đều tăng cả về số lượng và chất lượng. Từ thực tiễn công tác phát triển đảng những năm gần đây, để nâng cao chất lượng tạo nguồn kết nạp đảng viên, công tác kết nạp đảng viên, trong thời gian tới, cần làm tốt một số vấn đề sau: nhận thức công tác xây dựng và phát triển đội ngũ đảng viên gắn chặt với việc xây dựng quy hoạch cán bộ cơ sở; xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; tăng cường lãnh đạo các tổ chức quần chúng tham gia xây dựng Đảng và tạo nguồn kết nạp Đảng; nghiên cứu, bổ sung tiêu chuẩn đảng viên phù hợp với tình hình mới; có kế hoạch cụ thể trong việc bồi dưỡng phát triển đảng.

HỒ QUANG MINH – Nguồn lực đầu tư bên ngoài trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội

Trong suốt 20 năm đổi mới, nguồn lực đầu tư bên ngoài, trước hết là ODA và FDI, đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được những kết quả có ý nghĩa quan trọng.Trong thời gian tới, trước yêu cầu đẩy mạnh phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những yêu cầu đặt ra đối với nguồn lực bên ngoài này còn cao hơn nữa, không chỉ về số lượng mà cả chất lượng. Do vậy, việc tiến hành những giải pháp nhằm cải thiện công tác vận động và sử dụng nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài là thực sự cần thiết. Việc thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần hoàn thành tốt việc huy động nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001-2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm thời kỳ 2006-2010, bảo đảm thực hiện thành công công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước.

NGUYỄN ĐÌNH TỰ – Cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước trong phát triển thị trường chứng khoán ở nước ta

Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa đối với các ngân hàng thương mại nhà nước đã rõ và đương nhiên phải theo xu thế chung về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta. Các ngân hàng thương mại nhà nước tuy có những đặc thù, song so với rất nhiều doanh nghiệp nhà nước khác thì lại có lợi thế khá lớn do tác động đến thị trường chứng khoán. Khi tiến hành cổ phần hóa đối với các ngân hàng thương mại nhà nước cần quan tâm 8 vấn đề sau đây: 1- Cơ cấu lại các ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó chú trọng việc xử lý nợ cũ, tăng vốn tự có. 2- Tiến nhanh đến sự công khai, minh bạch trong hoạt động của ngân hàng thương mại. 3- Xác định giá trị thực của ngân hàng thương mại. 4- Xác định đúng giá trị phần vốn nhà nước. 5- Quan tâm đến những nhà đầu tư nước ngoài để họ vừa có điều kiện tham gia, nhưng hạn chế việc khống chế và thôn tính. 6- Việc phát hành cổ phiếu cần thông qua đấu giá tại các trung tâm giao dịch trên thị trường chứng khoán. 7- Lựa chọn hình thức phát hành cổ phiếu phù hợp. 8- Thực hiện thí điểm một hoặc hai ngân hàng.

NGUYỄN TIẾN NGHĨA – Những giá trị của chủ nghĩa cộng sản đối với nhân loại là không thể phủ nhận

Từ việc dẫn ra một vài con số được xem là những "bằng chứng tội ác" của chủ nghĩa cộng sản đã được thực hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa trong mấy thập niên qua, từ luận điệu xuyên tạc, bóp méo về đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản, từ việc đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa quốc xã, một số phần tử thiên hữu trong Ủy ban Chính trị Hội đồng Nghị viện Hội đồng châu Âu (PACE) đã đòi cộng đồng quốc tế lên án và chấm dứt hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa (!). Song, những mưu toan chống tư tưởng cộng sản chủ nghĩa dưới mọi màu sắc dù điên cuồng đến đâu cũng không thể nào ngăn chặn được tiến trình lịch sử khách quan. Lịch sử nhân loại không dừng lại ở chủ nghĩa tư bản mà sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

THỰC TIỄN – KINH NGHIỆM

NGUYỄN TẤN QUYÊN – Cần Thơ - thành phố trẻ đầy sức sống

Thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng bộ tỉnh Cần Thơ, thành phố Cần Thơ đã luôn đoàn kết, phát huy tốt các nguồn lực, đổi mới công tác lãnh đạo, điều hành, vượt qua khó khăn trở ngại, giành được những kết quả rất quan trọng và tương đối toàn diện. Kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Từ thực tiễn 5 năm qua, thành phố Cần Thơ rút ra một số nguyên nhân và bài học sau đây: Một là, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt, có tầm quan trọng đặc biệt. Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động tốt các nguồn lực đầu tư phát triển. Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội và các nhu cầu dân sinh. Bốn là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phải có những giải pháp thiết thực, kiên quyết, cụ thể; thường xuyên sâu sát cơ sở để kiểm tra, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc và vấn đề mới phát sinh, gắn với bố trí đội ngũ cán bộ đủ sức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

HUỲNH MINH ĐOÀN - Đồng Tháp phát huy nội lực, tăng cường hợp tác, đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong những năm sau chiến tranh, đặc biệt là 20 năm cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới cũng như 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII, Đảng bộ và nhân dân Đồng Tháp đoàn kết thống nhất, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi thử thách, giành được những thành tựu bước đầu quan trọng. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, nhiệm kỳ 2005 – 2010, Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp tập trung lãnh đạo thực hiện tốt những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau: coi trọng việc lập quy hoạch và nâng cao chất lượng quy hoạch, đồng thời tập trung vốn cho đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả đầu tư; đẩy mạnh phát triển công nghiệp – xây dựng, tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp, hạ tầng giao thông; phát triển đa dạng các loại hình thương mại – dịch vụ, lấy chiến lược phát triển thị trường làm khâu đột phá; nâng cao chất lượng, hiệu quả nền sản xuất nông nghiệp và phát triển mạnh kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

NGUYỄN XUÂN PHÚC – Quảng Nam trên lộ trình hướng tới mục tiêu tỉnh công nghiệp trước năm 2020

Quảng Nam được xác định là tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung theo Quyết định 148/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Những năm qua, nhờ khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh và lợi thế so sánh giữa các nguồn lực; đồng thời vận dụng và triển khai thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế của Tỉnh đã đạt được mức tăng trưởng khá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhằm thực hiện phương hướng và mục tiêu đã đề ra, những giải pháp cơ bản mà Quảng Nam đặt ra trong thời gian tới là: chuyển đổi mạnh hơn nữa cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng; tập trung phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng; xã hội hoá và đa dạng hoá các hình thức đầu tư; bảo đảm giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường đồng bộ với tăng trưởng kinh tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng bộ máy chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh, thực hiện tốt cải cách hành chính.

ĐÀO NGUYÊN THẮNG – TỪ THANH – Bộ đội Biên phòng thực hiện quân dân y kết hợp, chăm sóc sức khỏe đồng bào vùng biên giới

Để bảo đảm sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Biên phòng và nhân dân vùng biên giới, kết hợp quân dân y trở thành nguyên tắc hàng đầu. Những năm qua, Bộ đội Biên phòng đã tích cực đóng góp sức lực vào việc củng cố hệ thống y tế cơ sở tại địa bàn biên giới, với nhiều hình thức và nội dung phong phú. Sự kết hợp các trạm y tế, phòng khám quân dân y đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của y tế địa phương và quân y Bộ đội Biên phòng về trình độ chuyên môn, trang thiết bị y tế, thuốc men, con người... Mô hình này đã hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực trong việc chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, tại các vùng cao, vùng sâu, vùng xa biên giới. Từ quan điểm định hướng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta là "phòng bệnh hơn chữa bệnh", Bộ đội Biên phòng đã xác định công tác vệ sinh phòng dịch tại địa bàn biên giới là một mũi nhọn để tập trung triển khai các biện pháp phù hợp và kịp thời.

THƯ GỬI BỘ BIÊN TẬP

TRẦN ĐẮC HIẾN – Công tác phát triển đảng ở vùng có đông đồng bào công giáo

Trước đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác xây dựng và phát triển đảng nói chung và ở vùng có đông tín đồ công giáo nói riêng là một trong những nhiệm vụ cơ bản, có ý nghĩa quyết định trong việc lãnh đạo hệ thống chính trị ở cơ sở thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, góp phần quyết định thành công trong việc thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác tôn giáo. Thực tế ở nhiều địa phương thời gian qua cho thấy, công tác xây dựng đảng, phát triển đảng viên mới là người công giáo đã đạt được những kết quả đáng kể, số lượng và chất lượng đảng viên là người có đạo được kết nạp vào đảng ngày càng tăng.

SINH HOẠT TƯ TƯỞNG

NGUYỄN MINH TIẾN – Bức xúc

THẾ GIỚI: VẤN ĐỀ – SỰ KIỆN:

NGÔ MẠNH LÂN – Chiến lược toàn cầu của Mỹ và tình hình Trung - Đông

Chiến lược toàn cầu của Mỹ về thực chất không thay đổi, không chuyển hướng, song phương châm và phương thức hành động, tác chiến có phần thay đổi đáng kể. Chính vì Mỹ không giành được toàn thắng và ngày càng lúng túng trước sự bất lực của quân đội Mỹ và quân I-rắc đối với những đòn đánh cảm tử của các tổ chức du kích, nên Mỹ phải quay sang tranh thủ nhân tâm, sử dụng quyền lực mềm, và đi các bước ngoại giao, đối thoại, thương lượng, mua chuộc, đồng thời tiếp tục tăng cường các chiến dịch quân sự triệt hạ có chọn lọc. Vai trò của các nhà ngoại giao Mỹ là phải vận động cho việc triển khai các điều kiện để khi thời cơ đến sẽ tiếp tay phát động các cuộc "cách mạng dân chủ". Nhiệm vụ mới và cơ bản là phải làm sao triển khai và bành trướng chủ nghĩa tư bản với các giá trị tinh thần, đạo lý của nó.

BÀI VIẾT THỨ 2
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ MAKING NATIONAL ASSEMBLY SUPERVISION ACTIVITIES OF BETTER QUALITY AND MORE EFFECTIVE
TÁC GIẢ Nguyen Phuc Thanh*
NỘI DUNG

Under the Party’s leadership, and in the current national renewal process to build a rich people, strong country and a fair, democratic and civilized society, Vietnam has obtained encouraging results in the building of a socialist, law-governed State of the people, by the people and for the people. With the thinking "taking people as the root", "all power belongs to the people", the National Assembly (NA) has positively renewed its organisation and working style to be more democratic, realistic and effective. Over the last few years, the NA has made important contributions to the success of the national renewal process, better realised its constitutional, legislative and supreme supervision functions and made decisions on the nation’s important issues.

Since the Law on Supervision Activities of the NA came into force, while accelerating the law-making process, the NA has made major progress in its supreme supervision over the entire activities of the State apparatus, which was highly appreciated by voters and the public. It created a positive change in awareness of the necessity of the NA supervision and its role and nature, which is to accelerate development. By reviewing and assessing activities of agencies, organisations and individuals in enforcing the Constitution, ordinances and resolutions of the NA Standing Committee, the NA pointed out strong points to promote and weak points to overcome, in order to strengthen the State mechanism and the entire political system to match their tasks in the national industrialisation and modernisation process.

The supervision activities of the NA, its agencies and delegations have progressed. Every year, the NA issues a resolution on supervision programmes. The resolution points out major and key issues that are of concern to voters, and on this foundation, the NA Standing Committee develops an implementation schedule. Specific programmes and schedules help the NA Standing Committee take the initiative in guiding, regulating and coordinating supervision activities of the Council of Ethnic Minorities, and other NA Committees, reduce overlapping supervision activities, which cause difficulties for supervised organisations.

Supervision methods have been improved to be of better quality and more effective. In the past, the NA supervision activities were as cursory as "scampering through a flower garden". Now their activities follow in-depth subjects such as supervising "the realisation of investment plans by sector and territorial regions in the country, resolving to spread investment and the fight against losses in investment and capital construction"; or "implementation of projects on Son La hydro-power plant and the Dung Quat oil refinery", and so on.

The NA has strengthened its supreme supervision of activities of the Government, the People’s Supreme Procuracy, the People’s Supreme Court, the State President, and the NA Standing Committee during its meetings. Particularly, the method of supervision by questioning cabinet members has been maintained in the NA’s bi-annual meetings. The quality of the Q&A session has been improved. In the past, it was conducted as a NA’s internal activity. Currently, these sessions are televised live to enable voters in the country to follow and monitor the activities of their representatives. The Government’s report on the implementation of socio-economic development tasks in 2003 and 2004 acknowledged the contributions by the NA and its agencies in guiding and supervision activities.

Supervision activities have had positive impacts, making each NA deputy and chiefs of legislative, executive and justice agencies aware of their responsibilities before voters and people in the entire country.

However, in general, many constraints remain in supervision activities of the NA, its agencies, delegations and deputies. They are not strictly determined to focus on this assignment to meet the requirements of voters and people. They are not fully aware of their supervision mission. They are careful not to hurt the targeted agencies or people, avoiding confrontation and lacking determination. These weaknesses remain a major obstacle, making supervision activities less effective. They fail to invest sufficient time and efforts in supervision activities, particularly redressing proposals or grievances, and other follow-up activities.

Most supervision activities have been carried out only by the NA Standing Committee, its agencies and some capable delegations. Many NA delegations and almost all NA deputies still feel confused about fulfilling this assignment. Particularly, NA deputies do not spend enough time with voters, so they cannot fully comprehend and report their comments and wishes in time.

The NA, with its limited resources, cannot cover large supervision size and aspects. Supervision activities are still cursory, not focused and not carefully prepared. Supervision methods and procedures are stereotyped and not creative. All these practices make NA supervision activities of poor quality and less effective.

Many constraints remain in the supervision of legal documents. The first time the NA included this type of supervision in its sessions was in 2005. It discovered many gaps in documents guiding the implementation of laws and ordinances, which needed to be overcome in time to secure the constitutionalism and consistency of the legal system. A large number of required sub-law documents are not issued although the deadline had passed. Information and communication about the NA supervision function is not promoted to win nation-wide consent and support and the participation of voters and people in general.

To make NA supervision activities of better quality and more effective, in the coming period we should focus on the following:

- First, further efforts should be made to change social perception about NA supervision activities, first of all that of State civil administrative agencies. We should be determined and focus on accelerating these activities, considering them a political assignment and a motivation to improve the quality and effectiveness of the State apparatus. We should also consider this an important content in the national administrative reform process and the building of a socialist and law-governed State in Vietnam. We should establish and strengthen the harmonious relations between supervising and the supervised agencies, to make supervision activities more sincere, open, frank and constructive. We should redress wrong thinking, which says supervision means "fault finding" and only tries to find out shortcomings to blame and shift responsibility over to others. We should concur that supervision is aimed at finding any unsuited provisions in laws and policies currently in force to amend, rectify and supplement, so as to gradually finalise the mechanism, policy and legal system.

- Second, the NA Standing Committee, its agencies, delegations and deputies should closely follow actual socio-economic developments to review the situation, research and give suggestions on the building of the NA’s annual supervision programme, making it focus on major, key and urgent issues, which are of concern to voters and people, and which are related to the State macro policies and mechanisms. Supervision activities should not be spread, cursory or formalistic, and need to be more effective.

- Third, the NA Standing Committee should develop implementation schedules and activities based on the NA resolution on the annual supervision programme. The Standing Committee should make its own supervision activities, or give assignments to NA agencies and delegations to carry out these activities and report the outcomes to the NA. In the entire supervision process, it is most important to collect and review information, and identify correct subjects and develop correct contents for supervision.

- Fourth, the NA Standing Committee, the Council of Ethnic Minorities and NA committees should focus on supervising the fulfillment of assignments by Government, ministries and central agencies to reduce the number of supervising teams when visiting localities and organisations. Regular supervision of the issuance of law and sub-law documents in all aspects, including progress, content, forms, authority and order, should be maintained.

- Fifth, the NA should further improve supervision procedures and methods, paying attention to the careful preparation of supervision contents, allocating sufficient time and mobilising necessary resources. Mechanism should be consistent to review and redress grievances and proposals through supervision activities in the spirit of "strictly following the situation to demand responsible organisations give full and satisfactory answers to proposals." The NA should develop procedures to carry out major supervision activities, including the Q&A sessions in NA meetings, and organising specialised supervision teams of the NA Standing Committee, its agencies and delegations. It should conduct a vote of confidence for titles elected or approved by the NA, and accelerate the establishment of a NA auditing agency.

- Six, proper investment should be made to provide parliamentary skills for people’s elected representatives in general and NA deputies in particular through seminars, workshops, conferences, training courses, information exchanges, and study visits to parliaments of other countries.

- Seven, strengthen coordination with the Vietnam Fatherland Front, its member organisations and the people, consult the opinions of specialised agencies and specialists, while improving advisory and logistical mechanisms to ensure necessary physical conditions are developed to realise this mission.

The internal contradictions in our State’s activities are those between active and initiative factors involving conservative and unmoving factors, and between the demand for a healthy civil administrative agencies and manifestations of red-tape, corruption and waste of public property. The nation’s development will be hindered if these contradictions are not resolved. Supervision is very necessary in this struggle. So, in the coming period, the NA should make further efforts, and all agencies and organisations in the country’s political system and the entire people should actively coordinate and assist the NA, its agencies, delegations and deputies to better realise their supervision function, contributing to building a clean and strong Vietnamese State, which is really a State of the people, by the people and for the people.


* Member of the Party Central Committee, and Vice Chairman of the National Assembly.
BÀI VIẾT THỨ 3
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ US GLOBAL STRATEGY AND THE MIDDLE EAST SITUATION
TÁC GIẢ Ngo Manh Lan*
NỘI DUNG

No US President who has stood for a second term of presidency has been so strongly criticised and opposed by most of the world and public opinion as George Bush. However, he won the elections with an overwhelming vote and controls most administrative agencies at both the federal and state levels. This contradiction shows that the US was unable to realise its global hegemonic strategy and policies. It also proves that terrorist threats will have strong and long-term impacts on all social sectors and the US public. The Sept. 11, 2001 "lever" used by President Bush is not as efficacious as before, particularly in the last three years. Investigations exposing shortcomings, power abuse and poor operation of intelligence agencies have showed the reasons why the US failed to forecast and prevent the terror plots of the Al Queda network, although they had received reliable information from inside and outside the country.

The failure of US intelligence agencies could be attributed to different reasons. First of all, they were not clear in their research to detect their "strategic enemy" and failed to identify their main enemy. As early as the 1970s and 80s, they already defined theories and concepts against the Soviet Union and communism, launched campaigns on democracy and freedom and tested them in the ideological field. However, Muslims used by the US in the fight against the former Soviet Union in Afghanistan shared the religion, civilization and culture of the Arab world and a political history with Arab and Persian areas, which are very alien to the knowledge and understanding of US authorities. As a result, the US could not avoid mistakes in assessing their "enemy". Even when Muslim forces led by Bin Laden appeared as the US death-feud enemy, US strategists were still optimistic about their success in overthrowing the Soviet Union and pushing Saddam Hussein into the US trap of attacking Kuwait, prompting the pretext of the Iraq invasion and opening up a road for President George HW Bush (father) to incite some UN Security Council member countries into the Persian War. In the 1990s, new conservatism strategists strongly impacted on the GOP (the Republican Party), realised a strategic plan to rearrange power in important areas, first of all the Middle and Near East, taking Iraq as the springboard. The Sept. 11, 2001 terror attack was a rare chance for the US President to launch a campaign to annex Iraq, initially implement the anti-terrorist strategy and define the US main enemies, which were the Bin Laden terrorist network and some countries charged with "anti-democracy, anti-freedom and anti-spiritual and moral values" of the US regime, and even with storing weapons of mass destruction, or potentially manufacturing these weapons and even nuclear weapons. The US argued that whose who refused to fight against "international terrorism" will be regarded as US enemies, ruled out of the "international community" and subject to adequate control and penalties.

Second, US intelligence agencies were contradicting, competing and did not co-ordinate with each other. This situation forced the US President to establish a national intelligence council to coordinate the 15 intelligence agencies in the country. The National Intelligence Council has the supreme power over action strategy, management and distribution of huge US intelligence budget. Leading US diplomat, Mr. John Dimitri Negroponte was appointed to lead the National Intelligence Council in controlling, pursing and regulating the intelligence community. This means that the US administration, after drawing lessons from the strong opposition of anti-aggression resistance forces that it could not repress, had to focus their external policies on political activities. The US President intends to find and destroy Muslim guerrilla forces and organisations, mostly Sunni Muslims, while trying to hold dialogues and involve these organisations and forces in the US-rigged up governments through UN-sponsored elections.

Third, a strategic research group, called "new conservatism", was established and began operating in the 1990s. This has followed a world democratic revolution policy aimed at uprooting or overthrowing States and governments, which do not integrate in the US global political and economic strategy. This group is carrying out plans to turn the Middle/Near East into a "Great Middle East" area, making it a springboard to expand the global hegemonic strategy to other strategic areas. They included the area crossing Caucasus with Georgia and Azerbaijan as the two most important locations, and the former Soviet Union’s area of Central Asia, including China, which will potentially become the US major opponent.

Fourth, US intelligence agencies will re-arrange their research policies and activities to focus on organising and supporting the "democratic" front in order to launch "democratic revolutions", as they succeeded in doing in Georgia, Ukraine and Kirgigistan. The intelligence agencies have also a task to campaign for so-called Washington’s consent to shake regimes, which do not conform to the US major interests. They even required these countries to build a market economy and a "free and democratic" social regime according to the US and Western European countries’ viewpoint. The most wicked tricks used by US intelligence agencies were to take advantages of socio-economic disabilities, people’s discontent and the slow implementation of policies which the US maintained as meeting socio-economic standards of a "free and democratic" regime, and condemn anyone who criticised or opposed the trends of "liberalisation", "privalisation", "marketisation", and "integration". The campaigns to propagandize the "superiority" of the market economic and capitalist globalising economy are aimed at overwhelming, shaking and splitting the authorities of countries which are still opposing or resisting the US hegemonic strategy and the US and Western European anti-communist strategy in general and anti-Muslim terrorists in particular. In his 2nd term, in addition to redressing intelligence agencies, President Bush also carried out a Cabinet reshuffle, appointing Dr. Condoleezza Rice, National Security Advisor to be Foreign Secretary. With this move, the US regarded diplomacy the key policy to work out military steps in order to reduce contradictions between the US and its strongest European allies. The US also intended to ally with and prevent Russia and China’s ambitions and long-term objectives, and avoid unilateral imposition and brazen actions of a superpower, which ignored the interests of other powers. The US have tried to split the Muslim struggle movements and encouraged and supported "neutral" and "non-extremist" Muslim sects, as they have done with the Turkish authorities for many years. The US also attracted the participation of the Shiite sect of Hussein Al-Shahristani in building the new administration in Iraq. They took a new approach to make these religious sects their dialogue partners to build a "Great Middle/Near East" area with close relations with the US, if not "blood relations" as Israel. This shows that the US anti-terror plan is in a semi-paralised state and needs to be redressed.

In general, the US global strategy remains unchanged in nature, but its tactical methods and actions are changing considerably. The new conservatism research group has strongly ruled over important positions of the US administration and partly infiltrated in information agencies and the social public. Because the US failed to obtain complete success it has become more confused, as the US and Iraqi armies are subject to repeated suicide attacks by guerrilla organizations. They have to use soft power, diplomacy, dialogue, negotiation and enticing methods, while strengthening selected destructive military campaigns. US diplomats have to campaign for the preparation of conditions to snatch a chance to launch "democratic revolutions", as neo-conservatism leader, Richard Perle declared in American Enterprise in April 2005 that diplomats were often not used to support revolutions, but "we have to make them accept this as a strict component of their work." In President Bush’s 2nd term, leaders of the new conservatism group received new assignments suited to a new strategy with a selected objective in their new posts. They include Vice President, Dick Cheney; former advisor to the President and the Pentagon, Richard Perle; President Bush’s pen man, David Frum; former CIA Director, James Woolsey; former State Secretary, George Shultz, who was considered by Dr. Condoleezza Rice as her teacher; former Vice Defence Secretary and current World Bank President, Paul Wolfowitz; new-conservatism theorist and chairman of the "For the New American Century" project, William Kristol; strategist and university professor Robert Kagan; political expert and Stanford University professor, Phillip Zelikov; and former editor-at-large of the new conservatism political review, Commentary, Norman Podhoretz, who declared that "World War Four" had broken out after the Cold War. Their new and major task is to expand capitalism with its spiritual and moral values in a way different from the "Crucifix" world expedition in feudal time, when Christians launched military campaigns to invade countries that followed heterodox creeds. Expansion means to find out a satisfactory answers for measures with "selected, precise and limited objectives", which are effectively implemented in areas, where provoking "free and democratic" movements and encouraging "free and democratic" progress is considered a policy to protect the US own interests, and "save and conserve European civilisation". This is the major content of neo-imperialism to impose socio-political regimes in line with the fundamental interests of Western capitalist powers, now that capitalism is experiencing a long-term and systematic crisis and the world is experiencing a new globalisation process with major scientific and technological leaps forward.1

Let’s look at the old US strategy worked out in Bush’s first term and new strategy worked out in Bush’s second term to find the level to which the US have implemented their strategic activities, in order to have a precise assessment of the Middle East, which is their first priority.

First, the situation in Afghanistan and Iraq is not stabilised as the US wished, but has become more confused with a potential civil war between the Shia Muslims and Sunni Muslims as an immediate threat, which the US and the US puppet regime cannot control. Guerrila forces continue to attack US military bases and US battle-tested forces. The American public further doubt a satisfactory result will come from Bush’s anti-terror strategy. An anti-terror specialist, former advisor of former President Bill Clinton and President George HW Bush, Robert W. Kresti had to say that the US has to frankly debate about the unpredictable consequences of the Iraq war and how to overcome them. Meanwhile, addressing audiences at the Press Club in July 2005, General Richard Myers, Commander-in-chief of US armed forces said that more diplomatic, economic and political but not military activities are required to find a solution to US issues in Iraq.

The Al Queda network has been expanding while US special forces have still failed to capture or kill its two leaders, Bin Laden and Dr. Ayman al-Zawahiri. Reality has shown that Bin Laden and his subordinates are still protected by local people. Muslim forces in all regional countries have strongly developed and positively joined politics in "democratic" general elections, which marked the end of the "democratic revolution" initiated by new conservatism theorists. Recent and up-coming elections in Lebanon, Palestine and Egypt show that the pro-Iran Hezbola, Hamas and Muslim Brothers forces, which have spread in Egypt, Northern Africa and the Middle East, will possibly win a great victory. Immediate and long-term comparison show a disadvantage for the plan of constructing a "great Middle/Near East designed by President Bush and new-conservatism experts. It has been more difficult to gradually withdraw US troops from Iraq and replace them with US-trained local troops. Even US generals cannot agree with each other on the withdrawal level and speed. Major General John Vines, commander of the multinational corps in Iraq, has showed his concern about the spirit and professional skills of the 220,000 native soldiers, security officers and policemen trained by the US, France and Britain. He even considered the possibility that these "national" forces might become mercenaries for Muslim parties if a civil war broke out in addition to the anti-US guerrilla war. The US aims to double the total number of US troops in Iraq. However, it is difficult to realise as the recruitment possibility is limited and particularly, the pressure on troop withdrawal is increasing.

The regional situation has become more confused as the US has to cope with Syria and Iran, which were called by President Bush in his October 2005 speech as two opportunist allies of the Muslim extremists with a long-term history of coordinating with terrorists. Developments in these countries directly impact on stability in Afghanistan and Iraq, which is needed to retain a government rigged up and consolidated by the US. As a neighbour of Afghanistan and Iraq, Iran is capable and has a real strength to control, if not destroy, US strategic plans in Iraq and the region. So, the priority objective in the entire US political, diplomatic, military and intelligent combat plan is to quickly carry out a "democratic revolution" to overthrow the "extremist" Muslim government in Iran. In this situation, the roadmap of establishing a Palestinian State co-existing with Israel as agreed by President Bush and Israeli Prime Minister Ariel Sharon will confront insurmountable obstacles, due to the fierce opposition of different parties, the Likud rightwing and rightist party, and the ambition and deep strategic intention of the most important Jewish parties, which do not want to return the land areas occupied after the 1948, 1967 and 1973 wars to the Palestine nation. Ariel Sharon intends to build a great Israel and push the Palestinians back to the east, turn Jordan into a place of residence for the Palestinians and erase the question relating to millions of Palestinian refugees in Arab countries and Lebanon for dozens of years. The Hamas opposition organisation, with its political and military strength, refuted the Bush-Sharon roadmap immediately after it appeared. Even President Bush and his new conservatism advisors have to acknowledge obstacles in realising the Palestinian peace roadmap, while other regional Arab countries are not integrating into the US on-going "Great Middle/Near East" strategy.

In the face of numerous difficulties inside and outside the country, President Bush’s credibility has been reduced and the "war-like" and "realistic" factors in the US administration could not reach a consensus, but could only agreed on the principle of "using a louder voice and a smaller stick", which means more diplomacy and less military force. So, after the Iraq war, the US must heal the wounds in its "trans-Atlantic" relations with Europe. In this connection, the US President paid his first official visit in his second term to European countries in February 2005. He succeeded in making clear to European countries in the expanded NATO about the role, functions and intervention areas of the military alliance, giving them assignments in combat, defence, construction and training in the re-construction of Afghanistan and Iraq. Bush won further EU support to consolidate the democratic regime in Ukraine after the Orange Revolution. Bush intends to include Ukraine and Turkey in the EU, split Ukraine from Russia’s political and economic influence, strengthen US influence and advantages in the EU, and make Ukraine, Turkey, Poland and other pro-US eastern European countries locations, and intelligence and military bases, to defend and enforce US guidelines and policies. The strategic dispute between the US and two major EU countries, namely France and Germany, remains fierce, especially as they did not agree with the US invasion of Iraq. However, they have partly compromised and agreed to assist the US and the US government in Iraq in order to stabilise and re-construct Iraq and Afghanistan. However, the US and the EU still follow different policies on the Iran issue. The US-Russia relations seem to be more tense since President Putin was re-elected and continues to rule out from the political arena pro-US factors and economic monopolist groups, whose interests are closely bound to the US trans-national corporations. President Putin is trying to re-establish the power of the former Soviet Union and restructure the State power with the trend of centralisation of the Government authorities and power, expanding State capitalism and making the most of Russia’s natural oil and gas resources, as well as its geo-political position. This is aimed at holding dialogues, allying and competing influence with the US in the position of "friend and foe", who need each other, retain and rescue Russia’s influence in Europe and Central Asia, and not letting the US rule Russia out of the security, political and economic establishment process in areas traditionally influenced by Russia and other areas. The US finds it difficult to limit, if not defeat Putin’s ambition and intention, while Russia’s support and assistance are very necessary to realise their global "anti-terror" strategy, prevent Iran from manufacturing nuclear and atomic weapons, and control and seek overwhelming UN Security Council approval against Syria’s current government, which is called by the US as "a base of terrorist forces", toward overthrowing it and further isolating Iran. This is not easy due to close economic relations between Iran, Pakistan, India and China, the establishment of gas pipelines from Iran, which are very necessary for China, although India has withdrawn from this project, and Iran’s strategic geo-political and economic position in the Middle East, Central Asia (important to the US and Russia) and South Asia.

In sum, the US global strategy in general and on the Middle East in particular still faces numerous and insurmountable obstacles, although Secretary of State’s Rice during her speech at Georgetown University on Jan. 18, 2006 changed the term to "transformational diplomacy".


* Prof. and Dr. of Economics, overseas Vietnamese in France.
(1) See Michael Beau: History of capitalism from 1500 to 2000, the World Publishing House, Hanoi, 2002.
BÀI VIẾT THỨ 4
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ COMMUNISM VALUES ARE UNDENIABLE FOR HUMANKIND
TÁC GIẢ Nguyen Tien Nghia
NỘI DUNG

Recently, some rightist members in the Political Committee of the Parliamentary Assembly of the Council of Europe (PACE) submitted to PACE a memorandum on the so-called "International condemnation of the crimes of totalitarian communist regimes". With a scheme to launch a global anti-communist campaign, they wanted to push the international community deeper into a new whirlwind of instability.

On Jan. 25, 2006, PACE issued Resolution No. 1481 on the so-called "crimes of totalitarian communist regimes". However, it did not receive the necessary two-thirds majority of the votes, so it could not pass recommendations to call on member countries to realise this resolution.

PACE’s Resolution 1481 is not feasible and cannot be enforced because, first, PACE is not a place exclusively reserved for rightwing members. A leftist alliance, including communist and leftwing parliamentarians from Denmark, Norway, Finland, Sweden, France, Spain, Cyprus, Portugal, Italy, Czech, Russia, Ukraine and other countries, are very active in this Parliamentary Assembly. They voiced protest against this resolution at PACE General Assembly. Second, the preparation for the issuance of Resolution 1481 was entirely external to PACE’s legal framework. Rightwing members in PACE moved too far away with the ambition of obtaining functions which did not belong to it. The European Left’s website on Jan. 14, 2006 frankly said that PACE wanted to turn itself into an ideological forum and make the most of it in a political struggle. So, it is easy to understand that "one’s words are unacceptable if not spoken in one’s true name." Third, this memorandum was strongly opposed by the world public even as a draft. A month before Resolution 1481 was passed, the European Left issued a statement, denouncing PACE for comparing communism with fascism. On Jan. 19, 2006, the President of the Communist Party of Greece, Mr. Aleka Papariga said that the draft of the so-called "The necessity for international condemnation against communism" was an imperialist project and a declaration of war against the working class. Seventeen communist and workers’ parties from different countries met in Brussels on Jan. 21, 2006 to protest against this draft resolution. They strongly condemned it as a violent attack against the history, the presence and future of communism. Meanwhile, 20 other parties sent messages to the meeting to express their solidarity in the struggle. The French newspaper Le Figaro on January 25, 2006 quoted comments from leaders of communist parties in France and Portugal, who said that this anti-communism resolution was, in essence, an act that stifled freedom.

By quoting some figures considered to be proof of communism’s crimes committed by socialist countries over the last decades, giving allegations distorting communism, and comparing communism with Nazism, authors of the memorandum concluded that it was necessary to condemn and put an end to the ideology of communism, for which crimes were committed in its name (!)

The memorandum with its major provisions, which were passed by PACE, clearly showed:

First, distortion of communism values

Throughout many centuries, human progressive ideologists have made painstaking efforts to find ways to eliminate social inequality. In ancient times, many utopian theorists dreamt of a "golden time" with equality between people and people in the society. At the end of the 18th century and in early 19th century, great utopian socialists made profound assumptions on a future social regime and courageously criticised the capitalist regime as a temporary regime in humanity’s development process. However, these theories failed to discover laws of human society development. Only Karl Marx and Friedrich Engels could develop scientific socialism, which was a real scientific theory on a future society. Afterwards they critically received and developed previous social ideological values, deeply generalised the contemporary socio-economic and political conditions closely connected to the actual proletarian revolutionary movement and untiring participated in the intolerant struggle against wicked enemies. In his book "The communists and Karl Geysten", Engels wrote that the theory of communism is a manifestation of the proletariat’s theoretical viewpoint in their struggle, and a theoretical generalisation of conditions to liberate the proletariat.

Proceeding from historical changes in the imperialism era and the new period of the proletarian struggle against capitalists and imperialists, Vladimir Ilich Lenin further and creatively developed theories of scientific communism to a higher qualitative level. He pointed out the laws of capitalism development in the imperialism era, and revolutionary orientations and methods to reform it. He also argued for laws of the oppressed people’s revolution under a Marxist political party as well as basic rules for constructing a new society, namely a socialist and communist society.

Shortly after the Great October Revolution succeeded, the Soviet Union obtained high economic growths without any social crisis. It also recorded major achievements in cultural, scientific and military fields, provided moral education for people and smashed fascism’s dream of world hegemony. The socialist system led by the Soviet Union made a major contribution to maintaining world peace, pushing back the nuclear war threat, and accelerating the struggle for global peace, national independence, democracy and social progress over many decades. This is an undeniable magnanimous historical fact. However, due to weaknesses and shortcomings in the old socialist model, including bureaucratic centralism, subjectivism and voluntarism, which were not discovered and overcome in time, the socialist system that developed after the Soviet model could not promote its vitality and advantages. However, the collapse of the socialist regime in the Soviet Union and Eastern European countries did not mean the collapse of socialism as the sole correct revolutionary and scientific theory in human ideological history. It was also not the collapse of the world communist movement, as capitalist scholars such as Brezinski and Phucuyama raised a ballyhoo about "bitter defeat of communism" or "the time to toll the bell of history." Socialism still exists, renews, and is full of vitality and further confirmed in socialist countries. Achievements obtained and lessons drawn from 27 years of reform and openness in China, and 20 years in Vietnam, 18 years in Laos and 12 years in Cuba’s national renewal process have further affirmed the correctness and great vitality of Marxism. It also allows us to further understand the projections by socialism founders about major characteristics after its completion, namely socialism should create conditions for people’s comprehensive development. In the Communist Manifesto, Mark asserted that socialism means the free development of each person and is a condition for the free development of all people. Socialism secures people’s right to mastery in all aspects, particularly in politics. Socialism should be built on a highly developed economy based on the social ownership of major production means, and ensure social equity and equality between nations. The socialist culture crystallizes national cultural values and the quintessence of the era.

Obviously, allegations made by authors of the memorandum that communism is characterised by human rights violations, are a brazen distortion of communism values and their dark plot should be criticised.

Second, comparing communism with Nazism

The Memorandum said that although communism and Nazism were hostile to each other, they shared many similarities, and that Nazism was internationally condemned, so why was communism not condemned at the same level.

Anyone with an average education can understand clearly the nature, root and principles of communism and Nazism, which was a special variation of fascism.

Communism points out the way for a total and thorough liberation of the working class, other labouring people and oppressed nations to build a real prosperous, equal, civilised and fair society, namely a socialist and communist regime. Meanwhile, fascism in general and Nazism in particular were political trends emerging as a reaction against the world revolutionary high tide, which commenced with the Russian October Revolution. After gaining power, fascism became dictatorial terrorism of the capitalist monopoly to protect capitalism. It used extreme violence, chauvinism and racism to repress the working class, other labouring people and the entire progressive mankind. The reactionary external policy realised by fascist forces in some Western European countries including Germany, Italy and Spain led to World War Two, causing uncountable losses and sufferings, and killing tens of millions of people. So, where are the similarities between communism and fascism?

In fact, the authors of the Memorandum only repeated what hostile forces and capitalist scholars had abused during the Cold War period, when the West used the terms "dictatorial regime" to indicate communism or fascism. Is it right that rightwing members in PACE compared communism with Nazism in order to exculpate fascism from their extreme crimes or to ignore the fact that currently, the ruling capitalist class still retain war-like and brutal policies in many capitalist countries, particularly external policies, that are no less than those used by fascism. Commenting on this, France’s Le Monde newspaper on January 23, 2006 quoted a Greek composer as saying that by comparing communism with Nazism, PACE decided to change history, and distort the truth by identifying victims of fascism with decapitators, heroes with criminals, and liberators with invaders.

Third, distorting history to deny humanity’s future

Distorting the nature of communism and identifying communism with Nazism are plots of rightwing members in PACE to provoke communism. However, the vitality, attraction and cohesion of communism in current international life explains why they frenziedly accelerate counter activities against human’s objective historic development. The instigators in PACE have to acknowledge that currently there exist countries, where communist ideology remains the base of government, that most active politicians still support communist regimes and that communist parties remain active in many European countries. Authors of the Memorandum beat about the bush by inconsistently explaining that the main question is to hold international investigation and trials against "crimes" seen to be committed by communist ideology. However, their anti-communist plot was exposed by their own arguments as saying that, "The question lies in the fact that the entire ideology and ideals of communism were used by people to commit crimes (!); All members of communist parties including "post-communist parties" and PACE member countries should review the history of communism and their own past to completely break with communism and that past forever" (!)

Current active global communist movement shows that the cry of the Memorandum initiators is irrelevant.

The fact that communist parties in the world are operating legally is undeniable. It can be said that in Asia, communists are playing a decisive role in political life. The Communist Party is the ruling party in Asian socialist countries such as China, Vietnam, Laos and the Democratic People’s Republic of Korea, and Cuba in Latin America. The communists are also keeping important, even the most important positions, in law-making agencies in other Asian countries such as India, Japan, Syria, Israel, Sri Lanka, Bangladesh, and Nepal, and African and Latin American countries such as South Africa, Morocco, Uruguay, Guatemala, Brazil, Venezuela and Panama. Communists are actively participating in the political life of Europe, where the communist movement had been one of largest and most traditional political forces. The communist parties all have their deputies in the parliaments of France, Italy, Portugal, Greece, Bulgaria, Czech, Spain, Russia, Slovakia and Cyprus. In some countries, communist deputies even make up a large ratio of parliament. The communist party of Mondovi is the ruling party, and the Cypriot communist party is a member of the government alliance. Some communist parties have deputies in the European Parliament and of course, in PACE. In the last decade of the 20th century, the number of voters supporting European communist and leftwing parties increased from 6.7 percent in early 1990s to 15 percent at the end of the 1990s. Global communist parties still set socialism and communism as their objectives and affirm that Marxism is the scientific theory and methodology to conduct a revolution for social reform.

Baudouin Deckers, General Secretary of the Workers' Party of Belgium, in a recent interview granted to Vietnam News Agency correspondent in France, said that communism will be humanity’s future, and this fact cannot be prevented, despite hundreds of resolutions like the one issued by PACE. Resolution 1481 only made global communist and worker parties more determined. *

In spite of their frenzied attack, anti-communist forces of any colour cannot prevent the trend of objective historical development. Human history does not stop at capitalism, but will proceed to socialism and communism.


* vnanet.vn, Feb.3, 2006
BÀI VIẾT THỨ 5
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG, PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN TỘC, ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, SỚM ĐƯA NƯỚC TA RA KHỎI TÌNH TRẠNG KÉM PHÁT TRIỂN
TÁC GIẢ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
NỘI DUNG

(DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI X CỦA ĐẢNG)

 

Lời Bộ Biên tập: Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã quyết định công bố toàn văn dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội X để lấy ý kiến nhân dân.

Đợt lấy ý kiến nhân dân góp ý vào dự thảo Báo cáo Chính trị bắt đầu từ ngày 3-2-2006 đến ngày 3-3-2006, là một đợt sinh hoạt chính trị quan trọng trong đời sống xã hội nước ta; với mục đích phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc trực tiếp tham gia hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng đất nước và xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, làm cho văn kiện trình Đại hội X của Đảng trở thành sản phẩm kết tinh trí tuệ và ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân.

Tạp chí Cộng sản xin trân trọng đăng toàn văn dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, để bạn đọc góp ý kiến.

Mọi ý kiến đóng góp đề nghị gửi về địa chỉ: Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng, số 1A, đường Hùng Vương, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

 

Đại hội X của Đảng họp vào lúc toàn Đảng, toàn dân ta kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và đã trải qua 20 năm đổi mới.

Đại hội có nhiệm vụ: kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010; tổng kết 20 năm đổi mới; quyết định phương hướng phát triển đất nước và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng Đảng, bổ sung, sửa đổi một số điểm trong Điều lệ Đảng; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.

I - KIỂM ĐIỂM 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI IX CỦA ĐẢNG

Năm năm qua, bên cạnh những thuận lợi cơ bản do tiến trình đổi mới tạo ra, nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do những yếu kém vốn có của nền kinh tế trình độ thấp; thiên tai, dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi; tình hình thế giới và khu vực diễn biến hết sức phức tạp, nhất là sau sự kiện ngày 11-9-2001 ở Mỹ; kinh tế thế giới và khu vực đan xen những biểu hiện suy thoái, phục hồi và phát triển, hoạt động cạnh tranh và chủ nghĩa bảo hộ của một số nước tác động không nhỏ đến tình hình nước ta... Trong hoàn cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ra sức phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và đã đạt những thành tựu rất quan trọng:

1 - Nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện

Tốc độ tăng trưởng GDP năm sau cao hơn năm trước, bình quân trong 5 năm 2001 - 2005 đạt mức kế hoạch 7,5%. Kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, các quan hệ và cân đối chủ yếu trong nền kinh tế (tích lũy - tiêu dùng, thu - chi ngân sách,...) được cải thiện; việc huy động các nguồn nội lực cho phát triển có tiến bộ, tỉ lệ huy động GDP vào ngân sách nhà nước vượt dự kiến. Tổng vốn đầu tư vào nền kinh tế tăng nhanh. Đã tạo dựng thêm nhiều cơ sở vật chất - kỹ thuật quan trọng, trong đó nhiều công trình lớn đã được đưa vào sử dụng.

Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đến năm 2005, tỉ trọng giá trị nông - lâm - ngư nghiệp trong GDP còn 20,9% (kế hoạch 20% - 21%), công nghiệp và xây dựng 41% (kế hoạch 38% - 39%), dịch vụ 38,1% (kế hoạch 41% - 42%).

Hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có bước tiến quan trọng. Một số sản phẩm của ta đã có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế với thương hiệu có uy tín. Xuất khẩu, nhập khẩu có tốc độ tăng trưởng khá, tổng kim ngạch xuất khẩu đã bằng hơn 50% GDP. Vốn tài trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên tục tăng qua các năm. Đã có một số dự án đầu tư của ta ra nước ngoài.

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng; một số loại thị trường mới hình thành; thị trường hàng hóa phát triển tương đối nhanh.

2 - Văn hóa - xã hội có tiến bộ trên một số mặt; việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện; chỉ số phát triển con người được nâng lên

Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn. Cơ sở vật chất được tăng cường. Quy mô đào tạo tăng nhanh và tương đối đều, nhất là ở bậc trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

Khoa học và công nghệ góp phần tích cực vào việc hoạch định đường lối, chính sách, điều tra nghiên cứu đánh giá tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học; nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh.

Công tác xóa đói giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức và thu được nhiều kết quả tốt; đến cuối năm 2005 tỉ lệ hộ nghèo còn 7% (theo chuẩn Việt Nam cho giai đoạn 2001 - 2005). Việc kết hợp các nguồn lực của Nhà nước và nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội cho các vùng nông thôn, miền núi, vùng dân tộc bước đầu thu được kết quả tốt.

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của nhân dân tiếp tục đạt được nhiều thành tựu. Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở được mở rộng; một số dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi; nhân dân ở hầu hết các vùng, miền được chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng từ 68 (năm 1999) lên 71,3 (năm 2005).

Các hoạt động văn hóa, thông tin, báo chí, thể dục thể thao, giải trí... có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức. Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", các phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, gia đình liệt sỹ, các hoạt động nhân đạo, từ thiện... thu hút được sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân.

3 - Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường; hoạt động đối ngoại được mở rộng

Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia được giữ vững; chính trị - xã hội ổn định. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; vững vàng về chính trị, có tinh thần chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu cao. Việc kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng ở một số địa bàn được thực hiện có hiệu quả. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được củng cố.

Hoạt động đối ngoại được mở rộng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Một số vấn đề về biên giới, lãnh thổ, vùng chồng lấn trên biển với một số quốc gia được giải quyết. Nước ta đã chủ động và tích cực tham gia hoạt động trên các diễn đàn quốc tế, khu vực; tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế và khu vực tại Việt Nam. Công tác đối ngoại nhân dân có bước phát triển mới.

4 - Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy

Công tác lập pháp của Quốc hội có những đổi mới quan trọng. Hiến pháp và hệ thống pháp luật tiếp tục được sửa đổi, bổ sung; quy trình làm luật được cải tiến; hàng loạt luật và pháp lệnh mới được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước, vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.

Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được tăng cường. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chính phủ, của các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp được phân định cụ thể hơn, phân cấp nhiều hơn. Các hoạt động tư pháp và công tác cải cách tư pháp có những chuyển biến tích cực.

Nội dung và hình thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ngày càng thiết thực. Quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện rộng rãi hơn, nhất là ở xã, phường.

5 - Công tác xây dựng Đảng được coi trọng

Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng được coi trọng thường xuyên và đạt được một số kết quả tích cực. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, công tác lý luận, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh có tiến bộ. Công tác tổ chức và cán bộ có một số đổi mới về nội dung và cách làm. Việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở có chuyển biến. Công tác phát triển đảng viên được quan tâm chỉ đạo và đạt một số kết quả. Đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, năng động, sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất, năng lực. Quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân tiếp tục được cải thiện.

Đạt được những thành tựu trên là nhờ đường lối đúng của Đảng; sự quản lý thống nhất theo pháp luật của Nhà nước, sự điều hành năng động của Chính phủ và sự cố gắng to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các ngành, các cấp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đó còn là do tác động tích cực của những cơ chế, chính sách đã được ban hành; do kết quả đầu tư trong nhiều năm qua đã làm cho năng lực sản xuất của nhiều ngành và toàn bộ nền kinh tế tăng khá.

Tuy nhiên, chúng ta còn những khuyết điểm và yếu kém:

1 - Nhịp độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chưa vững chắc; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm

Quy mô nền kinh tế còn nhỏ. Các cân đối vĩ mô trong nền kinh tế chưa thật vững chắc, dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động từ bên ngoài. Trình độ khoa học, công nghệ, năng suất lao động còn thấp; giá thành nhiều sản phẩm cao hơn so với khu vực và thế giới. Nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước chưa được huy động và khai thác tốt. Đầu tư của Nhà nước dàn trải, bị thất thoát nhiều. Một số công trình xây dựng lớn, quan trọng của quốc gia không hoàn thành theo kế hoạch. Lãng phí trong chi tiêu ngân sách nhà nước và tiêu dùng xã hội còn nghiêm trọng. Môi trường sinh thái ở nhiều nơi ô nhiễm nặng. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nhìn chung chưa hợp lý.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm, chất lượng thấp, nhất là lĩnh vực dịch vụ. Nội dung và các biện pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp và nông thôn chưa cụ thể. Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, nhất là cổ phần hóa chưa đạt yêu cầu đề ra. Chất lượng nguồn nhân lực thấp, lao động chưa qua đào tạo vẫn là phổ biến, lao động nông nghiệp còn chiếm tỉ lệ cao. Kinh tế đối ngoại chưa phát huy đầy đủ các khả năng; doanh nghiệp trong nước chưa đủ sức vượt qua những khó khăn về cạnh tranh và thị trường.

Việc hoạch định và thực hiện các chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển và vận hành hệ thống thị trường chưa đồng bộ; một số nguyên tắc của thị trường bị vi phạm; tư duy bao cấp chưa được khắc phục triệt để.

2 - Cơ chế, chính sách về văn hóa - xã hội chậm đổi mới; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt

Thành tựu xóa đói, giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn lớn. Chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướng tăng. Nhu cầu bức xúc về việc làm ở các thành thị và nông thôn chưa được đáp ứng tốt. Nhiều vấn đề xã hội quan trọng chưa được giải quyết thỏa đáng.

Giáo dục và đào tạo chất lượng còn thấp, cơ cấu chưa hợp lý. Khoa học và công nghệ chưa đáp ứng kịp yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xu hướng xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu thấp kém vì lợi ích vật chất đơn thuần, vì lợi ích cục bộ, cá nhân trong một bộ phận báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật chưa được khắc phục có hiệu quả. Quản lý nhà nước đối với một số lĩnh vực trong y tế, thể dục thể thao còn yếu kém.

Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng. Tội phạm và một số tệ nạn xã hội có chiều hướng tăng. Tai nạn giao thông gây ra nhiều thiệt hại về người và của.

3 - Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế

Sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang còn một số mặt chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của tình hình mới. Ở một số địa bàn, có những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội cục bộ.

Công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại chưa theo kịp diễn biến của tình hình. Sự phối hợp giữa an ninh, quốc phòng và đối ngoại trong việc giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ.

4 - Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn một số khâu chậm đổi mới

Việc thực hiện vai trò giám sát của Quốc hội còn lúng túng. Mô hình tổ chức chính quyền địa phương, nhất là tổ chức hội đồng nhân dân, còn những điểm bất hợp lý. Cải cách hành chính chậm, cải cách tư pháp mới bước đầu được triển khai, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi còn thụ động, mang tính hành chính, hình thức. Dân chủ trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở một số cấp và lĩnh vực không nghiêm.

5 - Chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, thiếu trung thực và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở đảng thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh. Công tác tư tưởng còn thiếu tính chiến đấu, tính thuyết phục. Công tác lý luận chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới. Việc kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và công tác tổ chức cán bộ trên một số mặt còn yếu kém. Chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao.

Có những khuyết điểm đó là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, song chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan:

Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới. Một số vấn đề ở tầm quan điểm, chủ trương lớn chưa được làm rõ nên chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành, như các vấn đề: sở hữu và thành phần kinh tế; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh nghiệp cổ phần; hướng đầu tư xây dựng cơ bản; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; đổi mới chính sách, cơ chế quản lý giáo dục, y tế, văn hóa; đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị...

Chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa tốt. Ba lĩnh vực được coi là ba khâu đột phá (xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà trọng tâm là đổi mới cơ chế, chính sách; tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực; đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị mà trọng tâm là cải cách hành chính) cũng như việc xây dựng một số công trình trọng điểm lớn của quốc gia chưa được chỉ đạo tập trung, thực hiện thiếu tinh thần trách nhiệm. Tình trạng nói nhiều làm ít, làm không đến nơi đến chốn hoặc không làm còn diễn ra ở nhiều nơi. Hiệu lực quản lý nhà nước còn thấp đối với một số lĩnh vực như: quy hoạch, đất đai, xây dựng cơ bản, giá cả, tài chính, ngân hàng, tài nguyên quốc gia, quyền sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn giao thông, báo chí, xuất bản... Công tác kiểm tra, thanh tra chưa thường xuyên và còn thiếu hiệu lực.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu vừa không đủ trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ.

II - ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT 20 NĂM ĐỔI MỚI

Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Đến nay, mặc dù còn không ít khó khăn, hạn chế, đất nước ta đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế ra khỏi khủng hoảng và có sự tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản.

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Từ thực tiễn đổi mới, Đảng và Nhà nước ta càng tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm lãnh đạo và quản lý. Có thể rút ra một số bài học lớn sau đây:

Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn để đi tới thắng lợi. Đổi mới không phải là xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.

Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng không làm đồng loạt, dàn đều, mà phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội.

Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân, xuất phát từ thực tiễn phong phú của nhân dân, thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật các mặt của cuộc sống để đi lên - đó là chìa khóa của thành công.

Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thác ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Phát huy nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển; đồng thời coi trọng huy động các nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Hội nhập và hợp tác quốc tế phải dựa trên các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc.

Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là khâu then chốt, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội; Nhà nước phải thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người. Phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới.

Xác lập những mối quan hệ hợp lý giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể nhân dân thông qua hệ thống cơ chế thích hợp, làm cho tất cả các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện ngày một tốt hơn, từ đó tạo ra động lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới.

Qua tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới, chúng ta càng thấy rõ giá trị định hướng và chỉ đạo to lớn của "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (năm 1991) đồng thời cũng thấy rõ thêm những vấn đề mới đặt ra cần được giải đáp. Sau Đại hội X, Đảng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển để có một Cương lĩnh mới phù hợp với những nhiệm vụ xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đặt nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong quá trình đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội.

III - MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC 5 NĂM 2006 - 2010

1 - Dự báo tình hình những năm sắp tới

Trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Cạnh tranh kinh tế - thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, nguồn vốn, công nghệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn, tác động nhiều mặt đến tất cả các quốc gia.

Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về biên giới lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp. Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt. Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp giải quyết: khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên; môi trường sinh thái bị hủy hoại; khí hậu trái đất diễn biến ngày càng xấu, thay đổi thất thường kèm theo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng phát triển...

Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông - Nam Á - nói riêng, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như: những tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lực, về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên giữa các nước; những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở từng nước...

Trong nước, những thành tựu 5 năm qua (2001 - 2005) và 20 năm đổi mới (1986 - 2006) làm cho thế và lực nước ta lớn mạnh lên nhiều so với trước. Việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình tạo thêm nhiều thuận lợi cho nhân dân ta đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội với nhịp độ nhanh hơn.

Tuy nhiên, nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào. Kinh tế vẫn trong tình trạng kém phát triển, nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Khoa học và công nghệ còn ở trình độ thấp. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là rất nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội vẫn chưa được khắc phục. Các thế lực thù địch âm mưu "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. An ninh, trật tự và an toàn xã hội ở một số vùng và địa phương chưa bảo đảm vững chắc.

Những năm tới là cơ hội lớn để đất nước ta tiến lên, tuy khó khăn còn nhiều. Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc ta lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền vững hơn.

2 - Mục tiêu và phương hướng tổng quát 5 năm 2006 - 2010

Năm năm 2006 - 2010 có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI do Đại hội IX của Đảng đề ra.

Mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006 - 2010 là: nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh hơn, có chất lượng cao hơn, bền vững hơn và gắn kết với phát triển con người. Đến năm 2010 tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng gấp 2,1 lần so với năm 2000; mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5% - 8%/năm và phấn đấu đạt trên 8%/năm.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất và tạo động lực mới cho phát triển; đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, coi trọng phát triển kinh tế tri thức, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng; tạo chuyển biến tích cực về dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ theo hướng hiện đại.

Giải quyết tốt và kết hợp hài hòa các vấn đề phát triển văn hóa, xã hội và con người; tạo chuyển biến cơ bản về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc làm; chăm sóc sức khỏe nhân dân; kiềm chế tốc độ tăng dân số; làm cho đời sống xã hội ngày càng lành mạnh; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; phát triển các quan hệ đối ngoại theo hướng rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa.

Phát huy hơn nữa dân chủ xã hội chủ nghĩa; đổi mới hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước và chính quyền các cấp; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

IV - PHÁT HUY MỌI NGUỒN LỰC, TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 - Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta là:

Thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn nội lực và ngoại lực, nâng cao đời sống nhân dân. Đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn.

Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Hoàn thiện chế độ phân phối theo lao động, hiệu quả kinh tế, mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.

Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2 - Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước

Nhà nước tập trung làm tốt các chức năng:

Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. Đổi mới căn bản công tác quy hoạch, kế hoạch phù hợp yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy tối đa mọi lợi thế so sánh của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội.

Tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực của xã hội cho phát triển, các chủ thể hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, công khai và minh bạch, có trật tự, kỷ cương.

Hỗ trợ phát triển, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng.

Bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.

Tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế; đồng thời sử dụng kịp thời có hiệu quả một số biện pháp cần thiết khi thị trường trong nước hoạt động không có hiệu quả hoặc thị trường khu vực và thế giới có biến động lớn.

Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Tách chức năng quản lý hành chính của Nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, xóa bỏ "chế độ chủ quản"; phân biệt rõ ràng hệ thống cơ quan hành chính công và hệ thống cơ quan sự nghiệp dịch vụ công cộng (giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể dục thể thao); phát triển mạnh các dịch vụ công cộng.

Tiếp tục đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ, điều tiết thu nhập. Bảo đảm tính ổn định và sự phát triển bền vững của nền tài chính quốc gia.

Định rõ mối quan hệ giữa Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và xã hội.

3 - Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các thị trường cơ bản, theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh

Phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ. Thu hẹp những lĩnh vực Nhà nước độc quyền kinh doanh, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp; tiếp tục đổi mới cơ chế kiểm soát giá cả. Phát triển mạnh thương mại trong nước ở tất cả các vùng và tăng nhanh xuất khẩu, nhập khẩu. Đẩy mạnh tự do hóa thương mại phù hợp các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo bước phát triển mới, nhanh và toàn diện thị trường dịch vụ, nhất là những dịch vụ cao cấp, có hàm lượng trí tuệ cao, giá trị gia tăng lớn. Phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hóa các loại hình du lịch. Phát triển nhanh hơn các dịch vụ vận tải, viễn thông, dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ tư vấn,...

Từng bước phát triển vững chắc thị trường tài chính, hoàn thiện thị trường tiền tệ; lành mạnh hóa các hoạt động giao dịch vốn ngắn hạn và mua bán các giấy tờ có giá trên thị trường. Phát triển mạnh thị trường vốn, thúc đẩy mạnh hơn hoạt động của thị trường chứng khoán gắn với tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phát triển hình thức cổ phần và huy động các nguồn vốn trong xã hội cho đầu tư phát triển. Củng cố ngân hàng nhà nước, lành mạnh hóa, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty mua bán nợ, công ty đầu tư chứng khoán,...

Phát triển thị trường bất động sản (bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất): bảo đảm quyền sử dụng đất chuyển thành hàng hóa một cách thuận lợi; làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn vốn cho phát triển; từng bước làm cho thị trường bất động sản trong nước có sức cạnh tranh so với thị trường khu vực, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư. Thực hiện công khai, minh bạch và tăng cường tính pháp lý, kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đất đai. Nhà nước điều tiết giá đất bằng quan hệ cung - cầu về đất đai và thông qua các chính sách về thuế có liên quan đến đất đai. Nhà nước vừa quản lý tốt thị trường bất động sản vừa là nhà đầu tư bất động sản lớn nhất. Hoàn thiện hệ thống luật pháp về kinh doanh bất động sản.

Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm. Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, nhất là ở khu vực nông thôn. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là xuất khẩu lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và bộ máy công quyền. Đa dạng hóa các hình thức giao dịch việc làm; phát triển hệ thống thông tin về thị trường lao động trong nước và thế giới. Có chính sách nhập khẩu lao động có chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ và quản lý ở những ngành, nghề cần ưu tiên phát triển.

Xây dựng hệ thống luật pháp về lao động và thị trường lao động nhằm bảo đảm quyền lựa chọn chỗ làm việc và nơi cư trú của người lao động; thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động; bảo đảm quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động, xây dựng hệ thống an sinh xã hội.

Phát triển thị trường công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn sản phẩm khoa học và công nghệ (trừ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển) trở thành hàng hóa. Thông tin rộng rãi và tạo môi trường cạnh tranh để các sản phẩm khoa học và công nghệ được mua bán thuận lợi trên thị trường.

Nhà nước khuyến khích thông qua các chính sách hỗ trợ phát triển, công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các công trình khoa học và hoạt động sáng tạo, hoàn thiện và ứng dụng công nghệ mới. Có chính sách hấp dẫn các công ty xuyên quốc gia đầu tư và chuyển giao công nghệ mới cho các doanh nghiệp Việt Nam. Chú trọng nhập khẩu công nghệ hiện đại; từng bước phát triển mạnh công nghệ trong nước; chuyển các tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc nhiều loại hình sở hữu sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp; hình thành lực lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ; xây dựng hệ thống quản lý nhà nước về thị trường công nghệ.

4 - Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh

Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế.

Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu.

Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu; Nhà nước chỉ thực hiện sự ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm; một số mục tiêu như xuất khẩu, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, khắc phục những rủi ro; một số địa bàn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thực hiện Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp. Xây dựng một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam nhiều về số lượng, có sức cạnh tranh cao, có thương hiệu uy tín, trong đó chủ lực là một số tập đoàn kinh tế lớn dựa trên hình thức cổ phần. Nhà nước định hướng, tạo môi trường để phát triển có hiệu quả các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường; bồi dưỡng, đào tạo và biểu dương các doanh nhân có tài, có đức và thành đạt.

Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước:

Hoàn thiện cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp nhà nước thực sự hoạt động trong môi trường cạnh tranh, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả. Xóa bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước có quyền tài sản, thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, cạnh tranh, chấp nhận rủi ro. Gắn trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của người quản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Chăm lo đào tạo đội ngũ quản trị giỏi đáp ứng tốt yêu cầu quản lý công ty theo chế độ hiện đại.

Tiếp tục đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích. Đẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công ty nhà nước; đề phòng và khắc phục những lệch lạc, tiêu cực trong quá trình cổ phần hóa. Giá trị doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, kể cả giá trị quyền sử dụng đất, phải theo cơ chế thị trường.

Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham gia cổ phần của Nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư..., trong đó Nhà nước giữ cổ phần chi phối.

Tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể:

Tổng kết thực tiễn để sớm có chính sách, cơ chế cụ thể khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, trước hết là các hợp tác xã kiểu mới, các hợp tác xã mà thành viên tham gia gồm cả thể nhân và pháp nhân.

Khuyến khích huy động cổ phần và các nguồn vốn, không ngừng tăng thêm vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ không chia. Các hợp tác xã cổ phần từng bước trở thành thực thể chủ yếu của kinh tế tập thể.

Hợp tác xã và các loại hình kinh tế hợp tác hoạt động theo đúng các nguyên tắc: hợp tác tự nguyện, tương trợ giữa các thành viên, dân chủ trong quản lý; thực hiện hạch toán, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh; cạnh tranh để phát triển.

Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân:

Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin.

Tôn vinh những người sản xuất, kinh doanh giỏi, chấp hành tốt pháp luật; xóa bỏ mọi rào cản hữu hình và vô hình, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm.

Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài:

Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý, đa dạng hóa các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh các nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào các ngành nghề, các lĩnh vực kinh doanh quan trọng. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài kinh doanh thuận lợi như doanh nghiệp Việt Nam.

V - ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆp HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI TỪNG BƯỚC PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

Tận dụng các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và các tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với từng bước phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển mạnh các ngành kinh tế và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng những nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với những tri thức mới nhất của nhân loại. Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, trong từng dự án kinh tế - xã hội.

Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo cả ngành và lĩnh vực. Giảm chi phí trung gian, tăng mạnh tỉ lệ giá trị quốc gia, giá trị gia tăng, nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là các ngành, lĩnh vực cơ bản có sức cạnh tranh cao.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn:

Hết sức coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương. Tăng nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp. Tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, tạo điều kiện để phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, các vùng trồng trọt và chăn nuôi tập trung, các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với hình thành các làng nghề, các loại hình sản xuất trang trại, hợp tác xã, sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao.

Thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển rừng; đổi mới chính sách giao đất, giao rừng, bảo đảm cho người làm rừng có cuộc sống ổn định và được cải thiện. Nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu gỗ cho chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu.

Phát triển nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản. Sản xuất giống tốt, xử lý môi trường, mở rộng thị trường, phát triển các hiệp hội trong ngành thủy sản.

Tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, công tác thú y, bảo vệ thực vật; chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, vào sản xuất nông nghiệp; chú trọng các khâu giống, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng và công nghệ sau thu hoạch.

Tiến hành quy hoạch đồng ruộng, làng nghề, xây dựng các làng, xã, ấp, bản trong tổng thể quy hoạch chung của từng vùng, từng địa bàn; ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn như hệ thống thủy lợi, giao thông, điện, nước sạch, các khu, cụm công nghiệp, trường học, trạm y tế, chợ, bưu chính - viễn thông; thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn phù hợp với điều kiện của từng vùng. Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, nông dân có cuộc sống no đủ, có đời sống văn hóa lành mạnh, có môi trường sạch.

Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông, các khu đô thị mới. Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỉ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ. Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn, kể cả ra nước ngoài. Tiếp tục đầu tư mạnh hơn cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Phát triển công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng:

Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp hỗ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động.

Khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển mạnh các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế và các công ty xuyên quốc gia.

Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước đầu tư thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài... Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô. Thu hút những chuyên gia giỏi, cao cấp của nước ngoài và trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để xây dựng các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Phát triển công nghiệp năng lượng đi đôi với công nghệ tiết kiệm năng lượng. Hoàn chỉnh một bước cơ bản mạng lưới giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước... Tăng nhanh năng lực và hiện đại hóa bưu chính - viễn thông.

Phát triển kinh tế vùng:

Có chính sách phù hợp tạo điều kiện cho các vùng trong cả nước cùng phát triển, đồng thời tạo sự liên kết giữa các vùng và trong nội bộ từng vùng để các vùng phát triển hài hòa.

Thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực, tác động lan tỏa đến các vùng khác; đồng thời tạo điều kiện cho các vùng kinh tế đang còn nhiều khó khăn phát huy được tiềm năng của mình để phát triển nhanh hơn, đặc biệt là vùng biên giới, hải đảo, các vùng Tây Nguyên, Tây Nam, Tây Bắc.

Phát triển kinh tế biển:

Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để sớm đưa nước ta thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Phát triển hệ thống cảng biển, vận tải biển, khai thác và chế biến dầu khí, hải sản, du lịch biển; đẩy nhanh ngành công nghiệp đóng tàu biển và công nghiệp khai thác, chế biến hải sản. Phát triển mạnh và đi trước một bước một số vùng kinh tế ven biển và hải đảo có điều kiện.

Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển:

Phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm đến năm 2010 có nguồn nhân lực với cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao; tỉ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp còn khoảng 50% lực lượng lao động xã hội.

Phát triển khoa học và công nghệ phù hợp xu thế phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức trên thế giới. Cố gắng đi ngay vào công nghệ hiện đại đối với một số lĩnh vực then chốt và từng bước mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế. Chú trọng đúng mức việc phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm.

Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội:

Đổi mới nội dung, cách làm chiến lược, đưa ra những định hướng lớn, cơ bản, tổng thể với tầm nhìn dài hạn, phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tăng cường điều tra cơ bản, xác định các nguồn tài nguyên của đất nước; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên.

Coi trọng công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, các ngành, các vùng, các tỉnh, thành phố. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch; bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch, đặc biệt đối với công tác lập và quản lý quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn. Chấm dứt việc quy hoạch và xây dựng tràn lan các khu công nghiệp, công trình, nhất là các cảng biển, sân bay... không mang lại hiệu quả.

Xây dựng cơ sở dữ liệu chính xác phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội, củng cố hệ thống dự báo và nâng cao năng lực dự báo từ trung ương tới địa phương. Quan tâm công tác dự báo thiên tai, biến động quốc tế, tác động của các cơ chế, chính sách và tiến bộ khoa học, công nghệ đến kinh tế và xã hội.

Bảo vệ tài nguyên và cải thiện môi trường sinh thái:

Có chính sách tăng cường quản lý việc sử dụng tài nguyên quốc gia, nhất là các tài nguyên đất, nước, khoáng sản và rừng.

Ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm môi trường, khắc phục tình trạng xuống cấp môi trường ở các lưu vực sông, đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, nơi đông dân cư và có nhiều hoạt động kinh tế. Từng bước sử dụng công nghệ sạch, năng lượng sạch và quản lý phát triển sạch.

Tích cực phục hồi môi trường và các hệ sinh thái bị phá hủy. Tiếp tục phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ đa dạng sinh học. Quan tâm đầu tư cho lĩnh vực môi trường, nhất là các hoạt động thu gom, tái chế và xử lý chất thải.

Hoàn chỉnh luật pháp, tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

Từng bước hiện đại hóa công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng - thủy văn; chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.

VI - CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, trên cơ sở lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất và là nguyên tắc chủ đạo; đồng thời linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Thực hiện cam kết với các nước về thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác. Chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương với nhiều nước, trong đó có một số nước lớn, các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương, khu vực. Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình Dương. Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược; khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, rà soát lại các văn bản pháp quy, sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật tương đối đủ về số lượng, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định và minh bạch; tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư; thu hút các luồng vốn FDI, ODA, đầu tư gián tiếp, tín dụng thương mại và các nguồn vốn khác. Xác định đúng mục tiêu sử dụng và đẩy nhanh việc giải ngân nguồn vốn ODA, cải tiến phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng và có kế hoạch bảo đảm trả nợ đúng hạn; duy trì tỉ lệ vay nợ nước ngoài hợp lý, an toàn.

Phát huy vai trò chủ thể và tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, từng doanh nghiệp khẩn trương đổi mới từ tư duy đến phong cách quản lý, đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, giảm chi phí gia nhập thị trường và chi phí đầu vào. Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới và thương hiệu mới. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài và mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài.

VII - NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

1 - Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, phương pháp giáo dục theo hướng "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa", nâng cao chất lượng dạy và học.

Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, thực hiện sự liên thông giữa các bậc học, một số ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt mềm dẻo hơn, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo ra nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục, gắn với phát triển nghề nghiệp của người dân.

Phát triển giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông. Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông có tính khoa học, đại chúng và phổ cập, phù hợp tâm lý lứa tuổi và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Kết hợp việc tổ chức phân ban với tự chọn ở trung học phổ thông trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng từ trung học cơ sở. Bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng phổ cập giáo dục.

Phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là các nghề cho nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp; đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, phát triển nhanh đào tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại.

Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, gắn đào tạo với sử dụng, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động; khẩn trương xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý về ngành nghề, trình độ đào tạo, dân tộc, vùng miền...; có cơ chế và chính sách gắn kết có hiệu quả trường đại học với cơ sở nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp để chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh. Xây dựng một số trường đại học trọng điểm đạt trình độ khu vực và quốc tế.

Hoàn thiện hệ thống đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục. Cải tiến công tác thi cử cả về nội dung và phương pháp nhằm đánh giá đúng trình độ tiếp thu tri thức, khả năng học tập. Khắc phục những mặt yếu kém và những hiện tượng tiêu cực trong giáo dục, thực hiện những giải pháp cơ bản, lâu dài nhằm chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.

Thực hiện xã hội hóa giáo dục. Huy động nguồn vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp... để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục.

Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục. Phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục. Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện miễn giảm việc đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi.

Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo. Tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới. Có cơ chế quản lý phù hợp đối với các trường do nước ngoài đầu tư hoặc liên kết đào tạo.

Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo đến năm 2020. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài.

2 - Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học và công nghệ

Phấn đấu đến năm 2010, năng lực khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng.

Phát triển khoa học xã hội hướng vào việc tiếp tục góp phần làm sáng tỏ những nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; giải đáp những vấn đề mới của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; con đường, bước đi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; những nguyên tắc, nội dung cơ bản của vấn đề phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới,... Thường xuyên tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận; dự báo tình hình và xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nước; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Phát triển khoa học tự nhiên theo hướng tập trung nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, đặc biệt các lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu và thế mạnh. Phát triển công nghệ, đẩy mạnh có chọn lọc việc nhập công nghệ, mua sáng chế kết hợp công nghệ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các ngành có lợi thế cạnh tranh, có tỉ trọng lớn trong GDP, các ngành công nghiệp phụ trợ và tạo nhiều việc làm cho xã hội; phát triển công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Phát triển hệ thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ.

Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng Nhà nước đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia đạt trình độ khu vực và thế giới, xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của một số lĩnh vực trọng điểm. Đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ và huy động các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động khoa học, công nghệ. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nâng cao chất lượng và khả năng thương mại của các sản phẩm khoa học và công nghệ; đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp.

Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

VIII - THỰC HIỆN TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI NGAY TRONG TỪNG BƯỚC VÀ TỪNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

Kết hợp chặt chẽ các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trên cả nước cũng như ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ.

Khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu theo luật pháp, thực hiện có hiệu quả các chính sách xóa đói, giảm nghèo theo quan điểm: tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát đói nghèo bền vững ở các vùng nghèo và các bộ phận dân cư nghèo; khắc phục tình trạng bao cấp dàn đều, tư tưởng ỷ lại; phấn đấu không còn hộ đói, giảm mạnh hộ nghèo, tăng nhanh số hộ giàu; từng bước xây dựng gia đình, cộng đồng và xã hội phồn vinh.

Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe, văn hóa - thông tin, thể dục thể thao, tạo việc làm...

Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Đa dạng hóa các loại hình cứu trợ xã hội, tạo việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, hướng tới xuất khẩu lao động trình độ cao... Tiếp tục cải cách chính sách tiền lương. Phân phối thu nhập xã hội công bằng, hợp lý để tạo được động lực phát triển mạnh, góp phần phòng chống tiêu cực, tệ nạn xã hội.

Tăng nguồn lực đầu tư của Nhà nước để phát triển các lĩnh vực xã hội và thực hiện các mục tiêu xã hội, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa - coi đây là một biện pháp rất cơ bản nhằm huy động mọi nguồn lực, trí tuệ của các thành phần kinh tế, của các tổ chức xã hội, của mọi người.

Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe. Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư để nâng cấp các cơ sở y tế, y tế dự phòng, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cơ bản cho toàn dân, xây dựng và hoàn thiện các chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách và người nghèo trong khám, chữa bệnh. Chú trọng phát triển các dịch vụ y tế công nghệ cao, khuyến khích phát triển đa dạng các dịch vụ y tế ngoài công lập.

Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế. Có chiến lược, quy hoạch phát triển và cơ chế chính sách hợp lý để phát triển hệ thống sản xuất, lưu thông, phân phối thuốc chữa bệnh; từng bước xây dựng ngành công nghiệp dược, ngành công nghiệp thiết bị y tế trở thành những ngành kinh tế - kỹ thuật đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền.

Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi. Phát triển mạnh thể dục - thể thao với phương châm kết hợp tốt thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và khoa học, hiện đại; chú trọng phát triển thể dục - thể thao trường học, nâng cao chất lượng phong trào thể dục - thể thao quần chúng. Có chính sách và cơ chế phù hợp để phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng thể thao, đưa nền thể thao nước ta đạt vị trí cao của khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế...

Quan tâm đến sức khỏe sinh sản. Đẩy mạnh phong trào toàn xã hội chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức; giảm nhanh tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng; thực hiện các biện pháp mạnh mẽ, kiên trì và có hiệu quả để phòng chống HIV/AIDS.

Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Giảm tốc độ tăng dân số. Tiếp tục duy trì kế hoạch giảm sinh, phấn đấu sớm đạt mục tiêu mức sinh thay thế, bảo đảm quy mô và cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số. Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách ưu đãi xã hội. Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, người được hưởng chính sách xã hội. Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa. Giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, lang thang.

Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng. Cùng với việc Nhà nước tiếp tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cho các mục tiêu, các chương trình phát triển quốc gia về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, cần phát huy tiềm năng trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng Nhà nước chăm lo phát triển các lĩnh vực dịch vụ công cộng.

Từng bước chuyển các cơ sở công lập trong các lĩnh vực dịch vụ công đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ, không bao cấp tràn lan và không vì mục tiêu lợi nhuận. Phát triển mạnh các cơ sở ngoài công lập với hai loại hình dân lập và tư nhân. Chuyển một số cơ sở thuộc loại hình công lập sang loại hình ngoài công lập. Khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước phát triển các dịch vụ công cộng. Nhà nước cùng nhân dân tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra các hoạt động dịch vụ công cộng.

Công bố minh bạch tại các cơ sở dịch vụ công lập và ngoài công lập mức phí dịch vụ, chấm dứt các khoản thu, chi "ngầm", bảo đảm cho người làm dịch vụ có chế độ lương, thu nhập thỏa đáng, tự giác làm việc tốt, có lương tâm nghề nghiệp và không sách nhiễu.

Thúc đẩy các cơ sở công lập và ngoài công lập về dịch vụ công cộng phát triển cả về quy mô và chất lượng, xây dựng các cơ sở dịch vụ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.

IX - PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐỂ THỰC SỰ TRỞ THÀNH NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA XÃ HỘI

Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Xây dựng và hoàn thiện giá trị của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, đặc biệt là lý tưởng sống, năng lực trí tuệ, đạo đức cao đẹp và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam.

Tập trung nhân lực, vật lực, tài lực cho ba lĩnh vực quan trọng tạo nên diện mạo văn hóa Việt Nam đương đại:

Một là, xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hóa của mọi người dân ở cơ sở, thôn xóm, bản, làng, cộng đồng dân cư, cơ quan, đơn vị, địa phương. Phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân. Đa dạng hóa các phương thức hoạt động và tổ chức phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".

Hai là, phát huy mạnh mẽ tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm, công trình có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có ảnh hưởng và tác động tích cực, sâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội, những giá trị văn hóa đỉnh cao trong nền văn hóa Việt Nam.

Ba là, đầu tư toàn diện cho văn hóa, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, trong đó chú trọng nâng cấp và xây dựng những công trình văn hóa lớn, tiêu biểu cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hoàn chỉnh về cơ bản quy hoạch phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các hệ thống thiết chế văn hóa như bảo tàng, nhà truyền thống, thư viện, phòng đọc sách, nhà văn hóa, nhà thông tin - triển lãm, điểm bưu điện - văn hóa xã, sân bãi thể dục - thể thao, khu vui chơi, giải trí...

Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Bảo tồn và phát huy văn hóa, văn nghệ dân gian. Kết hợp hài hòa việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch.

Tạo điều kiện cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển, vươn lên hiện đại về mô hình, cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất - kỹ thuật; đồng thời xây dựng cơ chế quản lý phù hợp, chủ động, khoa học.

Bảo đảm tự do, dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật. Có kế hoạch lâu dài và thiết thực trọng dụng các tài năng văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của văn nghệ sĩ, tạo điều kiện thuận lợi để những người hoạt động văn hóa sáng tạo được nhiều tác phẩm có giá trị cao. Tạo bước chuyển cơ bản về chất lượng và hiệu quả của hoạt động lý luận - phê bình văn học, nghệ thuật. Nghiên cứu, đổi mới cơ bản nội dung, phương thức hoạt động và cơ cấu tổ chức của các hội văn học, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương.

Đổi mới nội dung và phương thức quản lý của Nhà nước về văn hóa. Xây dựng cơ chế, chính sách, chế tài ổn định, phù hợp, đáp ứng nhu cầu mới của sự phát triển văn hóa thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Tích cực mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa, từng bước xây dựng nước ta thành địa chỉ giao lưu văn hóa có sức hấp dẫn của khu vực và thế giới, đồng thời chống sự xâm nhập của các luồng văn hóa độc hại, lai căng...

Huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa; xã hội hóa các hoạt động văn hóa. Phát huy tính năng động, chủ động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các hội sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, các hộ gia đình, cá nhân, các trí thức tham gia hoạt động trên các lĩnh vực văn hóa. Xây dựng và triển khai thường xuyên chương trình giáo dục văn hóa - thẩm mỹ, nâng cao chất lượng giáo dục khoa học nhân văn, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên.

X - TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH, BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, văn hóa - tư tưởng và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giảm tội phạm, tai nạn, tệ nạn xã hội; góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động thù địch, không để bị động, bất ngờ.

Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho cán bộ, công chức và cho toàn dân, có nội dung phù hợp với từng đối tượng và đưa vào chương trình chính khóa trong các nhà trường theo cấp học, bậc học. Chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng và đối tác; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Chủ động đấu tranh với các quan điểm, tư tưởng sai trái, cơ hội; giữ vững an ninh nội địa; giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân; xây dựng "thế trận lòng dân" làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó Quân đội và Công an làm nòng cốt; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ. Coi trọng nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Kết hợp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân. Đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố. Tiếp tục phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, xây dựng các khu quốc phòng - kinh tế với mục tiêu tăng cường quốc phòng - an ninh là chủ yếu, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và những khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo. Xây dựng công nghiệp quốc phòng trong hệ thống công nghiệp quốc gia dưới sự chỉ đạo, quản lý điều hành trực tiếp của Chính phủ, đầu tư có chọn lọc theo hướng hiện đại, vừa phục vụ quốc phòng vừa phục vụ dân sinh.

Xây dựng Quân đội và Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt của sức mạnh quốc phòng - an ninh. Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và Nhà nước, được nhân dân tin cậy, yêu mến. Đổi mới về tổ chức, nội dung, phương pháp huấn luyện, đào tạo đối với lực lượng vũ trang, đi đôi với cải tiến, đổi mới vũ khí, trang bị, phương tiện phù hợp với yêu cầu tác chiến mới; phát triển khoa học quân sự, khoa học công an, nghệ thuật chiến tranh nhân dân; đổi mới phương thức hoạt động của lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách phối hợp với các tổ chức của nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia.

Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh. Thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên gắn với chế độ một người chỉ huy, tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội. Bổ sung cơ chế phối hợp hoạt động giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các bộ, ngành có liên quan trong phân tích, dự báo tình hình và làm tham mưu đề xuất các giải pháp thực hiện. Bổ sung, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách xã hội có quan hệ đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Khẩn trương chỉ đạo xây dựng và ban hành các chiến lược quốc gia như: Chiến lược Quốc phòng; Chiến lược An ninh và các chiến lược chuyên ngành khác.

XI - MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI, GIỮ VỮNG MÔI TRƯỜNG HÒA BÌNH VÌ SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, các đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền.

Mở rộng công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm "chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả". Phát triển quan hệ với các tổ chức quốc tế và khu vực mà các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng của ta là thành viên. Tăng cường công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Mở rộng giao lưu và hợp tác với các tổ chức nhân dân của các nước, với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế có quan hệ hữu nghị với nhân dân Việt Nam.

Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.

Đổi mới công tác thông tin đối ngoại và văn hóa đối ngoại, làm cho thế giới hiểu và ủng hộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta và nhân dân các nước.

Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vững vàng về chính trị, có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chất tốt.

Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu về đối ngoại với sự tham gia và phát huy tối đa trí tuệ của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học.

Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại; đối ngoại, quốc phòng và an ninh; thông tin đối ngoại và thông tin trong nước.

XII - PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, TIẾP TỤC ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC ĐOÀN THỂ NHÂN DÂN

Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.

Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đường lối và chính sách, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Nhà nước không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và quản lý, tạo điều kiện để nhân dân được làm những việc mà pháp luật không cấm. Nhà nước và nhân dân cùng nỗ lực phấn đấu cho sự phát triển của đất nước, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội.

Thực hiện đồng bộ các chính sách và luật pháp của Nhà nước nhằm phát huy dân chủ (dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và chế độ tự quản của cộng đồng dân cư) và giữ vững kỷ cương trong xã hội. Tổ chức và động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, làm kinh tế giỏi, phát triển kinh tế đi liền với phát triển văn hóa - xã hội; mỗi người, mỗi hộ đều phấn đấu làm giàu cho mình, cho cộng đồng và đất nước, thu nhập chính đáng, nâng cao đời sống. Chăm lo và bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội. Tôn trọng và phát huy vai trò gương mẫu, dẫn dắt của những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng dân cư, các dân tộc, các tôn giáo...

Xây dựng giai cấp công nhân có giác ngộ và bản lĩnh chính trị, có trình độ học vấn và nghề nghiệp ngày càng cao. Giải quyết việc làm, giảm tối đa tỉ lệ công nhân thiếu việc làm và thất nghiệp. Thực hiện tốt pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, chăm sóc, phục hồi sức khỏe đối với công nhân; chính sách ưu đãi nhà ở đối với công nhân bậc cao. Sớm tổ chức thực hiện Quỹ trợ cấp thất nghiệp. Xây dựng tổ chức, phát triển đoàn viên công đoàn, nghiệp đoàn đều khắp ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế.

Phát huy vai trò giai cấp nông dân trong sự nghiệp đổi mới. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa công nghệ tiên tiến vào nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện tốt chính sách về ruộng đất, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Tăng hiệu quả sử dụng đất, tiêu thụ nông sản hàng hóa. Thực hiện bảo hiểm cho những sản phẩm từ nông, lâm, ngư nghiệp có giá trị hàng hóa lớn. Hỗ trợ và khuyến khích nông dân học nghề, chuyển giao và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; mở mang và đa dạng hóa ngành nghề, tạo nhiều việc làm mới. Chuyển một bộ phận lớn lao động nông nghiệp, nhất là bộ phận nông dân thiếu đất hoặc không có đất canh tác, sang khu vực công nghiệp tập trung và công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, dịch vụ phục vụ đời sống và sản xuất ở địa bàn nông thôn.

Phát huy trí tuệ và năng lực của đội ngũ trí thức, mở rộng thông tin, phát huy dân chủ, trọng dụng nhân tài. Khuyến khích các trí thức, các nhà khoa học phát minh, sáng tạo gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Bảo vệ quyền tác giả, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức cho công cuộc phát triển đất nước. Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện của các hội khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và văn học - nghệ thuật chuyên ngành đối với các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tạo điều kiện để các doanh nhân phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của mình trong phát triển sản xuất kinh doanh; mở rộng đầu tư trong nước và ở nước ngoài; giải quyết việc làm cho người lao động; nâng cao chất lượng sản phẩm; tạo dựng, gìn giữ thương hiệu hàng hóa Việt Nam.

Thường xuyên giáo dục chính trị, truyền thống, lý tưởng và đạo đức cách mạng cho thanh niên. Khuyến khích thanh niên tự học, tự nâng cao tay nghề, tự tạo việc làm. Chú trọng bồi dưỡng nguồn cán bộ, đào tạo thanh niên trong lực lượng vũ trang có nghề khi hết thời hạn nghĩa vụ quân sự. Tạo cơ hội cho thanh niên có tài năng đi học ở nước ngoài về phục vụ đất nước. Thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu niên và nhi đồng vào các tổ chức do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt.

Chăm lo công tác phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp. Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, các hành vi buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm của phụ nữ, trẻ em.

Phát huy vai trò của cựu chiến binh trong việc xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa. Động viên cựu chiến binh giúp nhau cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; góp sức thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; tích cực đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng đảng, chính quyền ở cơ sở trong sạch, vững mạnh.

Chăm sóc người cao tuổi về sức khỏe, hưởng thụ văn hóa, nhu cầu được thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, chiến đấu của lớp người cao tuổi trong xã hội và gia đình. Xây dựng gia đình "ông bà, cha mẹ mẫu mực, cháu con hiếu thảo". Giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

Đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân sĩ, trí thức của đồng bào dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi thực hiện "cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng của đồng bào", làm tốt công tác dân vận. Chống kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc.

Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo có trách nhiệm sống "tốt đời, đẹp đạo". Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của đồng bào các tôn giáo. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo. Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân.

Đồng bào định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, vận động đồng bào chấp hành tốt pháp luật các nước sở tại; bảo vệ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Có chính sách để người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, góp phần xây dựng đất nước; thu hút, phát huy trí tuệ của trí thức Việt kiều. Làm tốt công tác thông tin về tình hình trong nước và các chủ trương, chính sách của Nhà nước trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nhà nước có chính sách khen thưởng những người Việt Nam định cư ở nước ngoài có nhiều thành tích đóng góp cho Tổ quốc.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện vọng chính đáng của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng thành hoạt động thực tiễn sinh động trong cuộc sống của nhân dân.

Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Các cấp ủy đảng và các cấp chính quyền tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với cử tri và nhân dân; định kỳ nghe ý kiến của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với cuộc sống. Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc, Quy chế Dân chủ ở từng địa phương, ngành và cơ sở, để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các hội quần chúng, khắc phục tình trạng hành chính hóa, nhà nước hóa, phô trương, hình thức; nâng cao chất lượng tổ chức, thu hẹp diện cơ sở yếu kém; làm tốt công tác dân vận theo phong cách trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin.

XIII - PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 - Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đảng thông qua Nhà nước để lãnh đạo xã hội và quản lý đất nước; Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức và thực hiện đường lối chính trị của Đảng cầm quyền. Mọi chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều có sự tham gia xây dựng của nhân dân, phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm, không chỉ là người thụ hưởng mà còn góp phần tích cực, quan trọng vào việc xây dựng, hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thật sự là công bộc của nhân dân. Mỗi chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều thể hiện ý chí, lợi ích chính đáng của nhân dân, của quốc gia, dân tộc. Xác định các hình thức tổ chức thích hợp với tình hình cơ cấu xã hội - giai cấp đang có sự thay đổi sâu sắc, thu hút và tạo điều kiện cho mọi người, mọi tầng lớp nhân dân tham gia các công việc chung của Đảng, của Nhà nước và xã hội. Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế nhằm tổ chức, thu hút và tạo điều kiện để nhân dân được thụ hưởng và thực hiện các quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đề cao trách nhiệm của các tổ chức của Đảng, Nhà nước đối với công dân và ngược lại. Bộ máy nhà nước, các thiết chế khác trong hệ thống chính trị có nhiệm vụ tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, kiến nghị với Đảng về xây dựng và hoạch định chính sách.

2 - Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Thể chế hóa và xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp, định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật trong đời sống kinh tế - xã hội.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật, bảo đảm vận hành thông suốt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát, tổ chức lại một số Ủy ban để giúp Quốc hội quyết định phân bổ ngân sách trung ương, giám sát thực hiện ngân sách, giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp.

Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành pháp thống nhất, thông suốt, trong tổng thể một hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Luật hóa cơ cấu, tổ chức của Chính phủ; tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý. Thành lập cơ quan tài phán hành chính để giải quyết các khiếu kiện hành chính. Thực hiện việc phân cấp mạnh, hợp lý cho chính quyền địa phương, giao quyền chủ động hơn nữa cho địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương.

Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Tổ chức lại cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối. Thống nhất cơ quan thi hành án. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trong phạm vi được phân cấp. Bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của cơ quan chính quyền địa phương. Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân. Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.

Thực hiện các giải pháp nhằm chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức. Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Có cơ chế bãi miễn những người không xứng đáng, đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những công chức kém phẩm chất và năng lực. Thực hiện chế độ trách nhiệm trong đề cử, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấp phó, cấp sử dụng trực tiếp giới thiệu để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

3 - Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí

Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về quản lý kinh tế - tài chính, quản lý tài sản công, ngân sách nhà nước, các quỹ do nhân dân đóng góp và do nước ngoài viện trợ; cơ chế thanh tra, kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới công tác giáo dục, giám sát và quản lý cán bộ, công chức nhằm xây dựng một nền hành chính quốc gia hiện đại, một đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, tận tụy, có đức, có tài. Bảo đảm công khai, minh bạch các hoạt động kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công cộng và doanh nghiệp nhà nước. Tiếp tục đổi mới chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức.

Xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời, công khai người tham nhũng bất kể ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu, sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng. Xử lý nghiêm theo kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước những người bao che cho tham nhũng, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống, làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Biểu dương và nhân rộng những gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Hoàn thiện cơ chế dân chủ, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở; phát huy vai trò của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức và cơ quan công quyền; phát hiện, đấu tranh với các hiện tượng tham nhũng. Đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng.

Các cấp ủy và tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, cán bộ lãnh đạo, trước hết là cán bộ cấp cao, phải trực tiếp tham gia và đi đầu trong việc phòng chống tham nhũng, lãng phí.

XIV - ĐỔI MỚI VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng lên ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ của tình hình mới là đòi hỏi có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta.

1 - Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng trong điều kiện mới

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra.

Nâng cao trình độ trí tuệ, chất lượng nghiên cứu lý luận của Đảng; tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ mới.

Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng trong Đảng, trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạy trong hệ thống trường chính trị, nâng cao tính thiết thực và hiệu quả của chương trình.

Củng cố, nâng cao chất lượng các cơ quan chuyên ngành về công tác tư tưởng, lý luận. Tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận, nhất là cán bộ chủ chốt. Tiến hành đồng bộ công tác tư tưởng, công tác lý luận, gắn các công tác này với công tác tổ chức - cán bộ, với phát triển kinh tế, giải quyết hài hòa các lợi ích. Gắn "xây" với "chống", lấy "xây" làm chính. Đặc biệt quan tâm chống sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng; phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch.

2 - Bảo đảm vai trò nền tảng và hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên

Mỗi tổ chức cơ sở đảng có trách nhiệm tổ chức và quy tụ sức mạnh của toàn đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên về năng lực hoàn thành nhiệm vụ và phẩm chất, đạo đức, lối sống; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tiêu cực trong Đảng.

Kiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở đảng. Xác định vị thế pháp lý, thể chế hóa về mặt Nhà nước vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các loại hình cơ sở, đặc biệt là tổ chức cơ sở đảng trong khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chú ý xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vùng sâu, vùng xa; tập trung giải quyết cơ sở yếu kém.

Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách; năng động, sáng tạo, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô phải gương mẫu chấp hành Điều lệ Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước và quy định cụ thể của Ban Chấp hành Trung ương.

Phân công đảng viên đúng người, đúng việc, tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng theo đúng quy định của Điều lệ Đảng.

Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn với việc nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng. Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng gắn với bảo đảm chất lượng. Chú trọng trẻ hóa và nâng cao trình độ của đảng viên; lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao.

Thường xuyên sàng lọc đảng viên. Động viên quần chúng giám sát, đóng góp ý kiến về đảng viên, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách.

3 - Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát

Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật trong Đảng. Mọi cán bộ, đảng viên có quyền bàn bạc, tham gia quyết định công việc của Đảng; quyền được thông tin, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi đã thành nghị quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết của Đảng.

Các cấp lãnh đạo, cán bộ lãnh đạo phải thật sự lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và nhân dân. Xây dựng quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể; có cơ chế để nhân dân bày tỏ ý kiến đối với những quyết định lớn, tham gia giám sát Đảng, tham gia các công việc của Đảng; khắc phục lối làm việc quan liêu, xa dân.

Hoàn thiện quy chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của tập thể đối với cá nhân, của tổ chức đối với tổ chức, của cá nhân đối với cá nhân và tổ chức, kể cả đối với người lãnh đạo chủ chốt và tổ chức cấp trên. Kết hợp giám sát trong Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân.

Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ.

Đổi mới phương pháp kiểm tra và bổ sung chức năng giám sát cho ủy ban kiểm tra đảng các cấp. Tăng cường công tác kiểm tra phòng ngừa. Xây dựng quy chế phối hợp công tác giữa Ủy ban Kiểm tra của Đảng với Thanh tra của Chính phủ.

4 - Đổi mới công tác cán bộ

Cán bộ phải là người có đức, có tài, có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng; hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; không dao động trước mọi biến cố phức tạp, có đủ năng lực thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân.

Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, có chất lượng tốt, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng. Chú ý đào tạo cán bộ nữ, cán bộ các dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân, chuyên gia trên các lĩnh vực; bồi dưỡng nhân tài theo định hướng quy hoạch. Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao.

Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ thật sự dân chủ, khoa học, công minh. Xây dựng và hoàn thiện chế độ bầu cử, cơ chế bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ; mở rộng quyền đề cử và tự ứng cử, giới thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn.

Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài; thay thế những người kém năng lực, không đủ uy tín, nhất là những người kém phẩm chất, hư hỏng, có khuyết điểm nghiêm trọng.

Kiên quyết khắc phục những biểu hiện cá nhân, độc đoán, thiếu công tâm và khách quan, cũng như tình trạng nể nang, tùy tiện, trì trệ trong công tác cán bộ.

Cụ thể hóa, thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huy vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị. Tổ chức đảng có thẩm quyền phải chủ trì công tác cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định đi đôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức trong hệ thống chính trị, tổ chức cơ quan, đơn vị công tác của cán bộ. Quy định trách nhiệm của cơ quan tham mưu trong công tác cán bộ. Có cơ chế để đảng viên và nhân dân giám sát cán bộ và công tác cán bộ.

5 - Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng.

Khâu mấu chốt cần tập trung hiện nay là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở cấp trung ương và chính quyền ở cấp địa phương. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết, quyết định, nguyên tắc giải quyết những vấn đề trọng đại về quốc kế dân sinh; lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; xây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; bố trí đúng cán bộ ngang tầm nhiệm vụ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện.

Đảng không buông lỏng lãnh đạo, đồng thời không bao biện, làm thay Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội.

Khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước trong từng lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại hình tổ chức nhà nước.

Lãnh đạo việc cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Đảng. Ra nghị quyết đi liền với đề ra các kế hoạch thực hiện nghị quyết.

Sớm xây dựng quy chế về sự phối hợp giữa kiểm tra của Đảng với thanh tra của Chính phủ, kịp thời kết luận các vụ vi phạm, xử lý đúng người, đúng tội, đúng Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Xây dựng quy chế phối hợp công tác giữa các ban tham mưu của cấp ủy đảng và cơ quan chính quyền tương ứng cùng cấp, nhất là giữa Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước; giữa văn phòng cấp ủy và văn phòng hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, giúp Mặt trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu, phương hướng phát triển và nội dung hoạt động trong từng thời kỳ; đồng thời phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo của Mặt trận và các đoàn thể trong xây dựng, đổi mới tổ chức và hoạt động của mình.

Thống nhất việc lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ trong cả hệ thống chính trị, thực hiện luân chuyển cán bộ, khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ về cán bộ. Tăng cường trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là thủ trưởng cơ quan nhà nước. Cơ quan nào vi phạm chính sách, pháp luật, để xảy ra tình trạng tiêu cực, mất đoàn kết nội bộ thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm.

Đổi mới phương thức lãnh đạo gắn với đổi mới phong cách hoạt động, lề lối làm việc thật sự dân chủ, thiết thực, nói đi đôi với làm, khắc phục bệnh quan liêu, tùy tiện, chủ quan, hình thức.

*

*     *

Đất nước ta đang ngày càng lớn mạnh. Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Nước ta phải sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhân dân ta phải được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Đại hội X của Đảng nêu cao ý chí sắt đá của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, triệu người như một, năng động và sáng tạo, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm đổi mới toàn diện và mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhằm thực hiện bằng được mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", sánh vai cùng các nước trên thế giới trong nhịp bước khẩn trương của thời đại.

BÀI VIẾT THỨ 6
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN
CỦA DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ
TẠI ĐẠI HỘI X CỦA ĐẢNG
TÁC GIẢ Trần Quang Nhiếp
NỘI DUNG

Hội nghị lần thứ 13, Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã quyết định công bố dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội X của Đảng vào ngày 3-2-2006 để nhân dân tham gia ý kiến.

Đại hội X của Đảng là một sinh hoạt chính trị to lớn có ý nghĩa trọng đại, định hướng phát triển đất nước liên quan đến đời sống của mọi người dân. Vì thế, Báo cáo chính trị của Đảng cần được các tầng lớp nhân dân tham gia một cách rộng rãi, sâu sắc với tinh thần trách nhiệm cao vì sự phát triển dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội X của Đảng là một văn kiện quan trọng, có nội dung sâu sắc rộng lớn, bao gồm việc đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, đánh giá kết quả phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010; tổng kết 20 năm đổi mới; quyết định phương hướng phát triển đất nước và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX; đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng, bổ sung sửa đổi một số điểm trong Điều lệ Đảng. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.

Đại hội X của Đảng họp vào lúc toàn Đảng, toàn dân ta kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và đã trải qua 20 năm đổi mới với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tình hình thế giới và khu vực đang có những biến đổi nhanh chóng, khó lường.

Căn cứ vào tình hình đặc điểm trên, Trung ương xác định chủ đề của Đại hội và cũng là tiêu đề của dự thảo Báo cáo Chính trị là: "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển".

Báo cáo Chính trị dự thảo bao gồm những vấn đề nội dung chính sau:

1. Phần kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng

Dự thảo Báo cáo chính trị nêu rõ, 5 năm qua bên cạnh những thuận lợi cơ bản do tiến trình đổi mới tạo ra, nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức ở trong nước và thế giới tác động lớn đến tình hình nước ta. Trong hoàn cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã quyết tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và đạt những thành tựu rất quan trọng. Nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện. Tốc độ tăng trưởng GDP năm sau cao hơn năm trước, bình quân trong 5 năm 2001 - 2005 đạt mức kế hoạch 7,5%...

Văn hóa - xã hội có tiến bộ trên một số mặt; việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện; chỉ số phát triển con người được nâng lên. Tình hình chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường; hoạt động đối ngoại được mở rộng. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc được phát huy. Công tác xây dựng Đảng được coi trọng.

Bên cạnh những thành tựu, Báo cáo Chính trị cũng chỉ ra những khuyết điểm yếu kém như: nhịp độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chưa vững chắc; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt. Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế. Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn một số khâu chậm đổi mới. Chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.

Phân tích nguyên nhân của những khuyết điểm, yếu kém trên, dự thảo Báo cáo chính trị chỉ rõ: Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực còn chậm đổi mới. Công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện chưa tốt. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong gương mẫu, vừa không đủ trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ.

2. Phần đánh giá khái quát 20 năm đổi mới

Dự thảo Báo cáo Chính trị khẳng định: 20 năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Về kinh tế, nước ta ra khỏi khủng hoảng và có sự tăng trưởng khá nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp được tăng lên, tạo thế và lực cho đất nước tiếp tục đi lên.

Những thành tựu trên đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn.

Dự thảo Báo cáo Chính trị đã rút ra 5 bài học lớn từ thực tiễn kinh nghiệm 20 năm đổi mới: Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê - nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thác ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ và từng bước hoàn thiện nền dân chủ chủ nghĩa xã hội, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

3. Về mục tiêu, phương hướng phát triển đất nước 5 năm 2006 - 2010

Sau khi phân tích, dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm sắp tới một cách khách quan, dự thảo Báo cáo Chính trị xác định: Toàn Đảng, toàn dân ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn, bền vững hơn.

Từ phương châm đó, mục tiêu phương hướng tổng quát 5 năm 2006 - 2010 mà chúng ta nhằm đạt tới là: nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển văn hóa. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

4. Dự thảo Báo cáo Chính trị nêu rõ phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Để giải quyết vấn đề này, dự thảo Báo cáo Chính trị nhấn mạnh phải nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các thị trường cơ bản, theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh. Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh.

5. Để thực hiện mục tiêu phương hướng trên, dự thảo Báo cáo Chính trị xác định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với từng bước phát triển kinh tế tri thức

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Phát triển công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng. Phát triển kinh tế vùng, kinh tế biển. Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Bảo vệ tài nguyên và cải thiện môi trường sinh thái.

6. Cùng với những chủ trương trên, Báo cáo Chính trị chỉ rõ phải chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, trên cơ sở lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với thông lệ quốc tế.

7. Dự thảo Báo cáo Chính trị xác định nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực

Phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ làm nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Như vậy, phải đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao. Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học và công nghệ.

8. Khẳng định rõ định hướng xã hội chủ nghĩa, dự thảo Báo cáo Chính trị nhấn mạnh thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển

Khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chính sách xóa đói, giảm nghèo. Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe, văn hóa - thông tin, thể dục thể thao, tạo việc làm. Tăng nguồn lực đầu tư của Nhà nước để phát triển các lĩnh vực xã hội. Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển. Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi. Thực hiện tốt chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách ưu đãi xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng.

9. Dự thảo Báo cáo Chính trị dành phần nội dung lớn về vấn đề chăm lo phát triển văn hóa để thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội

Phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Phát triển văn hóa gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và hoàn thiện các giá trị của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Tập trung vào 3 lĩnh vực chính: Một là xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hóa cộng đồng. Hai là, phát huy mạnh mẽ tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra các tác phẩm tốt. Ba là, đầu tư toàn diện cho văn hóa, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa. Đổi mới nội dung và phương thức quản lý của Nhà nước về văn hóa. Huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, xã hội hóa các hoạt động văn hóa…

10. Dự thảo Báo cáo Chính trị dành phần quan trọng về tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện.

Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh. Kết hợp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước. Xây dựng quân đội và công an cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh.

11. Mở rộng quan hệ đối ngoại, giữ vững môi trường hòa bình vì sự phát triển đất nước

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam là bạn và đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

12. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp.

13. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí.

14. Đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại diện trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng trong điều kiện mới. Bảo đảm vai trò nền tảng và hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Không ngừng đổi mới công tác cán bộ và đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.

Mỗi vấn đề nêu trên là những vấn đề lớn, có nội dung phong phú, rộng lớn có tính quyết định tới đường lối chiến lược, bản chất tốt đẹp của sự phát triển đất nước. Sự nghiệp cách mạng của Đảng là sự nghiệp của nhân dân, của dân tộc. Đảng ta chủ trương phát huy cao độ trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, vai trò làm chủ của nhân dân cũng như cán bộ, đảng viên trong cả nước, đóng góp nhiều ý kiến xác đáng, thiết thực có tính lý luận và thực tiễn cao làm cho dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội X của Đảng thực sự là một văn kiện hoàn chỉnh, phản ánh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


* PGS,TS
BÀI VIẾT THỨ 7
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ BÌNH ĐẲNG VỀ GIỚI VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
TÁC GIẢ Lê Thi*
NỘI DUNG

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành năm 1946 đã công bố nguyên tắc "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện". Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 lại khẳng định rõ nguyên tắc này.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đã ký vào Công ước Cedaw, nhằm xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.

Văn bản của Liên hợp quốc cũng đã nói rõ "Bình đẳng về giới là nam nữ được công nhận có vị thế xã hội ngang nhau, có những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ các quyền con người, có cơ hội như nhau để đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển chính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá của đất nước"(1). Quyền bình đẳng giữa nam và nữ là một nội dung cơ bản của Luật nhân quyền quốc tế.

Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Nguyên tắc này của Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định: nam và nữ đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, bình đẳng trong học tập, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức văn hoá và nghề nghiệp; bình đẳng trong lao động, tìm kiếm việc làm, sắp xếp lương bậc, đề bạt, cất nhắc; bình đẳng trong việc tham chính vào các cơ quan chính quyền và dân sự các cấp; bình đẳng trong việc hưởng thụ các phúc lợi vật chất và tinh thần; bình đẳng trong gia đình, trong sử dụng tài sản, quyết định công việc quan trọng và chăm sóc con cái.

Thực hiện sự bình đẳng giới nhằm mục tiêu xây dựng sự công bằng xã hội nói chung và sự công bằng về giới nói riêng. Nhưng để đi tới một sự công bằng thực sự một cách cơ bản, lâu dài lại không phải là với bất cứ việc gì, trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào, với đối tượng cụ thể nào cũng phải tạo ra một tỷ lệ cân bằng giới 50% nam, 50% nữ được tham gia một công việc cụ thể hay hưởng thụ một phúc lợi nào đó. Trái lại, cần thận trọng xem xét những hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi thực hiện sự bình đẳng giới trong thực tiễn đời sống xã hội, vốn luôn luôn vận động và đa dạng. Có như vậy chúng ta mới đạt được sự công bằng tốt nhất, hợp lý nhất trong những hoàn cảnh cụ thể, với những đối tượng cụ thể. Sự công bằng, hợp lý trước mắt lại phục vụ cho mục tiêu lâu dài được đặt ra.

Vậy hoàn cảnh lịch sử cụ thể đặt ra những vấn đề gì cần chú ý?

- Trước hết là môi trường sinh sống cụ thể của nam hay nữ. Môi trường chi phối những nhu cầu cụ thể của mỗi giới, đồng thời bản thân nó cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh nước ta, hiện tại và tương lai. Vì vậy, ở mỗi giới có những nhu cầu trước mắt lâu dài, có điểm giống nhau, có điểm khác nhau, đặt trong những điều kiện lịch sử cụ thể.

- Thứ hai là để thực hiện được sự bình đẳng giới, phải tạo ra cho họ "một sân chơi bình đẳng", nam và nữ có những cơ hội như nhau, điều kiện ngang nhau để hành động trên sân chơi đó. Đồng thời cần chú ý rằng, điểm xuất phát đi lên của mỗi giới lại không giống nhau. Tạo điều kiện, cơ hội như nhau cho hai giới, nhưng điểm xuất phát đi lên của giới nam khác giới nữ, do đó đòi hỏi có sự điều chỉnh thích đáng.

- Thứ ba là đối với các đối tượng cụ thể, mỗi cá nhân lại có hoàn cảnh riêng, chi phối họ trong quá trình sinh sống, làm việc (tài năng, tri thức, sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình, v.v...) và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng những cơ hội, điều kiện thuận lợi đã tạo ra cho họ.

1. Thực hiện sự bình đẳng giới và công bằng xã hội, trước hết đề cập đến nội dung cụ thể cần tiến hành. Nội dung đó phụ thuộc vào môi trường sinh sống, làm việc cụ thể của từng giới, ở thành phố khác ở nông thôn, ở đồng bằng khác ở miền núi, vùng dân tộc ít người. Môi trường sinh sống chi phối những nhu cầu bức bách của mỗi giới, có cái chung, có cái riêng, có nhu cầu trước mắt và nhu cầu lâu dài, toàn bộ.

Để thực hiện sự công bằng về giới trong phát triển kinh tế, tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập cho giới nam hay giới nữ thì rõ ràng ở nông thôn có nội dung khác ở thành phố, miền xuôi khác miền núi. Ở nông thôn, điều quan trọng nhất đối với cả nam, nữ, ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của họ, kể cả vị thế của họ trong gia đình, đó là quyền sở hữu rộng đất, họ có hay không có, trong gia đình chồng hay vợ là chủ sở hữu, ai là người quyết định nội dung sản xuất của gia đình, nắm giữ tài sản tiền nong làm ra, quyết định những chi tiêu lớn của gia đình? Ai làm những công việc gia đình không được trả công nhiều nhất, kể cả việc chăn nuôi tại nhà? Ai quyết định những việc lớn của gia đình như việc học tập của con cái, việc cưới xin, ma chay,v.v... Như vậy, cần chú ý đến những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến vị thế kinh tế, xã hội của giới nam và giới nữ trong gia đình và ngoài xã hội ở nông thôn. Từ đó sẽ có hướng tác động nhằm thiết lập sự bình đẳng giới giữa giới nam và giới nữ một cách có hiệu quả.

Ở thành phố thực hiện sự bình đẳng giới trong phát triển kinh tế lại là tạo điều kiện, cơ hội cho nhiều phụ nữ có việc làm phù hợp với khả năng, vốn kiến thức, sức khoẻ của họ. Do đó, không phải ở bất cứ ngành nghề nào cũng cần đảm bảo tỷ lệ cân bằng 50% nam, 50% nữ tham gia, mà có những ưu tiên cần thiết cho giới nam hay giới nữ đối với từng ngành nghề. Các nghề làm dịch vụ, du lịch, thương mại, may mặc, công nghiệp nhẹ, y tế, văn hoá v.v.... thường hợp với nữ, nên tạo điều kiện, cơ hội cho chị em tham gia. Cơ hội, điều kiện ở đây là việc đào tạo bồi dưỡng tay nghề cho họ, đặt chỉ tiêu tuyển nữ nhiều hơn nam v.v. Lại có những nghề ưu tiên đào tạo nam, tuyển nam như: lái xe tải, làm hầm mỏ, xây dựng trên dàn cao v.v.

Chúng ta không chỉ chú ý đến những nhu cầu trước mắt mà cần có cái nhìn hướng về tương lai lâu dài. Cần tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các ngành nghề công nghệ cao (điện tử, viễn thông v.v.) đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cần thiết cho sự phát triển lâu dài, mạnh mẽ của khoa học công nghệ ở nước ta. Đó cũng là những nghề phụ nữ sẽ làm tốt do tính cẩn thận, siêng năng của họ, cùng với trình độ văn hoá được nâng lên nhờ được học tập, đào tạo có hệ thống.

Ở nông thôn cũng cần thấy hướng phát triển của nhiều ngành nghề phi nông nghiệp, sự tiếp cận với khoa học kỹ thuật, trong quá trình đô thị hoá, hiện đại hoá nông thôn, nông nghiệp. Vì vậy, lớp trẻ ở nông thôn, đặc biệt là phụ nữ chiếm số đông, cần được học tập, có trình độ văn hoá cần thiết để tham gia vào các ngành nghề mới. Đồng thời, nhà nước có chế độ trợ cấp, ưu đãi cho vay vốn, có chính sách đãi ngộ thoả đáng v.v... để giữ lớp trẻ, cả nam nữ, sau khi học tập có bằng cấp ở lại nông thôn xây dựng quê hương mình.

Như vậy, việc thực hiện sự công bằng và bình đẳng giới đặt trong hoàn cảnh kinh tế- xã hội- văn hoá của Việt Nam, không chỉ nhìn hiện tại trước mắt mà phải hướng về tương lai lâu dài của sự phát triển đất nước.

2. Nam và nữ cần có những cơ hội và điều kiện như nhau để thực hiện các quyền của con người, đóng góp và hưởng thụ từ sự phát triển của xã hội. Nhưng cơ hội và điều kiện của mỗi giới lại bị ảnh hưởng của điểm xuất phát đi lên của họ tác động tới.

Điểm xuất phát của nữ nhìn chung thấp hơn nam về trình độ văn hoá, sự cập nhật các thông tin, sự tiếp cận với nguồn vốn, về thị trường và khả năng giao dịch, tổ chức sản xuất v.v. Ngay giới nữ ở thành phố cũng có trình độ văn hoá, có điều kiện tiếp xúc với thông tin, kiến thức hàng ngày nhiều hơn phụ nữ nông thôn.Ở mỗi cá nhân, nam hay nữ lại có hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau, trình độ văn hoá, tình trạng kinh tế khác nhau. Do đó, dù hai giới có cơ hội như nhau để tham gia vào "sân chơi bình đẳng" nhưng không phải cơ hội đem lại thuận lợi cho hai giới như nhau để họ khai thác một cách có lợi nhất cho mình. Họ có điều kiện bình đẳng như nhau để tham gia công việc xã hội, nhưng điểm xuất phát đi lên của giới nữ thấp hơn giới nam nên việc sử dụng những điều kiện thuận lợi lại có thể dẫn tới những kết quả cho giới nữ khác giới nam, không bằng nam. Vì vậy, tạo cơ hội, điều kiện cho hai giới như nhau rất cần nhưng chưa đủ.

Để đảm bảo sự công bằng thực sự giữa nam và nữ, không chỉ cần tạo điều kiện, cơ hội như nhau để nữ giới tham gia vào sân chơi bình đẳng mà khi cần thiết, phải có những ưu tiên cho giới nữ, tạo cho họ những điều kiện, cơ hội thuận lợi hơn so với nam giới. Nếu thực hiện sự bình đẳng một cách máy móc sẽ là bất công với giới nữ, vì giới nam vốn có những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi hơn giới nữ.

Việc tuyển người đi đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ của một cơ quan xí nghiệp, nếu cứ nêu lên những tiêu chuẩn lựa chọn nam cũng như nữ thì chắc chắn rất ít phụ nữ đạt yêu cầu để được đi học, một phần do trình độ, chức vụ công tác thấp hơn nam, một phần do họ bận con cái không đi học tập trung thời gian dài được, nếu không có sự giúp đỡ cần thiết. Do đó, cần chú ý ưu tiên nữ, linh hoạt trong tiêu chuẩn lựa chọn họ đi học, chú ý nữ còn trẻ chưa lập gia đình, hoặc chị em có con đã lớn, điều kiện gia đình có thể đi học được, hay chấp nhận phụ nữ mang con nhỏ đi học (có lớp mẫu giáo, nhà trẻ tại cơ sở đào tạo v.v.). Nhìn chung, phụ nữ phải gánh nặng công việc gia đình bên cạnh sự tham gia công tác như chồng. Những lúc họ chưa có con hay không có con nhỏ, họ tập trung tư tưởng tập trung hơn. Nếu đặt một tỷ lệ ngang bằng nam nữ, với những tiêu chuẩn lựa chọn giống nhau với nam và nữ thì nhiều khi không đủ số phụ nữ được đào tạo và là một sự không công bằng với giới nữ.

Sự ưu tiên cần thiết cho giới nữ hay giới nam trong việc tham gia một ngành nghề hay hưởng thụ một phúc lợi công cộng nào đó (ví dụ việc học tập, đào tạo, việc chăm sóc sức khỏe, việc nghỉ lúc con ốm v.v.) trong những điều kiện lịch sử cụ thể chính là nhằm tạo nên sự công bằng về giới, sự bình đẳng giới nhìn từ góc độ lợi ích của toàn xã hội, trước mắt và lâu dài (đó không phải vì lợi ích của một giới cụ thể nào đó làm ảnh hưởng đến lợi ích của giới kia). Đối với phụ nữ, những trường hợp cần thiết phải ưu tiên cho họ lại không chỉ đem lợi ích riêng cho giới nữ mà chính vì lợi ích chung lâu dài của cả hai giới, cả cộng đồng và dân tộc ta trong công cuộc phát triển đất nước.

Khi phụ nữ chưa có "sân chơi thật sự bình đẳng" với nam giới để tham gia công việc xã hội và hưởng thụ của các phúc lợi công cộng thì cần tạo ra một sân chơi thuận lợi hơn cho nữ so với nam, đó mới là công bằng và cần thiết.

Đồng thời, chúng ta không quên rằng việc khai thác các cơ hội, điều kiện thuận lợi của mỗi cá nhân lại khác nhau do phụ thuộc vào tài năng, sự nỗ lực, sở thích của cá nhân và cả những sự may mắn (có sự ủng hộ, giúp đỡ của gia đình, bạn bè, cộng đồng thôn xóm v.v.) cũng như phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của họ.

3. Sự bình đẳng về giới và công bằng xã hội hỗ trợ cho nhau, nhưng không thay thế nhau.

Từ sự phân tích trên, chúng ta thấy rõ thực hiện sự bình đẳng giới là tạo ra sự công bằng giữa hai giới về mọi phương diện. Nhưng để có sự công bằng thực sự, trong trường hợp cụ thể lại phải có cách nhìn linh hoạt, có khi trước mắt cần đối xử "không công bằng" với một giới, ví dụ với giới nam và ưu tiên giới nữ, trong điều kiện nhất định nào đó, mới tạo ra sự công bằng cần thiết, sự bình đẳng thật sự giữa hai giới trong tương lai lâu dài.

Các em gái vốn hay bị thiệt thòi trong học tập, ít được đến trường học đến nơi đến chốn như học sinh nam, đặc biệt ở nông thôn miền núi, các em thường phải nghỉ học ở nhà trông em, giúp việc gia đình. Vì vậy, nhà trường không chỉ đối xử bình đẳng giữa học sinh nam và nữ trong học tập mà trong tiêu chuẩn tuyển sinh hằng năm cần ưu tiên việc tuyển nhiều nữ hơn nam khi cần thiết, hoặc tuyển nữ sinh với những tiêu chuẩn không khắt khe bằng học sinh nam . Nhà trường có sự chú ý bồi dưỡng tài năng, sức học của nữ sinh để các em đuổi kịp nam sinh, vận động giúp đỡ can thiệp để cha mẹ các nữ sinh không bắt các em nghỉ học giữa chừng.

Bởi vậy, sự ngang bằng về quyền lợi và trách nhiệm của hai giới, hay sự cân bằng giữa nam nữ trong tham gia công việc xã hội và hưởng thụ các phúc lợi lại không phải và không thể là chủ nghĩa bình quân hình thức.

Tạo sự công bằng về giới, tức là đảm bảo một tỷ lệ cân đối giữa giới nam và giới nữ trong đóng góp và hưởng thụ, đảm bảo nguyên tắc công bằng về quyền lợi và trách nhiệm giữa hai giới để thực hiện sự bình đẳng giới thật sự. Nhưng tiêu chuẩn nào để dựng lên tỷ lệ cân đối đó giữa nam và nữ? Đó là ngang nhau hay không ngang nhau, 50% nam, 50% nữ hay tỷ lệ nam hoặc tỷ lệ nữ có thể nhiều hơn hay ít hơn tuỳ hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể. Như vậy mới đem lại lợi ích thực sự cho sự bình đẳng giới trước mắt và lâu dài.

Về nguyên tắc, nhìn chung và lâu dài cần bảo đảm cho giới nam và giới nữ có điều kiện như nhau để thực hiện các quyền cơ bản của con người, có cơ hội như nhau để đóng góp và hưởng thụ từ sự phát triển xã hội. Nhưng rõ ràng, quá trình nhằm tạo ra sự ngang quyền thật sự đó lại cần có sự linh hoạt nhất định với các trường hợp cần thiết, có sự ưu tiên cho giới nữ hoặc giới nam trong thực tiễn cụ thể của đời sống xã hội.

Việc nêu cần bảo đảm quyền bình đẳng cho nam nữ có vẻ dễ dàng, đơn giản, nhưng giải quyết những vấn đề cụ thể diễn ra trong gia đình, ngoài cộng đồng lại hết sức khó khăn, phức tạp. Phải có tình và có lý, hợp tình và đúng lý (của pháp luật nhà nước), không thể đơn giản hoá vấn đề. Nếu giải quyết các sự kiện xảy ra trong đời sống hằng ngày theo chủ nghĩa bình quân hình thức thì sẽ dẫn đến những thiệt thòi cho giới nữ hoặc giới nam, xét về toàn cục và lâu dài là có hại chung cho cả hai giới.

Chúng ta đặt sự công bằng về giới trong sự công bằng chung của xã hội. Công bằng gắn với công minh, đó là những thành tố trung tâm của chiến lược phát triển xã hội có hiệu quả nhất.

Có công bằng thực sự mới giúp cho xã hội tăng trưởng một cách toàn diện và vững bền. Công bằng xã hội lớn hơn thì hoạt động kinh tế có hiệu quả nhiều hơn, giảm xung đột xã hội, tăng niềm tin trong lòng người dân, cả nam và nữ.

Tăng cường sự công bằng về giới cũng giúp cho việc giảm nhanh nạn nghèo đói, đặc biệt ở nông thôn, miền núi. Đó là những mục tiêu trọng tâm của sự phát triển đất nước trong hiện tại và tương lai lâu dài nhiều năm. Sự công bằng về giới cũng là một động lực kích thích sự phát triển sáng kiến cá nhân của nam và nữ, sự nỗ lực của trí tuệ cá nhân (chứ không phải hoàn cảnh gia đình, đẳng cấp xã hội, giới tính), đó là những yếu tố quyết định thành quả của mỗi công dân, nam và nữ.

Là một vấn đề xã hội lớn, thực hiện sự bình đẳng giới ở nước ta đòi hỏi một chiến lược hành động lâu dài, toàn bộ với những sách lược, bước đi, việc làm cụ thể trong từng thời gian và không gian nhất định, không thể đơn giản, máy móc, nóng vội hay cắt đoạn giữa cái trước mắt và cái lâu dài.

Năm 2006, dự kiến Luật về bình đẳng giới sẽ được Quốc hội nước ta thông qua. Việc ban hành Luật nhằm đưa những yêu cầu chính về bình đẳng giới thành các văn bản với những điều khoản cụ thể, những chính sách cụ thể và đòi hỏi việc thực hiện như một nghĩa vụ đối với bất cứ công dân nào, tổ chức cơ quan nào, kèm theo những quy tắc thưởng, phạt nghiêm túc.

Nước ta đang xây dựng một xã hội dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng. Thực hiện quyền bình đẳng nam nữ chính là một nội dung quan trọng nhằm đảm bảo sự công bằng, dân chủ, tự do cho cả hai giới, nam và nữ ngang quyền nhau về mọi phương diện như yêu cầu của Hiến pháp nước ta. Đó là tạo lập sự công bằng giữa hai giới một cách cơ bản toàn diện nhất, thiết lập cơ sở quan trọng nhất bền vững cho sự phát triển tốt đẹp, hài hoà gữa hai giới, trong gia đình và ngoài xã hội. Từ đó, củng cố sự đoàn kết nhất trí và gắn kết chặt chẽ giữa hai giới, tạo cho họ sức mạnh tinh thần, vật chất mới, cùng nhau làm chủ đất nước, làm chủ bản thân, và đưa đất nước tiến lên, đạt được những thành tựu to lớn trong thế kỷ XXI.


* GS, Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn
(1) Trích báo cáo đánh giá thực trạng bình đẳng giới tại Việt Nam của Hội Liên hiệp Phụ nữ Trung ương năm 2004
BÀI VIẾT THỨ 8
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ CONTENT OF COMMUNIST REVIEW- 4th issue (February 2006)
TÁC GIẢ
NỘI DUNG

TOWARD THE 10TH PARTY NATIONAL CONGRESS

Enhancing the leading capacity and fighting strength of the Party, comprehensively carrying out the renovation process, bringing our country out of an under development situation. (The Draft Political Report of the 10th Party Congress).

The 10th Congress takes place at a time when the Party and the people have completed the implementation of the resolutions of the 9th Party Congress and have undergone 20 years of renovation. The Congress has the following tasks: reviewing the implementation of the 9th Party Congress, the 5-year socio-economic development tasks from 2001-2005 and the 10-year Strategy on socio-economic development from 2001-2010, summing up 20 years of renovation, deciding the orientations for the country’s development, objectives and tasks for 5-year socio-economic tasks from 2006-2010; reviewing the leadership of the Party Central Committee (10th Tenure), mapping out orientations and tasks on Party building, and supplementing and revising some points in the Party Chapter and electing the Party Central Committee (10th Tenure).

STUDY AND EXCHANGE

NGUYEN PHUC THANH- Constantly improving the quality and effectiveness of General Assembly supervision

Given the strong renovation in the organization and methods of operation, the General Assembly’s supervision during the past years has improved in terms of quality and effectiveness. The supervision of the General Assembly, General Assembly offices, and delegations has gradually been improved to operate better. In the coming period, to continue making the General Assembly’s supervision more effective, attention must be given to the following major tasks: continuing to improve the people’s awareness about the supervision role of the General Assembly, closely following real developments, supervising the implementation of socio-development tasks of the Government, branches and sectors, training and building the capacity of deputies of the General Assembly and coordinating well with the Vietnam Fatherland Front.

NGUYEN PHI LONG- On Party developments at present

Party development is an important task of Party building, which has received much attention by the Party. Concrete policies and measures have been made to heighten the leading capacity and fighting strength of the Party. Every year, the contingent of Party members has increased in both quantity and quality. Stemming from the experience of Party development in recent years and to create a source of Party members, the work of Party development must concentrate on the following issues: Party development must be closely associated with planning Party officials at grassroots level, building clean and comprehensively strong Party organizations at grassroots levels, leading mass organizations to participate in Party building and create a source of Party members, studying and supplementing Party members’ criteria to suit the new situation and make concrete plans on developing the Party.

HO QUANG MINH- External investment source for the cause of renovation and socio-economic development

During 20 years of renovation, external investment sources including ODA and FDI have played important roles in socio-economic development. The mobilization of external investment has recorded results of important significance. In the coming time, to meet the demands for developing the economy, industrialization and modernization, Vietnam needs more foreign investment in quantity and quality. Thus, it is necessary to implement measures to improve the mobilization and use of foreign investment sources. The implementation of these solutions will contribute to mobilizing sources to achieve the 10-year Strategy on socio-development from 2001-2010 and the 5-year plan on socio-economic development from 2006-2010, ensuring the successful realization of the renovation of the Party and the State.

NGUYEN DINH CU- Equatization of State-owned commercial banks and developing the stock market in Vietnam

The necessity to equitise State-owned commercial banks is clear as it is a common trend now in Vietnam to equitise State-owned enterprises. State-owned commercial banks have their own characteristics. However, compared to many other State-owned enterprises, they have more advantages due to their influence on the stock market. During the process of equitisation of State-owned enterprises, attention must be given to the following 8 issues: 1. Restructuring State-owned commercial banks, paying special concern to settling old debts and increasing self-generated sources. 2. Commercial banks’ operation must become more transparent and open.

3. Valuating commercial banks. 4. Evaluating the State’s contribution to commercial banks. 5. Involving foreign investors but preventing their control and or ownership. 6. Issuing shares without auctions at transaction centers for the stock market. 7. Selecting suitable forms of share issue. 8. Pilot equitisation of one or two commercial banks.

NGUYEN TIEN NGHIA- For humans, the value of communism is undeniable.

By quoting some figures considered as "evidence of crimes" of communists in socialist countries during the past decades, by distorting and misinforming the characteristics of communism, by comparing Communism to Hitlerism, some rightists in the Political Committee of the Parliamentary Assembly of the Council of Europe (PACE) urged the world community to condemn and put to an end to the communist ideology. However, anti-communism attempts, however frantic they are, cannot prevent objective historical evolution. Humankind’s history will not stop at communism but will advance to socialism and communism.

REALITY-EXPERIENCE

NGUYEN TAN QUYEN- Can Tho-a young city full of life.

Implementing the resolutions of the 9th Party National Congress and the resolutions of the 10th Party Congress of Can Tho province, the city of Can Tho has been united, bringing into play resources, renovating leadership and execution, overcoming difficulties and achieving important and relatively comprehensive results. The province’s economic growth has increased at a high rate. Its economic structure has shifted to the right direction and the people’s living standards have been improved. From the experience of the past 5 years, the city has drawn out some causes and lessons as follows: 1. Party building and rectification is a key task of special importance. 2. We must mobilize comprehensively strengthen and develop investment sources. 3. Close combination between economic development with the settlement of social issues and the people’s demands. 4. Concrete, resolute and practical solutions must be implemented to lead the country, give guidance and operate. The Party must keep in close contact with the grassroots levels to control and solve difficulties, obstacles and newly arising problems. The Party must pay attention in placing capable Party officials in suitable positions.

HUYNH MINH DOAN- Dong Thap province mobilizes its internal strength, promotes cooperation and develops its economy along the lines of industrialization and modernization.

In the war years, particularly during 20 years of renewal, as well as the 5 years of implementing the resolutions of the 9th Party National Congress and the resolutions of the 7th provincial Party organization, the Party organization and the people of Dong Thap have been united, overcoming difficulties and winning important initial successes. Implementing the resolutions of the 8th Congress of the 2005-2010 tenure, the Party organization of Dong Thap will concentrate on leading the realization of the main tasks and solutions as follows: attaching importance to planning and improving the quality of planning while concentrating capital for development and raising investment effectiveness, developing industry and construction. It will also focus investment on building infrastructure in industrial parks and centers, and transport infrastructure. It plans to diversify commercial forms and services, considering the strategy on market development as a breakthrough, and heightening the quality and effectiveness of agricultural production and rural economy to serve the cause of industrialization and modernization.

NGUYEN XUAN PHUC- Quang Nam on the road to turning the province into an industrial province before 2020

Quang Nam was identified by Decision 148/Ttg of the Prime Minister as a province situated in the key economic development area in Central Vietnam. During the past years, the province has tapped its potential, strengths and advantages while applying and implementing the policies of the Party and the State. It has achieved relatively high economic growth rate. To realize its objectives, Quang Nam province has implemented the following solutions: making a stronger shift in economic structure and increasing the quality of growth, developing complete infrastructure, socializing and diversifying forms of investment, solving social and environmental problems while developing the economy, being proactive and actively integrating into the world economy, building a strong and clean administrative system and continuing administration reforms.

DAO NGUYEN THANF-TU THANH- Border soldiers realize the policy of coordinating with the medical service to take care of people’s health.

To take care of the health of border guards and people living in the border areas, coordination between military and public health services is of primary importance. During the past years, border guards have actively contributed to consolidating grassroots level health services in border areas in diversified their form and contents. The coordination of public health centers and consulting rooms of the army has mobilized the combined strength of local and army health services in terms of professional skills, medical equipment, medicines and human force. This model has brought about practical results in community health care in remote and border areas. Prompted by the direction of President Ho Chi Minh and Party, "prevention is better than treatment", border guards have identified epidemic prevention in border areas as their main task and taken appropriate and timely measures to implement this task.

LETTER TO THE EDITORS

TRAN DAC HIEN- Party development in religious areas

In the face of increasing demands of the cause of industrialization and modernization of the country, Party building and development in general and Party building and development in regions inhabited by religious people are key tasks of decisive importance. This helps lead the political system at grassroots level to implement the Party policies and State laws and contributes to the successful implementation of Party viewpoints on religious work. Development in many localities over the past years showed that the work of Party development and recruitment of new Party members with religions has achieved remarkable results. The number of better quality religious Party members with has increased.

IDEOLOGICAL EXCHANGE

NGUYEN MINH TIEN- Urgent concerns

THE WORLD: ISSUES AND EVENTS

NGO MANH LAN- The US global strategy and the situation in the Middle East.

The US global strategy by nature has neither changed nor shifted its direction. However, its motto, methods of action and operations have seen substantial changes. The US has failed to win complete victory and are confused by the US and Iraqi army’s inability in face of suicidal bombings by guerrillas. It has turned to using soft power, diplomacy, dialogue, and negotiation while continuing a military campaign to wipe out selected positions. The task of US diplomats is to prepare conditions so that when opportunities arise, they will lend a hand to a "democratic revolution". Their new and basic role is to expand capitalism and its spiritual and ethical values.

BÀI VIẾT THỨ 9
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ GIỚI THIỆU CHÍNH SÁCH MỚI
TÁC GIẢ
NỘI DUNG

1. Nghị định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2006, về việc ban hành Quy chế khu đô thị mới.

(Xem Công báo số 21+22 ngày 15/01/2006)

2. Nghị định số 03/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2006, quy định mức lương tối thiểu đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam.

(Xem Công báo số 21+22 ngày 15/01/2006)

3. Quyết định số 04/2006/QĐ-TTg ngày 05 tháng 01 năm 2006, về việc thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

(Xem Công báo số 21+22 ngày 15/01/2006)

4. Quyết định số 26/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2006, phê duyệt Đề án “Định hướng phát triển Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên – Huế đến năm 2020”.

(Xem Công báo số 21+22 ngày 15/01/2006)

5. Quyết định số 1869/2005/QĐ-BCA (E11) ngày 19 tháng 12 năm 2005, Ban hành Chương trình hành động bảo vệ môi trường của Công an nhân dân giai đoạn 2006 – 2010.

(Xem Công báo số 21+22 ngày 15/01/2006)

6. Quyết định số 01/2006/QĐ-BGTVT ngày 04 tháng 01 năm 2006, ban hành "Quy định về việc vận tải hành khách, hành lý, bao gửi trên đường sắt quốc gia”.

(Xem Công báo số 21+22 ngày 15/01/2006)

7. Thông tư số 08/2005/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2005, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân và Nghị định số 69/2005/NĐ-CP ngày 26/5/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân.

(Xem Công báo số 21+22 ngày 15/01/2006)

8. Chỉ thị số 01/2006/CT-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2006, về việc đẩy mạnh thực hiện các chính sách trợ giúp người tàn tật trong tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.

(Xem Công báo số 23+24 ngày 16/01/2006)

9. Thông tư số 84/2005/TT-BNN ngày 23 tháng 12 năm 2005, hướng dẫn tổ chức lại chăn nuôi thủy cầm đề phòng chống dịch cúm gia cầm (H5N1).

(Xem Công báo số 23+24 ngày 16/01/2006)

10.Thông tư số 85/2005/TT-BNN ngày 23 tháng 12 năm 2005, hướng dẫn về việc kiểm dịch vận chuyển, giết mổ, buôn bán gia cầm và sản phẩm gia cầm.

(Xem Công báo số 23+24 ngày 16/01/2006)

11. Chỉ thị số 06/2005/CT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2005, về việc tăng cường công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện.

(Xem Công báo số 25+26 ngày 16/01/2006)

12. Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

(Xem Công báo số 29+30 ngày 17/01/2006)

13. Thông tư liên tịch số 34/2005/TTLT-BGD&ĐT-UBTDTT ngày 29 tháng 12 năm 2005, hướng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác Thể dục thể thao trường học giai đoạn 2006 – 2010.

(Xem Công báo số 29+30 ngày 17/01/2006)

14. Quyết định số 101/2005/QĐ-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2005, về việc ban hành và công bố bốn chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 7).

(Xem Công báo số 29+30 ngày 17/01/2006)

15.Quyết định số 02/2006/QĐ-BTC ngày 06 tháng 01 năm 2006, về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 15/2003/QĐ-BTC ngày 10/02/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Tổng cục Hải quan.

(Xem Công báo số 29+30 ngày 17/01/2006)

16.Chỉ thị số 01/2006/CT-NHNN ngày 04 tháng 01 năm 2006, về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án cơ cấu lại các ngân hàng thương mại nhà nước.

(Xem Công báo số 29+30 ngày 17/01/2006)

17. Quyết định số 20/2005/QĐ-BKHCN ngày 23 tháng 12 năm 2005, về việc sửa đổi, bổ sung các Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 11 và Điều 13 của Quy định về việc tuyển chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện Đề tài khoa học và công nghệ và Dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 16/2003/QĐ-BKHCN ngày 18/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

(Xem Công báo số 31+32 ngày 19/01/2006)

18. Nghị định số 04/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006, về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.

(Xem Công báo số 33+34 ngày 21/01/2006)

19. Quyết định số 07/2006/QĐ- TTg ngày 10 tháng 01 năm 2006, phê duyệt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 – 2010.

(Xem Công báo số 33+34 ngày 21/01/2006)

20. Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BTC-NHNN ngày 04 tháng 01 năm 2006, hướng dẫn trao đổi, cung cấp thông tin giữa cơ quan thuế với ngân hàng và tổ chức tín dụng.

(Xem Công báo số 33+34 ngày 21/01/2006)

21. Quyết định số 39/2005/QĐ-BCN ngày 23 tháng 12 năm 2005, về việc ban hành Quy định về điều kiện, trình tự và thủ tục ngừng, giảm mức cung cấp điện.

(Xem Công báo số 33+34 ngày 21/01/2006)

22. Quyết định số 04/2006/QĐ-BGTVT ngày 09 tháng 01 năm 2006, ban hành Quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công công trình trong phạm vi đất dành cho đường bộ.

(Xem Công báo số 33+34 ngày 21/01/2006)

23. Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28 tháng 12 năm 2005, về việc ban hành và công bố bốn (04) chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 5).

(Xem Công báo số 33+34 ngày 21/01/2006)

24. Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2006, ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47/NQ-TW ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

(Xem Công báo số 35+36 ngày 22/01/2006)

25. Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2006, phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

(Xem Công báo số 35+36 ngày 22/01/2006)

26. Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 01 năm 2006, về việc phê duyệt "Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020”.

(Xem Công báo số 35+36 ngày 22/01/2006)

27. Thông tư số 02/2006/TT-BKHCN ngày 10 tháng 01 năm 2006, hướng dẫn về điều kiện và thủ tục chỉ định tổ chức thực hiện kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

(Xem Công báo số 35+36 ngày 22/01/2006)

28. Quyết định số 34/2005/QĐ-BTS ngày 30 tháng 12 năm 2005, về việc ban hành Quy chế quản lý hoạt động đối ngoại của ngành thủy sản.

(Xem Công báo số 35+36 ngày 22/01/2006)

29. Lệnh của Chủ tịch nước số 22/2005/L-CTN ngày 09 tháng 12 năm 2005, về việc công bố Luật.

- Luật các công cụ chuyển nhượng.

(Xem Công báo số 37+38 ngày 25/01/2006)

30. Lệnh của Chủ tịch nước số 26/2005/L-CTN ngày 09 tháng 12 năm 2005, về việc công bố Luật.

- Luật phòng, chống tham nhũng.

(Xem Công báo số 37+38 ngày 25/01/2006)

31. Lệnh của Chủ tịch nước số 35/2005/L-CTN ngày 21 tháng 12 năm 2005, về việc công bố Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Pháp lệnh ngoại hối.

(Xem Công báo số 37+38 ngày 25/01/2006)

32. Quyết định số 01/2006/QĐ-BNN ngày 06 tháng 01 năm 2006, ban hành danh mục thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi được nhập khẩu vào Việt Nam.

(Xem Công báo số 39+40 ngày 27/01/2006)

33. Nghị quyết số 01/2006/NQ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2006, về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2006.

(Xem Công báo số 43+44 ngày 29/01/2006)

34. Nghị định số 08/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2006, quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão đã được sửa đổi, bổ sung ngày 24 tháng 8 năm 2000.

(Xem Công báo số 43+44 ngày 29/01/2006)

35. Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2006, quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng.

(Xem Công báo số 43+44 ngày 29/01/2006)

36. Quyết định số 13/2006/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 2006, về một số cơ chế tài chính ngân sách ưu đãi đối với thành phố Đà Nẵng.

(Xem Công báo số 43+44 ngày 29/01/2006)

37. Quyết định số 04/2006/QĐ-BBCVT ngày 17 tháng 01 năm 2006, quy định việc quản lý giá sàn cước thanh toán quốc tế và cước kết cuối dịch vụ điện thoại quốc tế chiều về Việt Nam.

(Xem Công báo số 43+44 ngày 29/01/2006)

38. Quyết định số 05/2006/QĐ-BBCVT ngày 17 tháng 01 năm 2006, sửa đổi một số điểm của Quyết định 148/2003/QĐ-BBCVT về việc ban hành tạm thời cước kết nối giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông.

(Xem Công báo số 43+44 ngày 29/01/2006)

39. Thông tư số 01/2006/TT-BNV ngày 13 tháng 01 năm 2006, hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước.

(Xem Công báo số 43+44 ngày 29/01/2006)

40. Thông tư số 01/2006/TT-BCA(C11) ngày 12 tháng 01 năm 2006, hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

(Xem Công báo số 45+46 ngày 30/01/2006)

41. Quyết định số 03/2006/QĐ-BKHCN ngày 10 tháng 01 năm 2006, về việc ban hành "Quy định về công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, hàng hóa".

(Xem Công báo số 45+46 ngày 30/01/2006)

42. Quyết định số 04/2006/QĐ-BKHCN ngày 10 tháng 01 năm 2006, về việc ban hành "Quy định về nội dung, thủ tục công bố sản phẩm, hàng hóa phù hợp tiêu chuẩn, pháp quy kỹ thuật".

(Xem Công báo số 45+46 ngày 30/01/2006)

43. Quyết định số 03/2006/QĐ-BTM ngày 13 tháng 01 năm 2006, về lượng hạn ngạch thuế quan đối với hàng nhập khẩu năm 2006.

(Xem Công báo số 45+46 ngày 30/01/2006)

44. Quyết định số 04/2006/QĐ-BTM ngày 13 tháng 01 năm 2006, về việc ban hành Danh mục Hàng tiêu dùng để phục vụ việc xác định thời hạn nộp thuế nhập khẩu.

(Xem Công báo số 45+46 ngày 30/01/2006)

45. Nghị định số 11/2006/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2006, về việc ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng.

(Xem Công báo số 47+48 ngày 31/01/2006)

46. Quyết định số 42/2005/QĐ-BCN ngày 30 tháng 12 năm 2005, về việc ban hành Quy định nội dung, trình tự, thủ tục lập và thẩm định quy hoạch phát triển điện lực.

(Xem Công báo số 47+48 ngày 31/01/2006)

47. Thông tư số 30/2005/TT-BKHCN ngày 30 tháng 12 năm 2005, hướng dẫn một số điều của Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ (sửa đổi).

(Xem Công báo số 47+48 ngày 31/01/2006)

48. Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

(Xem Công báo số 47+48 ngày 31/01/2006)

49. Quyết định số 49/2005/QĐ-BYT ngày 30 tháng 12 năm 2005, về việc ban hành "Quy định nội dung, hình thức thi tuyển viên chức y tế".

(Xem Công báo số 47+48 ngày 31/01/2006)

50. Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT- BTC-BNV ngày 17 tháng 01 năm 2006, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước.

(Xem Công báo số 1+2 ngày 01/02/2006)

51. Thông tư liên tịch số 191/2006/TTLT- TTCP-BNV-BTC ngày 19 tháng 01 năm 2006, hướng dẫn thực hiện Quyết định số 202/2005/QĐ-TTg ngày 09 tháng 8 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với Thanh tra viên.

(Xem Công báo số 1+2 ngày 01/02/2006)

52. Quyết định số 03/2006/QĐ-BNV ngày 18 tháng 01 năm 2006, về việc cho phép thành lập Quỹ Toyota Việt Nam.

(Xem Công báo số 1+2 ngày 01/02/2006)

53. Quyết định số 05/2006/QĐ-BNN ngày 12 tháng 01 năm 2006, về việc công bố danh mục thuốc thú y, nguyên liệu làm thuốc thú y được phép lưu hành đến ngày 31 tháng 12 năm 2006.

(Xem Công báo số 1+2 ngày 01/02/2006)

54. Thông tư số 04/2006/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2006, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 72/2004/TT-BTC ngày 15/7/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính.

(Xem Công báo số 1+2 ngày 01/02/2006)

55. Quyết định số 03/2006/QĐ-BYT ngày 16 tháng 01 năm 2006, về việc ban hành Quy định Chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của Phòng khám – Quản lý sức khỏe thuộc Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

(Xem Công báo số 1+2 ngày 01/02/2006)

56. Quyết định số 03/2006/QĐ-BNN ngày 12 tháng 01 năm 2006, về việc công bố danh mục thuốc thú y được phép lưu hành, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng tại Việt Nam.

(Xem Công báo số 3+4 ngày 01/02/2006)

57. Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng tại Việt Nam.

(Xem Công báo số 3+4 ngày 01/02/2006)

58. Quyết định số 04/2006/QĐ-BNN ngày 12 tháng 01 năm 2006, về việc công bố danh mục vắc xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y được lưu hành tại Việt Nam.

(Xem Công báo số 13+14 ngày 01/02/2006)

59. Danh mục vắc xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y được phép lưu hành tại Việt Nam.

(Xem Công báo số 13+14 ngày 01/02/2006)

BÀI VIẾT THỨ 10
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ KHÔNG NGỪNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI
TÁC GIẢ Nguyễn Phúc Thanh *
NỘI DUNG

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong những năm qua đã thu được những thành tựu đáng phấn khởi. Với tư tưởng "lấy dân làm gốc", mọi quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, Quốc hội đã tích cực đổi mới cả về tổ chức và phương thức hoạt động của mình theo hướng dân chủ, thiết thực và hiệu quả. Trong những năm qua, Quốc hội đã có những đóng góp quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới, thực hiện ngày càng tốt hơn các chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Song song với việc đẩy mạnh công tác lập pháp, thời gian qua kể từ khi Luật hoạt động giám sát của Quốc hội có hiệu lực đến nay, công tác giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước đã có sự tiến bộ rõ rệt, được dư luận xã hội và cử tri hoan nghênh. Kết quả có tính chất cơ bản chính là tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức về sự cần thiết và vai trò giám sát của Quốc hội, thấy được bản chất giám sát của Quốc hội là xây dựng và thúc đẩy phát triển. Bằng việc xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội chỉ ra những mặt mạnh cần phát huy, mặt yếu cần khắc phục, nhằm làm cho bộ máy nhà nước và cả hệ thống chính trị của chúng ta mạnh lên ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội đã từng bước đi vào nền nếp. Hằng năm, Quốc hội ra nghị quyết về chương trình hoạt động giám sát. Nội dung của nghị quyết đã tập trung vào những vấn đề lớn, trọng điểm mà cử tri quan tâm, trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện. Nhờ có chương trình và kế hoạch cụ thể, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chủ động trong việc chỉ đạo điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, giảm bớt tình trạng chồng chéo, nhiều cơ quan của Quốc hội cùng giám sát một cơ quan hoặc địa phương, gây khó khăn cho đối tượng chịu sự giám sát.

Phương thức giám sát của Quốc hội những năm qua cũng từng bước được cải tiến, chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả. Từ giám sát nặng về hình thức thăm hỏi, "cưỡi ngựa xem hoa" đã đi vào thực chất theo chuyên đề sâu như giám sát "Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ trong cả nước; kết quả khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải và chống thất thoát trong đầu tư và xây dựng cơ bản"; "Tình hình thực hiện dự án nhà máy thủy điện Sơn La và dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất"...

Tính chất giám sát tối cao thể hiện rõ hơn, Quốc hội đã tăng cường giám sát hoạt động của Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại kỳ họp. Đặc biệt, hình thức giám sát thông qua chất vấn các thành viên Chính phủ được duy trì tại cả hai kỳ họp trong năm, chất lượng từng bước được nâng lên, từ chỗ chỉ tiến hành như một sinh hoạt trong nội bộ Quốc hội nay đã được truyền hình trực tiếp để cử tri cả nước theo dõi và có điều kiện giám sát hoạt động của những người đại diện cho mình. Trong báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2003 - 2004 của Chính phủ có đoạn khẳng định: "Trong thành tích đạt được có sự đóng góp của công tác chỉ đạo, giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội".

Hoạt động giám sát đã tác động tích cực làm cho từng đại biểu Quốc hội, người đứng đầu các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nhận rõ trách nhiệm của mình trước cử tri và nhân dân cả nước.

Tuy nhiên, so với yêu cầu đề ra và đòi hỏi của cử tri và nhân dân, hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội nhìn chung còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ, thể hiện rõ tính tập trung và quyết tâm cao, chưa đầu tư đúng mức vào nhiệm vụ này. Nói cho cùng, nhận thức tư tưởng về giám sát chưa đủ "tầm". Tình trạng tư tưởng nể nang, né tránh, ngại va chạm, thiếu kiên quyết vẫn là trở ngại chính hạn chế đến chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát; tập trung đầu tư thời gian, công sức cho hoạt động giám sát còn có mức độ, nhất là việc theo dõi, đôn đốc xử lý các kiến nghị sau giám sát.

Việc tổ chức thực hiện hoạt động giám sát mới tập trung chủ yếu ở Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và một số đoàn đại biểu Quốc hội có điều kiện. Nhiều đoàn đại biểu Quốc hội và hầu hết các đại biểu Quốc hội còn lúng túng trong việc triển khai nhiệm vụ này. Đặc biệt thời gian của các đại biểu dành cho tiếp xúc cử tri chưa nhiều nên chưa nắm bắt và phản ảnh kịp thời, đầy đủ ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội.

Phạm vi và các lĩnh vực của đời sống xã hội cần được giám sát rất rộng trong khi bộ máy và lực lượng tổ chức thực hiện của Quốc hội còn mỏng; nội dung giám sát vẫn còn dàn trải, thiếu trọng tâm, đôi khi mang tính hình thức; công tác chuẩn bị chưa công phu, phương pháp và hình thức tiến hành giám sát còn dập khuôn, thiếu sáng tạo... cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát.

Việc giám sát các văn bản quy phạm pháp luật tiến hành chưa thường xuyên, chất lượng còn hạn chế. Năm 2005, lần đầu tiên Quốc hội tiến hành giám sát nội dung này tại kỳ họp đã phát hiện nhiều vấn đề tồn tại trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh cần phải được tập trung khắc phục kịp thời nhằm bảo đảm tính hợp hiến và tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Số lượng văn bản quy phạm pháp luật cần phải có để hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh mặc dù đã quá thời gian quy định nhưng vẫn chưa được ban hành còn khá lớn. Công tác tuyên truyền về hoạt động giám sát của Quốc hội còn hạn chế, chưa tạo dư luận đồng thuận, hậu thuẫn rộng rãi trong xã hội để thu hút sự tham gia của cử tri và nhân dân.

Trong thời gian tới, để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội cần chú trọng một số vấn đề cơ bản sau đây :

- Một là, tiếp tục làm chuyển biến sâu sắc nhận thức tư tưởng chung của toàn xã hội, trước hết là trong bộ máy công quyền của Nhà nước, từ đó xây dựng tư tưởng quyết tâm và tập trung đẩy mạnh hoạt động giám sát, thống nhất, coi đây là nhiệm vụ chính trị và động lực để thúc đẩy, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đồng thời, phải coi đây là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thiết lập và tăng cường mối quan hệ hài hòa giữa chủ thể giám sát và chủ thể chịu sự giám sát, sao cho hoạt động giám sát diễn ra trong không khí chân thành, cởi mở, thẳng thắn, xây dựng và cầu thị. Khắc phục quan niệm và nhận thức lệch lạc cho rằng "giám sát" là "bới móc", hoặc "chỉ nhằm đi tìm khuyết điểm để quy kết trách nhiệm". Phải thống nhất nhận thức giám sát nhằm mục đích chủ yếu là phát hiện các quy định của pháp luật hoặc chính sách đã ban hành nếu chưa phù hợp hoặc lạc hậu với thực tiễn thì điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung để từng bước hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và pháp luật.

- Hai là, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội cần bám sát thực tiễn cuộc sống, tổng hợp, nghiên cứu, đóng góp ý kiến xây dựng Chương trình giám sát hằng năm của Quốc hội thực sự đi vào những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, những vấn đề bức xúc được nhiều cử tri, nhân dân quan tâm, liên quan đến cơ chế, chính sách vĩ mô của Nhà nước; kiên quyết khắc phục tình trạng chung chung, dàn trải, hình thức, kém hiệu quả.

- Ba là, trên cơ sở nghị quyết về Chương trình giám sát hằng năm của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cụ thể hóa thành kế hoạch triển khai tổ chức thực hiện cụ thể; tự mình hoặc phân công các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát và tổng hợp kết quả báo cáo với Quốc hội. Trong toàn bộ tiến trình của một cuộc giám sát, khâu quan trọng nhất là thu thập, tổng hợp thông tin, xây dựng đề cương nội dung giám sát sao cho "trúng" những vấn đề cần được giám sát.

- Bốn là, đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội cần tập trung giám sát tình hình thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan ở trung ương, giảm bớt các đoàn giám sát đến các địa phương, cơ sở; duy trì thường xuyên việc giám sát ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên tất cả các mặt: tiến độ, nội dung, thể thức, thẩm quyền và trình tự thủ tục ban hành.

- Năm là, tiếp tục cải tiến quy trình, cách thức tiến hành giám sát, trong đó chú trọng công tác chuẩn bị phải rất công phu, chu đáo về nội dung, bố trí thời gian thỏa đáng và huy động được lực lượng cần thiết; thống nhất cơ chế xem xét, giải quyết kiến nghị qua giám sát với phương châm "đeo bám đến cùng, yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm phải trả lời đầy đủ, thỏa đáng các kiến nghị đó". Xây dựng quy trình tiến hành các hoạt động giám sát chủ yếu của Quốc hội như: chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, tổ chức đoàn giám sát chuyên đề của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội; thực hiện bỏ phiếu tín nhiệm đối với những chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; xúc tiến thành lập cơ quan kiểm toán của Quốc hội.

- Sáu là, đầu tư thích đáng đối với công tác bồi dưỡng kỹ năng hoạt động cho đại biểu Quốc hội nói riêng, đại biểu cơ quan dân cử nói chung thông qua các hình thức hội thảo, hội nghị, tập huấn, trao đổi thông tin, đi nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của nghị viện các nước...

- Bảy là, phát huy tốt sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và nhân dân; tranh thủ ý kiến các cơ quan chuyên môn, chuyên gia, cộng tác viên... Đồng thời, củng cố, kiện toàn bộ máy tham mưu, tổng hợp, phục vụ hoạt động giám sát và bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất cần thiết cho nhiệm vụ này.

Trong hoạt động của Nhà nước ta, mâu thuẫn nội tại là mâu thuẫn giữa tính tích cực, tiến thủ với sự trì trệ, bảo thủ, giữa yêu cầu lành mạnh hóa bộ máy cơ quan công quyền với các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Nếu không đấu tranh giải quyết tốt những mâu thuẫn đó thì sự phát triển của đất nước sẽ bị kìm hãm. Giám sát là một hình thức đấu tranh cần thiết cho yêu cầu này. Vì vậy, trong thời gian tới, cùng với sự nỗ lực chủ quan, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân cần tích cực phối hợp, giúp đỡ, tạo điều kiện để Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội làm tốt hơn nữa chức năng giám sát của mình, nhằm góp phần xây dựng Nhà nước ta trong sạch, vững mạnh, thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.


* Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội
BÀI VIẾT THỨ 11
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ TIẾP TỤC PHẤN ĐẤU THỰC HIỆN THẮNG LỢI
CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỦA ĐẢNG
TÁC GIẢ Phạm Quang Nghị*
NỘI DUNG

Dưới ánh sáng các Nghị quyết của Đảng, bám sát sự điều hành của Chính phủ, phát huy vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hoá, thời gian qua, ngành văn hoá - thông tin cả nước đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn thách thức, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, hướng tới hoàn thành các mục tiêu phát triển văn hoá mà Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã đề ra, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.

Bộ Văn hoá - Thông tin cùng với toàn ngành đã chủ động triển khai các hoạt động tuyên truyền, vận động, cổ vũ toàn dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, phấn đấu hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005; thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực phòng chống thiên tai, dịch bệnh, đấu tranh kiên quyết với các hiện tượng tiêu cực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, làm lành mạnh đời sống tinh thần xã hội.

Năm 2005, bên cạnh khối lượng công việc thường xuyên hết sức to lớn bao gồm 13 lĩnh vực chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước mà Bộ Văn hoá - Thông tin phải đảm nhiệm, còn có những nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong năm có nhiều ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước. Nổi bật nhất và ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hoá - tư tưởng của nhân dân trong năm 2005 là các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và của các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố. Các hoạt động kỷ niệm trong năm 2005 đã được tổ chức một cách trang trọng, thiết thực, tiết kiệm, đáp ứng các yêu cầu mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ đã đề ra.

Điều quan trọng là hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hoá - thông tin được tăng cường, các thể chế văn hoá được hoàn thiện một bước. Bộ Văn hoá - Thông tin đã ban hành theo thẩm quyền, xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội ban hành, thông qua 78 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có nhiều văn bản quy phạm có địa vị pháp lý cao, nhiều đề án, chiến lược quan trọng, như: Luật Sở hữu trí tuệ (Phần quyền tác giả và các quyền liên quan); Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010; Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, lễ tang và lễ hội; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các bộ môn nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hoá nghệ thuật… Sở Văn hoá - Thông tin các tỉnh, thành phố đã chủ động tham mưu cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xây dựng, thông qua các nghị quyết, kế hoạch, quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hoá - thông tin; ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về văn hoá - thông tin trên địa bàn. Các văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược, nghị quyết của ngành được ban hành trong năm qua đã điều chỉnh khá toàn diện các lĩnh vực hoạt động, phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ, đồng thời giúp các tỉnh, thành phố tháo gỡ vướng mắc trong công tác quản lý, tạo sự thống nhất trong nhận thức và thực thi pháp luật về văn hoá - thông tin trên phạm vi cả nước, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của ngành, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các lĩnh vực hoạt động văn hoá - thông tin phát triển.

Công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm được duy trì thường xuyên, đạt hiệu quả tốt, góp phần ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và định hướng hoạt động cho các loại hình dịch vụ văn hoá. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 17/2005/CT-TTg, về việc chấn chỉnh các hoạt động tiêu cực trong quán bar, nhà hàng ka-ra-ô-kê, vũ trường. Bộ Văn hoá - Thông tin được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, chỉ đạo các địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý, với tinh thần kiên quyết, tấn công trực diện vào loại hình dịch vụ bị lợi dụng với nhiều biến tướng phức tạp, gây bức xúc trong nhân dân. Đến nay, hoạt động này bước đầu đã đạt được những chuyển biến tích cực.

Báo chí cả nước tiếp tục phát huy vai trò to lớn trong việc giáo dục, động viên và định hướng tư tưởng cho xã hội; làm tốt vai trò xung kích trong đấu tranh, phê phán, làm thất bại âm mưu diễn biến hoà bình, chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch. Báo chí cũng đã kịp thời thông tin đầy đủ, trung thực mọi mặt của đời sống xã hội, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác, góp phần nâng cao nhận thức, giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, nêu cao lý tưởng sống cao đẹp, đặc biệt là trong giới trẻ. Hai cuốn nhật ký thấm đẫm tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, sẵn sàng hiến dâng đời mình cho lý tưởng cách mạng của hai liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thuỳ Trâm đã đem đến cho thế hệ thanh niên một tấm gương vô cùng sinh động về những con người sống có lý tưởng, có trách nhiệm với nhân dân và đất nước.

Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá dân tộc được đặc biệt chú trọng. Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại. Đến nay, nước ta đã có 7 di sản được công nhận là di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới.

Công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được đẩy mạnh, nhất là đối với vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và biên giới. Đầu tư cho xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hoá ở cơ sở được tăng cường, đặc biệt là việc xây dựng nhà văn hoá thôn, bản ở những vùng khó khăn đã trở thành phong trào thi đua ở nhiều địa phương trong cả nước.

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tiếp tục được đẩy mạnh, thực sự trở thành cuộc vận động văn hoá lớn có sức lan toả và ảnh hưởng sâu rộng, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng con người mới. Nhiều gương người tốt, việc tốt, nhiều điển hình tiên tiến đã xuất hiện, được bồi dưỡng và nhân rộng; các mô hình xã văn hoá, huyện điểm văn hoá tiêu biểu cho từng vùng phát triển mạnh. Hội nghị toàn quốc tổng kết 5 năm thực hiện Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đã giải quyết được nhiều vấn đề vướng mắc và đúc rút được những bài học kinh nghiệm hết sức bổ ích.

Các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp và các mặt công tác khác đều có bước phát triển mới với những thành tựu đáng khích lệ. Các trường đào tạo, bồi dưỡng văn hoá - nghệ thuật tiếp tục được củng cố và nâng cấp, quy mô đào tạo được mở rộng, chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao. Hoạt động văn hoá - nghệ thuật chuyên nghiệp và không chuyên đều có chuyển biến tích cực. Hoạt động điện ảnh tiếp tục được quan tâm đầu tư. Mạng lưới thư viện được củng cố và mở rộng đến tận xã, phường, một số thư viện được đầu tư xây dựng mới theo hướng hiện đại. Ý thức pháp luật về bản quyền tác giả văn học - nghệ thuật của xã hội dần được nâng lên.

Công tác xã hội hoá các hoạt động văn hoá theo Nghị quyết 90 của Chính phủ đạt được kết quả hết sức có ý nghĩa. Trong 5 năm qua, kinh phí nhân dân đóng góp xây dựng nhà văn hoá cộng đồng là 2.523 tỉ đồng, xây dựng mới 36.390 Nhà văn hoá thôn (làng, bản, ấp). Cả nước huy động được nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước để chống xuống cấp di tích gần 500 tỉ đồng. Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hoá hoạt động văn hoá đến năm 2010 được Chính phủ và Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành trong năm qua đã kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo cơ chế, chính sách cho công tác xã hội hoá các hoạt động văn hoá tiếp tục phát triển.

Hợp tác giao lưu văn hoá với các nước diễn ra hết sức sôi nổi, phong phú, mở rộng ở tất cả các địa bàn, tăng cường giới thiệu văn hoá, đất nước và con người Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới. Nhiều hoạt động gây được tiếng vang lớn như các ngày văn hoá được tổ chức ở hàng loạt nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ hoặc các sự kiện văn hoá, nghệ thuật lớn như trưng bày "Kho tàng nghệ thuật Việt Nam - Điêu khắc Chămpa" tại Pháp, Hội chợ triển lãm Aichi (Nhật Bản)…

Các thành tựu mà ngành văn hoá - thông tin cả nước đạt được trong thời gian qua khá toàn diện và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hoàn thành các chỉ tiêu phát triển văn hoá mà Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đề ra, đồng thời cũng nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu xây dựng và phát triển văn hoá theo Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX) của Đảng. Đặc biệt, các hoạt động văn hoá, văn nghệ, các hình thức sinh hoạt tư tưởng, chính trị nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, như kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng, 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 115 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đỉnh cao là lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành quần chúng nhân dịp 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đã tạo nên một cao trào sinh hoạt văn hóa - tư tưởng, hình thành bầu không khí chính trị tích cực trong đời sống xã hội, bồi đắp tinh thần yêu nước, sự tin yêu của nhân dân đối với Đảng, với sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa - thông tin nước ta đã và đang đối diện với những khó khăn, thách thức thường xuyên do điều kiện khách quan đem lại, có những khó khăn do nhân tố chủ quan không thể xem nhẹ.

Trước hết là, sự nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa chưa đầy đủ và không đồng đều trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng chưa toàn diện, chưa thường xuyên. Quan điểm phát triển kinh tế đi đôi với xây dựng, phát triển văn hóa; gắn xây dựng văn hóa với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi văn hóa là nền tảng tinh thần, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội còn bị xem nhẹ.

Công tác quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực còn thiếu chủ động, lúng túng và bộc lộ sơ hở. Một số loại hình dịch vụ văn hóa mới chưa có giải pháp quản lý, kiểm soát có hiệu quả, nhất là các dịch vụ qua mạng in-tơ-nét, game online... Hệ thống luật pháp về văn hóa - thông tin thiếu đồng bộ, thậm chí ở một số lĩnh vực vẫn chưa có điều chỉnh; một số văn bản pháp quy không còn phù hợp, hoặc kém hiệu quả, hiệu lực chưa được bổ sung, thay thế kịp thời. Bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ của ngành, nhất là ở cơ sở, còn thiếu về số lượng, yếu về nghiệp vụ, chuyên môn, tư duy bao cấp còn khá nặng và chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật của ngành còn thiếu thốn.

Đầu tư cho sáng tác các loại hình văn học - nghệ thuật còn thấp. Một số di tích lịch sử - văn hóa có giá trị bị xuống cấp chưa được tu bổ kịp thời. Nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể bị mai một, chưa có biện pháp hữu hiệu để giữ gìn, bảo tồn. Tính ứng dụng của các đề tài nghiên cứu khoa học về lĩnh vực văn hóa chưa cao. Các hoạt động văn hóa - nghệ thuật chất lượng chưa cao và ít được đổi mới. Sự chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa giữa đô thị với các vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn nhiều cách biệt. Tình trạng xa rời tôn chỉ mục đích, chạy theo lợi ích kinh tế đơn thuần của một số tờ báo chưa được khắc phục triệt để.

Sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường đã làm các mối quan hệ ở một số mặt có chiều hướng xuống cấp. Hiện tượng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội, trong đó có một số cán bộ, đảng viên chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu. Trong một bộ phận xã hội, nhất là ở lớp trẻ, tình trạng coi thường các giá trị văn hóa tốt đẹp và thuần phong mỹ tục của dân tộc còn khá nặng nề. Các tệ nạn xã hội chưa giảm.

Một số nơi, chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa chưa cao, còn có những biểu hiện phô trương, chạy theo thành tích. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội vẫn còn biểu hiện tiêu cực, hủ tục chưa bị đẩy lùi.

Một số bộ, ngành, trung ương và địa phương thực hiện Nghị quyết 35/TW của Bộ Chính trị chưa nghiêm, tổ chức các ngày kỷ niệm và lễ hội còn nặng về hình thức, phô trương, tốn kém, ít có hiệu quả.

Những tồn tại, hạn chế trên đặt ra cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong thời gian tới những nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Mục tiêu quan trọng hàng đầu đã được Dự thảo Đề cương các Văn kiện trình Đại hội lần thứ X của Đảng xác định là "Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội... Huy động các nguồn vật chất, trí tuệ và sức sáng tạo trong xã hội để đầu tư xây dựng các công trình và thiết chế văn hóa; có bước đi thích hợp cho từng loại hình, từng vùng". Trên tinh thần đó, nội dung công tác của ngành văn hóa - thông tin thời gian tới cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục triển khai Chương trình hành động của Chính phủ và của Bộ Văn hóa - Thông tin thực hiện Kết luận hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, tích cực tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng của phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng (buôn, bản, ấp, khu phố) văn hóa. Tiếp tục chỉ đạo việc xây dựng huyện điểm văn hóa, thị xã văn hóa với mô hình thích hợp cho từng vùng, miền.

Hai là, tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tập trung xây dựng và hoàn thành các văn bản quy phạm pháp luật, các quy hoạch, các đề án chuyên ngành. Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Kế hoạch của Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ Văn hoá - Thông tin; thực hiện Kết luận 162 của Bộ Chính trị về một số biện pháp tăng cường quản lý báo chí trong tình hình hiện nay; Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội…

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, nhất là ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm giảm sự chênh lệch hưởng thụ văn hoá giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bằng và thành thị. Đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả các thiết chế văn hoá theo Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hoá - thông tin cơ sở đến năm 2010. Tiến hành đồng bộ các giải pháp thực hiện Đề án Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam; Đề án Phát triển hoạt động văn hoá - thông tin vùng Tây Nguyên đến năm 2010 và các đề án, chiến lược khác.

Bốn là, chú trọng công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá, bản sắc và truyền thống dân tộc. Tổ chức ngày hội văn hoá của các dân tộc một cách thường xuyên, tôn vinh giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Năm là, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các văn nghệ sĩ sáng tạo nhiều tác phẩm văn học - nghệ thuật, công trình văn hoá có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá - thông tin, nghệ thuật chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của nhân dân.

Sáu là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ cho ngành, đặc biệt là cán bộ văn hoá người dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng đào tạo của các trường văn hoá - nghệ thuật, chú ý đào tạo các chuyên ngành nghệ thuật đỉnh cao, bồi dưỡng tài năng văn hoá nghệ thuật.

Bảy là, tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hoá hoạt động văn hoá, nhằm huy động nhiều hơn nữa các lực lượng xã hội, các nguồn vốn đầu tư cho phát triển văn hoá theo tinh thần Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ và Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hoá hoạt động văn hoá đến năm 2010 của Bộ Văn hoá - Thông tin.

Tám là, tăng cường mở rộng hợp tác giao lưu văn hoá quốc tế, chủ động đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, tranh thủ các nguồn tài trợ cho phát triển sự nghiệp văn hoá - thông tin. Tích cực chuẩn bị phục vụ Hội nghị APEC-2006 được tổ chức tại Việt Nam.

Thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, ngành văn hoá - thông tin nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển văn hoá của Đảng, tiếp tục góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


* Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin
BÀI VIẾT THỨ 12
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ NGUỒN LỰC ĐẦU TƯ BÊN NGOÀI
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
TÁC GIẢ Hồ Quang Minh *
NỘI DUNG

Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế với quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước về nguồn lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội là "nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng". Về mặt cơ cấu, ngoại lực bao gồm các nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), kiều hối, và những nguồn khác như vay tín dụng ngắn hạn, trung hạn, chứng khoán, trái phiếu... Bài viết tập trung phân tích những nguồn lực bên ngoài mang tính đầu tư vật chất gắn liền với việc chuyển giao, tiếp thu công nghệ, kỹ thuật... và đã có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

1 - Nguồn lực đầu tư bên ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua

Trong những năm qua, việc thu hút và sử dụng nguồn lực đầu tư từ bên ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đã đạt được những kết quả có ý nghĩa quan trọng.

Thứ nhất, dòng đầu tư từ nước ngoài (FDI và ODA) từ nhiều đối tác khác nhau ngày càng tăng đã bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển.

Giá trị các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Tổng nguồn vốn FDI đã đăng ký tại Việt Nam kể từ năm 1988 đến nay đạt gần 50 tỉ USD với khối lượng thực hiện đạt trên 34,5 tỉ USD, chiếm 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (giai đoạn 1996 - 2000) và 17 - 18% (giai đoạn 2001 - 2005). Về ODA, kể từ khi cộng đồng các nhà tài trợ chính thức nối lại viện trợ cho Việt Nam vào năm 1993 cho đến hết năm 2005, tổng giá trị cam kết đạt trên 32 tỉ USD, giá trị các hiệp định hiện thực hóa các cam kết đạt gần 24 tỉ USD và giải ngân thực hiện khoảng 16 tỉ USD. Mức giải ngân ODA đã đóng góp 12% cho tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1996 - 2000 và 10% - 11% giai đoạn 2001 - 2005.

Quan hệ đầu tư FDI tại Việt Nam đã được thiết lập với doanh nghiệp của trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn nhất trên thế giới cũng đã có mặt tại Việt Nam.

Thứ hai, việc thu hút và sử dụng nguồn lực từ bên ngoài trong thời gian qua góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa; là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với kinh tế khu vực và thế giới, thúc đẩy quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Quan hệ hỗ trợ phát triển ODA là cầu nối giữa Việt Nam với các nước và tổ chức quốc tế, góp phần củng cố và nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Khi chính phủ các nước phát triển và các tổ chức quốc tế đã tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cam kết mạnh mẽ ủng hộ công cuộc đổi mới thì đó là một nhân tố tích cực tác động tới giới đầu tư nước ngoài, làm họ an tâm và mạnh dạn đầu tư vào Việt Nam.

Những con số cam kết ODA, đăng ký FDI thường niên năm sau cao hơn năm trước kể cả khi kinh tế thế giới có những khó khăn, không chỉ mang ý nghĩa kinh tế đơn thuần mà còn phản ánh sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng tài trợ quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài với sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Chính vì thế, trong thời gian qua, hàng loạt hiệp định, thỏa thuận về thương mại và đầu tư song phương và đa phương đã được ký kết, trong đó quan trọng nhất là Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA), Hiệp định đầu tư Việt - Nhật, Hiệp định khu vực đầu tư ASEAN (AIA); các thỏa thuận về các chính sách thương mại gắn với đầu tư...

Đặc biệt, trong thời gian gần đây, việc đối thoại và tiếp thu những ý kiến tham vấn của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế và các nhà đầu tư nước ngoài cho các vấn đề quan trọng của quốc gia như Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2006 - 2010; góp ý các văn bản pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, đấu thầu... cũng đã góp phần khẳng định quyết tâm gắn kết kinh tế Việt Nam với kinh tế khu vực và thế giới, sự sẵn sàng và chủ động tuân thủ các tập quán và luật lệ quốc tế.

Thứ ba, các nguồn lực đầu tư từ nước ngoài đã góp phần tích cực trong cải cách kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cải thiện các dịch vụ xã hội và xóa đói giảm nghèo.

Kể từ khi quan hệ hỗ trợ phát triển được tái thiết lập, một lượng vốn ODA lớn đã được đầu tư cho hạ tầng kinh tế, trong đó ngành giao thông - vận tải được ưu tiên cao với khối lượng ODA đầu tư gần 5 tỉ USD cho các công trình có quy mô lớn. Do vậy, hầu hết các lĩnh vực thuộc giao thông vận tải từ cầu, đường, cảng biển, đường thủy... đều có bước cải thiện khá. Nhiều công trình giao thông được cải tạo góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo như quốc lộ 1, quốc lộ 5, đường xuyên Á, cảng Sài Gòn, cảng Hải Phòng... Nguồn vốn ODA được đầu tư đã từng bước cải thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là về giao thông, cảng biển, điện nước..., tạo tiền đề quan trọng trong việc thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư FDI, thúc đẩy thương mại, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo.

Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên được ban hành năm 1987 cho đến nay, đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận hữu cơ, năng động của nền kinh tế, có những đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của khu vực đầu tư nước ngoài tăng liên tục, năm 2004 đạt trên 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đóng góp của khu vực kinh tế có vốn FDI vào nền kinh tế gia tăng đáng kể, trong những năm gần đây chiếm trên 15,5% GDP. Bên cạnh đó, với sự gia tăng của vốn FDI, cơ cấu ngành của kinh tế Việt Nam cũng dần được chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ. Đến nay, khu vực kinh tế có vốn FDI chiếm gần 40% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, nhiều ngành công nghiệp mới được tạo ra, năng lực và năng suất một số ngành công nghiệp quan trọng như dầu khí, hóa chất, công nghệ thông tin, ô-tô, xe máy... được nâng cao. Đầu tư FDI trong lĩnh vực dịch vụ cũng đã kích thích ngành dịch vụ phát triển nhanh, đặc biệt là trong lĩnh vực viễn thông, du lịch, kinh doanh khách sạn, nhà hàng...

Thứ tư, đầu tư từ bên ngoài đã có đóng góp đáng kể để tiếp nhận khoa học - công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao khả năng cạnh tranh và thay đổi phương thức kinh doanh.

Bên cạnh những dự án đầu tư trực tiếp tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác nghiên cứu khoa học (thành lập trường đại học, xây phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu...), thông qua các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA, FDI, các công nghệ mới, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý tiên tiến đã được chuyển giao. Thông qua các dự án đầu tư bằng vốn nước ngoài, nguồn nhân lực ở các cấp từ lao động lành nghề đến các kỹ sư, các nhà quản lý... cũng đã được nâng cao, đào tạo toàn diện hơn, thích nghi với môi trường làm việc quốc tế năng động và nhiều cạnh tranh.

Đồng thời, thông qua các dự án vốn nước ngoài, các nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên đã có điều kiện phân bổ hợp lý hơn. Khu vực đầu tư nước ngoài cũng đã tạo sức ép cải cách của khu vực hành chính nhà nước cũng như khu vực doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện làm quen với các phương thức làm ăn kinh doanh hiện đại.

2 - Nguồn lực đầu tư bên ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới

Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương, khóa IX đã đặt ra mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2006 - 2010 là: Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được chuyển biến quan trọng về nâng cao tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân. Tạo được nền tảng để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Nhằm đạt được mục tiêu trên, dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010 đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 7,5% - 8%/năm trong toàn thời kỳ. Để đạt mục tiêu này, tổng đầu tư toàn xã hội phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2006 - 2010 ước tính khoảng 2.200 nghìn tỉ đồng, tương đương 139,4 tỉ USD, bằng khoảng 40% GDP. Nguồn vốn đầu tư này được huy động từ nhiều nguồn khác nhau: từ ngân sách nhà nước, khu vực tư nhân trong và ngoài nước, từ nguồn vốn ODA và nhiều nguồn khác với vốn nước ngoài khoảng 48,8 tỉ USD, chiếm khoảng 35% tổng đầu tư. Cơ cấu vốn nước ngoài dự kiến bao gồm 18 - 19 tỉ USD vốn FDI thực hiện, 11 - 12 tỉ USD vốn ODA giải ngân, phần còn lại là các nguồn vốn bên ngoài khác (vay tín dụng ngắn hạn, trung hạn, chứng khoán,...) dự kiến khoảng 9 tỉ USD và vốn đầu tư từ nguồn kiều hối là 12 tỉ USD.

Giai đoạn 2006 - 2010 là 5 năm cuối thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010) với những thuận lợi và cả những khó khăn nhất định. Trước hết, sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước đã tạo nền tảng vững chắc thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ cho phát triển. Vị thế và năng lực của Việt Nam trên trường quốc tế đã có những biến chuyển theo hướng tích cực, hệ thống các thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã được hình thành, hệ thống cơ chế và chính sách đã tương đối hoàn chỉnh. Xu hướng chung kinh tế thế giới được dự báo tiếp tục phục hồi và phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu và các quốc gia đối tác chính của nước ta trong thời kỳ tới tăng khá hơn so với giai đoạn trước, nguồn vốn đầu tư quốc tế trực tiếp và gián tiếp có xu hướng gia tăng... Tuy nhiên, những yếu tố không thuận vẫn đặt ra những thách thức nhất định như tình hình chính trị thế giới còn diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh gay gắt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong thu hút vốn, công nghệ và thị trường xuất khẩu... trong khi ở trong nước, nhiều yếu tố của kinh tế thị trường vẫn chưa thực sự đồng bộ, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp...

Do vậy, để đạt được mục tiêu kế hoạch huy động nguồn lực bên ngoài nêu trên cả về chất và lượng, công tác thu hút và sử dụng vốn đầu tư từ bên ngoài trong giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo cần quán triệt những quan điểm chủ đạo sau:

- Bảo đảm tính chủ động và tự chủ quốc gia trong suốt quá trình thu hút và sử dụng ODA và FDI, từ khâu nghiên cứu định hướng chính sách cho đến quá trình tổ chức thực hiện.

- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, bảo đảm khả năng trả nợ và tránh những rủi ro của đầu tư nước ngoài như đã từng xảy ra trong thời kỳ khủng hoảng tài chính châu á ở các quốc gia khác.

- Lựa chọn nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài (ODA, FDI) một cách phù hợp trong sự kết hợp với các nguồn đầu tư phát triển khác để đáp ứng các yêu cầu phát triển ưu tiên theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước, bộ, ngành và địa phương.

- Các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài cần thiết được sử dụng để hỗ trợ cho nhau, bổ sung và là nguồn lực xúc tác đối với tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và tiến bộ xã hội.

Đồng thời, trong thời gian tới, để bảo đảm sử dụng nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, cần thực hiện việc thu hút và sử dụng nguồn lực bên ngoài theo những phương hướng chủ yếu sau:

- Tập trung nguồn đầu tư từ bên ngoài, đặc biệt là ODA, trước hết cho việc hoàn thiện và phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại, ưu tiên các dự án quốc gia, liên vùng, liên ngành có tác động mạnh và hiệu suất lan tỏa cao đối với tăng trưởng, phát triển cho giai đoạn hiện tại, tạo gối đầu và các tiền đề bền vững cho giai đoạn sau năm 2010. Đối với nguồn vốn FDI, khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực thúc đẩy chuyển giao công nghệ cao, công nghệ nguồn như năng lượng mới, vật liệu mới; các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, gia tăng xuất khẩu, tạo việc làm trong các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, phục vụ tiêu dùng trong nước; mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo cam kết quốc tế, khuyến khích các ngành dịch vụ ngân hàng, tài chính, bưu chính - viễn thông...

- Khuyến khích đầu tư và có cơ chế nhằm thu hút nguồn vốn bên ngoài vào các địa phương nghèo có nhiều khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, có tính đến trình độ phát triển, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, tiềm năng và lợi thế của từng vùng, từng địa phương.

- Ưu tiên các dự án sử dụng vốn nước ngoài trong phát triển năng lực và phát triển thể chế. Chú trọng phát triển năng lực phân tích và hoạch định chính sách, năng lực tổ chức, quản lý, điều hành của bộ máy quản lý các cấp, cả ở khu vực công lẫn khu vực tư. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của hội nhập kinh tế và phát triển.

3 - Nâng cao hơn nữa chất lượng sử dụng nguồn lực đầu tư bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài trong thời gian qua còn có những hạn chế nhất định như: những định hướng tổng thể làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, chính sách và những giải pháp mang tính trung hạn đối với việc thu hút và sử dụng nguồn vốn bên ngoài còn thiếu; nguồn cam kết ODA và đăng ký FDI tăng hằng năm nhưng vẫn còn ở mức chưa cao, tỷ lệ thực hiện còn thấp; khả năng góp vốn từ phía Việt Nam vào các dự án đầu tư bằng vốn nước ngoài còn những hạn chế nhất định; cơ cấu vốn đầu tư theo vùng, ngành còn có những bất cập; hệ thống văn bản pháp luật, pháp quy liên quan đến quản lý vốn nước ngoài chưa thực sự hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ; năng lực con người tham gia quản lý và thực hiện các dự án đầu tư vốn nước ngoài ở các cấp, các ngành chưa đạt yêu cầu...

Do vậy, để đạt được những mục tiêu định hướng về thu hút và sử dụng nguồn vốn nước ngoài, trước hết cần tiến hành thực hiện những giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong thời gian qua. Bên cạnh đó, cần tiến hành những giải pháp nhằm có được cam kết nguồn vốn đầu tư lớn từ bên ngoài, đồng thời phải bảo đảm tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả những nguồn vốn quan trọng này. Cụ thể như sau:

Một là, nhóm giải pháp về chính sách chung: Các nhà tài trợ cũng như các nhà đầu tư nước ngoài đều tin tưởng vào chính sách cải cách kinh tế rộng mở của Việt Nam, tuy nhiên chắc khó đáp ứng được nhu cầu về nguồn vốn đầu tư quốc tế đang tăng lên mạnh mẽ ở khắp các châu lục. Trong bối cảnh đó, công tác thu hút ODA và FDI có ý nghĩa quan trọng. Nhằm đạt được hiệu quả công tác này, cần tiếp tục triển khai các chính sách chung sau đây:

- Tiếp tục thực hiện cả bề rộng lẫn chiều sâu công cuộc đổi mới, đặc biệt là trong những lĩnh vực mà cộng đồng tài trợ quốc tế và các nhà đầu tư nước ngoài coi là tiền đề đầu tư như kinh tế tăng trưởng đi kèm với an sinh xã hội và môi trường; giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách về thu nhập và xã hội; hoàn thiện môi trường đầu tư, tạo ra sân chơi bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế; quản lý tài chính công một cách minh bạch, có trách nhiệm giải trình chính sách và giải pháp để giảm nhẹ những thương tổn có thể có trước những tác động từ bên ngoài trong quá trình hội nhập, trong đó có việc Việt Nam gia nhập WTO; chống nạn tham nhũng...

- Cải tiến công tác vận động nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài theo hướng đối thoại trực tiếp, đi vào thực chất hơn nữa. Cụ thể, đối với Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam cần phải được tăng cường thảo luận những vấn đề các bên cùng quan tâm, tạo cơ hội để cộng đồng quốc tế hiểu rõ quan điểm phát triển của Việt Nam. Về nguồn vốn FDI, cần chủ động cải tiến phương thức và tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, xây dựng các đầu mối xúc tiến và lập các đại diện tại nước ngoài... một cách đồng bộ và thống nhất.

- Tăng cường vận động nguồn vốn đầu tư bên ngoài ở cấp địa phương, cấp vùng, nhất là đối với các vùng kinh tế trọng điểm nhằm cung cấp cho các nhà tài trợ và các nhà đầu tư cách nhìn tổng hợp hơn và tạo điều kiện để phối hợp tốt hơn các nguồn lực.

Hai là, nhóm những giải pháp cụ thể cải thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn gồm những giải pháp để cải thiện và tạo bước đột phá trong các khâu liên quan đến toàn bộ chu trình tiến hành một dự án đầu tư. Cụ thể:

- Kiện toàn môi trường pháp lý về quản lý thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. Thay đổi phương thức quản lý và sử dụng ODA theo hướng quản lý chặt chẽ đầu vào; mở rộng quyền hạn và nâng cao trách nhiệm cho các cơ quan thực hiện song song với tăng cường công tác hậu kiểm; đồng bộ hóa văn bản pháp quy về ODA với các văn bản pháp quy chi phối như về quản lý đầu tư công; quản lý đầu tư xây dựng công trình, đền bù di dân, giải phóng mặt bằng và tái định cư, đấu thầu... Đối với nguồn vốn FDI, cần nhanh chóng tổ chức triển khai thực hiện tốt các Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp vừa được Quốc hội thông qua cuối năm 2005 một cách đồng bộ, thuận lợi cho các nhà đầu tư hiện hữu chuyển sang hoạt động theo luật mới.

- Nâng cao tính tự chủ và chất lượng chuẩn bị nội dung các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. Ngoài việc căn cứ vào các quy hoạch ngành, lãnh thổ để lựa chọn dự án nhằm bảo đảm tính pháp lý, cần khai thác lợi thế tại chỗ, bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội cũng như phù hợp với mối quan tâm của các nhà tài trợ, đầu tư. Danh mục các dự án vận động ODA, vận động FDI cần thống nhất, minh bạch, rõ ràng, có thể dự đoán trước những điều kiện đầu tư.

- Cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với tăng cường theo dõi và giám sát hoạt động quản lý nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài; mở rộng phân cấp vận động, thu hút và phê duyệt dự án đầu tư cho các địa phương gắn liền với loại bỏ sự cạnh tranh không minh bạch về ưu đãi thuế, giá đất giữa các địa phương. Ban hành chế độ theo dõi, giám sát và đánh giá các dự án đầu tư bằng vốn nước ngoài, đặc biệt là nguồn vốn ODA.

- Cải tiến cách quản lý các dự án đầu tư bằng vốn nước ngoài theo hướng dựa vào kết quả cuối cùng mà dự án đó mang lại chứ không chỉ là đạt được những mục tiêu mà dự án đề ra. Công tác quản lý chủ yếu tập trung vào công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, giảm dần sự tham gia trực tiếp vào các vấn đề cụ thể, trong đó nhiệm vụ hậu kiểm cần được tăng cường.

- Hoàn thiện và đồng bộ hóa hơn nữa chính sách tài chính trong nước đối với các dự án ODA, các doanh nghiệp FDI, trước hết là về chính sách thuế, ưu đãi thuế, chuyển nhượng vốn góp...

Ba là, nhóm các giải pháp tăng cường tổ chức và nâng cao năng lực con người cho công tác quản lý và sử dụng vốn nước ngoài, bao gồm:

- Kiện toàn và thống nhất quản lý nhà nước về FDI, ODA ở các địa phương về một đầu mối, tạo cơ chế một cửa trong quản lý, tránh sự chồng chéo và trùng lặp về quản lý gây khó khăn cho các dự án ODA và các doanh nghiệp FDI trong quá trình triển khai.

- Duy trì hoạt động của các đường dây nóng, các tổ công tác về FDI, ODA nhằm hỗ trợ kịp thời cho các chủ dự án ODA, doanh nghiệp FDI trong quá trình triển khai thực hiện.

- Coi trọng và tăng cường hơn nữa công tác đào tạo ở các cấp, các ngành nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các tổ chức kinh tế nói chung, các dự án ODA và doanh nghiệp FDI nói riêng.

- Chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ tham gia các dự án ODA, đại diện vốn góp của Việt Nam (nhất là của doanh nghiệp nhà nước) trong các doanh nghiệp FDI. Xem xét và ban hành chế độ lương và phụ cấp, bảo đảm tuyển dụng được cán bộ có năng lực làm việc cho các ban quản lý dự án phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường.

Bốn là, nhóm các giải pháp liên quan đến tuyên truyền, quảng bá cho hình ảnh của Việt Nam như điểm đến tích cực của đầu tư từ bên ngoài gồm có:

- Các cơ quan chính phủ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và xác thực thông tin về đầu tư từ bên ngoài vào Việt Nam cho các phương tiện thông tin đại chúng, góp phần hướng dẫn công luận về nguồn lực này.

- Xây dựng, duy trì và làm phong phú và sinh động các website về vốn đầu tư từ nước ngoài phục vụ đắc lực cho việc thu hút và sử dụng ODA, FDI đối với các cơ quan, địa phương, doanh nghiệp. Biên soạn các tài liệu giới thiệu về đầu tư nước ngoài, phát hành rộng rãi tờ rơi giới thiệu về các cơ quan quản lý đầu tư FDI, điều phối ODA. Cập nhật thường xuyên các chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến quản lý và sử dụng ODA, FDI.

- Tăng cường thông tin tuyên truyền ra nước ngoài về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhất là các dự án có hiệu quả cao về hỗ trợ phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội, xóa đói, giảm nghèo... để tranh thủ sự ủng hộ của những người dân đóng thuế để cung cấp ODA ở các nước tài trợ, sự quan tâm của các doanh nghiệp nước ngoài.

- Bên cạnh việc sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cần tranh thủ hỗ trợ tài chính của các tổ chức quốc tế để tiến hành các hoạt động xúc tiến đầu tư ở nước ngoài.

Tóm lại, trong suốt 20 năm đổi mới, nguồn lực đầu tư bên ngoài, trước hết là ODA và FDI, đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong thời gian tới, trước yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những yêu cầu đặt ra đối với nguồn lực bên ngoài quan trọng này còn cao hơn nữa, không chỉ về mặt số lượng mà cả chất lượng. Do vậy, việc tiến hành những giải pháp nhằm cải thiện công tác vận động và sử dụng nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài là thực sự cần thiết. Việc thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần hoàn thành tốt việc huy động nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, bảo đảm thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước.


* Vụ trưởng Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
BÀI VIẾT THỨ 13
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
TRONG CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
TÁC GIẢ Tô Ánh Dương*
NỘI DUNG

Hội nhập kinh tế là một hướng đi đúng đắn và quan trọng làm tiền đề cho việc tạo dựng vị thế của nước ta trên trường quốc tế, đồng thời mang lại nhiều cơ hội để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế. Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt Việt Nam trước những thách thức lớn, nhất là trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.

I. Những cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế thành công sẽ đem lại cho Việt Nam khá nhiều cơ hội như mở rộng thị trường, tận dụng được những kinh nghiệm về quản lý, tiết kiệm thời gian và nhân lực trên cơ sở kế thừa thành tựu khoa học của các nước đi trước, tăng khả năng thu hút đầu tư và sự chuyển giao kỹ thuật công nghệ, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối với ngành ngân hàng tài chính, hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, tăng cường khả năng và tư duy xây dựng văn bản pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện cam kết với các tổ chức quốc tế.

Hội nhập quốc tế mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các ngân hàng thương mại trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, đề ra biện pháp tăng cường giám sát và phòng ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong các giao dịch tài chính quốc tế. Đồng thời, các ngân hàng Việt Nam có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và đào tạo đội ngũ cán bộ, phát huy lợi thế so sánh của mình để theo kịp yêu cầu cạnh tranh quốc tế và mở rộng thị trường ra nước ngoài.

Hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể là sự tham gia tích cực hơn của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam buộc các ngân hàng thương mại Việt Nam phải chuyên môn hóa sâu hơn các nghiệp vụ ngân hàng, quản trị ngân hàng, quản trị tài sản nợ, tài sản có, quản trị rủi ro, cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, dịch vụ ngân hàng và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới mà các ngân hàng nước ngoài dự kiến sẽ áp dụng tại Việt Nam. Hơn nữa, việc mở cửa thị trường cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam cũng sẽ là một cơ hội tốt để các ngân hàng mở rộng kinh doanh. Các ngân hàng Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội kinh doanh hơn, có nhiều khách hàng hơn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra khá nhiều thuận lợi và cơ hội cho các ngân hàng Việt Nam phát triển thành một hệ thống ngân hàng hoạt động năng động, an toàn, hiệu quả và phù hợp với các thông lệ quốc tế.

II. Những thách thức đối với ngân hàng Việt Nam

1. Về năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong những năm qua, mặc dù ngành ngân hàng đã có nhiều đổi mới song đến nay hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn ở giai đoạn phát triển ban đầu, năng lực tài chính của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam còn yếu, nợ quá hạn cao, còn nhiều rủi ro. Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (5 ngân hàng) tuy chiếm gần 76% tổng nguồn vốn huy động và 80% thị phần tín dụng, nhưng chỉ có tổng số vốn tự có chưa tới 1 tỉ USD, đạt tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có chưa tới 5% (thông lệ tối thiểu là 8%). Khối ngân hàng thương mại cổ phần với 36 ngân hàng chỉ chiếm 11% tổng nguồn vốn huy động và 10% thị phần tín dụng. Trong khi đó, nhóm chi nhánh các ngân hàng nước ngoài và liên doanh (30 ngân hàng) có tiềm lực khá mạnh với khoảng 30% vốn chủ sở hữu trong hệ thống ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam. Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và liên doanh bắt đầu cho vay thận trọng hơn nên chỉ chiếm khoảng 10% thị phần tín dụng, và thị phần huy động mới khoảng 10,2%, nhưng nhìn chung họ có ưu thế hơn các ngân hàng thương mại Việt Nam về công nghệ, loại hình dịch vụ, chiến lược khách hàng, hiệu quả hoạt động và chất lượng tài sản.

Hơn nữa, hiện nay dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn đơn điệu, nghèo nàn, tính tiện lợi chưa cao, chưa tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho khách hàng thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng. Tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu tạo thu nhập cho các ngân hàng; các nghiệp vụ mới như thanh toán dịch vụ qua ngân hàng, môi giới kinh doanh, tư vấn dự án chưa phát triển. Bên cạnh đó, phần lớn các ngân hàng thương mại thiếu chiến lược kinh doanh hiệu quả và bền vững. Hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ còn yếu, thiếu tính độc lập; hệ thống thông tin báo cáo tài chính, kế toán và thông tin quản lý (MIS) còn chưa đạt tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Đội ngũ lao động của các ngân hàng thương mại Việt Nam khá đông nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng các yêu cầu trong quá trình hội nhập. Không có hệ thống khuyến khích hợp lý để thu hút nhân tài và áp dụng công nghệ hiện đại. Cơ cấu tổ chức trong nội bộ nhiều ngân hàng thương mại lạc hậu, không phù hợp với các chuẩn mực quản lý hiện đại đã được áp dụng phổ biến từ nhiều năm nay ở các nước.

Tuy nhiên, các ngân hàng Việt Nam có ưu thế so với các ngân hàng nước ngoài là có mạng lưới chi nhánh rộng khắp các tỉnh thành trong cả nước, có mối quan hệ truyền thống với khách hàng qua nhiều năm, và điều chủ yếu là có sự hiểu biết một cách cụ thể các yêu cầu của khách hàng, khả năng khách hàng và những vấn đề về văn hóa, tập tục mà ngân hàng nước ngoài không thể có được trong quan hệ với khách hàng bản địa. Ngoài ra, hiện nay các ngân hàng thương mại Việt Nam đang tích cực triển khai đề án tái cơ cấu lại đã được Chính phủ phê duyệt, có sự hỗ trợ rất tích cực của các tổ chức quốc tế như WB, IMF, ADB và chính phủ các nước. Nếu thực hiện thành công chương trình tái cơ cấu ngân hàng thương mại như tiến độ đã được Chính phủ phê chuẩn thì năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại sẽ được cải thiện đáng kể, một số ngân hàng thương mại sẽ đạt được thứ hạng cao trong khu vực.

2. Về xu thế cạnh tranh giữa các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng thương mại Việt Nam

Hiện nay, xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra rất mạnh trên phạm vi toàn thế giới đặt ra những thách thức lớn cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam không chỉ trong việc hướng các hoạt động của mình ra thị trường bên ngoài mà còn phải tự cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam.

Thứ nhất, về thị trường tín dụng (kể cả bán sỉ và bán lẻ), cạnh tranh về cho vay sẽ trở nên gay gắt khi các ngân hàng nước ngoài đã hiểu rõ thị trường Việt Nam và môi trường pháp lý đảm bảo cho họ xử lý rủi ro để thu hồi nợ trong trường hợp cần thiết.

Thứ hai, giao dịch thanh toán và chuyển tiền, là lĩnh vực có ưu thế của các ngân hàng nước ngoài cả về loại hình và chất lượng dịch vụ. Sau khi tạo dựng uy tín tại Việt Nam, các ngân hàng này sẽ thu hút một khối lượng đáng kể các khách hàng Việt Nam.

Thứ ba, dịch vụ tư vấn, môi giới, phát triển doanh nghiệp, là lĩnh vực hoạt động thu hút sự quan tâm của khách hàng Việt Nam, đặc biệt là dịch vụ liên quan đến chiến lược hoạt động của doanh nghiệp.

Ngoài ra, trong quá trình đàm phán, các ngân hàng nước ngoài thường quan tâm và gây sức ép nhằm mở rộng mạng lưới hoạt động tại Việt Nam dưới mọi hình thức, nhất là ngân hàng bán lẻ và ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

3. Thách thức trực tiếp đối với ngân hàng

Trên cơ sở phân tích năng lực và xu thế cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, có thể thấy rõ hơn những thách thức đối với ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ nhất, việc phải loại bỏ dần các hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài có nghĩa là các ngân hàng nước ngoài sẽ từng bước tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến cũng như nguồn tài chính dồi dào của các ngân hàng nước ngoài sẽ là những ưu thế cơ bản tạo ra những sức ép cạnh tranh trong ngành ngân hàng và buộc các ngân hàng Việt Nam phải tăng thêm vốn và đầu tư kỹ thuật, cải tiến phương thức quản trị và hiện đại hóa hệ thống thanh toán để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh.

Thứ hai, khả năng tài chính, trình độ quản lý và trình độ công nghệ của các ngân hàng Việt Nam còn thấp, các dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, tiện lợi, hấp dẫn, nên trong giai đoạn đầu, thách thức về cạnh tranh đối với các ngân hàng Việt Nam là đáng kể, đặc biệt đối với các ngân hàng có những phạm vi hoạt động kinh doanh trùng với lĩnh vực hoạt động có ưu thế của các ngân hàng nước ngoài như: thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, đầu tư dự án, và các khách hàng trọng tâm như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp xuất khẩu lớn.

Thứ ba, một số loại hình nghiệp vụ ngân hàng mới chưa được thực hiện tại Việt Nam hoặc chưa có quy định điều chỉnh, nhưng đã được cam kết tại Hiệp định cho phép các ngân hàng nước ngoài được thực hiện, sẽ buộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải được khẩn trương nghiên cứu và sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các nghiệp vụ mới. Đây là những lĩnh vực mà ngân hàng nước ngoài sẽ có ưu thế hơn hẳn các ngân hàng Việt Nam.

Thứ tư, vai trò của nhóm ngân hàng nước ngoài ngày càng tăng nhờ sức mạnh về vốn, công nghệ, quy mô hoạt động toàn cầu và dịch vụ đa dạng. Trong quá trình hội nhập, lợi thế tiềm tàng sẽ thuộc vào nhóm ngân hàng nước ngoài và sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng lớn đối với các ngân hàng thương mại trong nước, không loại trừ các ngân hàng thương mại nhà nước.

Thứ năm, trong quá trình hội nhập, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng chịu tác động mạnh của thị trường tài chính thế giới, nhất là về tỷ giá, lãi suất, dự trữ ngoại tệ, trong khi phải thực hiện đồng thời nhiều nghĩa vụ và cam kết quốc tế. Cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn khi các ngân hàng nước ngoài ngày càng mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động trên thị trường Việt Nam, mặc dù về lâu dài các ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam vẫn chiếm lĩnh thị trường tài chính trong nước. Các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ gặp khó khăn rất lớn do đồng thời phải hướng các hoạt động ra thị trường bên ngoài và cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam mới chỉ đề cập đến một vài nội dung của chính sách cạnh tranh, chưa có chính sách thống nhất để quản lý có hiệu quả hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và hầu như chưa chú ý đến việc nghiên cứu xây dựng chính sách nhà nước đối với cạnh tranh ngân hàng.

Thứ sáu, các ngân hàng Việt Nam đầu tư tập trung quá nhiều vào doanh nghiệp nhà nước mà phần lớn các doanh nghiệp này đều có thứ bậc xếp hạng tài chính thấp thuộc các ngành có khả năng cạnh tranh yếu. Đây là nguy cơ tiềm tàng rất lớn đối với các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng thương mại quốc doanh nói riêng.

Thứ bảy, hội nhập quốc tế làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro của hệ thống ngân hàng, trong khi đó cơ chế quản lý và hệ thống thông tin giám sát ngân hàng còn rất sơ khai, không phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa có hiệu quả và hiệu lực để bảo đảm việc tuân thủ nghiêm pháp luật về ngân hàng và sự an toàn của hệ thống ngân hàng, nhất là trong việc ngăn chặn và cảnh báo sớm các rủi ro của hoạt động ngân hàng.

Ngoài ra, các ngân hàng Việt Nam còn gặp một số khó khăn khác về pháp lý, hệ thống pháp luật trong nước, thể chế thị trường còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ và nhất quán, còn nhiều bất cập so với yêu cầu hội nhập quốc tế về ngân hàng. Vì vậy có hạn chế nhất định đối với sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và phát triển thị trường tiền tệ.

3. Những giải pháp cơ bản đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam trong cạnh tranh và hội nhập quốc tế

Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, Việt Nam cần phải xây dựng một hệ thống ngân hàng có uy tín, có khả năng cạnh tranh, hoạt động có hiệu quả, an toàn, có khả năng huy động tốt hơn các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Trước hết, tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp nhằm tạo hành lang pháp lý có hiệu lực, đảm bảo sự bình đẳng, an toàn cho mọi tổ chức hoạt động dịch vụ ngân hàng và tài chính trên lãnh thổ Việt Nam, gây sức ép phải đổi mới và tăng hiệu quả hoạt động lên các ngân hàng thương mại Việt Nam như nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, có khả năng tự bảo vệ trước cạnh tranh quốc tế trong quá trình hội nhập.

Thứ hai, mở cửa thị trường trong nước trên cơ sở xóa bỏ dần các giới hạn về số lượng, loại hình tổ chức, phạm vi hoạt động, tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài, tổng giao dịch nghiệp vụ ngân hàng, mức huy động vốn VND, các loại hình dịch vụ, bảo đảm quyền kinh doanh của các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài theo các cam kết song phương và đa phương.

Thứ ba, từng bước đổi mới cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức năng của hệ thống ngân hàng nhà nước nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả điều hành vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước, nhất là trong việc thiết lập, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và trong việc quản lý, giám sát hoạt động của các trung gian tài chính.

Thứ tư, thực hiện tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng theo các đề án đã được Chính phủ phê duyệt và phù hợp với các cam kết với các tổ chức tài chính quốc tế nhằm tạo ra các ngân hàng có quy mô lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả, và có đủ sức cạnh tranh.

Về cơ cấu lại tổ chức: tách hoàn toàn các hoạt động cho vay theo chính sách ra khỏi hoạt động kinh doanh thương mại của các ngân hàng thương mại để các ngân hàng thực hiện tốt chức năng kinh doanh theo nguyên tắc thị trường.

Về cơ cấu lại tài chính: tăng vốn điều lệ và xử lý dứt điểm nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại nhằm lành mạnh hóa tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh và chống chịu rủi ro. Đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, cần áp dụng các biện pháp thực tế như phát hành cổ phiếu ở mức cần thiết để bổ sung vốn điều lệ nhằm đạt ược tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, xử lý hết nợ tồn đọng, lành mạnh và minh bạch tài chính. Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần, cần tăng vốn điều lệ thông qua sáp nhập, hợp nhất, phát hành bổ sung cổ phiếu; đối với những ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động quá yếu kém, không thể tăng vốn điều lệ và không khắc phục được những yếu kém về tài chính thì có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động.

Từng ngân hàng thương mại phải xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh mới, nhất là chú trọng việc mở rộng quy mô hoạt động, hiện đại hóa công nghệ, hoạt động Ma-ket-ting, đa dạng hóa và nâng cao tiện ích các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ kỹ thuật tiên tiến; cải cách bộ máy quản lý và điều hành theo tư duy kinh doanh mới; xây dựng, chuẩn hóa và văn bản hóa toàn bộ các quy trình nghiệp vụ của các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại, thực hiện cải cách hành chính doanh nghiệp; xác định trách nhiệm rõ ràng, tuân thủ triệt để các quy trình và văn bản đã được xây dựng.

Bên cạnh đó, cần giảm dần bảo hộ các ngân hàng thương mại trong nước, đặc biệt về hoạt động tín dụng và cơ chế tái cấp vốn, tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của ngân hàng thương mại trong kinh doanh, giảm dần bao cấp đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, áp dụng đầy đủ hơn các quy chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng. Tuy nhiên, điều quan trọng là việc cải cách ngân hàng phải phối hợp đồng bộ với cải cách doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhà nước, trong đó trọng tâm là gắn xử lý nợ của hệ thống ngân hàng với xử lý nợ của doanh nghiệp nhà nước.

Thứ năm, xây dựng các quy chế quản lý và hoạt động phù hợp với chuẩn mực quốc tế như quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ tài sản có, quản trị vốn, kiểm tra, kiểm toán nội bộ; xây dựng quy trình tín dụng hiện đại và Sổ tay tín dụng theo chuẩn mực quốc tế; xây dựng hệ thống kế toán và thiết lập các chỉ tiêu, báo cáo tài chính phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế; xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả kinh doanh ngân hàng phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam.

Thứ sáu, xây dựng chiến lược phát triển công nghệ ngân hàng, nhất là hệ thống thông tin quản lý (MIS) cho toàn bộ hệ thống ngân hàng phục vụ công tác điều hành kinh doanh, kiểm soát hoạt động ngân hàng, quản lý nguồn vốn, tài sản, quản lý rủi ro, quản lý công nợ và công tác kế toán, hệ thống thanh toán liên ngân hàng (PIS), hệ thống giao dịch điện tử và giám sát từ xa.

Thứ bảy, xây dựng kế hoạch chuyển đổi tự do VND, thực hiện thanh toán bằng VND trên lãnh thổ Việt Nam, tạo lập môi trường kinh doanh tiền tệ và cung ứng dịch vụ ngân hàng theo cơ chế thị trường.

Thứ tám, nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên ngân hàng, đào tạo và đạo tạo lại cán bộ thực hiện tốt các nghiệp vụ của ngân hàng hiện đại; tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế, nhất là những cán bộ trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng quốc tế, cán bộ thanh tra giám sát và cán bộ chuyên trách làm công tác pháp luật quốc tế, cán bộ sử dụng và vận hành công nghệ mới.

Cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế, tích cực tham gia các chương trình và thể chế hợp tác, giám sát, trao đổi thông tin với các khối liên kết kinh tế khu vực và quốc tế, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của các tổ chức tài chính quốc tế, phát triển mối quan hệ hợp tác song phương trong đó có việc triển khai thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, chú trọng công tác hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực trong các tổ chức kinh tế đa phương như ASEAN, APEC, WTO.


* TS, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
BÀI VIẾT THỨ 14
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
TÁC GIẢ Doãn Đình Huề
NỘI DUNG

I- Thực trạng phát triển thương mại dịch vụ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

Trong gần 20 năm đổi mới, thương mại dịch vụ ở nước ta phát triển nhanh hơn so với những năm trước đó. Ở những nơi kinh tế hàng hóa phát triển có nhiều hình thức dịch vụ ra đời đa dạng mang các sắc thái riêng biệt. Điều đáng chú ý là, Bộ Thương mại đã quán triệt thực hiện tốt chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, nhận thức rõ được vai trò của ngành thương mại trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới.

Bởi vậy, ngành thương mại đã phát triển cả về quy mô và tốc độ. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa ngày càng tăng: năm 1986 chỉ đạt 333,9 tỉ đồng, năm 1996 đạt 145.874 tỉ đồng, đến năm 2004 đạt 372.477 tỉ đồng và năm 2005 ước đạt 450.000 tỉ đồng. Mức bán lẻ bình quân đầu người một năm cũng tăng đáng kể, năm 1986 chỉ đạt 5.464 đồng, năm 1996 đạt 2 triệu đồng, năm 2004 đạt 4,5 triệu đồng và năm 2005 ước đạt 5,2 triệu đồng. Tổng mức lưu chuyển ngoại thương tăng nhanh, năm 2004 đạt 58,5 tỉ USD gấp 20 lần năm 1986; trong đó, xuất khẩu đạt 26,5 tỉ USD gấp gần 33,6 lần, nhập khẩu đạt 31,9 tỉ USD gấp 14,8 lần. Nếu như năm 1986 xuất khẩu bình quân đầu người chỉ đạt 12,9 USD thì năm 2000 đạt 184,2 USD, năm 2004 lên 323 USD( gấp 25 lần năm 1986), năm 2005 ước đạt 450 USD. Năm 1986, nước ta mới có quan hệ buôn bán với các nước xã hội chủ nghĩa ( khu vực 1); năm 1985, đã mở rộng ra 100 nước và vùng lãnh thổ; năm 2005 là trên 200 nước. Đối với hoạt động nội thương, ở nhiều nơi kể cả miền núi, việc mua bán hàng theo địa chỉ đã xuất hiện khiến cho chi phí vận chuyển hàng hóa giảm thấp, chữ tín trong kinh doanh dần dần được thiết lập, bền vững. Chẳng hạn, mua sản phẩm na dai ở Chi Lăng (Lạng Sơn), người mua ở Hà Nội chỉ cần điện thoại, chủ bán sẽ đóng gói hộp xốp gửi lái xe giao hàng tận nơi theo yêu cầu chủng loại, giá bán. Dẫu rằng chủ mua, chủ bán không gặp nhau song công việc mua bán vẫn diễn ra hoàn mỹ là do chữ tín trong kinh doanh. Người lái xe khách làm cầu nối giữa hai chủ mua và chủ bán. ở nhiều nơi, các trung tâm dịch vụ thương mại hình thành ở các xã, liên xã có đường giao thông thuận tiện, có các cửa hàng thu gom hàng hóa nông, lâm, thủy sản của nông dân, đồng thời cũng là nơi bán hàng công nghệ phẩm cho dân cư trong vùng. Sự trao đổi hàng hóa diễn ra do tất yếu trên quan hệ cung cầu của xã hội. Thực tế cho thấy, các trung tâm thương mại dịch vụ, các hợp tác xã dịch vụ thương mại đã bước đầu đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân, nên đã đứng vững trên thương trường và khẳng định được vị trí của mình đối với xã hội. Chẳng hạn như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Phù Nham (Yên Bái), Hợp tác xã thương mại dịch vụ Thuận Thành (Thừa Thiên - Huế), Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp kinh doanh tổng hợp Đại Hiệp (Quảng Nam), Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Nghĩa Hồng (Nam Định)…

Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã cho thấy, ở nơi nào sản xuất hàng hóa phát triển, biết tổ chức kinh doanh, lưu thông hàng hóa thì nơi đó sẽ giàu nhanh. Cũng điều kiện tự nhiên và xã hội như nhau, nếu nơi nào biết tổ chức sản xuất, kinh doanh năng động, biết làm giàu thì đời sống nơi đó sẽ nhanh khởi sắc. Xã AEphê, Krông Pách (Đắc Lắc) là một điển hình tiên tiến của Tây Nguyên đã tạo nhiều nguồn thu trên vùng đất Tây Nguyên. Các dịch vụ thương mại trên địa bàn xã đã vươn lên hoạt động kinh doanh có hiệu quả làm thúc đẩy sản xuất hàng hóa cả vùng. Các đội xe dịch vụ vận tải chuyên chở sản phẩm đi các tỉnh trong cả nước được các chủ hàng ký hợp đồng với số lượng lớn.

Cùng với các dịch vụ sản xuất, vận tải ở đất liền, các loại hình dịch vụ trên biển phục vụ cho đánh bắt cá xa bờ cũng phát triển. ở nhiều địa phương, các hoạt động dịch vụ cho nghề cá được hình thành và phát triển với quy mô ngày càng lớn. Ở Lập Lễ, Thủy Nguyên (Hải Phòng), dịch vụ nghề cá phát triển mạnh đáp ứng cho các tàu đánh cá từ Móng Cái đến đảo Bạch Long Vĩ. Điều cần lưu ý là do thực tế của cuộc sống đòi hỏi đã xuất hiện các hoạt động dịch vụ để đáp ứng về số lượng, chất lượng và chủng loại hàng hóa. Đây là chính là quy luật tất yếu trong phát triển sản xuất hàng hóa, giai đoạn thấp của nền kinh tế thị trường.

Những năm đổi mới, ở các đô thị trong cả nước đã hình thành các trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng, chợ đầu mối và cả phố chuyên doanh. Những hình thức kinh doanh này khác hẳn so với thời bao cấp về quy mô, số lượng, chủng loại hàng hóa và phương thức bán hàng. Các đại lý bán hàng có chân rết xuống tận các huyện, thị trấn nơi có đông dân cư. Người mua hàng với số lượng lớn còn được giảm giá, thưởng dưới nhiều hình thức. Ngoài ra, hàng hóa còn được bảo hành, chữ tín trong thương trường được đề cao, làm cho văn minh thương nghiệp ngày càng được thực hiện. Đáng chú ý là, ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành các trung tâm thương mại vệ tinh và xuyên vùng; tiến tới xúc tiến và chuẩn bị các điều kiện để triển khai áp dụng thương mại điện tử. Trong khi đó ở các vùng nông thôn, vùng miền núi thì các trung tâm thương mại phát triển chậm hơn so với các thành phố lớn. Điều khiến cho mọi người lo ngại là sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội ở giữa các vùng bị doãng ra. Nhìn chung, hoạt động thương mại ở các đô thị lớn ngày càng phát triển nhanh hơn so với các vùng nông thôn. Tuy nhiên, chất lượng và giá cả hàng hóa không có sự chênh lệch do phần lớn các hàng hóa giá trị lớn là hàng đại lý (thống nhất giá bán toàn quốc). Người tiêu dùng mua chiếc xe máy không nhất thiết cứ phải lên Hà Nội, hay tỉnh lỵ mới mua được, mà ở địa phương cũng có các đại lý bán hàng, các trung tâm thương mại dịch vụ. Đây chính là thế mạnh của kinh tế thị trường đáp ứng người tiêu dùng không hạn chế về số lượng, chủng loại. Cũng nhờ cơ chế này mà sản xuất hàng hóa phát triển trên cơ sở quan hệ cung và cầu.

Trong những năm qua, nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong lĩnh vực thương mại dịch vụ có bước thay đổi là kinh tế thương mại tư nhân phát triển khá nhanh so với thương mại quốc doanh và tập thể. Thương nghiệp tập thể như hợp tác xã mua bán bị thu hẹp, hiện còn tồn tại dưới hình thái hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, hợp tác xã dịch vụ vận tải, hợp tác xã dịch vụ công nghiệp… Mô hình các công ty trách nhiệm hữu hạn làm dịch vụ thương mại được phát triển. Có cơ sở vừa sản xuất, vừa kinh doanh; có cơ sở chỉ làm nhiệm vụ kinh doanh. Các công ty thương mại dịch vụ quốc doanh hình thành với quy mô lớn vươn ra toàn quốc và nước ngoài để buôn bán. Chính vì vậy nó tạo nên bức tranh thương mại dịch vụ vừa đa dạng, đủ các màu sắc khác nhau.

Điều khiến cho mọi người chưa yên tâm là các công ty thương nghiệp dịch vụ tư nhân, hộ thương nghiệp kinh doanh chưa thực sự vì lợi ích của nhân dân, của xã hội mà kinh doanh phục vụ, mà còn nặng về lợi nhuận. Có thể dẫn chứng, phần lớn các đơn vị này đều chưa chấp hành tốt chính sách của Nhà nước, còn dây dưa trốn lậu thuế, đánh quả buôn chuyến, tiếp tay cho buôn lậu, bán hàng giả, hàng kém phẩm chất, nâng giá bán làm bất lợi cho người tiêu dùng… Lợi dụng những sơ hở trong quản lý nhà nước, họ đã tạo ra sự khan hiếm hàng giả, gây ra các cơn sốt giá xi măng, giá thuốc tân dược… Một số công ty thương nghiệp quốc doanh lợi dụng hoàn thuế giá trị gia tăng để rút tiền của Nhà nước, "đánh quả", "buôn chuyến", buôn bán "lòng vòng" miễn là có lãi… đã làm cho nền kinh tế thêm khó khăn. Không ít các doanh nghiệp thương nghiệp kéo dài tình trạng "lãi giả, lỗ thật"; sử dụng vốn của Nhà nước để kinh doanh song không nộp được ngân sách, thậm chí nộp thuế cũng chưa đầy đủ. Bởi vậy, việc thiết lập lại hệ thống thương mại dịch vụ trên phạm vi cả nước cần được đặt ra để đưa thương mại dịch vụ hoạt động đúng mục tiêu, góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống.

II- Các giải pháp phát triển thương mại dịch vụ ở nước ta.

1- Tiếp tục xây dựng các trung tâm thương mại dịch vụ trên phạm vi cả nước theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn 2020.

Căn cứ vào tình hình cụ thể của từng đô thị, địa phương, ngành thương mại cần đề xuất phương án phát triển các trung tâm thương mại dịch vụ cho thích hợp với từng giai đoạn. Điều cần coi trọng là, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng vùng, địa phương, đô thị mà có phương án cụ thể, sát hợp. Tránh tình trạng xây dựng quy mô lớn hiện đại song quá trình hoạt động kinh doanh không hiệu quả, dẫn đến thua lỗ, phá sản. Xây dựng các ngành hàng phải dựa trên cơ sở thực tiễn mà cân đối cho phù hợp. Cần khuyến khích, thúc đẩy, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế hoạt động trên nguyên tắc của thị trường (tự do kinh doanh theo pháp luật, cạnh tranh và bình đẳng). Có chính sách, cơ chế đặc thù cùng những biện pháp quản lý và điều hành thích hợp để các doanh nghiệp vừa bảo đảm phát triển thương mại tự do, sống động, vừa có trật tự, hiệu quả, văn minh thương mại. Xây dựng những khung khổ pháp lý và hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển quan hệ thương mại trong nước và quốc tế, xây dựng và bảo vệ thương hiệu, đầu tư phát triển hệ thống đại lý tiêu thụ hàng hóa và xúc tiến thương mại.

Tổ chức lại hệ thống thương nghiệp quốc doanh ở các địa phương trên phạm vi cả nước. Việc phân loại các tổ chức thương nghiệp quốc doanh của các ngành các cấp đóng trên địa bàn theo hướng: Một là, loại cần giữ lại (kinh doanh các mặt hàng thiết yếu), phải tạo điều kiện về vốn để hoạt động và có dự trữ lưu thông cần thiết. Hai là, loại không cần giữ là doanh nghiệp nhà nước nhưng đang hoạt động tốt, phải củng cố và từng bước chuyển hóa sở hữu (cổ phần hóa, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập…). Ba là, giải thể những tổ chức thương mại quốc doanh làm ăn thua lỗ, phá sản.

2- Xây dựng cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm phát triển thương mại dịch vụ.

Lâu nay, chính sách đối với các thành phần kinh tế phát triển thương mại dịch vụ còn nhiều bất cập. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cần rà soát lại cơ chế, chính sách để bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đối với công ty thương mại, cần chuyển đổi sở hữu cho thích hợp với các mô hình: 1- Thương nghiệp trung ương đảm nhiệm bán buôn, còn thương nghiệp tỉnh, thành phố tập trung vào bán lẻ. 2- Liên kết một công ty hay công ty trung ương với một công ty địa phương để hình thành một mô hình hoạt động vừa bán buôn, vừa bán lẻ trên địa bàn cả nước. Với các mô hình trên, cần hoàn thiện các chính sách về vốn, về thị trường, về đào tạo cán bộ…

Hệ thống hợp tác xã dịch vụ ở các địa phương cũng cần được quan tâm xây dựng. Đây là mạng lưới dịch vụ ở cơ sở, thu gom sản phẩm nông, lâm, thủy sản của hộ nông dân đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Hệ thống hợp tác xã dịch vụ như bàn tay vươn dài xuống các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa để phục vụ cho sản xuất và đời sống. Vấn đề đặt ra làm thế nào để hệ thống hợp tác xã dịch vụ tồn tại và phát triển? Từ thực tiễn hoạt động kinh doanh ở các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tiên tiến trong thời kỳ đổi mới ở nhiều địa phương trong cả nước, xin có mấy kiến nghị:

- Nhà nước nên có chính sách giao đất cho hợp tác xã nông nghiệp để xây dựng trụ sở và xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh.

- Nhà nước có chính sách bảo lãnh, tín chấp cho các hợp tác xã được vay vốn bình đẳng như các doanh nghiệp nhà nước.

- Nhà nước có chính sách đào tạo cán bộ quản lý hợp tác xã tại các trường chuyên nghiệp cho khu vực kinh tế tập thể như thực hiện chế độ cử tuyển, hỗ trợ kinh phí đào tạo.

- Nhà nước có chính sách thị trường khuyến khích hợp tác xã mở rộng dịch vụ.

3- Xây dựng đội ngũ cán bộ, doanh nhân, nhân viên ngành thương mại dịch vụ ngang tầm nhiệm vụ đáp ứng sự nghiệp đổi mới.

Thực tiễn cho thấy, trong các đơn vị làm công tác kinh doanh, vai trò cá nhân người lãnh đạo vô cùng quan trọng. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào chọn được người có năng lực để giao nhiệm vụ. Bởi vì, người đứng đầu giỏi, có tính quyết đoán đúng sẽ quyết định thành công trong kinh doanh của đơn vị mình. Thực tiễn cho thấy, không ít giám đốc có học hàm, học vị đầy đủ, được đào tạo cơ bản ở nước ngoài, song kinh doanh vẫn thua lỗ. Vấn đề là cần chọn được đúng người, đúng việc. Những chức danh lãnh đạo giám đốc tổng công ty, giám đốc công ty, chủ nhiệm hợp tác xã dịch vụ, kế toán, thủ quỹ phải được đào tạo qua trường. Bởi vì, các công tác nghiệp vụ của mỗi chức danh đều liên quan đến việc xử lý và quản lý trên mạng. Cho nên việc học và áp dụng khoa học công nghệ phải được thành thạo, hoặc quen việc nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới. Tùy từng cấp độ, đơn vị của hệ thống thương mại dịch vụ mà đòi hỏi cán bộ có trình độ ngoại ngữ cho thích hợp để đáp ứng công việc. Trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, kinh tế thương mại dịch vụ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ chính của mình phải mở cửa, làm ăn với bên ngoài. Ngoại ngữ là yếu tố quan trọng để nghiên cứu chuyên môn, đàm phán, giao tiếp với đối tác bạn hàng.

4- Coi trọng xây dựng thí điểm các mô hình dịch vụ thương mại.

Xét cho cùng hiệu quả kinh doanh là thước đo của các đơn vị làm dịch vụ thương mại. Để tồn tại, các đơn vị này phải bảo toàn vốn và mở rộng kinh doanh tạo nguồn thu lợi nhuận. Đương nhiên, để hoàn thành tốt nhiệm vụ, không những chỉ bảo toàn vốn và tăng tích lũy mở rộng kinh doanh mà còn phải góp phần nâng cao đời sống nhân dân, có tác động tích cực để tạo uy tín đối với xã hội. Không nhất thiết vì lợi nhuận mà bất chấp tất cả, coi kinh doanh là trên hết. Có những việc làm vì lợi ích chung của nhân dân, vì lợi ích chung của xã hội. Có những mặt hàng thiết yếu như muối, dầu, gạo… lãi ít nhưng nhân dân vùng nông thôn, vùng miền núi lại cần. Vấn đề đặt ra ngành thương mại dịch vụ phải tổ chức mạng lưới cung ứng cho cả nước, từ thành thị đến nông thôn, từ vùng sâu, vùng cao đến biên giới, hải đảo. Các mô hình dịch vụ thương mại ở mỗi vùng có đặc điểm khác nhau nên phương thức hoạt động cũng lựa chọn cách làm cho thích hợp. Xây dựng các mô hình điểm đối với các vùng khác nhau, vùng đô thị, vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng biên giới, hải đảo (kể cả trên biển). Đối với mỗi loại hình mô hình có chính sách, cơ chế đặc thù để nó hoạt động, từ đó nhân rộng ra địa bàn xung quanh, có sự lan tỏa. Ở đô thị lớn, mô hình dịch vụ thương mại cần nắm bắt hàng mới, nhất là hàng ngoại để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng. Việc nhập hàng ngoại cần tính toán, có đa dạng hàng hóa về chủng loại, mẫu mã để hướng dẫn người tiêu dùng lựa chọn. Vùng đô thị là nơi "nhạy cảm" có nhiều khách hàng, có khả năng mua hàng ngoại đắt tiền, cho nên cần điều chỉnh cơ cấu sản phẩm hàng hóa cho phù hợp với thị trường. Đối với thị trường nông thôn cần nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng để đáp ứng các loại hàng hóa cho phù hợp.

BÀI VIẾT THỨ 15
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ 5 ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TÁC GIẢ Nguyễn Minh Phong*
NỘI DUNG

Là sản phẩm của thời kỳ đổi mới, phản ánh và chịu tác động chung của quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, thị trường bất động sản ở nước ta đang trong giai đoạn bước đầu hình thành, phát triển với những động thái phức tạp, mang lại cả những niềm vui, nỗi buồn cho hàng triệu người dân. Thị trường bất động sản, đôi khi, cũng gây ra những xáo trộn, mất trật tự, an toàn đạo đức xã hội ở không ít địa phương, cả thành thị, lẫn nông thôn, cả miền đồng bằng, lẫn miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa...

Về tổng quát, có thể chỉ ra 5 đặc điểm nổi bật về biểu hiện, xu hướng và cơ chế hoạt động của thị trường bất động sản Việt Nam những năm gần đây như sau:

Thứ nhất, sự "sốt nóng" và "đóng băng" hoạt động giao dịch trên thị trường bất động sản thường mang tính cục bộ, địa phương và gắn với các nhân tố chủ quan, nhất là với các động thái của chính sách quản lý và đầu tư của Nhà nước.

Đây là đặc điểm nổi bật, bao quát và kéo dài suốt hàng chục năm qua, kể từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Thực tế cho thấy, một mặt, hầu hết các đợt sốt tăng giá bất động sản, hoặc sự sụt giảm và đóng băng cả giá, lẫn các giao dịch trên thị trường bất động sản đều có nguyên nhân trực tiếp từ các điều chỉnh lớn trong chính sách quản lý nhà nước về đất đai và nhà ở, cả ở cấp quốc gia, lẫn phạm vi địa phương. Ngoại trừ cơn sốt giá bùng phát đầu tiên vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước do chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế khiến giá nhà, đất đồng loạt tăng lên theo mặt bằng giá xã hội lúc bấy giờ (từ giá bao cấp quá thấp một cách giả tạo phi kinh tế, sang bước đầu theo giá thị trường...), các cơn sốt giá về sau trên thị trường bất động sản thường không diễn ra đồng loạt, cùng lúc trên phạm vi toàn quốc, hoặc trên tất cả các bộ phận thị trường bất động sản. Chúng thường là sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp từ việc Nhà nước duy trì chế độ 2 giá về đền bù giải phóng mặt bằng: vẫn theo cơ chế bao cấp đối với doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng các khu công nghiệp, khu chế xuất, hoặc từ việc Nhà nước dành chính sách ưu đãi (như việc cấm phân lô, bán nền nhà...) cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, nhà ở thương mại tại các khu vực đô thị và khu vực đô thị hóa... Tác động tiêu cực đến thị trường bất động sản của chính sách 2 giá đất và các ưu đãi kiểu bao cấp về đất cho các doanh nghiệp đó, cũng như cho khu vực kinh tế nhà nước nói chung, đã vượt khỏi sự kiểm soát và giới hạn được đặt ra

Mặt khác, những cơn sốt giá trên thị trường bất động sản những năm qua còn có quan hệ tương hỗ hết sức chặt chẽ với "phong trào" lập quy hoạch (quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch giao thông vận tải, quy hoạch cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết kiến trúc...), thậm chí nhiều khi chỉ là quy hoạch "treo", sơ sài ở mức ý tưởng, thiếu tính khả thi, chậm đi vào cuộc sống.

Đặc biệt, những chương trình, dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc ngân sách nhà nước các cấp (ODA, vay thương mại trong nước qua phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương...) cũng gây xung lực ảnh hưởng rất mạnh đến nhiệt độ của thị trường bất động sản. Một con đường nội đô, hoặc liên tỉnh, thậm chí liên huyện, liên xã và đường cao tốc được xây dựng là đủ để làm bùng phát cơn sốt giá và các giao dịch nhộn nhịp trên thị trường bất động sản của khu vực có liên quan, nhất là vùng đất dọc các con đường đó.

Hơn nữa, sự nóng – lạnh của thị trường bất động sản ở nước ta đã, đang và sẽ còn tiếp tục chịu ảnh hưởng đậm nét của sự nhận thức và kỹ năng thích ứng của cả Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và nhân dân với vai trò, cơ chế và xu hướng vận động của thị trường nhà, đất. Các hoạt động đầu cơ và "hiệu ứng đám đông", vừa có tính phong trào, vừa "nghe ngóng xem sao" trong việc mua – bán bất động sản đã, đang và sẽ chính là kết quả và biểu hiện thước đo của mức độ nhận thức và thích ứng này.

Thứ hai, có sự chênh biệt giá cả bất động sản rất rõ rệt giữa các địa phương, thậm chí ngay trong một khu vực.

Giá cả bất động sản có thể chênh lệch nhau hàng chục cho đến hàng trăm lần giữa các địa phương, thậm chí ngay trong một thành phố, một tỉnh. Giá 1m2 đất ở mặt tiền phố Hàng Gai, Hà Nội lên tới hàng chục, thậm chí tới 60 cây vàng, trong khi giá 1m2 đất ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội chỉ trên dưới 1 chỉ cho đến 1 cây vàng. Ngay trong một huyện, quận hoặc phường, xã, một khu phố cũng có sự chênh biệt giá cả bất động sản rất rõ rệt. Còn sự khác nhau về giá giữa các khu vực, địa phương khác nhau lại càng cao tới mức chóng mặt. Sự chênh biệt về giá - hay giá mang tính địa phương – của thị trường bất động sản Việt Nam được gắn liền với nhu cầu, khả năng tập quán kinh doanh "mặt phố", "mặt tiền" của người sở hữu; với tình trạng phát triển cơ sở hạ tầng và vệ sinh môi trường của khu vực có bất động sản muốn bán – mua; với "chất lượng" nhà hàng xóm (bất động sản liền kề và người chủ của chúng); với hình dạng, khuôn khổ, quy mô bất động sản; thậm chí cả với các yếu tố tâm linh và tín ngưỡng khác của địa phương và cá nhân...

Thứ ba, còn thiếu sự cân đối và đa dạng về cơ cấu các bộ phận thị trường, các hàng hóa và chủ thể tham gia thị trường bất động sản.

Mặc dầu phát triển khá rầm rộ bộ phận thị trường nhà chung cư, biệt thự cao cấp, nhà mặt phố và nhà vườn – trang trại..., song trên thị trường bất động sản ở quy mô toàn quốc, cũng như địa phương còn thiếu sự phát triển cân xứng của bộ phận thị trường nhà cho thuê, nhà dành cho người có thu nhập thấp, nhà bán trả chậm, nhà chuyển đổi, và bộ phận thị trường bất động sản cầm cố, cũng như bất động sản dành cho Việt kiều và người nước ngoài. Các ngôi nhà, mảnh đất - hàng hóa giao dịch trên thị trường bất động sản - cũng còn đơn điệu, nghèo nàn về mẫu, mã, chủng loại, công năng, chất liệu, tiện ích, quy mô và giá cả...

Những chủ thể tham gia thị trường cũng mới chỉ tập trung vào bộ phận những người có thu nhập và mức sống trung lưu trở lên, chủ yếu là quan chức cán bộ, công nhân viên chức, các nhà đầu cơ bất động sản và doanh nhân làm việc trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền hoặc có nhiều ưu đãi, đặc quyền, đặc lợi về quản lý, kinh doanh hay có quan hệ làm ăn, thân tộc với người nước ngoài. Trên thị trường còn thưa thớt các công ty, quỹ đầu tư, kinh doanh bất động sản chuyên nghiệp. Đa số nông dân và dân cư đô thị có thu nhập thấp, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cả người nước ngoài mới chỉ tham gia một cách hạn chế vào thị trường bất động sản. Bản thân Nhà nước cũng chưa thực sự tham gia tích cực, chủ động và hiệu quả vào thị trường này (ngoài những hoạt động quản lý nhà nước có liên quan đến thị trường bất động sản như đã nêu trên).

Thứ tư, các dịch vụ hỗ trợ thị trường bất động sản chưa phát triển và thiếu tính chuyên nghiệp, thị trường ngầm, tự phát lấn át thị trường chính thức, có tổ chức.

Tính tự phát, thiếu tổ chức của thị trường bất động sản thể hiện qua mức độ ít ỏi các giao dịch chính thức về bất động sản của các cơ quan nhà nước hoặc trung tâm, sàn giao dịch bất động sản có tổ chức (ngay bản thân các trung tâm, sàn giao dịch bất động sản có tổ chức cũng không nhiều và không hiện diện đều và đủ ở các địa phương). Các hoạt động giao dịch bất động sản "rôm rả" nhất có lẽ tập trung ở các "trung tâm môi giới nhà đất" – các "cò đất" nghiệp dư đủ loại, không chịu các chế tài về chất lượng và nghĩa vụ dịch vụ của mình, còn các thủ tục pháp lý của việc mua bán này mới chỉ dừng ở hình thức viết tay có xác nhận của chính quyền phường, xã,... bỏ qua các nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước... Các dịch vụ thanh toán, dịch vụ định giá, dịch vụ đăng ký và thẩm định bất động sản, dịch vụ tư vấn pháp lý và tư pháp, dịch vụ thông tin thị trường bất động sản... đều thiếu hoặc dừng ở mức sơ khai, thiếu tính chuyên nghiệp cao.

Ngay cả hệ thống thông tin về các quy hoạch, dự án, kế hoạch đầu tư phát triển bất động sản cũng chưa thực sự hoàn toàn công khai, minh bạch, đôi khi trở thành nguồn lợi cho những người nắm giữ chúng, đồng thời, gây tác hại khôn lường cho sự phát triển thị trường bất động sản nói riêng, cho hiệu quả đầu tư xã hội nói chung. Tình trạng trên bắt nguồn từ nhiều lý do, như giấy tờ sở hữu bất động sản không rõ ràng, đầy đủ; thủ tục quản lý nhà nước phức tạp và chi phí chuyển nhượng bất động sản chính thức đắt đỏ, sự thiếu đồng bộ và nhất quán của các chính sách quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản; sự nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm của một số cán bộ và cơ quan công quyền; cũng như từ thói quen tùy tiện của người dân và ý thức về nhà nước pháp quyền còn thấp trong xã hội.

Thứ năm, thị trường bất động sản Việt Nam là thị trường có nhiều tiềm năng phát triển và đang từng bước hoàn thiện.

Mặc dù còn nhiều hạn chế nêu trên, song về triển vọng dài hạn, thị trường bất động sản Việt Nam sẽ còn phát triển và hoàn thiện cùng với sự hoàn thiện của các thể chế thị trường Việt Nam.

Tiềm năng phát triển thị trường bất động sản Việt Nam gắn liền với sự dồi dào của những nguồn quỹ đất công chưa giao, khó giao, đất xen kẽ, hoặc cần thu hồi đưa vào thị trường bất động sản (đất đã giao các công sở nhưng quá hạn mức hoặc sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả, hay không triển khai khai thác đúng thời hạn quy định).

Tiềm năng phát triển thị trường bất động sản còn liên quan đến việc nâng cao hệ số sử dụng đất trên cơ sở tăng năng suất, tận dụng không gian (xây nhà cao tầng), phát triển cơ sở hạ tầng (nhất là đường giao thông) và đẩy nhanh quá trình đô thị hóa.

Ngoài ra, tiềm năng phát triển thị trường bất động sản còn liên quan đến việc hoàn thiện chính sách khuyến khích đóng góp quyền sử dụng đất để phát triển quỹ bất động sản cho thuê hoặc trực tiếp phục vụ phát triển sản xuất – kinh doanh của người sở hữu quyền sử dụng đất; chính sách mở cửa thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường bất động sản trong nước; cũng như liên quan đến việc thay đổi chế độ hộ khẩu và đăng ký nhà đất (sổ đỏ...) và quá trình sửa chữa, xây dựng các khu chung cư ở các thành phố, đô thị lớn.

Đặc biệt, triển vọng của thị trường bất động sản Việt Nam còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự gia tăng nhanh chóng nhu cầu và khả năng thanh toán của người dân về mua – bán bất động sản do quá trình đô thị hóa, cải thiện thu nhập và yêu cầu nâng cao chất lượng sống. Về dài hạn, thị trường bất động sản Việt Nam sẽ ngày càng mở rộng, cân đối, đồng bộ và có tổ chức hơn, mang tính thị trường cao hơn, phát triển lành mạnh hơn (cùng với sự đổi mới về nhận thức, kinh nghiệm ứng xử của các cơ quan nhà nước, các nhà đầu tư và nhân dân về thị trường nhà đất) và kết gắn chặt chẽ hơn với các thị trường khác trong sự phát triển đồng bộ các thị trường và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta.


* TS, Trưởng phòng nghiên cứu kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội
BÀI VIẾT THỨ 16
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ DÂN CHỦ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
VÀ CÁC NHÂN TỐ BẢO ĐẢM DÂN CHỦ
TÁC GIẢ Nguyễn Văn Thể*
NỘI DUNG

Dân chủ bao giờ cũng được biểu hiện trong đời sống của nhân dân, là nguyện vọng, là lợi ích và quyền lợi của nhân dân. Do vậy, các khái niệm "nhân dân", "quyền lực" và "dân chủ" đều gắn liền với nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân và mang tính lịch sử. Cùng với sự phát triển của xã hội, của nhà nước và pháp luật, những quan niệm về nhân dân, quyền lực và dân chủ cũng biến đổi, phát triển theo.

Dân chủ trong đời sống hiện thực là một hiện tượng phức tạp và đa diện, được biểu hiện khác nhau trong các lĩnh vực của cuộc sống và thực sự có vô số con đường, phương thức thực hiện. Nó hoàn toàn không chỉ được quy về lĩnh vực sinh hoạt chính trị của xã hội hay nhà nước, mà còn được phổ biến sang các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, hệ tư tưởng… Tùy thuộc vào việc dân chủ thể hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và hoạt động của nhà nước, mà có nội dung dân chủ tương ứng. Nếu các nguyên tắc, các chuẩn mực và các tư tưởng dân chủ được thực hiện trong lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội, thì nó được gọi là dân chủ trên lĩnh vực chính trị. Khi chúng thể hiện trong lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực xã hội hay lĩnh vực hệ tư tưởng, tương ứng sẽ là dân chủ trên lĩnh vực kinh tế, dân chủ trên lĩnh vực xã hội và dân chủ trên lĩnh vực tư tưởng.

Dân chủ không chỉ quy về một trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Và cũng tương tự như vậy, dân chủ không chỉ xem xét hoàn toàn thông qua một trong những biểu hiện nào đó của nó. Dân chủ còn được thể hiện qua các phẩm chất và những hình thức rất khác nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đối với chủ thể của quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội – tức nhân dân, thì dân chủ biểu hiện là sự biểu thị tối đa ý chí, khát vọng và lợi ích của nhân dân. Đó là một đặc trưng của dân chủ. Đối với các đại diện trực tiếp của quyền lực đó – các cơ quan và tổ chức nhà nước, đảng phái và xã hội, dân chủ thể hiện là hình thức, tổ chức tương ứng của chúng. Đối với quá trình thực hiện quyền lực nhà nước và xã hội, dân chủ thể hiện là tổng thể các phương pháp, các phương thức cai trị, tức là chế độ tương ứng.

Xuất phát từ mối liên hệ và sự tác động qua lại giữa các lĩnh vực biểu hiện khác nhau của dân chủ, giữa các con đường, các hình thức và các phương thức biểu hiện khác nhau của nó, dân chủ ở một nước riêng biệt không phải là một tổ hợp ngẫu nhiên của các biểu hiện, các thiết chế và các thể chế dân chủ, mà là một hệ thống hoàn chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội do người dân làm chủ.

Sự phân chia các bộ phận cấu thành của "dân chủ" tùy thuộc vào phương diện nghiên cứu, vào cấp độ của dân chủ được xem xét. Từ đó, có thể có các biến thể riêng biệt của dân chủ (dân chủ trong đảng, dân chủ trong Nhà nước, dân chủ trong cộng đồng dân cư v.v…). Các biến thể đó là các thành tố phát sinh trực tiếp cấu thành một hệ thống dân chủ chung.

Ngoài việc tách biệt các thành tố phát sinh của hệ thống dân chủ chung, cũng có thể tách biệt các thành tố phát sinh ra nó, các thành tố trực tiếp tạo thành các tiểu hệ thống dân chủ nhờ có sự liên hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa chúng. Xem xét ở cấp độ các hình thức tổ chức nội tại với tư cách các thành tố phát sinh như vậy của hệ thống dân chủ chung, có thể kể ra các thiết chế dân chủ (của đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội); còn ở cấp độ nội dung của dân chủ - đó là các nguyên tắc khác nhau của nó (chế độ bầu cử, chế độ báo cáo, nguyên tắc công khai, nguyên tắc bãi nhiệm, nguyên tắc lãnh đạo tập thể, v.v.), các truyền thống dân chủ, bao hàm các quyền dân chủ và các quyền tự do của công dân.

Ngoài việc tách biệt các thành tố cấu trúc, sự nghiên cứu có hệ thống về dân chủ cũng đòi hỏi phải xác lập tất cả những mối liên hệ đa dạng cấu thành hệ thống; phải xác định cấp độ toàn vẹn về cấu trúc và chức năng của hệ thống dân chủ ở giai đoạn phát triển này hay giai đoạn phát triển khác của nó; phải phân biệt các mục đích hoạt động trung gian và cuối cùng của nó; phải xác định môi trường bao quanh của hệ thống dân chủ và tính chất tác động qua lại của nó với các điều kiện sinh hoạt kinh tế, chính trị, hệ tư tưởng v.v. trực tiếp bao quanh nó.

Trên thực tế, trong các xã hội trước chủ nghĩa xã hội chưa bao giờ có một chế độ “thuần túy” nhân dân, mang tính mẫu mực dân chủ trong xã hội có giai cấp.

Cho đến nay, nền dân chủ “thuần túy”, “hoàn hảo nhất", "chân chính", "đích thực”, dân chủ cho nhân dân và vì lợi ích của mọi người trong xã hội… còn đang là lý tưởng, là lược đồ lý luận để phấn đấu và đang từng bước được hiện thực hóa trong sự phát triển Nhà nước và xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng và lược đồ lý luận này có liên quan mật thiết với các lý tưởng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chỉ có sự vận động, phát triển lâu dài và đầy gian nan của nhân loại đi lên xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mới cho phép đạt tới lý tưởng đó.

Cho dù có tính phức tạp và mâu thuẫn trong những quan niệm và thái độ rất khác nhau, từ phía đại diện của các tầng lớp xã hội khác nhau, song, dân chủ trong bất kỳ xã hội và Nhà nước nào cũng đều có giá trị xác định của mình. Giá trị này tăng lên đáng kể trong các hệ thống xã hội và Nhà nước pháp quyền, mà ở đó, đã hình thành truyền thống tham gia của các tầng lớp nhân dân vào việc điều hành các công việc của Nhà nước và xã hội, nơi mà các tư tưởng và nguyên tắc dân chủ không những được tuyên bố và ghi nhận trong Hiến pháp, mà còn được thực hiện từng phần trong cuộc sống.

Khi bao trùm đại bộ phận các quan hệ, các thiết chế xã hội và lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào đời sống chính trị - xã hội của đất nước, dân chủ góp phần mở rộng cơ sở xã hội của hệ thống chính trị, tăng tính ổn định xã hội, làm ổn định toàn bộ đời sống xã hội và Nhà nước. Dân chủ tạo điều kiện tiếp tục hoàn thiện, phát triển các thiết chế trong các hệ thống chính trị về mặt tổ chức và nhờ vậy, dân chủ trong xã hội sẽ không ngừng tăng lên.

Giá trị dân chủ thể hiện ở chỗ, khi được phổ biến vào mọi lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội đem lại nội dung dân chủ cho hoạt động của các thiết chế nhà nước và xã hội, dân chủ tạo điều kiện để liên tục phát triển nhân cách, phát triển ý thức xã hội, nâng cao tính tích cực chính trị - xã hội của quần chúng, làm bộc lộ và huy động các năng lực tổ chức. Dân chủ làm cho tầng lớp xã hội tham gia tích cực vào việc quản lý nhà nước, vào việc giải quyết các công việc nhà nước và xã hội quan trọng nhất. Dân chủ trong việc tổ chức đời sống xã hội và nhà nước cũng góp phần trực tiếp nâng cao hiệu quả xã hội của toàn bộ hệ thống chính trị - xã hội, cho phép xã hội tích lũy nhanh các giá trị vật chất, văn hóa, v.v.; góp phần kiện toàn luật pháp và Hiến pháp.

Giá trị của dân chủ còn thể hiện ở chỗ, nó là yếu tố quan trọng làm sáng tỏ ý chí của quần chúng, là cơ chế hình thành, tích tụ và thực hiện dân chủ một cách thích hợp. Dân chủ là phương thức tốt nhất để đặt các đại biểu của nhân dân có phẩm chất chính trị - đạo đức, chuyên môn xứng đáng nhất vào địa vị lãnh đạo Nhà nước, vào cơ quan lãnh đạo của các tổ chức chính trị - xã hội.

Ngoài những vấn đề nêu trên, còn các hình thức khác biểu hiện giá trị của dân chủ. Tuy nhiên, sự thể hiện hóa các giá trị của dân chủ, việc sử dụng toàn bộ tiềm năng xã hội của dân chủ… chỉ có thể được với một điều kiện bắt buộc là không những cần tuyên bố, ghi nhận các nguyên tắc, các tư tưởng dân chủ và đặc trưng bản chất của dân chủ về mặt hình thức – pháp lý, mà còn thực hiện chúng trong cuộc sống, bảo đảm tính hữu hiệu của nó trong đời sống xã hội.

*

*     *

Trong nhiều thế kỷ phát triển lý luận về xã hội và nhà nước dân chủ, sự quan tâm chủ yếu của các nhà nghiên cứu được tập trung không những vào phương diện pháp lý – hình thức, mà cả vào phương diện thực tế của dân chủ. Vấn đề trung tâm khi đó luôn luôn là vấn đề về các nhân tố bảo đảm tính chất hiện thực của dân chủ, vấn đề các điều kiện bảo đảm dân chủ.

Có thể phân chia các nhân tố đó thành hai loại: các nhân tố khách quan – các nhân tố được quy định bởi các điều kiện sinh tồn hiện thực; các nhân tố chủ quan – các nhân tố phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng và các ý định chủ quan khác của công dân bình thường hay của các nhà chức trách.

Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc bảo đảm tính hiện thực của dân chủ thể hiện ở chỗ, nó đặt lên vai các nhà hoạt động nhà nước và xã hội các nghĩa vụ pháp lý và đạo đức thực hiện nhiệm vụ, duy trì và bảo vệ các tư tưởng, các nguyên tắc và các truyền thống dân chủ hiện tồn thông qua hoạt động hàng ngày.

Các nhân tố chủ quan bảo đảm dân chủ là: Trình độ văn hóa, trình độ học vấn của chủ thể thực hiện dân chủ. Năng lực nhận thức và vận dụng các chuẩn mực pháp lý. Khả năng và năng lực hoàn thiện các quy định pháp luật…

Những nhân tố khách quan bảo đảm dân chủ là các yếu tố như vật chất, xã hội, pháp lý, chính trị, hệ tư tưởng, v.v.

Các đảm bảo vật chất cần được hiểu là các điều kiện kinh tế của đời sống xã hội và của các tầng lớp xã hội khác nhau mà các nguyên tắc dân chủ được thiết lập trong quan hệ giữa chúng. Mức sống của nhân dân cho phép hay không cho phép họ tham gia vào việc quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội. Các khả năng kinh tế và tài chính bảo đảm sự hoạt động bình thường của các thiết chế chính trị dân chủ, thực hiện các quyền tự do của công dân, hình thành các cơ quan bầu cử nhà nước trên cơ sở dân chủ.

Các khả năng vật chất, đặc biệt các khả năng tài chính, là điều kiện rất quan trọng của dân chủ hiện thực không những đối với nhà nước và xã hội, mà còn đối với các công dân riêng biệt. Chúng cho phép họ thực hiện các quyền của mình, như quyền học tập, quyền tham gia bầu cử, quyền nghỉ ngơi, v.v..

Các nhân tố khách quan bảo đảm dân chủ còn là tính chất và trạng thái của thể chế chính trị; tính chất và trình độ phát triển nền kinh tế; trình độ thông tin và mức độ dân chủ trong thông tin; trình độ giao lưu quốc tế…

Trong số các nhân tố quy định tính chất thực hiện của dân chủ cần đặc biệt quan tâm tới các bảo đảm pháp lý. Đó chính là tổng thể các điều kiện và phương tiện pháp lý bảo đảm việc thực hiện các nguyên tắc dân chủ, các quyền tự do của công dân đã được chính thức công bố.

Nói tới dân chủ, chúng ta không thể không nói tới các hình thức của dân chủ. Các hình thức của dân chủ là phương thức hay các phương tiện đã hình thành trong lịch sử nhằm vạch ra và biểu thị ra bên ngoài ý chí, lợi ích của các chủ thể, tầng lớp xã hội khác nhau.

Tùy thuộc vào ý chí, lợi ích của xã hội và nhân dân, dân chủ được thực hiện bằng con đường dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Sự phát triển kinh tế tạo ra một tiền đề quan trọng của nền dân chủ - mức độ phúc lợi tương đối cao của công dân, nhờ đó có thể giảm bớt các xung đột xã hội, đạt tới sự đồng thuận cần thiết cho việc thực thi dân chủ. Của cải xã hội được coi là có tác động tích cực đến quá trình dân chủ hóa xã hội, khi nó được sử dụng để làm giảm bớt sự bất bình đẳng xã hội, tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho việc thực thi dân chủ.

Để thực hiện dân chủ, trình độ thông thạo của dân cư, trình độ học vấn nói chung là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự am hiểu trong phán đoán chính trị của cá nhân, đến sự phát triển trí tuệ, năng lực tư duy và khả năng nhận thức, khả năng đánh giá vị thế của người dân. Người không có học vấn, như V.I.Lê-nin đã chỉ rõ là người đứng ngoài chính trị, đứng ngoài nền dân chủ.

Dân chủ chỉ trở thành hiện thực trên cơ sở văn hóa chính trị cởi mở, coi trọng các quyền con người, quyền tự do và trách nhiệm công dân.

Các yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa được coi là các tiền đề bên trong của việc thực hiện dân chủ. Cùng với các tiền đề ấy, bầu không khí chính trị bên ngoài cũng có sự ảnh hưởng ngày một tăng đối với việc thực hiện dân chủ. Ảnh hưởng này được thể hiện qua sự tác động trực tiếp về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa của nước ngoài; qua việc tuyên truyền, truyền bá thể chế dân chủ của nhà nước dân chủ.

Một nhân tố không kém phần quan trọng cho việc thực hiện dân chủ là nhờ có nền kinh tế cao mà đạt được sự phát triển tương ứng của các phương tiện truyền thông đại chúng. Thông tin đại chúng không chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng dân chủ của nhân dân, mà chính quần chúng nhân dân còn sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để đấu tranh giành lấy giá trị dân chủ cần thiết cho cuộc sống của mình. Nhờ các phương tiện này, công dân của nước đó có được sự giám sát chính trị một cách có hiểu biết.

Có thể nói, quá trình dân chủ hóa luôn đòi hỏi những tiền đề tất yếu của nó. Với sự tạo lập những tiền đề ấy, khả năng thực hiện dân chủ sẽ diễn ra một cách thuận lợi và nhanh chóng./.


* Ths, Đại học Vinh
BÀI VIẾT THỨ 17
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN
TÁC GIẢ Nguyễn Hồng Diên
NỘI DUNG

Trong cơ cấu chính quyền địa phương ba cấp ở nước ta, huyện là cấp hành chính sau cấp tỉnh, là cái "gạch nối" giữa tỉnh và xã, chính quyền huyện là chính quyền cấp liên xã. Mặt khác, huyện là một bộ phận cơ cấu lãnh thổ của tỉnh, có những đặc điểm khác với đô thị. Do đó, để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, không thể không đổi mới hoạt động của chính quyền cấp huyện trong đó hoạt động của Ủy ban Nhân dân là hạt nhân quan trọng, có tính chất quyết định nhất.

Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền huyện được quy định chung trong Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân năm 2003, các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành và theo sự phân cấp của chính quyền tỉnh. Ủy ban Nhân dân cấp huyện có các nhiệm vụ quyền hạn trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội: kinh tế; khoa học, công nghệ, tài nguyên môi trường; quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật; xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính.

So sánh nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Nhân dân huyện với nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Nhân dân tỉnh có thể thấy: Ủy ban Nhân dân huyện có các nhiệm vụ, quyền hạn trên tất cả các lĩnh vực tương tự như Ủy ban Nhân dân tỉnh; Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh cùng với Hội đồng Nhân dân là cấp đặt ra các chính sách, còn Ủy ban Nhân dân huyện chỉ là cơ quan chấp hành chính sách, chấp hành các quyết định của chính quyền cấp trên, của Hội đồng Nhân dân cùng cấp. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Nhân dân huyện chủ yếu là nhiệm vụ, quyền hạn mang tính chấp hành.

Hiến pháp năm 1992- Hiến pháp của thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có những thay đổi rất căn bản về tổ chức bộ máy nhà nước so với Hiến pháp năm 1980, nhằm tạo ra bộ máy nhà nước gọn nhẹ, năng động, có khả năng điều hành, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội theo cơ chế mới. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò quản lý của nhà nước ngày càng quan trọng do mức độ phức tạp và đa dạng của các công việc, sự gia tăng của các giao dịch dân sự của công dân mà cơ quan nhà nước phải đáp ứng về thủ tục.

Qua lịch sử, chúng ta thấy từ khi giành chính quyền tới nay, tổ chức Ủy ban Nhân dân huyện ở nước ta đi theo hướng sau: tăng dần về số lượng thành viên Ủy ban Nhân dân, từ 7 đến 13. Chế độ trách nhiệm chuyển từ đề cao trách nhiệm cá nhân (từ năm 1945 đến năm 1962) dần chuyển sang đề cao trách nhiệm tập thể (năm 1980), đỉnh cao của nó là những năm 80 thế kỷ XX, đến Hiến pháp năm 1992 lại bắt đầu có xu hướng đề cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu Ủy ban Nhân dân…

Có thể khẳng định, trong một thời gian dài việc tổ chức chính quyền trên địa bàn huyện còn cồng kềnh, qua nhiều nấc cung đoạn, không rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, dẫn đến chồng chéo, đùn đẩy công việc. Sự tồn tại của Hội đồng Nhân dân huyện, thường trực của Hội đồng Nhân dân và các Ban của Hội đồng Nhân dân huyện trở nên hình thức. Tính hình thức thể hiện ở chỗ: những thiết chế này không được coi là những cơ quan của Hội đồng Nhân dân theo đúng nghĩa, không có quyền quyết định các vấn đề và trên thực tế cũng không có khả năng chuẩn bị các dự án để trình Hội đồng Nhân dân, nếu không có sự phối hợp với Ủy ban Nhân dân. Theo chúng tôi, qua thực tiễn, sự tồn tại của các thiết chế này là chưa thật hợp lý, chỉ tạo ra sự cồng kềnh của bộ máy nhà nước ở địa phương, mà hiệu quả thực tế hoạt động của những cơ quan này rất thấp. Như đã nêu ở phần trên, huyện là cấp trung gian, cấp truyền tải quyền lực, không nhất thiết phải có Hội đồng Nhân dân. Hơn nữa, tính tự quản của thiết chế chính quyền ở cấp huyện không cao, thậm chí là khó xác định.

Mô hình tổ chức Ủy ban Nhân dân như hiện nay cũng có nhiều bất cập, cơ chế làm việc tập thể của Ủy ban Nhân dân cộng với chế độ trách nhiệm không rõ ràng càng làm chậm trễ tiến độ giải quyết các công việc. Mặt khác, nhiều khi quyết định của tập thể Ủy ban Nhân dân chỉ là sự hợp thức hoá các quyết định, ý kiến của cấp ủy cùng cấp và của Chủ tịch hay của " Thường trực Ủy ban Nhân dân". Chính điều này đã không làm rõ được trách nhiệm của tập thể và cá nhân Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên khác.

Các cơ quan chuyên môn của Ủy ban Nhân dân, sau một thời gian giảm về số lượng, nay lại có xu hướng tăng trở lại. Việc quy định số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân huyện giống nhau đối với mọi huyện trong tỉnh cũng là điều chưa hợp lý. Việc quy định chức năng tham mưu cho Ủy ban Nhân dân huyện và chức năng quản lý ngành, lĩnh vực tại địa bàn huyện cũng chưa thực sự hợp lý. Chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân huyện cũng chưa thực rõ ràng. Việc đổi mới cơ chế quản lý còn chậm; kỷ luật, kỷ cương hành chính vẫn còn lỏng lẻo, công tác kiểm tra, thanh tra công vụ còn yếu, hầu như ít được thực hiện. Trên thực tế, các cơ quan trên địa bàn huyện chỉ tập trung kiểm tra, thanh tra khi có những vấn đề sai phạm mà ít quan tâm đến việc thanh tra thực hiện công vụ của cán bộ, công chức. Có thể nói, đây là vấn đề không chỉ được đặt ra đối với cấp huyện mà đối với mọi cơ quan hành chính nhà nước ở mọi địa phương nói chung.

Về hiệu quả hoạt động của Ủy ban Nhân dân huyện, ở tỉnh Thái Bình có 37,6% số người được hỏi đánh giá là tốt: 59,4% đánh giá bình thường, 3% đánh giá là hoạt động chưa tốt.

Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Ủy ban Nhân dân huyện – một khâu, mắt xích trong cải cách chính quyền cấp huyện không nằm ngoài những quan điểm chung về đổi mới, cải cách chính quyền địa phương. Tuy nhiên, do đặc thù của Ủy ban Nhân dân – cơ quan hành chính nhà nước, nên việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Ủy ban Nhân dân cũng có những đòi hỏi riêng.

Chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất một số phương án đổi mới hoạt động của chính quyền cấp huyện, thực chất là đổi mới hoạt động của Ủy ban Nhân dân huyện một cách cụ thể:

Phương án một: Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương đã tồn tại cho đến năm 1983 ở nước ta để xây dựng bộ máy chính quyền địa phương hiện nay. Theo đó, Ủy ban Nhân dân được xác định là cơ quan chấp hành của Hội đồng Nhân dân và là cơ quan thường trực của Hội đồng Nhân dân giữa hai kỳ họp của Hội đồng Nhân dân. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân đồng thời là Chủ tịch của Hội đồng Nhân dân. Theo mô hình này, sẽ không có cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân. Chính quyền địa phương có thể sẽ trở nên gọn nhẹ hơn, giảm được cấu trúc trung gian, khắc phục được sự chồng chéo về chức năng giữa Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. Theo mô hình này, Ủy ban Nhân dân là cơ quan thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Nhân dân, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền bắt buộc của Hội đồng Nhân dân, phải được quyết định tại kỳ họp của Hội đồng Nhân dân.

Phương án hai: Phân định rõ giữa quản lý hành chính nhà nước và quyền tự quản địa phương, theo đó cần phải tách Ủy ban Nhân dân khỏi Hội đồng Nhân dân. Ủy ban Nhân dân chỉ có vai trò là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với tư cách là một bộ phận cấu thành, một cấp trong hệ thống bộ máy hành chính nhà nước. Còn Hội đồng Nhân dân được thành lập trên các đơn vị hành chính lãnh thổ với tư cách là cơ quan tự quản địa phương hoạt động trong khuôn khổ quyền tự quản do pháp luật quy định. Với cách tổ chức như vậy, cơ quan tự quản địa phương sẽ được tổ chức với mô hình gọn nhẹ, tương thích với chức năng tự quản do pháp luật quy định. Cách tổ chức này sẽ tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan tự quản địa phương trong việc giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, đáp ứng các yêu cầu, lợi ích của nhân dân địa phương; đồng thời, giảm những gánh nặng của chính quyền trung ương trong việc giải quyết các vấn đề trên lãnh thổ địa phương.

Với mô hình này, trên lãnh thổ địa phương sẽ tồn tại, vận hành đồng thời hai thể chế: thể chế chính quyền địa phương tự quản và thể chế nhà nước đóng trên địa bàn địa phương để giải quyết các vấn đề chung của nhà nước trên địa bàn địa phương. Mô hình này làm thay đổi căn bản quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan tự quản địa phương. Từ quan hệ vừa lệ thuộc, vừa độc lập sang quan hệ độc lập và phối hợp kiểm soát lẫn nhau, làm cho việc thực thi quyền lực nhà nước trên các đơn vị hành chính lãnh thổ luôn được kiểm soát ngay trong các cấu trúc bộ máy này. Mô hình này khá hiện đại và hoàn thiện, có cơ sở triết lý của nó, nhưng nếu áp dụng sẽ dẫn đến sự xáo trộn trong tổ chức chính quyền địa phương. Vì thế, nếu thực hiện mô hình này, phải tiến hành từng bước thật thận trọng và kiên quyết.

Phương án ba: Trên cơ sở mô hình cấu trúc tổ chức chính quyền địa phương nói chung và chính quyền huyện nói riêng được xác định trong Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân, cần cơ cấu lại tổ chức theo hướng tinh gọn bộ máy Ủy ban Nhân dân theo mô hình: bỏ hình thức tổ chức theo kiểu Ủy ban (cơ quan làm việc theo chế độ tập thể, biểu quyết theo đa số), chuyển sang chế độ thủ trưởng hành chính; tăng cường cơ cấu tổ chức Hội đồng Nhân dân theo hướng chuyển Thường trực Hội đồng Nhân dân thành cơ quan Thường vụ của Hội đồng Nhân dân và tăng cường vai trò các Ban của Hội đồng Nhân dân.

Theo hướng này, sẽ tạo được bộ máy hành chính nhà nước gọn về cơ cấu, khắc phục được tình trạng hình thức trong hoạt động của Hội đồng Nhân dân, tránh được những mâu thuẫn, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân cùng cấp. Việc áp dụng mô hình này có thể mang lại hiệu quả và ích lợi sau:

- Đề cao trách nhiệm cá nhân và sự kiểm soát từ phía Hội đồng Nhân dân đối với cơ quan hành chính cùng cấp.

- Việc chuyển sang chế độ thủ trưởng hành chính sẽ bớt những cuộc họp hành, hội thảo triền miên, làm cho cơ quan hành chính thật sự năng động, linh hoạt.

- Xử lý linh hoạt mối quan hệ giữa Hội đồng Nhân dân và người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước với tư cách là cơ quan chấp hành của Hội đồng Nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Đặc biệt là mối quan hệ giữa trung ương và địa phương thông qua trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu cơ quan hành chính sẽ được xử lý kịp thời khi có vướng mắc.

- Công tác cán bộ sẽ có điều kiện để đổi mới trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đặc biệt là công tác luân chuyển công chức.

- Tăng cường vai trò và tính chủ động của Hội đồng Nhân dân, thông qua vai trò của Thường trực Ủy ban Nhân dân và các Ban của Hội đồng Nhân dân.

- Tăng cường tính chủ động sáng tạo, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền, chủ động trong việc tổ chức bộ máy làm việc, tuyển chọn đội ngũ cộng sự, bố trí và phân công một cách hợp lý các công việc.

Từ lý thuyết tổ chức bộ máy công quyền và thực tiễn quản lý nhà nước, chúng tôi cho rằng mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo phương án ba sẽ mở ra khả năng thiết kế bộ máy chính quyền địa phương ở từng cấp theo mô hình hoàn chỉnh (có Hội đồng Nhân dân và cơ quan hành chính) và mô hình chính quyền không hoàn chỉnh - chỉ có cơ quan hành chính..


* Bí thư Huyện ủy huyện Vũ Thư – Thái Bình
BÀI VIẾT THỨ 18
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ CẦN THƠ - THÀNH PHỐ TRẺ ĐẦY SỨC SỐNG
TÁC GIẢ Nguyễn Tấn Quyên*
NỘI DUNG

Năm 2005 đã khép lại. Một năm mới đang mở ra. Thành phố Cần Thơ vào xuân với vóc dáng của một thành phố trẻ đang vươn lên, lớn dậy giữa một vùng đồng bằng đầy sức sống với tiềm năng đa dạng và phong phú, thành phố trẻ này đã và sẽ luôn luôn giữ vai trò rất quan trọng đối với đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.

Nhìn lại chặng đường 5 năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng bộ tỉnh Cần Thơ, thành phố Cần Thơ đã đoàn kết, phát huy tốt các nguồn lực, đổi mới công tác lãnh đạo, điều hành, vượt qua biết bao khó khăn trở ngại, giành được những kết quả rất quan trọng và tương đối toàn diện. Nhiều chỉ tiêu đạt và vượt mức kế hoạch do Đại hội đề ra. Đặc biệt từ sau khi chia tách tỉnh, Đảng bộ và nhân dân thành phố Cần Thơ đã nhanh chóng ổn định tổ chức, triển khai nhanh các nhiệm vụ, tiếp tục đạt nhiều tiến bộ mới trên tất cả các mặt. Kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm (2001 -2005) tăng 13,5%/năm. Giá trị GDP năm 2005 gấp 1,9 lần so với năm 2000. Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 11,6 triệu đồng gấp 1,84 lần so với năm 2000. Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 18,2%/năm. Nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế quan tâm đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, tạo dựng thương hiệu, tăng sức cạnh tranh. Trong 5 năm (2001 -2005) các khu công nghiệp tập trung thu hút được 86 dự án, với vốn đăng ký 269 triệu USD, nâng tổng số dự án trong các khu công nghiệp lên 128 dự án, tổng vốn đăng ký trên 389 triệu USD, vốn đã thực hiện 168 triệu USD (chiếm hơn 43% tổng vốn đăng ký), thu hút gần 18.000 lao động.

Các ngành thương mại, dịch vụ phát triển mạnh theo hướng đa dạng hóa loại hình, chú trọng chất lượng và hướng tới những ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Thương mại - dịch vụ có giá trị tăng bình quân 14,48%/năm. Kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm đạt 1.296,3 triệu USD, tăng bình quân 18,36%/năm, kim ngạch nhập khẩu đạt 871,9 triệu USD, tăng bình quân 24,67%/năm.

Sản xuất nông nghiệp đã đi vào thế ổn định, đang chuyển dần sang hình thái nông nghiệp đô thị, chất lượng cao, gắn sản xuất nông nghiệp với phát triển các ngành dịch vụ. Giá trị sản xuất toàn ngành tăng bình quân 7,68%/năm. Bình quân giá trị sản xuất/1 ha đất nông nghiệp năm 2005 đạt 36,946 triệu đồng, có trên 10 ngàn hộ nông dân đạt giá trị sản xuất trên 50 triệu đồng; cá biệt có một số mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp đạt trên 100 triệu đồng.

Thu ngân sách trên địa bàn hằng năm đều vượt chỉ tiêu, việc điều hành chi ngân sách địa phương có tiến bộ. Tổng thu ngân sách trên địa bàn trong 5 năm 11.053 tỉ đồng. Xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị có nhiều tiến bộ. Thực hiện vượt kế hoạch và tăng khá nhanh nguồn vốn đầu tư. Tổng vốn huy động 5 năm đạt 18.857 tỉ đồng; bố trí vốn đầu tư khá phù hợp, phục vụ ngày càng tốt hơn nhiệm vụ, mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội và dân sinh, khắc phục dần đầu tư dàn trải, nhiều dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đến nay, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 98% (chỉ tiêu 90%), trong đó hộ sử dụng điện khu vực nông thôn 94,2%; tỷ lệ hộ dân được cung cấp nước sạch 88% (chỉ tiêu 80%).

Thực hiện nhiệm vụ của một thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố Cần Thơ 2 năm qua (2004-2005) có những tiến bộ tích cực và tương đối toàn diện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 15,27%/năm. Huy động nguồn vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn đạt 11.589 tỉ đồng, chiếm 61% trong cả 5 năm. Hoàn thành quy hoạch tổng thể về kinh tế - xã hội và quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2020, đang trình Chính phủ phê duyệt. Công tác xây dựng và chỉnh trang đô thị từng bước hình thành, bộ mặt đô thị kể cả nội thành và ngoại thành có nhiều khởi sắc.

Việc thực hiện chính sách xã hội được đặc biệt quan tâm, nhất là về xóa đói, giảm nghèo, chăm lo cho các gia đình chính sách, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, giải quyết việc làm, đào tạo nghề... Sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở... đều có những tiến bộ mới. Chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn.

Phấn khởi, tự hào về những thành tựu, kết quả và tiến bộ đạt được trong thời gian qua, nhưng thành phố Cần Thơ còn những khó khăn, yếu kém và khuyết điểm cần phải giải quyết. Đó là, kinh tế phát triển khá nhanh, nhưng chưa thật vững chắc, chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của thành phố. Các cơ sở kinh tế quy mô còn nhỏ, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế chưa cao. Các ngành công nghiệp, dịch vụ có giá trị gia tăng lớn chậm phát triển; khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế còn kém, chưa có sản phẩm chủ lực và ngành kinh tế mũi nhọn. Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể chưa thể hiện được vai trò chủ đạo. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém. Tiềm năng của các thành phần kinh tế chưa được phát huy tốt. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư của xã hội còn thấp so với bình quân của cả nước. Vai trò trung tâm, sức lan tỏa và thu hút của Cần Thơ đối với kinh tế trong vùng còn hạn chế...

Từ những thành tựu và yếu kém trong 5 năm qua, thành phố Cần Thơ rút ra một số nguyên nhân và bài học thực tiễn sau đây:

Một là, tập trung làm tốt công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhất là công tác cán bộ. Cụ thể là cần thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII và cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng để tạo động lực có tính quyết định cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, củng cố quan điểm quần chúng trong Đảng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với dân, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Thực hiện lãnh đạo, điều hành theo quy chế. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có quan điểm quần chúng tốt, liêm khiết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước nhân dân, xử lý công việc nhanh, hiệu quả.

Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động tốt các nguồn lực đầu tư phát triển.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, vấn đề có ý nghĩa quyết định là Trung ương sớm có cơ chế và chính sách đặc thù dành cho thành phố Cần Thơ, để huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực để đầu tư phát triển.

Thực tiễn cho thấy, tiềm năng trong nhân dân còn rất lớn, nếu có cơ chế, chính sách, chủ trương và giải pháp phù hợp thì việc huy động các nguồn lực phục vụ nhiệm vụ, mục tiêu đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội sẽ đem lại kết quả cao.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và các nhu cầu dân sinh.

Để bảo đảm ổn định về chính trị và trật tự xã hội, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, hạn chế các hiện tượng tiêu cực xã hội, kiểm soát sự phân hóa giàu nghèo, điều hòa các lợi ích không để xảy ra mất ổn định xã hội, Trung ương cần chủ trương dành một phần quỹ hỗ trợ từ nhà nước và huy động mọi đóng góp theo hướng xã hội hóa để giải quyết những vấn đề xã hội gay gắt nhất đối với các hộ nghèo, gia đình chính sách, những người quá khó khăn trong cuộc sống, từng bước giảm dần khoảng cách về mức sống quá chênh lệch trong dân cư.

Bốn là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành có những giải pháp thiết thực, kiên quyết, cụ thể; thường xuyên sâu sát cơ sở, kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc và những vấn đề mới phát sinh, lựa chọn bố trí đội ngũ cán bộ đủ sức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Xác định nhiệm vụ, mục tiêu trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá trong từng giai đoạn và xây dựng chương trình, dự án; có những giải pháp thiết thực. Tổ chức thực hiện thật cụ thể, giao nhiệm vụ cho từng ngành, từng cá nhân rõ ràng. Bố trí nguồn lực tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các ngành có liên quan. Thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát huy nhân tố mới, điển hình tiên tiến và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh... Làm tốt những công việc nói trên chính là điều kiện bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu và nhiệm vụ đề ra.

Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX "về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" đã chỉ rõ:

"Cần Thơ là thành phố giàu tiềm năng, có lịch sử hình thành khá lâu đời, giữ vai trò rất quan trọng cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh, là động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Xây dựng và phát triển nhanh, toàn diện thành phố Cần Thơ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước".

Nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí, nhiệm vụ của mình, Đảng bộ và nhân dân thành phố Cần Thơ quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Bộ Chính trị, phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành thành phố đồng bằng cấp quốc gia văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, xứng đáng là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Công; là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại - dịch vụ, du lịch, trung tâm giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa, là đầu mối quan trọng về giao thông - vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước.

Thành phố Cần Thơ phấn đấu trở thành đô thị loại I trước năm 2010 và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020, là một cực phát triển đóng vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn vùng.

Để xứng đáng với lòng tin yêu của cả nước, đối với thành phố Cần Thơ giai đoạn 2005 -2010 là một thời kỳ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định thắng lợi trong việc triển khai, thực hiện Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây là thời kỳ phát triển toàn diện và mạnh mẽ, nhằm sớm tạo ra nền tảng vật chất - kỹ thuật vững chắc cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố.

Do đó, nhiệm vụ 5 năm 2005 - 2010 của thành phố Cần Thơ rất nặng nề, đòi hỏi đảng bộ và nhân dân thành phố có quyết tâm cao, đồng thời phải có một hệ thống giải pháp hữu hiệu, đồng bộ để biến quyết tâm thành hiện thực. Phấn đấu đạt các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, tốc độc tăng trưởng GDP bình quân 15,5% - 16%. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn trong 5 năm từ 78.000 - 80.000 tỉ đồng. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân 17,91%/năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm là 3.500 triệu USD (tăng bình quân 22%/năm), tổng kim ngạch nhập khẩu 5 năm là 1.900 triệu USD (tăng bình quân 12,5%/năm). Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 36%. Giải quyết việc làm cho trên 200 ngàn lao động, và đưa 4.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Để thực hiện được mục tiêu trên, cần đẩy mạnh phát triển kinh tế, thực hiện đồng thời công cuộc công nghiệp hóa và đô thị hóa. Đây là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu của đảng bộ và nhân dân thành phố. Muốn trở thành trung tâm động lực phát triển của vùng và có một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế của cả nước, trong 5 năm tới, nền kinh tế của thành phố phải phát triển mạnh cả về tốc độ, chất lượng, tăng sức cạnh tranh.

Đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, thực hiện sự chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp - thương mại, dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao. Công nghiệp là xương sống của nền kinh tế thành phố, là khâu trọng yếu quyết định tạo ra bước phát triển đột biến trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố. Trong 5 năm tới, ngành công nghiệp phải tạo ra mức tăng trưởng bình quân từ 21% trở lên mỗi năm.

Phát triển mạnh thương mại, dịch vụ, du lịch. Với tiềm năng đa dạng và những điều kiện khách quan thuận lợi cho phép thương mại - dịch vụ - du lịch của thành phố phát triển mạnh, tốc độ tăng bình quân từ 14,5% - 15% trở lên mỗi năm, là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế thành phố.

Xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao ven đô thị. Do quá trình đô thị hóa, tất yếu diện tích nông nghiệp của thành phố sẽ giảm dần. Tuy nhiên, nông nghiệp ven đô thị vẫn giữ vai trò quan trọng, chiếm tỉ trọng đáng kể trong tăng trưởng (khoảng 10% - 11% GDP đến 2010), là vùng tiềm năng bảo đảm cho chiến lược phát triển lâu dài và bền vững của thành phố, trong đó đất đai là nguồn dự trữ quan trọng nhất và lao động là vốn quý nhất.

Phát triển các thành phần kinh tế, mở rộng hoạt động đối ngoại, nâng cao khả năng sẵn sàng hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế thành phố xây dựng trên quan điểm một nền kinh tế "mở", nhằm khai thác tối đa nội lực và huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực từ bên ngoài để phát triển.

Xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện công cuộc đô thị hóa. Để thực hiện nhiệm vụ phát triển đô thị cần tiến hành ngay quy hoạch chung xây dựng thành phố Cần Thơ đến năm 2020 và định hướng đến 2050. Quy hoạch phải bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn và được quản lý thống nhất, chặt chẽ của Nhà nước. Thành phố Cần Thơ cần có một diện mạo, kiến trúc riêng, không sao chép máy móc những gì đã có sẵn và có không gian hợp lý, khắc phục tình trạng bê-tông hóa đồng thời bảo đảm một thành phố văn minh, hiện đại. Khắc phục tình trạng xây dựng các khu dân cư manh mún, tràn lan, hạ tầng thấp kém, phá vỡ tổng quan đô thị, gây ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái. Đặc biệt chú trọng bảo tồn và phát triển cảnh quan thiên nhiên giàu tính nhân văn.

Nhiệm vụ hàng đầu về phát triển đô thị là tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, trong đó điểm mấu chốt nhất là hạ tầng kỹ thuật giao thông cả đường bộ, đường thủy nội địa, đường biển và đường hàng không, đủ sức phục vụ vận tải nội vùng và liên vận quốc tế để trong một thời gian nhất định thành phố Cần Thơ thật sự là cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Công.

Trong chỉ đạo điều hành, Đảng bộ thành phố Cần Thơ xác định luôn luôn nắm vững phương châm chỉ đạo: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Trên cơ sở đó, xác định những khâu đột phá trong 5 năm tới của thành phố Cần Thơ là: Một, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là hạ tầng giao thông. Hai, đào tạo nguồn lực một cách đồng bộ chất lượng cao, trong đó đặc biệt là nguồn nhân lực khoa học - công nghệ, cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị các cấp và cán bộ quản lý doanh nghiệp. Ba, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính. Bốn, có cơ chế chính sách đủ mạnh để tạo vốn và thu hút đầu tư.

Thành phố trẻ Cần Thơ đang bước vào thời kỳ phát triển mới trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và cơ hội lớn, nhưng cũng có nhiều thách thức gay gắt nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Là một thành phố giàu tiềm năng, Đảng bộ và nhân dân Cần Thơ có truyền thống đoàn kết, yêu nước, có tinh thần lao động cần cù và sáng tạo là những cơ sở cho thành phố trẻ Cần Thơ tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long.


* Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ
BÀI VIẾT THỨ 19
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ ĐỒNG THÁP PHÁT HUY NỘI LỰC,
TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC,
ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THEO HƯỚNG
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
TÁC GIẢ Huỳnh Minh Đoàn *
NỘI DUNG

Đồng Tháp là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt, nguồn nước ngọt dồi dào, đất đai màu mỡ, hằng năm lại được bồi đắp thêm phù sa nên rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp toàn diện. Người dân Đồng Tháp mang đậm bản chất Nam Bộ - thẳng thắn, bộc trực, giàu lòng nhân ái và mến khách. Đồng Tháp Mười có lịch sử oai hùng, đầy tự hào và kiêu hãnh trong quá trình dựng nước và giữ nước; nơi sinh ra và hội tụ nhiều danh nhân yêu nước như Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều, Thống Linh, nơi nhà sĩ phu yêu nước Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã hoạt động và yên nghỉ. Đảng bộ, nhân dân Đồng Tháp giàu truyền thống cách mạng, kiên cường, bất khuất, cần cù, sáng tạo, lập nên bao kỳ tích hào hùng, với những chiến công oanh liệt trong các cuộc kháng chiến cứu nước, đóng góp xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong những năm sau chiến tranh, đặc biệt là 20 năm cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới cũng như 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII, Đảng bộ và nhân dân Đồng Tháp đoàn kết thống nhất, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi thử thách, giành được những thành tựu bước đầu quan trọng. Những năm gần đây liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân 5 năm đạt 9,93%, năm sau cao hơn năm trước, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, thủy lợi, thủy sản, du lịch được tăng cường; thế mạnh của tỉnh đã từng bước được phát huy. Một số cách làm hay, điển hình ngày càng được nhân rộng, nhiều mô hình phát triển kinh tế năng động đã xuất hiện. GDP năm 2005 đạt 7.418 tỉ đồng, tăng gấp 1,6 lần so với năm 2000. Thu ngân sách năm 2005 đạt trên 1.000 tỉ đồng. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ.

Nông nghiệp nhiều năm liền vượt chỉ tiêu kế hoạch, đạt tốc độ tăng bình quân 7,49%/năm. Sản lượng lúa hằng năm ổn định trên 2 triệu tấn, riêng năm 2005 đạt 2,6 triệu tấn. Chăn nuôi gia súc phát triển nhanh, tổng đàn heo trên 300 ngàn con, tăng gấp 1,63 lần và đàn bò gần 24 ngàn con, tăng 8 lần so với năm 2000. Nuôi trồng thủy sản phát triển vượt bậc, năm 2005, sản lượng đạt 119 tấn. Đạt được những thành tựu đó là do áp dụng khoa học - công nghệ có chiều sâu với nhiều mô hình sản xuất theo hướng thâm canh tăng năng suất, chất lượng và đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi; từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn.

Công nghiệp - xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 17,71%/năm, tạo kết cấu hạ tầng thiết yếu cho phát triển những năm tiếp theo. Đã hình thành 3 khu công nghiệp, thu hút 29 dự án đăng ký với số vốn gần 976 tỉ đồng và 1 triệu USD, trong đó có 9 dự án đã đi vào hoạt động, 4 dự án đang triển khai xây dựng. Quy hoạch 16 cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, một số cụm đã bước đầu phát huy tác dụng. Nhiều ngành nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn được khôi phục và nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng được thương hiệu có uy tín.

Thương mại - dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm 12,05%. Ngoài việc phát triển mạng lưới chợ nông thôn và chợ huyện, các chợ trung tâm, đầu mối cũng được xây dựng đáp ứng nhu cầu giao thương ngày một lớn như chợ Trung tâm nông sản Thanh Bình, chợ đầu mối trái cây Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh, chợ thủy sản ở thị xã Sa Đéc... Các loại hình dịch vụ tài chính tín dụng, tư vấn xây dựng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải có bước phát triển khá mạnh. Công tác xúc tiến thương mại, quảng bá du lịch có tiến bộ. Định kỳ tổ chức hội chợ thương mại, hội chợ chuyên ngành và tích cực tham gia các hội chợ khu vực, quốc tế nhằm quảng bá sản phẩm của tỉnh. Các dự án khu kinh tế cửa khẩu, kinh tế quốc phòng, khu di tích lịch sử văn hóa Gò Tháp, khu Xẻo Quýt, khu di tích Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng và một số tuyến, điểm du lịch khác đang được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác nhằm thu hút ngày càng nhiều du khách.

Các thành phần kinh tế được tạo điều kiện để phát triển. Hoàn thành sớm 1 năm kế hoạch sắp xếp doanh nghiệp nhà nước theo đề án đã được Chính phủ phê duyệt; hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa được nâng lên. Kinh tế tập thể tiếp tục phát triển cả về quy mô và chất lượng, hiện nay có 197 hợp tác xã, tăng 2,3 lần so với năm 2000. Kinh tế tư nhân có bước phát triển khá theo hướng tăng cường hiệu quả, đa dạng về quy mô, hình thức; số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 1,6 lần, số vốn đăng ký tăng 1,8 lần so với năm 2000.

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII Đảng bộ tỉnh về lĩnh vực phát triển kinh tế, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục như: chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp; sức cạnh tranh của nền kinh tế yếu; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển công nghiệp, thương mại - dịch vụ triển khai thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu; công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch còn nhiều bất cập; trong quản lý đầu tư xây dựng, đất đai còn nhiều thiếu sót; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ; kinh tế tập thể có phát triển nhưng sức thu hút chưa cao, kinh tế tư nhân còn hạn chế về công nghệ và nguồn vốn đầu tư.

Trong 5 năm tới, bên cạnh những khó khăn, thách thức, Đồng Tháp có nhiều thời cơ và vận hội mới; tiềm năng của tỉnh còn rất lớn; những thành tựu và kinh nghiệm có được trong 5 năm qua tạo niềm tin để vững bước đi lên. Phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, huy động tối đa các nguồn nội lực, thu hút mạnh đầu tư từ bên ngoài, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ; thực hiện có hiệu quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trong kinh tế, cùng với nỗ lực phấn đấu để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, Đồng Tháp chú ý chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hóa. Đây là cơ sở để Đồng Tháp phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Để đạt được mục tiêu đề ra, Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp tập trung lãnh đạo thực hiện tốt những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, coi trọng việc lập quy hoạch và nâng cao chất lượng quy hoạch đồng thời tập trung vốn cho đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch ngành cho phù hợp với quy hoạch vùng và yêu cầu phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Tập trung quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, đô thị mới, các ngành hàng quan trọng. Nâng cao chất lượng dự báo trong các dự án quy hoạch; chú ý khai thác có hiệu quả lợi thế khi các công trình Trung ương được triển khai trên địa bàn. Bảo đảm tính đồng bộ từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chi tiết. Công khai quy hoạch theo quy định và tăng cường giám sát của nhân dân.

Tạo cơ chế phù hợp, môi trường đầu tư hấp dẫn để thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn của trung ương đầu tư cho các chương trình, dự án trên địa bàn; nguồn vốn ODA, các nguồn vốn liên doanh, liên kết trong nước và nước ngoài, tăng vốn huy động trong nhân dân, vốn các thành phần kinh tế và vốn doanh nghiệp; đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư xây dựng bằng nhiều giải pháp và bước đi cụ thể.

Hai là, đẩy mạnh phát triển công nghiệp - xây dựng, tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp, hạ tầng giao thông được xem là nhiệm vụ hàng đầu.

Phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông - thủy sản, chế biến thức ăn chăn nuôi, dược phẩm, may mặc, vật liệu, xây dựng... đồng thời áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Khuyến khích phát triển mạnh loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tập trung đầu tư, đẩy nhanh tiến độ xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp: Sa Đéc, Trần Quốc Toản, sông Hậu; hỗ trợ đầu tư các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cải tiến phương thức vận động đầu tư, bổ sung chính sách, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước. Phát triển các loại dịch vụ phục vụ khu công nghiệp, tiến đến hình thành khu đô thị mới xung quanh khu công nghiệp.

Đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông (đường bộ và đường thủy) nối liền các khu công nghiệp với vùng nguyên liệu và các khu đô thị của tỉnh, những tuyến giao thông huyết mạch; thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để từng bước hoàn chỉnh hệ thống giao thông nông thôn. Tiếp tục đầu tư nâng cấp cảng, bến xe, bến tàu tạo thuận lợi cho hoạt động giao thông - vận tải.

Ba là, phát triển đa dạng các loại hình thương mại - dịch vụ, lấy chiến lược phát triển thị trường làm khâu đột phá.

Xây dựng chiến lược phát triển thị trường - hội nhập kinh tế quốc tế, cải tiến phương pháp và nội dung trong hoạt động xúc tiến thương mại; tranh thủ mọi thuận lợi để mở rộng thị trường, tiếp tục đưa những sản phẩm chủ lực của tỉnh vào các thị trường lớn. Đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao giá trị các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như: gạo, thủy sản chế biến, trái cây tươi, trái cây đóng hộp, bánh phồng tôm, sản phẩm may mặc. Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất và thị trường, ứng dụng công nghệ hiện đại, xây dựng thương hiệu, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng.

Đẩy mạnh hoạt động thông tin, dự báo thị trường, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu; phát triển kết cấu hạ tầng kinh doanh thương mại. Phát triển mạnh mạng lưới chợ, đặc biệt là chợ chuyên, trung tâm thương mại, siêu thị. Khai thác có hiệu quả các lợi thế kinh tế vùng biên giới, thông qua cửa khẩu quốc tế Thường Phước - huyện Hồng Ngự, cửa khẩu quốc gia Dinh Bà - huyện Tân Hồng để phát triển.

Hoàn chỉnh hạ tầng thiết yếu ở các điểm du lịch trọng điểm: Xẻo Quýt, khu di tích Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, khu di tích lịch sử văn hóa Gò Tháp, Vườn quốc gia Tràm Chim, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng. Khai thác có hiệu quả lợi thế du lịch hoa kiểng và du lịch mùa nước nổi. Tổ chức đa dạng các tuyến du lịch nội tỉnh, liên tỉnh và quốc tế. Đầu tư xây dựng nâng cấp khách sạn, bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác du lịch.

Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, tăng cường liên doanh, liên kết với thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, các tỉnh trong khu vực, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Quan hệ chặt chẽ với các viện nghiên cứu, các trường đại học để nghiên cứu, tư vấn về quy hoạch và triển khai ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ, doanh nhân có năng lực, trình độ, đủ tầm để hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả cao.

Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển mạnh kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa mang tính công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao gắn với chuyển dịch lao động trong nông thôn. Hình thành các hợp tác xã nông nghiệp kinh doanh tổng hợp, thực hiện tốt các khâu dịch vụ hỗ trợ sản xuất, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ. Giảm dần diện tích trồng lúa, tăng diện tích gieo trồng hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày theo mô hình luân canh với lúa; hình thành và phát triển vùng chuyên canh cây ăn trái sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Bảo đảm các giải pháp về cung cấp con giống chất lượng cao, vốn, kỹ thuật, thức ăn và vấn đề môi trường để khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi theo hướng bán công nghiệp, công nghiệp, từng bước nâng cao tỷ trọng các ngành này trong cơ cấu nông nghiệp. Khuyến khích phát triển đàn bò thịt có chất lượng cao, phát triển đàn bò sữa trong vùng quy hoạch; khai thác hợp lý nguồn lợi tài sản tự nhiên, quy hoạch vùng nuôi tài sản bảo đảm chất lượng, ổn định, hiệu quả gắn chặt với việc hình thành và phát huy vai trò hội nghề cá. Chú ý phát triển những loại thủy sản mà tỉnh có lợi thế và thị trường tiêu thụ như: cá tra, cá ba sa, tôm càng xanh, các loại cá giống. Quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước, nhất là các bãi bồi ven sông, diện tích mặt nước trong mùa lũ phù hợp với sinh thái của từng vùng.

Tăng cường mối liên kết giữa các nhà: sản xuất, kinh doanh, khoa học; đẩy mạnh cung cấp thông tin khoa học - kỹ thuật, kinh tế, thị trường... để nâng cao trình độ sản xuất của nông dân. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Làm tốt công tác quy hoạch để hình thành các khu dân cư tập trung theo hướng đô thị hóa, nâng cao trình độ học vấn của người dân, đào tạo nghề, khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn, là những giải pháp quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp.

Phương hướng, nhiệm vụ về phát triển kinh tế đã đề ra là hết sức nặng nề nhưng với những giải pháp cụ thể, khả thi; với quyết tâm cao của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, sự lãnh đạo, chỉ đạo và hỗ trợ tích cực của Trung ương, Đồng Tháp nhất định sẽ thực hiện thắng lợi và gặt hái được những thành công lớn hơn, xứng đáng với truyền thống anh hùng trong kháng chiến và sáng tạo, cần cù trong lao động, phấn đấu là một trong những lá cờ đầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở đồng bằng sông Cửu Long.


* Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp
BÀI VIẾT THỨ 20
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ QUẢNG NAM TRÊN CON ĐƯỜNG HƯỚNG TỚI
MỤC TIÊU TỈNH CÔNG NGHIỆP TRƯỚC NĂM 2020
TÁC GIẢ Nguyễn Xuân Phúc *
NỘI DUNG

Theo Quyết định 148/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Quảng Nam được xác định là tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung. Những năm qua nhờ khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh và lợi thế so sánh giữa các nguồn lực; đồng thời vận dụng và triển khai thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, nền kinh tế của tỉnh đã đạt được mức tăng trưởng khá. Đó là những thành tựu có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở cho thời kỳ mới trên lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

1 - Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa. Tốc độ tăng GDP trung bình qua 5 năm (2001 - 2005) đạt 10,4%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP. Toàn tỉnh hiện có 5 khu và 18 cụm công nghiệp được mở ra, đã và đang thu hút đầu tư. Đặc biệt, Khu kinh tế mở Chu Lai khi triển khai là một mô hình mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam, hiện đã có 44 dự án đang hoạt động và sản xuất có hiệu quả với tổng số vốn đầu tư trên 195 triệu USD. Nhiều dự án tiếp tục được đăng ký, đang làm thủ tục đầu tư. Khu Công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc ở phía bắc tỉnh có 53 dự án được cấp giấy phép, trong đó 27 dự án đang hoạt động. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có gần 12.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với nhiều quy mô khác nhau, giải quyết việc làm và đem lại thu nhập khá ổn định cho hơn 62.000 lao động, tăng gần gấp 3 lần so với năm 1997 (khi chia tách tỉnh). Dựa trên điều tra khảo sát các tiềm năng, tỉnh đã quy hoạch 8 nhà máy thủy điện lớn và 33 nhà máy thủy điện nhỏ với tổng công suất khoảng 1.400 MW. Lĩnh vực dịch vụ, du lịch phát triển nhanh, có 88 dự án được đầu tư, trong đó 17 dự án đã đi vào hoạt động, lượng khách du lịch tăng bình quân 22%, doanh thu tăng gần 25%/năm. Kim ngạch xuất khẩu tăng 25%/năm. Quan hệ thương mại được mở rộng đến 30 nước và vùng lãnh thổ. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh từng bước chuyển dịch có hiệu quả hơn so với thời kỳ 1997 - 2000, ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị cao. Hầu hết diện tích lúa đã chuyển sang 2 vụ; một số diện tích trồng lúa không chủ động được nước tưới đã chuyển sang trồng cây công nghiệp, cây thực phẩm, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi... đem lại giá trị kinh tế cao hơn. Một số mô hình kinh tế trang trại, kinh tế hộ có thu nhập cao xuất hiện, từng bước hình thành nền nông nghiệp hàng hóa. Chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng và đánh bắt hải sản phát triển nhanh.

Về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cũng được tỉnh tập trung đầu tư, tổng kinh phí được huy động trên 13.000 tỉ đồng. Đến nay, hầu hết các tuyến đường chính lên miền núi, về vùng sâu, vùng xa đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp. Tỉnh đã làm được trên 4.000 km đường giao thông nông thôn và hơn 700 công trình hạ tầng phục vụ dân sinh miền núi. Đặc biệt, đã xây dựng và đưa vào khai thác cầu cảng mới Kỳ Hà, khôi phục và đưa sân bay Chu Lai vào hoạt động. Trong vài năm tới, Chu Lai sẽ là một cảng hàng không quan trọng vừa vận tải hành khách, vừa trung chuyển hàng hóa trong khu vực ASEAN và sẽ có một nhà máy sửa chữa, bảo dưỡng các loại máy bay trong khu vực. Lưới điện, hệ thống bưu chính - viễn thông và mạng thông tin liên lạc được đầu tư cải tạo, nâng cấp, phát triển mạnh. Hiện có 94% số hộ gia đình được sử dụng điện, 100% số xã đồng bằng và 85% trung tâm các xã miền núi có điện thoại, mật độ điện thoại cố định đạt 9 máy/100 người dân.

2 - Lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước phát triển đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện về nhiều mặt. Quy mô, loại hình và cấp bậc giáo dục - đào tạo trong tỉnh ngày càng mở rộng, cơ sở vật chất phục vụ dạy và học tiếp tục được đầu tư hướng tới mục tiêu hiện thực hóa một xã hội học tập. Riêng giáo dục phổ thông năm học 2004 - 2005 toàn tỉnh có 721 trường với trên 382.000 học sinh các cấp, trong đó có 102 trường được công nhận đạt "chuẩn quốc gia"; 11 huyện, thị được công nhận hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Mạng lưới y tế ở cả ba cấp được đầu tư mở rộng. Tỉnh hiện có 6 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, 17 trung tâm y tế và 225 trạm y tế tuyến xã với trên 2.340 giường bệnh. Đến cuối năm 2004, đạt tỷ lệ 4,71 bác sỹ/1 vạn dân, 65% số trạm y tế xã, phường có bác sỹ; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ 35% năm 2000 xuống còn 27,9% năm 2004. Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được chú trọng nên vừa giảm tải các bệnh nhân nặng cho tuyến trên, vừa hạn chế dịch bệnh ngay từ cơ sở. Sự phát triển về văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao đã góp phần nâng cao mức hưởng thụ về văn hóa tinh thần và nâng cao thể chất cho nhân dân. Hai di sản văn hóa thế giới: Phố cổ Hội An, khu di tích tháp Chàm Mỹ Sơn và hơn 160 di tích lịch sử - văn hóa cùng với những làng nghề nổi tiếng và nhiều danh lam thắng cảnh được trùng tu, tôn tạo, bảo vệ, phát huy, khai thác đúng hướng, đạt được hiệu quả cao. Nhiều lễ hội và tinh hoa văn hóa dân tộc được phục hồi, khai thác, quảng bá làm giàu thêm truyền thống văn hóa - nhân văn của xứ Quảng

3 - Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được giữ vững, pháp chế được tăng cường và thực thi pháp luật có nhiều tiến bộ. Quảng Nam là tỉnh thường xuyên coi trọng phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh; xây dựng khu vực phòng thủ toàn diện trên cơ sở xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân, giữ vững ổn định chính trị. Công tác cải cách tư pháp có nhiều chuyển biến. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án bảo đảm theo đúng quy định và trình tự pháp luật. Đơn thư khiếu nại, tố cáo được tập trung giải quyết, hạn chế khiếu kiện vượt cấp nên không để xảy ra "điểm nóng". Công tác cải cách hành chính, củng cố hệ thống chính trị, mở rộng dân chủ và phát huy hiệu lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành của toàn bộ hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến, đổi mới; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được phát huy mạnh mẽ.

Qua 5 năm vừa làm vừa rút kinh nghiệm, Quảng Nam đã rút ra những bài học cơ bản, làm tiền đề cho sự phát triển giai đoạn tiếp theo là:

- Giữ vững và phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ. Đây được coi là nguyên nhân của mọi sự thành công, đồng thời cũng là kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo, chỉ đạo. Nhờ đoàn kết thống nhất mà năng lực tư duy lãnh đạo của Đảng bộ trưởng thành qua thực tiễn, phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân. Để có sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, trước hết phải xây dựng được sự đoàn kết trong hạt nhân lãnh đạo là cấp ủy và Ban Thường vụ các cấp.

- Coi trọng nhân tố con người và yếu tố động lực của văn hóa. Tỉnh đã có một số kinh nghiệm bước đầu trong việc đề ra chủ trương theo hướng tiếp cận từ văn hóa như: Phát triển du lịch gắn với văn hóa, bắt đầu từ văn hóa; dựa vào sức mạnh truyền thống của cộng đồng làng để quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ các nguồn tài nguyên... Khởi đầu từ văn hóa truyền thống của Quảng Nam: - vùng đất mở để hình thành ý tưởng, chủ trương về kinh tế mở; lấy đổi mới tư duy làm khâu đột phá giải quyết vấn đề từ nhận thức và công tác cán bộ.

- Kiên trì và quyết tâm đổi mới trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm nghiêm túc và có cơ sở khoa học. Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết xây dựng Quảng Nam thành tỉnh công nghiệp vào giai đoạn 2010 - 2015. Từ đó, đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ, chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, lựa chọn đúng khâu đột phá, đổi mới cách nghĩ, cách làm hiệu quả hơn.

- Trong chỉ đạo, điều hành tập trung, kiên quyết, dám làm và phân cấp, phân nhiệm rõ ràng, từ đó tạo ra sự đồng bộ, tin cậy trong bộ máy ở các cấp; phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân trong quá trình triển khai thực hiện giám sát và kiểm tra; thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

Trên cơ sở chú trọng tổng kết thực tiễn, tiếp tục phát huy những kết quả đạt được và căn cứ vào tiềm lực, lợi thế so sánh, có các dự kiến, dự báo với những căn cứ khoa học và tính đến các yếu tố đồng thuận nhằm huy động tổng hợp các nguồn lực đồng thời chủ động với những khó khăn, rủi ro, thách thức phát sinh. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2005 - 2010) đã quyết tâm phấn đấu xây dựng Quảng Nam thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020 với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 14%/năm. Đến năm 2010 tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm trên 82% trong cơ cấu GDP; GDP bình quân đầu người đạt 900 USD; tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn dưới 18% (theo tiêu chí mới); hoàn thành các chương trình, mục tiêu lớn về xã hội trên toàn tỉnh...

Nhằm thực hiện phương hướng và mục tiêu trên đây, những giải pháp cơ bản mà Quảng Nam đặt ra trong thời gian tới là:

1 - Chuyển đổi mạnh hơn nữa cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Tiếp tục chuyển dịch kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Tập trung xây dựng hoàn thiện và lấp đầy các khu công nghiệp; chú trọng phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm; sản xuất đồ uống như bia, nước khoáng, nước giải khát. Phát triển công nghiệp sản xuất điện năng và công nghiệp khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng, công nghiệp sử dụng nhiều lao động (nhất là lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn) như may mặc, da giày, chế biến gỗ để góp phần vào chuyển dịch cơ cấu lao động tại chỗ, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách. Tăng tỷ lệ giá trị công nghệ cao, từng bước hình thành các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao như điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, tự động hóa. Phát triển công nghiệp phụ trợ phục vụ trực tiếp cho công nghiệp chế biến, lắp ráp, tiến tới đầu tư sản xuất các loại thiết bị có yêu cầu kỹ thuật và công nghệ cao.

Về nông - lâm - ngư nghiệp, tỉnh tập trung chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ. Chuyển đổi mạnh cơ cấu trong nội bộ ngành nông - lâm - ngư nghiệp. Thực hiện nhanh và có hiệu quả việc sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh theo Quyết định 237/2005 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trong cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển mạnh các ngành nghề và các ngành dịch vụ, coi trọng việc duy trì, mở rộng các nghề thủ công truyền thống.

Tạo ra sự gắn kết hữu cơ giữa Khu kinh tế mở Chu Lai với vùng đồng bằng, ven biển và hải đảo, vùng trung du và miền núi; tiếp tục nâng cấp các chuỗi đô thị hiện có đi đôi với xây dựng các khu đô thị mới; phát triển mạnh các ngành dịch vụ du lịch và các ngành dịch vụ khác; phát triển kinh tế biển, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Giai đoạn 2 ở Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc sẽ được tỉnh tập trung hoàn thành đưa vào sử dụng các công trình hạ tầng du lịch như giao thông, các cảng du lịch. Phát triển các cơ sở đào tạo nghề; thúc đẩy triển khai sớm dự án xây dựng trường dạy nghề chất lượng cao để nâng cao chất lượng nguồn lao động và Bệnh viện đa khoa trung ương tại Khu kinh tế mở Chu Lai.

Đối với vùng trung du và miền núi, tỉnh tiếp tục tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là giao thông; đẩy mạnh các chương trình kinh tế, giáo dục - đào tạo và chăm lo công tác cán bộ; mở rộng quy mô và nâng cấp thị trấn Khâm Đức - Phước Sơn hiện nay lên thị xã, thành một mô hình đô thị miền núi của tỉnh; từng bước phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa vùng dân tộc thiểu số.

2 - Tập trung phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng. Trước mắt tỉnh tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp các tuyến đường huyết mạch, đường nội bộ trong các đô thị, đường dọc theo các xã biên giới, đường ô-tô đến trung tâm xã, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và tăng cường sự giao lưu giữa các khu vực, các địa bàn; xây dựng hệ thống cảng Kỳ Hà, làm tiền đề, đòn bẩy đột phá để hình thành Khu kinh tế mở. Sân bay Chu Lai sẽ phát triển thành sân bay trung chuyển quốc tế. Tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống các công trình thủy lợi. Quy hoạch, sử dụng các nguồn nước để phát triển thủy điện và điều tiết lũ trên các hệ thống sông lớn. Xây dựng các công trình ngăn mặn, giải quyết nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân vùng cát, vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cải tạo nâng cấp các hồ chứa và hệ thống kênh tưới; xây dựng kè sông, kè biển nhằm hạn chế sạt lở...

Về hạ tầng xã hội, tỉnh tập trung đầu tư xây dựng mới một số trung tâm y tế, phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế chất lượng cao. Đầu tư mở rộng hệ thống cấp nước tại các khu công nghiệp và đô thị, công trình nước sạch tại các trung tâm huyện lỵ. Tiếp tục trùng tu, tôn tạo hai di sản văn hóa thế giới ở Mỹ Sơn và Hội An; mở rộng diện phủ sóng truyền hình đến các vùng xa, vùng lõm; quy hoạch và triển khai xây dựng công viên; xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam Anh hùng lấy nguyên mẫu mẹ Nguyễn Thị Thứ làm biểu tượng giáo dục truyền thống cho thế hệ kế tiếp.

3 - Xã hội hóa và đa dạng hóa các hình thức đầu tư, tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư; khuyến khích các thành phần kinh tế, doanh nghiệp phát triển, tăng thu ngân sách. Các cơ chế, chính sách đã có tác dụng tích cực trong thời gian qua sẽ được tiếp tục phát huy; đồng thời nghiên cứu vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách trên cơ sở sử dụng khung ưu đãi đầu tư tối đa theo quy định chung của Nhà nước, có bổ sung vượt trội, đúng thẩm quyền, nhằm phát huy nội lực, thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Tỉnh mạnh dạn xây dựng chính sách miễn thuế thu nhập, giảm tiền thuê đất; hỗ trợ đào tạo lao động; thực hiện bình đẳng thực sự giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế. Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển các doanh nghiệp nhà nước theo hướng mạnh hơn về quy mô, năng lực; chất lượng và hiệu quả; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển; chú trọng khuyến khích phát triển doanh nghiệp trên địa bàn nông thôn; khuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Thực hiện tốt phương án sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh theo Quyết định 237/2005 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; coi trọng và tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế tập thể phát triển. Tập trung quản lý, khai thác các nguồn thu, chống thất thu đối với tất cả các khu vực kinh tế và các sắc thuế. Tiếp tục thực hiện mở rộng ủy nhiệm thu cho các xã, phường quản lý và khai thác các nguồn thu từ thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ. Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc chế độ miễn, giảm thuế, hoàn thuế để khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh phát triển, tăng thu cho ngân sách, tạo ra nguồn thu ổn định, lâu dài, bền vững, để đến năm 2010 bảo đảm tự cân đối nhu cầu chi thường xuyên.

4 - Bảo đảm giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường đồng bộ với tăng trưởng kinh tế, tập trung chăm lo đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng nông thôn và đô thị, giữa miền núi và đồng bằng. Giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tích cực phòng chống dịch bệnh, phòng, chống tai nạn và thương tích, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên. Thực hiện tốt chương trình cho vay vốn, hỗ trợ người nghèo, giải quyết việc làm, phát triển các nghề, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nông thôn.

Tiếp tục phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, duy trì tốt mục tiêu xóa mù chữ và chống tái mù trong độ tuổi. Thúc đẩy xây dựng Trung tâm công nghiệp phần mềm, Trường đại học công nghệ bán công. Chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng đào tạo trường dân tộc nội trú tỉnh. Quan tâm đào tạo cán bộ có trình độ đại học, các chuyên gia đầu ngành, kể cả cho đi đào tạo ở nước ngoài. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, có phẩm chất đạo đức tốt đến làm việc tại Quảng Nam. Tích cực ứng dụng các thành tựu, tiến bộ khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tế - xã hội.

5 - Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu. Trong các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, phát triển các doanh nghiệp, phải thật sự chủ động hội nhập phù hợp với các thông lệ quốc tế và các yêu cầu của các tổ chức mà nước ta cam kết thực thiện. Tập trung đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu, đặc biệt những mặt hàng có thế mạnh, tiềm năng lớn, giá trị hàng hóa cạnh tranh cao như: may mặc, da giày, sản phẩm gỗ, thủy sản chế biến..., đồng thời chú trọng những mặt hàng xuất khẩu mới. Tăng cường tính chủ động, hiệu quả và thiết thực trong hoạt động đối ngoại, nhất là tạo sự ổn định và mở rộng thị trường theo hướng bền vững.

6 - Xây dựng bộ máy chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt cải cách hành chính. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xóa bỏ những kìm hãm, trở ngại do bệnh quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân. Thực hiện "một cửa, tại chỗ" ở tất cả các cơ quan hành chính, tất cả các cấp chính quyền. Tăng cường kỷ cương, pháp luật Nhà nước gắn với chế độ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu. Phân cấp mạnh, toàn diện và đồng bộ hơn nữa cho địa phương và cơ sở, gắn trách nhiệm với quyền hạn, nghĩa vụ và lợi ích. Tăng cường chế độ giám sát, kiểm tra thực hiện các cơ chế chính sách đã ban hành. Thực hiện nghiêm túc Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Đấu tranh kiên quyết với những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước. Củng cố, xây dựng các cơ quan hành chính nhà nước theo đúng quy định của Trung ương. Phát huy các hoạt động của các tổ chức đoàn thể và các tổ chức xã hội khác trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Trên nền tảng những thành tựu, kinh nghiệm và thực tiễn của thời kỳ đổi mới, cùng với thế và lực của tỉnh, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, lộ trình vươn tới mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020 sẽ là hiện thực trên vùng đất Xứ Quảng giàu truyền thống văn hóa và cách mạng.


* Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.
BÀI VIẾT THỨ 21
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH,
MỘT LỢI THẾ CỦA LONG ĐIỀN
TÁC GIẢ Nguyễn Hồng Lĩnh*
NỘI DUNG

Huyện Long Điền được tách ra từ huyện Long Đất và đi vào hoạt động từ tháng 1 - 2004. Sau 2 năm xây dựng và phát triển, huyện Long Điền đã đẩy mạnh và phát triển kinh tế theo cơ cấu "Dịch vụ - Du lịch, Công nghiệp, Nông nghiệp", phấn đấu đạt tốc độ tăng bình quân 13,3%/năm, và trong 5 năm tới nâng cao mức sống, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp đôi.

Để thực hiện mục tiêu trên, Long Điền xác định: "Phát triển du lịch gắn với nâng cao mức sống của nhân dân" là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt và lâu dài của huyện, đồng thời là một trong những khâu đột phá để góp phần phát triển kinh tế toàn diện, nhằm khai thác khả năng và tiềm năng về du lịch gắn với các hoạt động dịch vụ - phát triển công nghiệp - sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho người lao động.

Long Điền có 15 km bờ biển, có nhiều bãi tắm lý tưởng, có thương hiệu "Du lịch Long Hải" nổi tiếng từ những năm 60 và gần đây đang hình thành các điểm du lịch sinh thái Rừng - Biển ở khu vực Cửa Lấp - Phước Tỉnh - Phước Hưng, Long Hải, Đèo Nước Ngọt, chân núi Minh Đạm; du lịch văn hóa di tích, danh lam thắng cảnh, hành hương núi Chân Tiên, Bàu Thành, Dinh Cố, Lễ hội Dinh Cô. Đây thực sự là một thế mạnh, cần quan tâm đúng mức để đầu tư từ cơ sở hạ tầng đến nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ - du lịch, gắn với bảo vệ môi sinh, môi trường; đảm bảo tốt trật tự xã hội, kết hợp với an ninh, quốc phòng ven biển.

Nhằm phát huy thế mạnh du lịch đảm bảo phát triển nhanh, mạnh và bền vững, huyện Long Điền thực hiện chuyển dịch cơ cấu theo hướng tập trung xây dựng quy hoạch ngành du lịch, gắn quy hoạch du lịch với quy hoạch ngành hải sản và phát triển hạ tầng đô thị, đảm bảo hài hòa với cảnh quan thiên nhiên. Thực hiện tốt việc sắp xếp khu vực nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn với khu vực neo đậu tàu thuyền, dịch vụ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, sơ chế hải sản, di dời và bố trí sắp xếp lại các cơ sở sản xuất, chế biến hải sản trong khu dân cư cũng như môi trường sinh sống của các hộ dân cư ven biển. Để thực hiện tốt chủ trương trên, Đảng bộ đã tạo sự chuyển biến thống nhất mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động trong cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân…, khơi dậy lòng tự hào về "Thắng cảnh Long Hải" để mọi người dân đều có ý thức giữ gìn và phát triển nâng cao uy tín thương hiệu "Du lịch Long Hải" trong cả nước và quốc tế.

Để người dân tự giác tham gia xây dựng thương hiệu "Du lịch Long Hải", Long Điền chủ trương gắn lợi ích của người dân với khai thác lợi thế phát triển du lịch trên địa bàn huyện. Tức là phải làm cho đời sống của người dân gắn bó với nhịp độ phát triển du lịch của huyện. Phát triển các sản phẩm du lịch gắn với các nhu cầu vui chơi, nghỉ dưỡng, hành hương của du khách. Đầu tư, nâng cao chất lượng các điểm du lịch sẵn có của địa phương, quan tâm đào tạo và giải quyết lao động tại chỗ, khai thác trung tâm văn hóa Bàu Thành - một trong những di tích văn hóa đẹp của huyện, xây dựng các khu vui chơi giải trí, thể thao tổng hợp Đèo Nước Ngọt; phối hợp phát huy tiềm năng khu di tích Cách mạng Minh Đạm, khu du lịch văn hóa Dinh Cô - Long Hải, đồi cát biển Phước Tỉnh - Phước Hưng, khu văn hóa Dinh Cố - Chân Tiên xã Tam Phước, biệt thự vườn sinh thái Long Hải, xây dựng các phố ẩm thực phục vụ thức ăn miền biển tại Long Điền, Long Hải.

Khuyến khích và tạo điều kiện cho "du lịch nhân dân" phát triển. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong phát triển du lịch nhân dân để vừa phát huy hiệu quả kinh tế vừa phải đảm bảo môi trường xã hội lành mạnh trong sạch. Xây dựng phong cách ứng xử văn minh lịch sự trong giao tiếp, trong cung ứng dịch vụ và phục vụ du lịch trên từng cơ sở, địa bàn.

Huyện Long Điền có lợi thế để phát triển du lịch, kể cả du lịch văn hóa và du lịch sinh thái. Hiện nay, tham gia kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện có 11 doanh nghiệp với nhiều loại hình liên doanh thuộc các thành phần kinh tế. Số lượng khách du lịch ngày càng tăng: năm 2004 có 89.544 lượt khách (trong đó có 7.312 lượt khách quốc tế), năm 2005 có 182.557 lượt khách (trong đó có 6.954 lượt khách quốc tế). Doanh thu năm 2004 đạt 20,9 tỉ đồng, năm 2005 đạt 21,6 tỉ đồng, giải quyết việc làm cho hơn 1.000 lao động, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Do đó, phát triển mô hình kinh doanh "Du lịch nhân dân" trong thời gian tới sẽ góp phần hỗ trợ, thu hút lớn lượng du khách đến tham quan, vui chơi, giải trí, làm gia tăng doanh thu, phát triển du lịch là nhân tố góp phần đáng kể cho việc nâng cao đời sống nhân dân và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Thực tế cho thấy, tiềm năng du lịch huyện Long Điền khá phong phú. Tuy nhiên, nếu không có giải pháp đúng thì tiềm năng ấy hoặc chưa khai thác đúng tầm hoặc đánh mất dần lợi thế. Vì vậy, để du lịch phát triển nhanh, vững chắc, Long Điền tập trung làm tốt một số vấn đề sau:

1- Nhanh chóng phối hợp với các cấp có thẩm quyền thực hiện hoàn tất quy hoạch toàn bộ khu vực ven biển huyện Long Điền. Tăng cường quản lý nhà nước về du lịch trên cơ sở quy hoạch, xây dựng các quy chế, quy định để vừa thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển, vừa đảm bảo đúng pháp luật, giữ vững môi trường cảnh quan thiên nhiên, gắn mục tiêu các dự án phát triển du lịch với mục tiêu giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện.

2- Chủ động phối hợp nhịp nhàng, thống nhất giữa huyện, tỉnh và các ngành liên quan; nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan chức năng, phát huy hiệu lực quản lý, tạo mọi điều kiện thuận lợi, thông thoáng về môi trường đầu tư để mời gọi, thu hút các nhà đầu tư có nhu cầu và năng lực về lĩnh vực du lịch góp phần cùng khai thác và phát triển Long Điền.

3- Đi đôi với việc mở ra các cụm công nghiệp và phát triển mạnh ngành hải sản, sẽ xác lập tuyến du lịch bờ biển trọng điểm từ Phước Hưng đến Long Hải và Đèo Nước Ngọt, phát triển tiềm năng du lịch trên núi và ven sông, nhanh chóng xử lý tốt vấn đề ô nhiễm môi trường, bố trí đời sống người nghèo có cuộc sống và việc làm ổn định, tái định cư, sắp xếp ngành nghề, bãi đậu tàu thuyền hợp lý phù hợp với yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên địa bàn.

4- Hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh xúc tiến du lịch, đưa thương hiệu "Du lịch Long Hải" phát triển mạnh trong và ngoài nước, vừa nâng cao hiệu suất, hiệu quả đầu tư, vừa đáp ứng khai thác cao tiềm năng du lịch và khơi thông tạo nguồn khách du lịch đến tham quan du lịch trên địa bàn.

Để hoàn thành nhiệm vụ "Phát triển du lịch gắn với nâng cao mức sống của nhân dân", huyện Long Điền xin kiến nghị với các cấp có thẩm quyền một số vấn đề sau:

Một là, tỉnh nên sớm phối hợp với các cơ quan Trung ương có chiến lược về bảo vệ và tôn tạo môi trường sinh thái nói chung và môi trường biển nói riêng để đảm bảo cho du lịch phát triển bền vững, trong đó chú trọng giải quyết tình trạng ô nhiễm từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở chế biến hải sản. Tăng cường trồng tái sinh và bảo vệ rừng ngập mặn ven sông, khảo sát và phục hồi hệ sinh thái ven thềm lục địa.

Hai là, cùng với quá trình xây dựng thị trấn Long Hải trở thành trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch, cần sớm có chủ trương giải quyết các khu nhà ở tạm mà đa số là nhà ở của dân nghèo gắn với quy hoạch hệ thống hạ tầng cho đô thị mới; xây dựng các công trình văn hóa, giao thông trên địa bàn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư và phát triển du lịch.

Ba là, để có thể nâng cao chất lượng dịch vụ - du lịch và gắn với giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, phục vụ yêu cầu phát triển du lịch của huyện, các cấp các ngành cần quan tâm hỗ trợ việc đào tạo cán bộ quản lý, nhân viên du lịch cho các doanh nghiệp dịch vụ - du lịch, đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển du lịch trong thời gian tới.

BÀI VIẾT THỨ 22
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ TAM GIÁC LIÊN KẾT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÁC GIẢ Hoàng Xuân Long*
NỘI DUNG

Ngày 23-2-2000, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Chỉ thị 04/2000/CT-UB-KT để tiến hành Chương trình "Hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hoá với chi phí thấp, tạo ưu thế cạnh tranh tổng hợp và đẩy mạnh xuất khẩu" (CT-04). Điểm nổi bật nhất của CT-04 là hình thành và phát triển mô hình "Tam giác liên kết: Doanh nghiệp - Nhà nước - Cơ sở khoa học". Tam giác liên kết của thành phố Hồ Chí Minh là kết quả của sự học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài, kết hợp với tổng kết tình hình thực tiễn diễn ra trên địa bàn.

Qua quá trình triển khai Tam giác liên kết của thành phố Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số vấn đề sau:

1. Thực hiện Tam giác liên kết đã nâng cao vai trò của Nhà nước địa phương và thúc đẩy các viện, trường, doanh nghiệp tích cực tham gia liên kết.

Về phía Nhà nước:

- Nhà nước đóng vai trò chủ động, tích cực trong việc hình thành và duy trì quan hệ liên kết. Ngoài việc làm cầu nối, Sở Khoa học và Công nghệ còn có vai trò kết nối các nhà doanh nghiệp và các nhà khoa học, gánh chịu bảo hành rủi ro thiết bị cho doanh nghiệp. Ở đây, vai trò của Nhà nước là tác động để rút ngắn khoảng cách, sự tin cậy giữa các nhà doanh nghiệp và các nhà khoa học.

Một trong những vai trò nổi bật của nhà nước trong liên kết là hỗ trợ kinh phí. Sự hỗ trợ này là cần thiết, không chỉ cho doanh nghiệp, mà cả nhà khoa học cũng có cơ hội phát huy được tài năng và đeo đuổi niềm say mê nghiên cứu khoa học của mình; nhà quản lý cũng hoàn thành vai trò hỗ trợ. Kết quả cuối cùng là sự phát triển chung của nền kinh tế thành phố. Sau khi công trình hoàn tất và chuyển giao cho doanh nghiệp thì nguồn vốn ban đầu sẽ được thu hồi cho Thành phố.

- Sở Khoa học và Công nghệ đóng vai trò là cơ quan thường trực, cũng có thể coi là đại diện của phía Nhà nước trong liên kết. Với vai trò đó, Sở Khoa học và Công nghệ đã lập kế hoạch, phân công các đơn vị trực thuộc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, thường xuyên giao ban để kiểm điểm tình hình thực hiện và chỉ đạo kịp thời. Như vậy, sự tham gia vào liên kết của Nhà nước là có thực lực, cụ thể và thường xuyên.

- Hỗ trợ của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu của số đông doanh nghiệp thay vì chỉ phục vụ lợi ích trực tiếp cho một doanh nghiệp, phát huy khả năng của các viện nghiên cứu và trường đại học song không biến họ thành các công ty.

- Hỗ trợ của Nhà nước có chọn lọc và nhằm vào các lĩnh vực mà việc liên kết giữa viện, trường với doanh nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tế chung. Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đánh giá: "Các kết quả đạt được từ hoạt động của Chương trình "Hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hoá với chi phí thấp, tạo ưu thế cạnh tranh tổng hợp và đẩy mạnh xuất khẩu" trong thời gian qua đã có tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đều tăng, tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn 2001 đặt 9,5% và đến năm 2004 đạt mức tăng trưởng 11,6% mức cao nhất từ năm 1998 đến nay"(1).

Về phía các doanh nghiệp:

- Kích thích nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp thông qua việc nhấn mạnh tới năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Những công nghệ mà CT-04 ưu tiên là công nghệ có trình độ tiên tiến, tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao với hàng nhập khẩu. Sau 4 năm triển khai, Chương trình đã thiết kế chế tạo 37 loại thiết bị, công nghệ thay thế nhập khẩu với kinh phí đầu tư 24 tỉ đồng, giá thành chỉ bằng 30- 70% so với giá nhập; chuyển giao 250 thiết bị, tiết kiệm 18 triệu USD nhập thiết bị cho doanh nghiệp; một số sản phẩm đã xuất sang các nước Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia, Ô-xtrây-li-a, Đài Loan,...

- Các doanh nghiệp trên địa bàn thấy rõ khả năng, thực lực của mình thông qua việc tổng kết các điển hình đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp được coi là điển hình trong việc hiện đại hoá thành công, thoát khỏi bờ vực của phá sản và bước đầu khẳng định được vị trí của mình là: Công ty May Sài Gòn III, Công ty Nhựa Sài Gòn, Công ty Bao bì nhựa Tân Tiến...

Kinh nghiệm rút ra từ những doanh nghiệp này là: để đổi mới đầu vào của quá trình sản xuất như thiết kế sản phẩm, thiết bị, vật tư, lao động kỹ thuật, quản lý thông tin và vốn, các doanh nghiệp không chỉ sử dụng một phương thức duy nhất là mua trên thị trường (quan hệ thị trường) mà còn sử dụng hai phương thức khác nữa: tự cải tiến, đổi mới bằng năng lực của chính mình và hợp tác với các cơ quan nhà nước, các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp khác cùng ngành (quan hệ phi thị trường)"(2). Qua đó có thể thấy, thực chất của mô hình Tam giác liên kết chính là phát huy các tiềm năng liên kết có sẵn trong các doanh nghiệp của thành phố.

- Các doanh nghiệp thể hiện vai trò trong liên kết ở chỗ: từ thực tế sản xuất đặt hàng cho việc nghiên cứu; có kế hoạch và trách nhiệm tham gia chương trình liên kết thông qua sự quan tâm của các giám đốc, sự đầu tư vốn cho nghiên cứu và phát triển, triển khai, hoàn thiện sản phẩm; san sẻ lợi nhuận cho các bên có liên quan.

Về phía các viện, trường:

- Phát huy được tiềm lực của các cơ sở khoa học và công nghệ trên địa bàn. Đó là một tiềm lực rất lớn với trên 40 trường đại học, cao đẳng, hơn 60 viện và trung tâm nghiên cứu khoa học, trong đó có một số đơn vị tương đối mạnh như: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Viện Sinh học Nhiệt đới, Viện Cơ học ứng dụng, Viện Công nghệ hoá học, Viện Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Viện Pasteur, Trung tâm Dịch vụ phân tích thí nghiệm. Riêng Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã có 84 khoa, chuyên ngành đào tạo, 40 trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ với trên 1.700 cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, trong đó hơn 50% có trình độ sau đại học. Hoạt động nghiên cứu ứng dụng được xác định là một định hướng quan trọng của trường. Trong các năm 2001-2003, số đề tài nghiên cứu ứng dụng chiếm trên 50% và các đề tài triển khai, chuyển giao công nghệ chiếm khoảng 30% tổng số đề tài.

- Có sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học từ nhiều viện nghiên cứu, trường đại học khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết những vấn đề lớn mang tính tổng hợp, giải các bài toán liên ngành, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Sự phối hợp của các lực lượng khoa học khác nhau được thực hiện trong Tam giác liên kết gắn liền với việc: xác định nhiệm vụ,trách nhiệm nghiên cứu cụ thể và nhằm tới những kết quả hiện thực; tập hợp các nhà khoa học trong một ê kíp thống nhất, chọn đúng "Thủ lĩnh khoa học" (vai trò của thủ lĩnh được coi là một trong các yếu tố quyết định thành công do tạo được niềm tin và sự toàn tâm, toàn ý của các nhà khoa học); coi trọng lợi ích chính đáng của những người tham gia.

- Thông qua thành lập Trung tâm thiết kế và chế tạo thiết bị mới (Neptech) để tạo điều kiện về thiết bị cho các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu, phát triển công nghệ cao; cũng là tạo điều kiện cho việc tăng cường liên kết trong lĩnh vực công nghệ cao.(3)

- Tạo điều kiện cho viện, trường gắn kết với doanh nghiệp mà không vi phạm hàng rào "chức năng" ngăn cách giữa viện, trường và doanh nghiệp. Trên thực tế, nguyên tắc "phát huy vai trò, khả năng của các đại học, viện, song không biến họ thành các công ty" trong Tam giác liên kết đã phát huy tác dụng và tạo điều kiện cho các trường đại học thực hiện quan niệm của mình: "... đại học là nơi sáng tạo ra khoa học công nghệ là vườn ươm các xí nghiệp khoa học, sản xuất nhưng đại học không thể là nơi sản xuất hàng loạt sản phẩm công nghiệp"(4).

2. Việc liên kết thông qua Tam giác liên kết mang lại lợi ích mới cho tất cả các bên tham gia.

- Đối với doanh nghiệp, không phải bỏ chi phí nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới, được sử dụng thiết kế mới miễn phí, do đó giá thành thiết bị làm ra thấp, dễ cạnh tranh, giảm rủi ro khi phát triển sản phẩm mới mà không đúng nhu cầu thị trường. Qua liên kết, doanh nghiệp có những hiểu biết, thông tin tốt hơn về viện, trường.

- Đối với viện và trường, các nhà khoa học được trích doanh thu từ các doanh nghiệp trả quyền tác giả thiết kế, do đó thu nhập sẽ tăng tỷ lệ với số sản phẩm bán trên thị trường. Viện, trường cũng có thêm nhiều thông tin về doanh nghiệp.

- Đối với Nhà nước, kinh phí đã bỏ ra cho nghiên cứu khoa học được hoàn trả lại để tiếp tục tái đầu tư cho nghiên cứu. Theo đó, mức chi cho nghiên cứu hàng năm từ ngân sách không tăng, nhưng tiền dùng cho nghiên cứu khoa học lại ngày một tăng.

3. Nhiều hoạt động được đồng thời đổi mới để thúc đẩy mối liên kết giữa viện, trường với doanh nghiệp.

Phát triển thị trường công nghệ, đào tạo hỗ trợ doanh nghiệp tham gia tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vay vốn kích cầu đổi mới, ... được coi là những hoạt động đổi mới liên quan tới việc giải quyết các ảnh hưởng gián tiếp tới mối liên kết viện, trường với doanh nghiệp để phát triển công nghệ mới.

4. Một số hạn chế cần được khắc phục khi thực hiện Tam giác liên kết ở thành phố Hồ Chí Minh.

- Việc liên kết được thực hiện trong khuôn khổ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước; vai trò chủ động của viện, trường và đặc biệt là của doanh nghiệp chưa cao; sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau chưa nhiều; quan hệ viện, trường với doanh nghiệp chưa đi sâu vào phối hợp cùng nghiên cứu; chưa thu hút được ở quy mô lớn các cơ quan nghiên cứu và các doanh nghiệp vào tham gia liên kết.

- Kinh phí đầu tư để thực hiện Chương trình là từ nguồn ngân sách tập trung, tuy nhiên quy trình xét duyệt và cấp phát kinh phí lại thực hiện như một dự án sản xuất - thử nghiệm. Trong thực tế, thời gian thực hiện các thủ tục thường kéo dài, vấn đề quản lý tài chính đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập, gây khó khăn không nhỏ đối với nhà khoa học cũng như cơ quan quản lý. Điều này gây cản trở cho việc triển khai nhanh các dự án cũng như mở rộng quy mô của nó.

- Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ chưa ra đời, vì vậy kinh phí để triển khai Chương trình chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách nhà nước, không có nguồn kinh phí để triển khai một số dự án sau khi đã chế tạo và nghiệm thu thiết bị đầu tiên. Trong khi đó, các ngân hàng và các tổ chức tài chính vẫn chỉ cho vay khi có tài sản thế chấp và các nhà khoa học không đủ điều kiện để tiếp cận các nguồn tài chính này.

- Thiếu một cơ chế đáp ứng nhu cầu xã hội trên góc độ một giao dịch thương mại. Hiện nay, vấn đề phân chia lợi ích trong chuyển giao công nghệ vẫn chưa có những quy định rõ ràng, do vậy chưa thực sự khuyến khích các nhà khoa học tham gia chương trình. Ngoài ra, sở hữu trí tuệ, quyền tác giả cũng là một vấn đề còn thiếu những quy định pháp lý cụ thể.

- Chưa có giải pháp đầu tư mạo hiểm để đạt những công nghệ cao, chưa quản lý và đầu tư hoạt động sản xuất sau dự án sản xuất - thử nghiệm, hoàn thiện, phát triển và cập nhật công nghệ để đưa ra thị trường.

- Chưa tập hợp và bứt phá được năng lực chế tạo của các nhà khoa học; chưa tạo các điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, cơ chế quản lý, tài chính, nguồn thông tin.

Những cản trở phải giải quyết để Tam giác liên kết ở Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, cũng là những vấn đề chung cần được tiếp tục nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay.


* TS, Bộ Khoa học và Công nghệ
(1) Báo cáo khoa học tại Hội thảo "Liên kết đổi mới công nghệ và tinh thần doanh nghiệp: Kinh nghiệm cho các nước đang phát triển", do NISTPASS và Quỹ HONDA phối hợp tổ chức tại Hà Nội, ngày 28/2/2005.
(2) UBND Thành phố Hồ Chí Minh - Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường: "Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 (Dự thảo số 2)", tập 1, thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11/1998, tr 96.
(3) Xem http://www.vnn.vn/kinhte/2004/02/48766/
(4) Báo cáo khoa học tại Hội nghị toàn ngành triển khai Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2010 và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương 9, khoá IX - do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại Hà Nội, tháng 4/2004, trang 85.
BÀI VIẾT THỨ 23
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ BÌNH DƯƠNG TRÊN CON ĐƯỜNG
ĐẨY NHANH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
TÁC GIẢ Phạm Ngọc Dũng*
NỘI DUNG

1. Trong 7 năm (1997 - 2004) qua, Bình Dương đã phát huy tiềm năng nội lực, thu hút ngoại lực tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhịp độ tăng trưởng GDP cao và ổn định, thời kỳ 1997 - 2003 đạt 14%, năm 2004 bình quân tháng đạt 15,5 %. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH). Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 45,5% (năm 1996) lên 64,1% (năm 2004); nông - lâm nghiệp giảm từ 26,2% (năm 1996) xuống còn 10% (năm 2004); dịch vụ giảm từ 28,3% (năm 1996) xuống còn 25,9% (năm 2004). Cơ cấu thành phần kinh tế biến đổi mạnh mẽ, giá trị sản xuất của kinh tế nhà nước (trung ương và địa phương) tiếp tục tăng, kinh tế dân doanh, nhất là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tăng 36,8%, GDP bình quân đầu người đạt 11,8 triệu đồng (tăng 14,9% so với năm 2003), tổng thu ngân sách nhà nước trong 6 năm (1997 - 2003) tăng 17%, năm 2004 tổng thu ngân sách tăng khoảng 38%(1).

Điểm nổi bật là Bình Dương có sản xuất công nghiệp phát triển với tốc độ cao so với cả nước. Trong thời kỳ 1997 - 2003, giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng từ 2.670 tỉ đồng (năm1996) lên 23.564 tỉ đồng (năm 2003), đạt tốc độ tăng bình quân 34%/năm, năm 2004 đạt 32.282 tỉ đồng, tăng 37,1% so với năm 2003. Trong đó, doanh nghiệp nhà nước tăng từ 284 tỉ đồng (năm1995) lên 689 tỉ đồng (năm 2004), tăng 2,4 lần; doanh nghiệp dân doanh tăng từ 1.060 tỉ đồng (năm1996) lên 5.040 tỉ đồng (năm 2004), tăng 4,7 lần; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 1.013 tỉ đồng (năm1996) lên 8.631 tỉ đồng (năm 2004), tăng 8,5 lần. Trong việc phát triển khu công nghiệp, Bình Dương được coi là 1 trong 3 địa phương thành công nhất của cả nước. Đến nay, tỉnh đã có 12 khu công nghiệp trên diện tích 1.900 ha, đạt tỉ lệ cho thuê lại đất là 70%. Nhiều khu công nghiệp rất thành công, thu hút được đầu tư, lấp kín trên 90% diện tích đất như khu công nghiệp Bình Dương, Bình Đường, Sóng Thần I và Sóng Thần II, Đồng An….Sau khi có Luật Doanh nghiệp (năm 2000), các thành phần kinh tế ở Bình Dương tham gia khá mạnh vào ngành công nghiệp, vì thế số cơ sở công nghiệp đã tăng từ con số 2.783 (năm 1996) lên tới 3.333 (năm 2003). Tính đến năm 2004, Bình Dương có 2.268 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần với tổng số vốn điều lệ đăng ký là 8.476 tỉ đồng, 41 doanh nghiệp nhà nước và 65 hợp tác xã(2) .

Đặc biệt, Bình Dương đã trở thành 1 trong 5 địa phương thu hút vốn FDI nhiều nhất của cả nước. Số cơ sở công nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh chóng từ 45 doanh nghiệp (năm 1996) lên 601 (năm 2003). Tính đến năm 2004, Bình Dương đã có 842 dự án FDI, với tổng số vốn đầu tư 4,014 tỉ USD từ 34 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; trong đó lĩnh vực công nghiệp có 96,6% số dự án (chiếm 91,5% tổng vốn đầu tư); khu vực dịch vụ có 1,6% số dự án (với 5,3% tổng vốn đầu tư); khu vực nông, lâm nghiệp có 1,2% số dự án (chiếm 2,3% tổng vốn đầu tư); khu vực xây dựng 6 dự án (với 0,4% tổng vốn đầu tư). Cơ cấu, quy mô và hình thức của các dự án này hoàn toàn phù hợp với quá trình CNH, HĐH đất nước.

Nhờ kinh tế phát triển, nhất là công nghiệp có tính đột phá theo hướng CNH, HĐH mà các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, lao động - việc làm, thể dục thể thao của tỉnh có bước phát triển rõ nét. Trên 92% thanh thiếu niên trong độ tuổi ở tỉnh đều được đến trường. Toàn tỉnh có 100% số huyện, thị xã đã phổ cập giáo dục trung học cơ sở; 13 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia; 60/84 xã, phường, thị trấn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Trong những năm qua, đặc biệt năm 2004, tỉnh đã huy động được 19 tỉ đồng để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho dạy, học và tiếp tục đầu tư cho đào tạo nghề, trung học chuyên nghiệp. Hoạt động giáo dục thường xuyên được đẩy mạnh, với số học sinh trung học chuyên nghiệp năm 2004 tăng 12%, sinh viên cao đẳng và đại học tăng 8% so với năm 2003. Tỉnh cũng thực hiện tốt các chương trình mục tiêu y tế quốc gia. Bệnh viện tỉnh và các trung tâm y tế cấp huyện được nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới, trong khi mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục củng cố và hoàn thiện. Đến nay, toàn tỉnh có 30/84 xã, phường đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế, 70/84 trạm y tế xã có bác sỹ, mỗi khu ấp đều có nhân viên y tế cộng đồng. Công tác dân số, gia đình và trẻ em tiếp tục được củng cố và phát triển. Chính sách xã hội - lao động - việc làm đạt nhiều thành tựu. Đến năm 2004, 100% xã, phường đã làm tốt chính sách thương binh, liệt sỹ và người có công. Bình quân hằng năm, tỉnh giải quyết việc làm cho 26.000 lao động, riêng năm 2004, được 33.000 lao động có việc làm, 13.600 lao động được dạy nghề. Hiện nay toàn tỉnh không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 0,9%(3). Bình Dương đạt được những thành tựu trên là nhờ một số nguyên nhân cơ bản sau:

- Có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là công nghiệp. Bình Dương nằm trong khu kinh tế trọng điểm phía Nam, do vậy, Bình Dương là đầu mối giao lưu của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên theo các các trục đường giao thông quan trọng Quốc lộ 13; 14, tuyến đường sắt Bắc Nam, đường sắt xuyên Á về thành phố Hồ Chí Minh. Các sông Sài gòn, Đồng Nai, Thị Tỉnh, sông Bé không những là mạng lưới giao thông thuỷ thuận tiện mà còn là nguồn cung cấp nước phong phú cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân với trữ lượng hàng triệu m3/năm. Bình Dương còn có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, nhất là khoáng sản phi kim loại, được phân bổ tại 82 vùng với 9 loại cơ bản là than bùn, kaolin, sét, đá xây dựng... Đây là những nguồn lực quan trọng để phát triển công nghiệp của tỉnh.

- Ngay từ khi mới tái lập (năm 1997), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trên cơ sở kế thừa truyền thống của tỉnh sông Bé đã phát huy tính chủ động, dám nghĩ, dám làm, biết khai thác lợi thế về vị trí, địa lý, địa hình, tài nguyên khoáng sản, nguồn nhân lực, đồng thời vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, nhất là chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào trong hoàn cảnh của Bình Dương. Cụ thể là:

+ Nhận rõ vốn là nguồn lực quan trọng nhất hiện nay để phát triển kinh tế, Bình Dương đã tạo được sự nhất trí cao của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân để mạnh dạn đổi mới cơ chế hoạt động, phong cách làm việc và tạo ra môi trường thông thoáng, hấp dẫn, thật sự "trải chiếu hoa" mời đón các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài.

+ Đặc biệt, Bình Dương rất coi trọng công tác cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế "một cửa" theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khoá VIII của Đảng và Quyết định 2007/1999/QĐ-TTg, ngày 25-10-1999, nhất là Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-2001 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và Quyết định 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 về Việc triển khai thực hiện cơ chế "một cửa" ở các cơ quan nhà nước. UBND các cấp tỉnh Bình Dương đã tập trung chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính, đặc biệt trên những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế như nhà đất, xây dựng, đầu tư, đăng ký sản xuất kinh doanh. Công tác cấp giấy phép đầu tư được giải quyết nhanh, gọn, đúng pháp luật. Ngoài ra, tỉnh luôn có những hỗ trợ, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn cho các doanh nghiệp.

+ Kết cấu hạ tầng tốt là yếu tố rất quan trọng để thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội, nhận thức rõ điều này, Bình Dương rất quan tâm đến quy hoạch phát triển và xây dựng lại hệ thống các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trên cơ sở thực hiện phương châm đa dạng nguồn vốn từ các thành phần kinh tế. Nhờ đó, tỉnh đã đầu tư nâng cấp, sửa chữa được nhiều tuyến đường quan trọng đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, vận chuyển nguyên liệu, sản phẩm của các doanh nghiệp, tạo điều kiện lưu thông hàng hoá và thúc đẩy các vùng sâu vùng xa trong tỉnh cùng phát triển. Các nhà máy nước Thị xã và Dĩ An (với tổng công suất 50.000m3) đã cung cấp đủ nước cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Sóng Thần I, Sóng Thần II, Việt Nam - Singapore. Mạng lưới điện truyền tải 220 KV được cấp từ nhà máy thuỷ điện Thác Mơ, nhiệt điện Thủ Đức, thuỷ điện Trị An, cùng lưới điện truyền tải 220 kV, 110 kV (dài 290,3 km), lưới điện trung áp (dài 1202 km) và 2530 trạm biến áp (có tổng dung lượng 440 MVA) phục vụ tốt cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Ngoài những biện pháp tích cực để thu hút vốn đầu tư như trên, quán triệt những quan điểm cơ bản của Nghị quyết TW 3, khoá IX và tình hình thực tiễn trong các doanh nghiệp nhà nước, Bình Dương tích cực sắp xếp lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn 2003-2005. Chính việc chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần đã tạo ra động lực mới, khai thác có hiệu quả tiềm năng của những doanh nghiệp này, góp phần quan trọng phát triển công nghiệp của tỉnh.

2. Bên cạnh những thành công và kết quả đã đạt được, sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH, HĐH của Bình Dương còn một số tồn tại và hạn chế cần khắc phục. Đó là, tốc độ phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH tương đối nhanh, nhưng chưa ổn định và vững chắc. Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp còn yếu, trình độ kỹ thuật vẫn lạc hậu, còn thiếu vốn đầu tư, vẫn xuất hiện nhiều điểm nóng về xã hội, nhất là vấn đề nhà ở, y tế, đời sống cho người lao động. Ngoài ra, mặc dù tỉnh đã làm tốt việc huy động ngoại lực, nhưng chưa huy động nội lực trong tỉnh một cách tương xứng. Kinh tế của tỉnh tuy phát triển nhanh, song số lượng và chất lượng nguồn nhân lực lại chưa đáp ứng kịp thời. Đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ và quản lý có trình độ cao ít (số cán bộ trên đại học chỉ có 108 người, trong đó có 3 tiến sỹ). Lực lượng lao động trực tiếp chủ yếu vẫn là lao động phổ thông (chiếm 80% trong tổng số lao động) và tỉnh vẫn bị thiếu nhiều công nhân kỹ thuật tay nghề cao. Nguyên nhân chính của tình trạng trên đó là:

Một là, Bình Dương chưa chủ động xây dựng và thực hiện cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành và nội bộ ngành. Cơ cấu kinh tế phát triển nhanh theo hướng CNH, HĐH, nhưng chưa cân đối. Khu vực dịch vụ phát triển còn quá chậm so với khu vực công nghiệp. Trong lĩnh vực dịch vụ, sự phát triển cũng mất cân đối. Dịch vụ xuất khẩu, vận tải, thương mại phát triển mạnh, trong khi các ngành dịch vụ khác như dịch vụ thông tin viễn thông, tài chính ngân hàng, nhất là dịch vụ xã hội nhà ở, y tế, giáo dục đào tạo nghề cho người lao động chưa được quan tâm đúng mức. Hiệu quả sản xuất kinh doanh nông nghiệp chưa cao. Các vùng chuyên canh phát triển không ổn định. Năng suất cây trồng vật nuôi thấp. Cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế còn bất hợp lý. Giá trị sản xuất nông nghiệp tuy chỉ còn chiếm 11% GDP (năm 2004), nhưng lao động trong nông nghiệp vẫn còn chiếm tới 33% tổng số lao động xã hội.

Hai là, Bình Dương chưa có cơ chế thích hợp, ủng hộ và khuyến khích các doanh nghiệp trong nước. Mặc dù số lượng các doanh nghiệp trong nước tăng nhanh, nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh do thiếu vốn đầu tư, thiếu sự hỗ trợ cần thiết về thông tin thị trường, tài chính, kinh tế trong nước và nước ngoài, không có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi của ngân hàng về thủ tục vay vốn vì không có các tài sản thế chấp hoặc có nhưng không đáp ứng các yêu cầu cụ thể của ngân hàng... Vì thế, hầu hết các doanh nghiệp đều sản xuất kinh doanh ở quy mô nhỏ, với mức vốn điều lệ dưới 10 tỉ đồng. Mặt khác, cơ cấu lao động nội tỉnh và ngoại tỉnh cũng mất cân đối. Trong tổng số lao động trong các doanh nghiệp, thì lao động ngoài tỉnh chiếm 60%. Riêng doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, lao động ngoài tỉnh chiếm 90%. Với những lý do trên đã làm cho giữa nội lực và ngoại lực bị mất cân đối nghiêm trọng, đòi hỏi phải có giải pháp tháo gỡ trong thời gian tới.

Ba là, trong những năm qua tuy tỉnh có nhiều dự án mở rộng quy mô sản xuất, phát triển mới làm tăng nhu cầu lao động, song trong một số doanh nghiệp chỉ mới thực hiện ký kết được hợp đồng lao động với 50-70% số lao động. Trong giao kết của hợp đồng lao động, các doanh nghiệp vẫn chưa bảo đảm được mức lương theo bậc ngành nghề cho người lao động. Nguyên nhân của tình trạng này là hoạt động của công đoàn ở các doanh nghiệp yếu, các thỏa ước lao động chưa được quan tâm đúng mức. Cũng chính vì vậy, tỉ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, y tế của người lao động còn thấp (60% tổng số lao động); tranh chấp lao động thường xảy ra trong những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hệ thống an sinh xã hội hoạt động kém. Nhìn chung, ý thức chấp hành Bộ Luật Lao động của cả người lao động và cả người sử dụng lao động đều thấp.

3. Để thực hiện các nghị quyết của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ khoá VII của tỉnh, Bình Dương cần tiếp tục phát triển kinh tế nhanh và bền vững, giữ vững nhịp độ tăng trưởng các ngành công nghiệp (34-35%), nông nghiệp (5-6%) theo hướng CNH, HĐH, đặc biệt chú trọng đẩy mạnh phát triển đa dạng ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ xã hội. Huy động, khai thác tổng hợp các nguồn lực, nhất là nội lực nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ và có hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách cân đối. Tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là các đô thị độc lập hoặc đô thị vệ tinh của các thị trấn công nghiệp, sớm hình thành chùm đô thị Nam Bình Dương. Đẩy mạnh phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời thực hiện xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng sống của dân cư. Để những quan điểm trên trở thành hiện thực việc cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau là cần thiết:

Thứ nhất, tiếp tục ưu tiên thu hút đầu tư vào phát triển các ngành kinh tế. Trong giai đoạn 2005 - 2010, tỉnh sẽ tập trung "mời gọi" các nhà đầu tư vào phát triển một số ngành công nghiệp: công nghệ cao, công nghiệp sạch và công nghiệp chế biến theo hướng hiện đại, đặc biệt là đầu tư phát triển các ngành dịch vụ sao cho tương xứng với sự phát triển của công nghiệp. Tỉnh cũng chú ý phát triển công nghiệp toàn diện ở cả hai vùng Bắc và Nam của Bình Dương, trong đó lấy phát triển các khu công nghiệp phía Nam làm động lực thực hiện CNH, HĐH của tỉnh.

Thứ hai, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế cân đối theo hướng CNH, HĐH trên tất cả các lĩnh vực kinh tế. Phát triển nông nghiệp hàng hoá, hoàn thiện và mở rộng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, tạo thế ổn định cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp. Phát triển các loại hình dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, bưu chính viễn thông, ngân hàng, cho thuê tài chính, tư vấn…. Phát triển các khu siêu thị và các trung tâm thương mại Phú Hoà, Thương Xá, Thuận An, Phú An, Dĩ An, Sóng Thần I, Sóng Thần II, Bình Đường và Phú Giao, Trung tâm Thương mại Lái Thiêu, Dĩ An. Đặc biệt phát triển các loại hình dịch vụ xã hội nhà ở, y tế, giáo dục đào tạo, vui chơi giải trí ở ngay các khu công nghiệp cho người lao động, giải quyết những bức xúc về mặt xã hội hiện nay.

Thứ ba, đẩy mạnh tiến độ đổi mới doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ngân sách và năng lực cạnh tranh. Đồng thời, có biện pháp ưu đãi cả về cơ chế và chính sách cho các doanh nghiệp trong nước trong việc đổi mới công nghệ quản lý và sản xuất kinh doanh để nâng cao sức cạnh tranh, hội nhập kinh tế có hiệu quả. Từng bước nâng cao chất lượng hoạt động và tỷ trọng của doanh nghiệp trong nước ngang và vượt các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài .... Doanh nghiệp dân doanh cần được khuyến khích để thật sự trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong những năm tới.

Thứ tư, phát triển mạnh các hình thức liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp. Đây là giải pháp quan trọng vì nó không những tạo cho doanh nghiệp phát huy ưu điểm của chuyên môn hoá, tận dụng tốt năng lực sản xuất, mà còn có lợi cho Nhà nước và xã hội, khắc phục tình trạng chồng chéo, lãng phí trong đầu tư, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, gắn kết các ngành, các hình thức sở hữu, các vùng kinh tế để tăng khả năng cạnh tranh. Để thực hiện liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp, cần đa dạng hoá các hình thức liên kết, xây dựng và thực hiện các quy hoạch ngành và vùng kinh tế, nâng cao vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong quan hệ liên kết kinh tế.

Thứ năm, lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, chú ý đào tạo nhân lực có tay nghề cao tương xứng với sự phát triển của công nghiệp theo hướng hiện đại. Lồng ghép, củng cố và phát triển các trung tâm đào tạo nghề của Nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp. Mặt khác, tăng cường tuyên truyền và phổ biến rộng rãi bộ Luật Lao động nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật cho cả người lao động và sử dụng người lao động.


* TS. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(1) www.binhduong.gov.vn
(2) Tạp chí Quản lý Nhà nước số 104/9-204: Bình Dương khai thác tiềm năng phát triển kinh tế-xã hội.
(3) Tỉnh ủy Bình Dương: Báo cáo kiểm điểm hai năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, khóa VI (2001-2005).
BÀI VIẾT THỨ 24
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 135
Ở HUYỆN TRẢNG BOM (ĐỒNG NAI)
TÁC GIẢ Như Hải
NỘI DUNG

Chương trình 135 là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các địa phương. Trảng Bom (Đồng Nai) là một huyện điển hình trong việc thực hiện chương trình này trong 5 năm qua (2001-2005).

Huyện Trảng Bom có 16 xã và 1 thị trấn, diện tích tự nhiên là 326,14 km2, dân số hơn 189.381 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 59,5%. Số người trong độ tuổi lao động khoảng hơn 99 nghìn người, trong đó, lao động lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm trên 47% tổng số lao động; nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế huyện. Huyện có 3 xã đặc biệt khó khăn (Sông Thao, Sông Trầu, Đồi 61) và 2 xã vùng sâu, vùng xa. Trước khi có Chương trình 135, đời sống kinh tế - xã hội của các xã này rất nghèo. Cư dân đa số là đồng bào dân tộc với tập quán canh tác lạc hậu, phân bố rải rác; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ nhỏ lẻ, tự phát. Hệ thống cơ sở hạ tầng lạc hậu và thiếu thốn, giao thông nông thôn chủ yếu là đường cấp phối và đường do dân tự mở, việc đi lại, vận chuyển hàng hóa hết sức khó khăn nhất là trong mùa mưa. Hệ thống điện chỉ đến được trung tâm xã và mới có khoảng 55% số hộ gia đình có điện sinh hoạt. Tình trạng thiếu trường lớp, học sinh học 3 ca, tỷ lệ học sinh bỏ học, các trạm y tế chưa có bác sĩ phụ trách… còn khá phổ biến. Tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm trên 20%. Những khó khăn đó đã tạo ra khoảng cách chênh lệch khá lớn về kinh tế - xã hội giữa các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa với các xã khác trên địa bàn huyện. Làm sao để rút ngắn khoảng cách? Đó là nỗi trăn trở của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp. Trong hoàn cảnh ấy, Chương trình 135 của Chính phủ thực sự là "luồng gió mới", từng bước thu hẹp khoảng cách đó.

Năm năm qua, căn cứ vào yêu cầu cấp thiết của từng xã, huyện Trảng Bom đã chủ động lồng ghép các nguồn vốn khác nhau cho đầu tư xây dựng một số công trình tiêu biểu về điện, đường, trường, trạm. Đã xây dựng: 70km đường giao thông, 15,3 km đường điện, 2 hệ thống chiếu sáng công cộng, 1 hệ thống cấp nước sinh hoạt; 3 trường Trung học cơ sở, 2 trường mẫu giáo, 2 khu nhà ở cho giáo viên; 2 trung tâm và 1 tụ điểm văn hóa. Xây dựng mới 2 chợ, 2 công trình thủy lợi, 3 hệ thống đài truyền thanh, 3 công trình trụ sở làm việc của ủy ban nhân dân các xã đặc biệt khó khăn… với tổng số vốn gần 80 tỉ đồng, trong đó vốn chương trình 135 là 6,6 tỉ đồng, vốn ngân sách đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn là 73,362 tỉ đồng. Đặc biệt, ngoài các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình 135, còn có các dự án đầu tư khác từ nguồn vốn xã hội hóa giao thông và có sự hỗ trợ từ ngân sách tỉnh, huyện. Các xã đặc biệt khó khăn đã tích cực trong việc huy động nguồn lực trong nhân dân bằng việc đóng góp tiền, hiến đất, cây trồng, đóng góp bằng công lao động… để đầu tư xây dựng, nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn. Kết hợp nguồn vốn hỗ trợ định canh, định cư, thực hiện việc sửa chữa 23 đoạn đường nông thôn với tổng kinh phí 470 triệu đồng.

Bên cạnh việc thực hiện các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng, từ năm 2001 đến nay, Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom đã chỉ đạo các ngành chức năng điều tra, khảo sát tình hình thực tế các hộ đói nghèo. Qua đó, thực hiện chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp và thuế nhà đất, các hoạt động trợ cước, trợ giá đúng mục đích, đúng đối tượng. Huyện đã tổ chức cấp phát hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi cho các hộ nghèo ở các xã với tổng kinh phí là 215 triệu đồng; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 62.932 người; cung cấp vở, sách giáo khoa cho học sinh các xã đặc biệt khó khăn trị giá gần 357 triệu đồng. Ngoài ra còn cung cấp muối I-ốt, dầu thắp sáng, báo và tạp chí đến các ấp thuộc các xã đặc biệt khó khăn. Chương trình cho vay xóa đói giảm nghèo của huyện cũng đã giải quyết cho 2.236 lượt hộ, 1.213 hộ vay vốn sản xuất theo nguồn vốn 120 và 5.505 lượt hộ vay từ nguồn vốn khác, giải quyết việc làm cho hơn 20.226 lao động.

Ở một huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, việc hiểu và nắm bắt được phong tục tập quán, tín ngưỡng… của nhân dân địa phương là nhân tố rất quan trọng cho việc tổ chức quản lý một cách phù hợp nhằm tạo sự ổn định về an ninh chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Do đó, hằng năm, huyện đã cử cán bộ công chức đi học các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao kiến thức quản lý nhà nước và tổ chức các lớp bồi dưỡng chính trị. Trong đó, các xã vùng sâu, vùng xa được cử đi đào tạo chiếm tỷ lệ cao, vì vậy đã xây dựng được lực lượng cán bộ chủ chốt tại cơ sở có trình độ ngày một khá hơn.

Qua 5 năm triển khai thực hiện Chương trình 135, huyện Trảng Bom đã từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Mức tăng trưởng bình quân đạt 16,47%/năm, lĩnh vực nông nghiệp có sự chuyển biến mạnh trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ. Nhiều hộ gia đình đã và đang làm giàu từ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi… Đời sống của người nông dân so với trước đây được cải thiện đáng kể, bộ mặt nông thôn được đổi mới. Đến nay, các xã đặc biệt khó khăn đã có chuyển biến tích cực, bước đầu đã rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế - xã hội giữa các xã đặc biệt khó khăn với các xã khác trên địa bàn huyện. Các xã này đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học. Nhiều phòng học được xây dựng, sửa chữa, nâng cấp, không còn tình trạng học 3 ca và trường lớp tạm, trên 95% các cháu trong độ tuổi được đến trường và có đầy đủ sách vở để học tập; tất cả các xã đều có trạm y tế và bác sỹ phụ trách. Mạng lưới cộng tác viên y tế được bố trí xuống tận các ấp; 100% dân ở các xã đặc biệt khó khăn và người nghèo đều được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Các hoạt động văn hóa cộng đồng không ngừng được phát triển, các xã đều có loa truyền thanh và được cung cấp 16 loại báo chí, tạo điều kiện cho bà con nắm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như những tiến bộ khoa học kỹ thuật để nông dân áp dụng vào sản xuất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Trước năm 2000, 3 xã đặc biệt khó khăn của huyện từ chỗ không có tuyến đường bê tông nhựa nào, đến nay các tuyến đường chính của xã, ấp đều được trải bê tông nhựa nóng. Toàn huyện không còn hộ đói, số hộ nghèo đã giảm đáng kể, chỉ còn 2,69% (đánh giá theo tiêu chuẩn mới của tỉnh); trên 80% hộ dân có máy thu hình và được sử dụng điện, nước sạch.

Từ sự thành công trong quá trình thực hiện Chương trình 135 ở huyện Trảng Bom, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong công tác tổ chức triển khai, nhất là việc thực hiện huy động nguồn lực trong nhân dân để đầu tư phát triển giao thông nông thôn ở các xã đặc biệt khó khăn như sau:

Một là, Chương trình 135 là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, do vậy chủ trương này phải được quán triệt sâu sắc trong cấp ủy, chính quyền và các tổ chức đoàn thể từ huyện đến cơ sở. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo bằng những giải pháp hết sức cụ thể, tránh hô hào chung chung. Cấp ủy và Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn có Nghị quyết chuyên đề về công tác này. Thực tế cho thấy, nơi nào có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và sự phối hợp thực hiện của các đoàn thể quần chúng, nơi đó chương trình được nhân dân nhiệt tình, phấn khởi thực hiện. Từ đó góp phần đưa chương trình vào thực tiễn đời sống nhân dân một cách hiệu quả, thiết thực đáp ứng được mục tiêu của Chương trình 135.

Hai là, thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các chương trình lồng ghép, nhất là chương trình giao thông nông thôn ở các xã đặc biệt khó khăn. Có như vậy mới vực dậy được cơ sở hạ tầng ở các xã vốn đã rất khó khăn về mọi mặt kinh tế - xã hội. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để người dân địa phương điều chỉnh, xác định lại công việc, ngành nghề phù hợp, từ đó phát triển kinh tế một cách bền vững, thoát khỏi đói nghèo.

Ba là, đối với lĩnh vực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, để tạo nguồn vốn cho đầu tư, hằng năm, ngoài việc phấn đấu thực hiện chỉ tiêu tăng thu để cân đối tỷ lệ đáng kể cho đầu tư, cần tích cực khai thác các nguồn lực khác nhau như: xã hội hóa giao thông, xã hội hóa giáo dục, huy động đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, lao động công ích… Đặc biệt, với giải pháp dùng quỹ đất tạo vốn đầu tư để tỷ lệ vốn đưa vào đầu tư năm sau cao hơn năm trước và nhờ đó có thêm nguồn vốn đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn và các xã vùng sâu, vùng xa.

Bốn là, đối với các dự án giao thông nông thôn, quá trình tổ chức thực hiện phải tiến hành đầy đủ theo quy định, việc giám sát công trình phải do dân bàn và dân cử. Từ huy động vốn cho đến thi công, nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng đều phải được công khai hóa trước dân. Đây là yếu tố rất quan trọng, bởi trên cơ sở nhận thức được quyền lợi gắn liền với nghĩa vụ một cách thiết thực, thì người dân mới tin tưởng và nhiệt tình thực hiện. Các công trình giao thông đầu tư từ nguồn vốn xã hội hóa giao thông đều phải có dự toán, những công trình yêu cầu kỹ thuật cao phải có thiết kế kỹ thuật, có giám sát. Khi hoàn thành phải nghiệm thu, quyết toán và bàn giao công trình; tài chính thu, chi cần được công khai trước dân. Đối với công trình nhựa hóa những tuyến đường trọng điểm thiết yếu để khai thác tiềm năng sản xuất và phát triển kinh tế, mặc dù phân cấp do xã quản lý nhưng ngân sách vẫn cần được hỗ trợ để khuyến khích nhân dân thực hiện.

BÀI VIẾT THỨ 25
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA MỸ VÀ TÌNH HÌNH TRUNG ĐÔNG
TÁC GIẢ Ngô Mạnh Lân *
NỘI DUNG

Trong những tổng thống Mỹ, chưa có người nào ra ứng cử nhiệm kỳ lần thứ hai lại bị đại đa số các nước và dư luận thế giới phê phán, chống đối nhiều như Tổng thống G.Bu-sơ. Nhưng ông lại thắng cử áp đảo và nắm trong tay đa số các cơ quan quyền lực ở cấp liên bang cũng như ở cấp các tiểu bang. Nghịch lý này bước đầu thể hiện sự bất lực của Mỹ trong quá trình thực thi chiến lược và các chính sách bá quyền toàn cầu của mình. Đồng thời chứng minh nguy cơ khủng bố sẽ có tác động mạnh mẽ và lâu dài vào các thành phần xã hội và dư luận Mỹ. Cái "đòn bẩy" Tổng thống Bu-sơ khai thác từ sự kiện khủng bố 11-9-2001, không còn hiệu nghiệm như trước, đặc biệt là từ ba năm qua. Những cuộc điều tra phanh phui các thiếu sót, lạm quyền, kém nghiệp vụ của các cơ quan tình báo cho thấy vì sao các cơ quan này đã bất lực trong việc dự báo và ngăn chặn các ý đồ và âm mưu khủng bố của mạng lưới An Kê-đa, mặc dù họ có trong tay nhiều thông tin đáng tin cậy từ nhiều phía trong và ngoài nước. Sự thất bại của các cơ quan tình báo Mỹ có nhiều nguyên nhân, một là, việc nghiên cứu phát hiện "kẻ thù chiến lược" còn chưa rõ, không xác định được kẻ thù nào là chính. Mặc dù các lý luận, các khái niệm chống Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản đã có định nghĩa, định hướng từ trước vào giữa những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, các chiến dịch có nội dung dân chủ, tự do đã được tô vẽ đầy đủ và được đưa ra thử thách trên mặt trận tư tưởng và ý thức hệ. Nhưng đối tượng Hồi giáo mà Mỹ đã từng sử dụng để chống Liên Xô ở Áp-ga-ni-xtan lại là một hệ thống tôn giáo cùng với nền văn minh, văn hóa A-rập và lịch sử chính trị khu vực A-rập và Péc-xích rất xa lạ đối với khả năng hiểu biết, thông cảm của các nhà cầm quyền Mỹ, do đó Mỹ không tránh được sai lầm trong việc đánh giá "kẻ thù"... Khi phe Hồi giáo dưới sự lãnh đạo của Bin La-đen xuất đầu lộ diện là kẻ thù không đội trời chung của Mỹ, các nhà chiến lược Mỹ còn lạc quan với thành tích đánh đổ được các nước trong phe Liên Xô, đẩy được Xát-đam Hu-xê-in vào bẫy của Mỹ xâm chiếm Cô-oét, lấy cớ I-rắc xâm lược và mở đường cho Tổng thống Bu-sơ (cha) lôi kéo một số nước trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc tiến hành chiến tranh vịnh Péc-xích. Thời kỳ những năm 90 của thế kỷ XX là thời kỳ ảnh hưởng của các nhà chiến lược "tân bảo thủ" lan rộng và tác động mạnh vào các giới chính trị của Đảng Cộng hòa (GOP), thực hiện kế hoạch chiến lược bố trí lại quyền lực tại các khu vực xung yếu, trước hết trong khu vực Trung Cận Đông, và lấy I-rắc làm điểm xuất phát. Sự kiện khủng bố ngày 11-9-2001 là thời cơ "có một không hai" để Tổng thống Mỹ khai trương chiến dịch thôn tính I-rắc và bước đầu triển khai chiến lược "chống khủng bố" và xác định kẻ thù chính của Mỹ: mạng lưới khủng bố Bin La-đen và vài nước mà Mỹ liệt vào là "chống dân chủ và tự do", "chống các giá trị tinh thần và đạo lý" của nền tảng chế độ Mỹ, thậm chí còn nắm trong tay vũ khí giết người hàng loạt, hoặc còn có khả năng chế tạo những vũ khí đó và cả vũ khí hạt nhân. Lập luận đối ngoại của Mỹ là ai không tham gia chống "khủng bố quốc tế" sẽ bị liệt vào hàng ngũ các kẻ thù của Mỹ và bị loại khỏi "cộng đồng quốc tế", kéo theo các biện pháp khống chế và trừng phạt đích đáng. Hai là, mâu thuẫn giữa các cơ quan tình báo âm ỉ, cạnh tranh nhau về thành tích, không phối hợp được với nhau, buộc Tổng thống Mỹ phải thiết lập một cơ quan Tình báo quốc gia (National Intelligence) bao trùm toàn bộ 15 cơ quan tình báo của nước Mỹ, có quyền hành tối cao về chiến lược hành động, có quyền quản lý và phân phối ngân sách tình báo khổng lồ. Nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ, Giôn Đi-mi-tri Nê-grô-pôn, được bổ nhiệm đứng đầu cơ quan Tình báo quốc gia để kiểm soát, thanh lọc và điều hành các cơ quan tình báo. Điều này có nghĩa là chính quyền Mỹ rút kinh nghiệm từ những làn sóng chống đối quyết liệt của các lực lượng kháng chiến, chống xâm lược mà Mỹ vấp phải và hầu như không khắc phục nổi, buộc phải đưa những ý đồ và tính toán chính trị, kể cả đối ngoại, lên vị trí trọng tâm trong hành động. Tổng thống Mỹ chủ trương vừa tìm diệt các tổ chức và lực lượng du kích Hồi giáo, chủ yếu thuộc cánh đạo Xăn-ni, vừa tìm cách đối thoại và tranh thủ các tổ chức và lực lượng này tham gia chính quyền mà Mỹ đang xây dựng qua các cuộc tuyển cử dưới chiêu bài Liên hợp quốc. Ba là, sự ra đời và hoạt động từ những năm 90 của thế kỷ XX của một tập đoàn nghiên cứu chiến lược được gọi là tập đoàn "tân bảo thủ" chủ trương "cách mạng dân chủ thế giới" để thay đổi tận gốc hay lật đổ các nhà nước và chính phủ không chịu hội nhập chiến lược toàn cầu của Mỹ về các mặt chính trị và kinh tế. Tập đoàn này chủ trương tiến hành các kế hoạch biến khu vực Trung Cận Đông thành khu vực "Đại Trung Đông", làm bàn đạp triển khai chiến lược bá quyền toàn cầu sang các khu vực chiến lược khác: khu vực xuyên Cáp-ca-dơ mà Gru-di-a và A-déc-bai-dan là hai địa điểm quan trọng nhất, khu vực Trung Á thuộc Liên Xô trước kia, và khu vực Đông Bắc Á bao gồm chủ yếu Trung Quốc, nước có tiềm năng trở thành đối thủ chính của Mỹ. Bốn là, các chủ trương nghiên cứu và hoạt động của các cơ quan tình báo phải sắp đặt lại mà nhiệm vụ chính là tổ chức và hỗ trợ đắc lực mặt trận "dân chủ", để phát động và tiến hành các cuộc "cách mạng dân chủ" như đã thành công ở Gru-di-a, U-crai-na, Cư-rơ-gư-xtan. Các cơ quan tình báo này còn có nhiệm vụ vận động cho cái gọi là " sự đồng thuận Oa-sinh-tơn" để từng bước lay chuyển các chế độ không ăn khớp với các quyền lợi mà Mỹ cho là cơ bản và thiết thân, thậm chí đòi hỏi các nước phải tiến đến xây dựng một nền kinh tế thị trường và thiết lập một chế độ và xã hội "tự do và dân chủ" theo quan niệm của Mỹ và các cường quốc phương Tây. Trong số các thủ đoạn thâm độc nhất mà các cơ quan tình báo sử dụng là khai thác các khuyết tật kinh tế - xã hội, sự bất mãn của các thành phần quần chúng, cùng với những sự trì trệ trong việc xúc tiến các chính sách mà Mỹ cho là phù hợp các tiêu chuẩn của nền kinh tế, xã hội, chế độ "tự do dân chủ", là lên án bất kể ai phê phán hay chống lại các chủ trương "tự do hóa", "tư nhân hóa", "thị trường hóa", " hội nhập hóa", v.v.. đều là các phần tử bị liệt vào hàng các kẻ "phản động", "phản cách mạng" "phản dân chủ". Các chiến dịch tuyên truyền rêu rao tính "ưu việt" của kinh tế thị trường và kinh tế toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa đều nhằm mục đích áp đảo, lay chuyển, phân hóa chính quyền các nước còn chống lại hay còn kháng cự chiến lược bá quyền của Mỹ và chiến lược chống chủ nghĩa cộng sản nói chung, chống khủng bố Hồi giáo nói riêng của đế quốc Mỹ và phương Tây. Bước vào nhiệm kỳ 2, song song với việc chỉnh đốn các cơ quan tình báo, Tổng thống Mỹ đã thay đổi nhân sự ngay trong chính quyền, mà điểm nổi bật là đưa tiến sĩ C.Rai-xơ từ cương vị Cố vấn An ninh quốc gia sang cương vị Bộ trưởng Ngoại giao, nhằm đặt ngoại giao vào vị trí trọng tâm để hoạch định những bước tiến quân sự, xoa dịu mâu thuẫn giữa Mỹ và các đồng minh đáng kể nhất trong khu vực châu Âu, vừa liên minh vừa ngăn chặn tham vọng và mục tiêu lâu dài của Nga và Trung Quốc, tránh những hành động áp đặt đơn phương, ngang tàng và lộ liễu của một siêu cường không đếm xỉa đến quyền lợi các cường quốc khác. Đối với các phong trào đấu tranh Hồi giáo, Mỹ xúc tiến phân hóa các lực lượng này, tích cực khuyến khích, hỗ trợ các cánh đạo Hồi giáo "dung hòa", không "cực đoan", như chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã thực hiện "tốt đẹp" từ bao năm nay, và như Mỹ đã lôi kéo được cánh đạo của Giáo chủ Xi-ai An Xi-xtan-ni tích cực tham gia xây dựng chính quyền mới ở I-rắc. Phương án hành động mới của Mỹ là tranh thủ các cánh đạo ấy trở thành các đối tượng đối thoại, cộng tác với Mỹ để kiến thiết một "Đại Trung Cận Đông có quan hệ mật thiết" với Mỹ, nếu không phải là "máu mủ" như quan hệ giữa Mỹ với I-xra-en. Điều này chứng tỏ kế hoạch "chống khủng bố" của Mỹ đang ở tình trạng "bán thân bất toại", do đó Mỹ cần phải điều chỉnh lại chiến lược của mình.

Tóm lại, chiến lược toàn cầu của Mỹ về thực chất không thay đổi, không chuyển hướng, song phương châm và phương thức hành động, tác chiến có phần thay đổi đáng kể. Sự chi phối của tập đoàn nghiên cứu "tân bảo thủ" trong các vị trí xung yếu của chính quyền vẫn rất mạnh và phần nào đã thâm nhập sâu rộng vào các cơ quan thông tin và dư luận xã hội. Chính vì Mỹ không giành được toàn thắng và ngày càng lúng túng trước sự bất lực của quân đội Mỹ và quân I-rắc đối với những đòn đánh cảm tử của các tổ chức du kích, cho nên Mỹ phải quay sang tranh thủ nhân tâm, sử dụng quyền lực mềm, và đi các bước ngoại giao, đối thoại, thương lượng, mua chuộc, đồng thời tiếp tục tăng cường các chiến dịch quân sự triệt hạ có chọn lọc. Vai trò của các nhà ngoại giao Mỹ là phải vận động cho việc triển khai các điều kiện để khi thời cơ đến sẽ tiếp tay phát động các cuộc "cách mạng dân chủ", như nhà lãnh đạo "tân bảo thủ" Ri-sác Pơn tuyên bố vào tháng 4-2005, tại Viện nghiên cứu chiến lược American Enterprise: "Các nhà ngoại giao thường không quen thuộc với việc ủng hộ các cuộc cách mạng, song chúng ta phải làm cho họ chấp nhận việc này là một bộ phận khăng khít trong các công việc của họ. Nhiệm kỳ 2 của Tổng thống Bu-sơ cũng là nhiệm kỳ các nhà lãnh đạo tập đoàn "tân bảo thủ" như Đích Chen-ni (Phó tổng thống Mỹ), Ri-sác Pơn (nguyên Cố vấn Tổng thống và của Lầu Năm góc), Đa-vít Phrăm (bút nhân của Tổng thống Bu-sơ), Giêm U-xli (nguyên Giám đốc CIA), Gioóc-giơ Sun (nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, được bà C. Rai-xơ coi là bậc thầy của mình), Pôn Uôn-phô-uýt (nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nay là Chủ tịch Ngân hàng thế giới), Uy-li-am Cri-xtôn (nhà lý luận "tân bảo thủ", giám đốc dự án "Vì thế kỷ mới của Mỹ"), Rô-bớt Ka-gan (nhà chiến lược, giáo sư ĐH), Phi-líp Dê-li-cốp (GS Đại học Xten-phót, chuyên gia chính trị), Noóc-man Pốt-hô-dét (nguyên Tổng biên tập Tạp chí Commentary là tạp chí nghiên cứu chính trị của tập đoàn "tân bảo thủ" và là người tuyên bố "chiến tranh thế giới thứ tư" (sau chiến tranh lạnh) đã bùng nổ) v.v., đều được phân công phù hợp với chiến lược mới có mục tiêu chọn lọc trong các chức vụ mới. Nhiệm vụ mới và cơ bản là phải làm sao triển khai và bành trướng chủ nghĩa tư bản với các giá trị tinh thần, đạo lý của nó, mà sự bành trướng này không có hình thức một cuộc viễn chinh thế giới "chữ thập" như thời phong kiến xưa, khi Thiên chúa giáo mở chiến dịch quân sự đi chinh phục các dân tộc dị giáo. Sự bành trướng có nghĩa là phải tìm được giải đáp thỏa đáng cho các phương án "có mục tiêu chọn lọc, chính xác và có hạn định" được tiến hành hiệu nghiệm trong các khu vực mà ở đó, sứ mệnh kích động các phong trào đòi "tự do dân chủ", hoặc khuyến khích các tiến bộ về "tự do dân chủ" được coi là quyết sách bảo vệ các quyền lợi thiết thân của Mỹ, cứu nguy và " bảo tồn nền văn minh châu Âu". Đó cũng là nội dung cơ bản của chủ nghĩa đế quốc mới nhằm áp đặt các chế độ chính trị, kinh tế ăn khớp với các quyền lợi cơ bản của các cường quốc tư bản phương Tây, trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đang trải qua cuộc khủng hoảng lâu dài có tính hệ thống và một quá trình toàn cầu hóa mới, song song với những bước nhảy vọt cực kỳ lớn trong các ngành khoa học - kỹ thuật(1).

Trên cơ sở cả chiến lược cũ (nhiệm kỳ 1) và mới (nhiệm kỳ 2), Mỹ đã và đang thực hiện đến mức độ nào các khâu chiến lược là câu hỏi mấu chốt cần đặt ra để có nhận định chính xác trong khu vực Trung Đông, khu vực quan tâm hàng đầu hiện nay của Mỹ. Trước hết, cả hai nước Áp-ga-ni-xtan và I-rắc không đạt được tình hình ổn định như Mỹ mong muốn, tình hình lại có phần rối ren và bất ổn định hơn trước với nguy cơ trước mắt là có thể xảy ra nội chiến giữa hai cánh Hồi giáo Xi-ai và Xăn-ni nằm ngoài tầm kiểm soát của Mỹ và chính quyền bù nhìn mà Mỹ đã dày công dựng lên... Các lực lượng du kích vẫn tiếp tục tấn công các vị trí quân sự và các lực lượng thiện chiến Mỹ. Dư luận Mỹ ngày càng nghi ngờ việc chiến lược chống khủng bố của Bu-sơ sẽ đạt được kết quả khả quan, thậm chí một chuyên viên chống khủng bố, nguyên cố vấn của nguyên Tổng thống Bin Clin-tơn và Tổng thống Bu-sơ cha tại Nhà trắng, Rô-bớt W.Crét-xi, đã phải công khai lên tiếng như sau: "Chúng ta phải có một cuộc tranh luận thành thật về những hậu quả không thể lường trước mà chiến tranh ở I-rắc mang đến cho chúng ta, và chúng ta phải làm những gì để khắc phục được chúng", còn Đại tướng Ri-sác Mai-ơ, Tổng tham mưu trưởng các quân lực Mỹ thuyết trình tại Câu lạc bộ các nhà báo về tình hình I-rắc, (7-2005), thì cho rằng "phải có thêm ngoại giao, có thêm kinh tế, có thêm chính trị, chứ không phải có thêm quân sự mà sẽ tìm được giải pháp giải quyết vấn đề của chúng ta tại I-rắc". Mạng lưới khủng bố của tổ chức An Kê-đa vẫn tiếp tục bành trướng trong khi các lực lượng đặc công Mỹ vẫn không bắt được hoặc giết nổi hai nhà lãnh đạo tổ chức An Kê-đa, Bin La-đen và bác sĩ An Da-oa-hi-ri, hiện đang trú ẩn ở đâu. Thực tế cho thấy Bin La-đen và bộ hạ vẫn tiếp tục được quần chúng địa phương che chở và bảo vệ. Các lực lượng Hồi giáo ở khắp các nước trong khu vực đều phát triển mạnh và có phần chuyển hướng tích cực tham gia chính trường trong các cuộc tổng tuyển cử "dân chủ" là giai đoạn kết thúc của "cách mạng dân chủ" của các nhà lý luận "tân bảo thủ". Sự kiện điển hình chứng minh cho sức mạnh của các lực lượng Hồi giáo trong quần chúng nhân dân là các cuộc tuyển cử vừa qua hay sắp tới tại Li-băng (lực lượng Héc-bô-la thân cận với I-ran), Pa-le-xtin (lực lượng Ha-mát) và Ai cập (lực lượng Muslim Brothers (các chiến hữu Hồi giáo) bành trướng ở Ai-cập và ở khắp các khu vực Bắc Phi và Trung Đông) đều cho thấy các lực lượng này đã có nhiều khả năng sẽ thắng to. Nhìn trước mắt và lâu dài, lực lượng so sánh là bất lợi cho phương án xây dựng "Đại Trung Cận Đông" của Tổng thống Bu-sơ và các cố vấn " tân bảo thủ". Phương án rút dần quân ra khỏi I-rắc và thay thế chúng bằng quân bản xứ đã được Mỹ rèn luyện ngày càng khó thực hiện, thậm chí các tướng lĩnh Mỹ cũng không nhất trí với nhau về mức độ và nhịp độ rút quân. Trung tướng Giôn R. Vin-nơ, tư lệnh quân đoàn tác chiến Mỹ tại I-rắc, gần đây đã tỏ ra rất lo ngại về nghiệp vụ và tinh thần của 220.000 quân lính, sĩ quan an ninh, cảnh sát người bản xứ mà Mỹ, Pháp, Anh đã đào tạo, và ông ta còn tính đến khả năng lưc lượng "quốc gia" này trở thành lính đánh thuê cho các phe phái Hồi giáo, trong trường hợp một cuộc nội chiến bùng nổ xen kẽ chiến tranh du kích chống Mỹ. Mỹ ước lượng phải tăng gấp hơn 2 lần tổng số quân Mỹ đang chiếm đóng I-rắc, đây là điều kiện Mỹ không thể đáp ứng nổi do khả năng hạn chế tuyển mộ thêm quân, và nhất là do áp lực dư luận đòi rút quân ngày càng tăng mạnh. Tình hình khu vực càng rối ren thêm khi Mỹ còn phải đối phó với Xi-ri và I-ran mà Bu-sơ trong bài diễn văn tháng 10-2005 gọi là "hai đồng minh cơ hội của Hồi giáo cực đoan với một lịch sử lâu dài cộng tác với bè lũ khủng bố". Diễn biến ở hai nước trên tác động trực tiếp đến sự ổn định tại Áp-ga-ni-xtan và I-rắc để duy trì một chính quyền mà Mỹ đang cố gắng tạo ra và củng cố. Là nước láng giềng của Áp-ga-ni-xtan và I-rắc, I-ran có khả năng và thực lực thao túng, nếu không phải là phá hoại các kế hoạch có tính chiến lược của Mỹ tại I-rắc và trong khu vực. Vì vậy, mục tiêu ưu tiên trong toàn bộ kế hoạch tác chiến chính trị, ngoại giao, quân sự, tình báo của Mỹ là khẩn trương tiến hành "cách mạng dân chủ" nhằm đánh đổ chính quyền Hồi giáo "cực đoan" ở I-ran. Trước tình hình diễn biến như thế, "lộ trình" xây dựng Nhà nước Pa-le-xtin chung sống bên cạnh Nhà nước I-xra-en mà Tổng thống Bu-sơ và Thủ tướng I-xra-en, A-ri-en Sa-rôn, đã thỏa thuận, sẽ vấp phải những trở ngại rất khó vượt qua. Bởi vì, một mặt, sự chống đối kịch liệt của các phe phái, đảng Li-cút hữu khuynh và cực hữu; mặt khác, tham vọng và ý đồ chiến lược sâu xa của các đảng Do Thái quan trọng nhất vẫn là không trả lại đất đai đã chiếm đoạt của dân tộc Pa-le-xtin sau các chiến cuộc năm 1948, 1967 và 1973. Thâm ý của A-ri-en Sa-rôn là xây dựng nước Đại I-xra-en và đẩy lùi dân tộc Pa-le-xtin về phía Đông, biến Gioóc-đa-ni thành đất cư trú của dân tộc Pa-le-xtin, xóa đi vấn đề hàng triệu dân Pa-le-xtin tị nạn tại các nước A-rập và Li-băng từ hàng chục năm nay. Sức mạnh chống đối chính trị và vũ trang của tổ chức Ha-mát ngay từ đầu đã bác bỏ lộ trình Bu-sơ - Sa-rôn để giải quyết vấn đề Pa-le-xtin, và ngay Tổng thống Bu-sơ và các cố vấn "tân bảo thủ" của ông cũng nhận định là khó thực hiện "lộ trình hòa bình" Pa-le-xtin, trong khi các nước Ả rập khác trong khu vực còn chưa hội nhập quỹ đạo chiến lược "Đại Trung Cận Đông" mà Mỹ đang từng bước tiến hành.

Trước những khó khăn đầy rẫy trong nước và ngoài nước, uy tín của Tổng thống Bu-sơ bị giảm sút, nội bộ chính quyền Mỹ vẫn chưa đạt được sự đồng thuận giữa hai phái "hiếu chiến" và "thực tế" mà chỉ nhất trí với nhau trên phương châm: "to tiếng hơn và dùng gậy nhỏ hơn", tức là thêm chính trị, bớt quân sự. Vì vậy, trong khu vực châu Âu, chính quyền Mỹ cần hàn gắn tổn hại trong quan hệ "xuyên Đại Tây Dương" sau chiến tranh I-rắc, do đó Tổng thống Mỹ, tháng 2-2005, dành chuyến công du đầu tiên của nhiệm kỳ 2 tới các nước châu Âu. Ông giành được một số kết quả là thuyết phục được các nước châu Âu trong khối NATO mở rộng vai trò, chức năng và địa bàn can thiệp của tổ chức liên minh quân sự này, giao cho nó nhiệm vụ tác chiến bảo vệ, xây dựng và đào tạo trong giai đoạn "tái kiến thiết" ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc. Bu-sơ đã thuyết phục và lôi kéo được Liên minh châu Âu (EU) tiếp tục ủng hộ và củng cố chính quyền "dân chủ" từ "cách mạng màu da cam" ở U-crai-na. Ý đồ của chính quyền Bu-sơ là đưa U-crai-na và Thổ Nhĩ Kỳ vào làm thành viên của EU, tách U-crai-na khỏi khu vực ảnh hưởng chính trị và kinh tế của nước Nga, xây dựng ảnh hưởng và ưu thế của Mỹ trong Liên minh châu Âu, lấy hai nước trên cộng với Ba Lan và những nước Đông Âu thân Mỹ khác làm địa bàn (và cả căn cứ tình báo và quân sự) để bảo vệ và triển khai các chủ trương và chính sách của Mỹ. Mâu thuẫn giữa Mỹ và hai nước trụ cột Pháp và Đức trong EU vẫn tồn tại và còn gay gắt về chiến lược, nhất là ở khu vực Trung Đông, dù Pháp và Đức trước sau như một vẫn không tán thành việc Mỹ xâm lược I-rắc. Nhưng hai nước này đã phần nào nhượng bộ, đồng ý giúp đỡ Mỹ và chính phủ I-rắc do Mỹ nặn ra để ổn định và tái kiến thiết I-rắc và Áp-ga-ni-xtan.Tuy nhiên, về việc phải đối phó thế nào với I-ran, Mỹ và Liên minh châu Âu vẫn còn chủ trương khác nhau. Quan hệ giữa Mỹ với Nga cũng không được êm dịu và có phần căng thẳng hơn trước nhiều, từ khi Tổng thống Pu-tin tái thắng cử và tiếp tục loại khỏi chính trường các phần tử thân Mỹ và các tập đoàn độc quyền kinh tế có quyền lợi gắn bó chặt chẽ với các công ty xuyên quốc gia Mỹ. Tổng thống Pu-tin đang cố gắng gây dựng lại uy quyền của Liên bang Xô- viết trước kia, bố trí lại kết cấu quyền lực và Nhà nước trên hướng tập trung hóa chính quyền và quyền lực Nhà nước trung ương và mở rộng lĩnh vực chủ nghĩa tư bản nhà nuớc, vận dụng tài nguyên năng lượng dầu hỏa và dầu khí cùng vị thế địa chính trị của Nga, nhằm đối thoại, liên minh, tranh giành ảnh hưởng với Mỹ trên thế "vừa anh em vừa đối thủ" cần đến nhau, duy trì, cứu vớt ảnh hưởng của Nga ở châu Âu và Trung Á, không để Mỹ loại Nga ra khỏi quá trình thiết lập an ninh, chính trị và kinh tế trong khu vực ảnh hưởng truyền thống của Nga và các khu vực khác. Làm sao hạn chế, nếu không phải đánh bại được tham vọng và ý đồ của Tổng thống Pu-tin là vấn đề khó khăn mà Mỹ khó tìm được giải pháp thích nghi, trong lúc sự ủng hộ và hỗ trợ của Nga không thể thiếu để thực hiện chiến lược "chống khủng bố" toàn cầu Mỹ; để ngăn chặn I-ran chế tạo vũ khí hạt nhân nguyên tử; để khống chế và tìm cách thông qua Hội đồng Bảo an áp đảo chính quyền hiện hành tại Xi-ri mà Mỹ gọi là "căn cứ địa của các tổ chức khủng bố", tiến đến lật đổ nó, cô lập thêm I-ran. Việc làm này không phải là đơn giản do những quan hệ gắn bó về mặt kinh tế giữa I-ran, Pa-ki-xtan, Ấn Độ và Trung Quốc về việc thiết lập đường ống cung cấp khí đốt dồi dào của I-ran mà nhất là Trung Quốc đang rất cần đến, dù Ấn Độ đã rút lui khỏi dự án này, thêm vào vị trí xung yếu về địa chính trị và kinh tế của I-ran trong khu vực Trung Đông, Trung Á (đối với Mỹ và Nga) và Nam Á.

Tóm lại, chiến lược toàn cầu của Mỹ nói chung, với Trung Đông nói riêng dù vừa được uốn nắn lại với từ ngữ "ngoại giao biến đổi mới" mà bà Bộ trưởng C.Rai-xơ trình bày ngày 18-1-2006 vừa qua tại Trường đại học Gioóc-giơ-tao nhưng đang đứng trước những khó khăn chồng chất và không dễ vượt qua.


* GS, TS Kinh tế học, Việt kiều tại Pháp
(1) Xem: Michel Beau: Lịch sử chủ nghĩa tư bản - từ 1500 đến năm 2000, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2002
BÀI VIẾT THỨ 26
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ HÀNH ĐỘNG CHÂM NGÒI
CHO MỘT CUỘC "CHIẾN TRANH LẠNH" MỚI
TÁC GIẢ Nguyễn Trung*
NỘI DUNG

Gần đây, Ủy ban Chính trị thuộc Hội đồng Nghị viện Hội đồng châu Âu (PACE) đã cho ra một nghị quyết về cái gọi là "Sự cần thiết lên án quốc tế đối với tội ác của các chế độ cộng sản độc tài". Nghị quyết này mang số hiệu 1481 đã và đang gây nên sự phẫn nộ và phản đối mạnh mẽ trong dư luận quốc tế. Bởi đây là một nghị quyết cực kỳ phi lý, một hành động châm ngòi cho một cuộc "chiến tranh lạnh" mới rất tệ hại.

Lên án, kết tội, xuyên tạc, bóp méo, bẻ cong, chống phá chủ nghĩa cộng sản bằng mọi cách là việc không lấy gì làm lạ của các thế lực thù địch đủ loại kể từ khi tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của C. Mác và Ph. Ăng-ghen ra đời ( năm 1848) tới nay. Điều lạ là vì sao, nhân danh một tổ chức nghiêm chỉnh như PACE lại ra một nghị quyết cực kỳ phi lý như vậy trong thời điểm hiện nay?

Sự phi lý trước hết biểu hiện ở nội dung của nghị quyết ấy bao gồm những điều xuyên tạc, vu cáo, đảo lộn phải trái, trắng đen vô cùng trắng trợn. Đặc biệt, họ vu cáo "các chế độ cộng sản độc tài" ở Liên Xô, Trung và Đông Âu trước đây đã thực hiện những tội ác "giống như những tội ác kinh khủng do chủ nghĩa quốc xã gây ra"(!), và hiện nay các đảng Cộng sản vẫn hoạt động hợp pháp ở một số quốc gia và họ "vẫn không rời bỏ con đường tội ác"(!). Nghị quyết đòi phải điều tra "tội ác" và đem ra xét xử những lãnh tụ cộng sản trước cộng đồng quốc tế, như đã từng xét xử chủ nghĩa phát-xít sau chiến tranh thế giới thứ hai. Trong lịch sử từng có những kẻ mạo danh cộng sản để hành động không khác gì bọn phát-xít, như bè lũ Pôn-pốt ở Căm-pu-chia mà những kẻ cầm đầu còn sống sót đang chuẩn bị phải ra trước vành móng ngựa để xét xử. Việc đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa quốc xã, giữa những người cộng sản với bọn phát-xít là điều không thể chấp nhận được. Đó là sự xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử, là đánh đồng những nạn nhân với bọn đao phủ, những anh hùng với bọn tội phạm, những kẻ xâm lược với người giải phóng. Những tác giả của Nghị quyết 1481 nên biết rằng ở đâu, lúc nào những người cộng sản cũng là kẻ thù chính của chủ nghĩa phát-xít và những người cộng sản luôn đứng đầu trên trận tuyến chống phát-xít. Bởi vì, lý tưởng của những người cộng sản là xây dựng một xã hội công bằng, không có áp bức bóc lột, bất công, trong khi chủ nghĩa phát-xít sinh ra từ chủ nghĩa tư bản độc quyền cộng với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Nó xâm chiếm các quốc gia, bóc lột, tàn sát các dân tộc không ghê tay. Ngay tại nước Đức trong thời kỳ phát-xít cầm quyền đã có 150 ngàn chiến sĩ cộng sản bị truy bức chính trị và 26 ngàn đảng viên bị sát hại. Mọi người đều biết sự thật lịch sử là trong chiến công chung của nhân loại chống chủ nghĩa phát-xít năm 1945, thì các đảng cộng sản, những chiến sĩ cộng sản ở Liên Xô, ở châu Âu đã lập công đầu. Chính nhân dân, các dân tộc Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã góp phần quyết định đánh tan chủ nghĩa phát-xít. Chính Hồng quân Liên Xô đã đánh tan đội quân Quan Đông của phát xít Nhật, đã truy kích tên trùm phát-xít Hít-le đến tận sào huyệt của hắn. Hơn 3 triệu chiến sĩ cộng sản xô- viết đã ngã xuống trên các mặt trận chống phát-xít trong chiến tranh thế giới thứ hai. Bên cạnh đó, hàng triệu người cộng sản Pháp, Đức, Ba Lan, Nam Tư, I-ta-li-a, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp…cũng đã anh dũng hy sinh trong các trận chiến chống phát-xít. Tại châu Á, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương "Quốc Cộng hợp tác" và lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh anh dũng chống phát xít Nhật. Tại Việt Nam, Đảng Cộng sản đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi phát-xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân trong Cách mạng tháng Tám 1945…

Sự xảo trá, phi lý trong nội dung của Nghị quyết 1481 khiến mọi người không khỏi kinh ngạc. Nhà hoạt động chính trị Nga I.Kha-ka-ma-đa trả lời phỏng vấn báo "Sự thật" nói: "Không thể chấp nhận một nghị quyết như vậy. Các đảng Cộng sản đang hoạt động hợp pháp khắp nơi trên thế giới, do vậy chẳng có lý do gì để lên án họ cả. Điều cần lên án là những hành động đẫm máu như tại I-rắc chẳng hạn". Nhà soạn nhạc Hy Lạp M. Tê-ô-đô-ra-kit, trong cuộc biểu tình ở Hy Lạp nhân danh những chiến sĩ cộng sản đã hy sinh để chủ nghĩa quốc xã bị tiêu diệt đã cực lực lên án Nghị quyết 1481: "Hổ thẹn cho những kẻ muốn đánh đồng những nạn nhân với bọn đao phủ, những anh hùng với kẻ tội phạm".

Tính chất phi lý và nguy hại của Nghị quyết 1481 còn biểu hiện ở thời điểm đưa ra nghị quyết này.

Kể từ sau khi "chiến tranh lạnh" kết thúc (năm 1991) đến nay, thế giới hầu như muốn quên đi không khí ngột ngạt, căng thẳng của "chiến tranh lạnh" do chủ nghĩa đế quốc gây ra. Thì giờ đây, những phần tử cực hữu trong PACE với Nghị quyết 1481 lại mưu toan châm ngòi cho một cuộc "chiến tranh lạnh" mới, trong khi xu thế hoà dịu, hợp tác song phương, đa phương, hợp tác quốc tế, hợp tác khu vực, tiểu khu vực, hợp tác với mọi quốc gia, dân tộc bất kể ý thức hệ và chế độ chính trị, cùng chung sống hoà bình để phát triển đã trở thành nguyện vọng chung của nhân dân thế giới. Xu thế này đã và đang mang lại lợi ích kinh tế cũng như an ninh to lớn cho mỗi quốc gia, dân tộc. Sự hợp tác nhiều mặt giữa các nước trong Liên minh châu Âu (EU) với các nước do các Đảng Cộng sản cầm quyền đã và đang mang lại lợi ích to lớn cho các bên. PACE không phải là EU, nhưng cũng là một tổ chức ở Châu Âu, chẳng lẽ họ lại cam tâm đứng ngoài, thậm chí muốn phá hoại xu thế hoà dịu, hợp tác để phát triển giữa lục địa châu Âu với các nước xã hội chủ nghĩa bằng cách đưa ra nghị quyết phi lý với mưu toan gây rối, làm mất ổn định ở các nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay sao ?

Điều phi lý và tệ hại nữa là, các tác giả của Nghị quyết 1481 dùng thủ đoạn dối trá đảo lộn sự thật lịch sử, đánh đồng cộng sản với phát-xít để "giáo dục thế hệ trẻ", để "tác động tới hành động tương lai của thế hệ trẻ" mà thực chất là ý đồ đầu độc thế hệ trẻ, làm cho họ ngộ nhận, thâm thù chủ nghĩa cộng sản một cách phi lý. Chủ nghĩa chống cộng của những phần tử cực hữu trước đây đã dẫn đến chủ nghĩa phát-xít, đã gây tai hoạ cho loài người ở thế kỷ XX. Tư tưởng chống cộng của những phần tử cực hữu trong PACE ngày nay mưu toan nhồi nhét cho thế hệ trẻ ở châu Âu, và bọn phát-xít đầu trọc đang nổi lên ở một số nước châu Âu, liệu có mối liên hệ gì với nhau không?

Giờ đây lời cảnh báo của người chiến sỹ cộng sản nổi tiếng Phu-xích trước giá treo cổ của bọn phát xít:"Hỡi nhân loại, ta yêu người, hãy cảnh giác!", và lời kêu gọi của Đảng Cộng sản cùng các lực lượng yêu nước Nga "Hãy hành động để ngăn chặn chủ nghĩa phát-xít mới ngóc đầu dậy ở châu Âu!" vẫn là sự cảnh báo cần thiết hơn bao giờ hết.

Trước sự khiêu khích và tiến công điên cuồng của những kẻ cực hữu trong PACE, những người cộng sản và những người có lương tri trên thế giới không thể ngồi yên. Các Đảng Cộng sản Nga, Pháp, Hy Lạp, Bồ Đào Nha… đã lên tiếng cực lực phản đối Nghị quyết 1481. Các lực lượng yêu nước Nga bao gồm các chính đảng, phong trào Đoàn Thanh niên cánh tả, các tổ chức cựu chiến binh, phụ nữ, công đoàn đã ra tuyên bố kịch liệt lên án "đợt sóng chống cộng mới được dấy lên dưới cờ PACE thông qua một nghị quyết xuyên tạc, công kích chủ nghĩa cộng sản ". Tuyên bố nêu rõ: "Ngày nay các Đảng Cộng sản và công nhân chiếm vị trí tiên phong tại nhiều nước châu Âu, châu Á và Mỹ La-tinh. Chúng ta đồng tình ủng hộ lập trường chống lại các lực lượng chống cộng đã được thể hiện trong nghị quyết của Hội nghị đại biểu hơn 70 Đảng cộng sản và công nhân tại A-ten (Hy Lạp) vừa qua. Chúng ta kêu gọi toàn thể loài người tiến bộ ủng hộ lập trường đó". Tuyên bố "kêu gọi những ai quý trọng hoà bình trên hành tinh, kêu gọi nhân dân Nga và các nước xa gần khác, tất cả những ai không thờ ơ với lý tưởng tự do bình đẳng bác ái, hữu nghị và hạnh phúc của các dân tộc, những ai mong muốn quyền lực thực sự của nhân dân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa hãy lên án mưu toan của các thế lực đen tối, hãy hành động để ngăn chặn chủ nghĩa phát xít mới ngóc đầu dậy ở châu Âu ". Hãng In-te-phat ngày 8-2-2006 đưa tin, Đảng Cộng sản Nga đã công bố Bị vong lục "Những nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và sự cần thiết lên án tội ác của nó", trong đó nêu sáng kiến lấy ngày 3-9 hằng năm, ngày bùng nổ đại chiến thế giới thứ hai là ngày tưởng nhớ các nạn nhân do tội ác mà chủ nghĩa đế quốc phát-xít gây ra. Một bản ghi nhớ tội ác và lên án tội ác của chủ nghĩa tư bản và phát-xít cũng sẽ được các Đảng Cộng sản và Cánh tả thông qua tại một Hội nghị quốc tế được tổ chức tại Mát-xcơ-va vào cuối năm nay. Bản ghi nhớ này đã được 16 Đảng Cộng sản thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) đóng góp ý kiến.

Tính chất phi lý và nguy hại của Nghị quyết 1481 là rất rõ ràng. Nhưng dù sao nó chỉ là sản phẩm của một nhúm phần tử cực hữu trong Ủy ban chính trị của PACE chứ không phải của cả một Hội đồng Nghị viện Hội đồng châu Âu, và, càng không thể là đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân châu Âu.

Người ta cho rằng, nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời Nghị quyết 1481 là sự lo lắng, bất an của nhóm người cực hữu ở PACE trước phong trào cộng sản và cánh tả đang được khôi phục và lên cao trên thế giới. Những nỗ lực tăng cường, củng cố tổ chức, lực lượng và phương thức hoạt động của các Đảng Cộng sản ở nhiều nước, nhiều Đảng Cộng sản ở Nam Mỹ đã giành được chính quyền và ngày càng giành được vị thế của mình trong xã hội, cùng với hiện thực sinh động, những thành tựu đầy sức thuyết phục trong công cuộc cải cách đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đang chứng minh hùng hồn sức sống bất diệt của lý tưởng cộng sản, đó luôn là ánh sáng, niềm tin cho loài người trong một thế giới còn nhiều tội ác và bất công.

Các thế lực thực dân, đế quốc, phát-xít đã từng dùng mọi thủ đoạn thâm độc xảo trá đầy tội ác, kể cả gây chiến tranh xâm lược, chiến tranh cục bộ, chiến tranh thế giới nhưng cũng không thể tiêu diệt được chủ nghĩa cộng sản, lý tưởng cao đẹp của loài người, bởi tiến lên chủ nghĩa xã hội , chủ nghĩa cộng sản là quy luật phát triển của nhân loại. Nghị quyết 1481 càng không thể chống được quy luật đó, mà chỉ càng chứng tỏ sự lố bịch, "đáng hổ thẹn" của nhóm phần tử cực hữu trong PACE.


* Tổng cục Chính trị
BÀI VIẾT THỨ 27
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ CÔNG ĐOÀN THẾ GIỚI
TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH HIỆN NAY
TÁC GIẢ Nguyễn An Ninh*
NỘI DUNG

1. Hoạt động của phong trào công đoàn thế giới

Hoạt động của phong trào công đoàn thế giới được biểu hiện tập trung ở tổ chức, cương lĩnh chính trị và hoạt động của các tổ chức công đoàn quốc tế. Các tổ chức đó hiện tập hợp lực lượng xung quanh 3 trung tâm là Liên hiệp công đoàn thế giới (WFTU); Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do (ICFTU) và Tổng liên đoàn lao động thế giới (WLC).

Suốt khoảng thời gian từ những năm 70 đến những năm 90 của thế kỷ XX có thể coi là quãng thời gian khủng hoảng của công đoàn cả về kinh nghiệm, tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động. Những gì mà công đoàn "có trong tay" dường như là chưa đủ với thực tiễn mới mẻ mà những nét điển hình là quá trình chủ nghĩa tư bản chuyển mạnh sang giai đoạn toàn cầu hoá và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại cùng với những đột biến của chính trị thế giới. Mặt khác, công đoàn còn bị lũng đoạn về tư tưởng của chủ nghĩa công liên và chia rẽ trong nội bộ phong trào này. Sự phối hợp hành động giữa các tổ chức là yếu kém. Hoạt động của các tổ chức công đoàn quốc tế và công đoàn ở nhiều nước có xu hướng dần thoát ly khỏi ảnh hưởng của đảng cộng sản. Thậm chí nhiều hiện tượng đầy nghịch lý đã xuất hiện: ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây tổ chức công đoàn lại trở thành hạt nhân chống phá chủ nghĩa xã hội (chẳng hạn như công đoàn KOR của Ba Lan), hoặc hoạt động của một số công đoàn hiện đại lại có dấu hiệu lùi trở lại chế độ công liên như đầu thế kỷ XIX.

Xét theo yếu tố địa chính trị, cuộc khủng hoảng của phong trào công đoàn thế giới diễn ra với nhiều mức độ và có những đặc điểm sau:

Thứ nhất: Nhiều tổ chức công đoàn tại các nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn đang trong tình trạng xơ cứng và còn chịu ảnh hưởng nặng từ cơ chế hoạt động cũ. Công đoàn còn khá chậm chạp trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, lúng túng về phương pháp hoạt động trong bối cảnh của nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa. Trong hoạt động công đoàn đã xuất hiện một số dấu hiệu cho thấy sự quay lại với chủ nghĩa kinh tế đơn thuần hoặc chủ nghĩa công liên. Bối cảnh kinh tế nhiều thành phần và sự chậm chạp chuyển đổi phương thức hoạt động đang làm công đoàn của các nước này phải "học lại" những bài học đầu tiên của phong trào công nhân châu Âu thế kỷ XIX.

Thứ hai: Công đoàn tại các nước xã hội chủ nghĩa đã bị tan rã, nhìn chung đang gặp khó khăn, nhiều tổ chức lâm vào khủng hoảng. Tại các nước thuộc Đông Âu và Liên Xô cũ, sau khi chủ nghĩa xã hội tan rã, công đoàn rơi vào bế tắc phải tiến hành đại hội bất thường, thay đổi cương lĩnh, điều lệ và nhân sự. Nét chính của cương lĩnh là công đoàn tuyên bố độc lập với các đảng chính trị và chính phủ, công đoàn chủ trương chỉ làm một chức năng là đại diện, bảo vệ quyền lợi của người lao động. Tình trạng đa nguyên tư tưởng trong công đoàn tái xuất hiện, song đã có sự phân liệt. Một số tổ chức công đoàn khác bị chính phủ cánh hữu và đảng cánh hữu thao túng và mất tín nhiệm với công nhân. Tổ chức nào giữ vững lập trường giai cấp công nhân thì được công đoàn viên, nhân dân ủng hộ và trở thành người đối thoại với chính phủ đương nhiệm (chẳng hạn ở công đoàn Nga, Ba Lan, Séc, Hung-ga-ri). "Không loại trừ khả năng từ phong trào công đoàn cánh tả ở các nước này sẽ nảy sinh các Đảng công nhân theo đường lối mác-xít hay cánh tả kiểu mới gắn bó mật thiết với phong trào lao động. Hiện có hơn 100 triệu người tham gia công đoàn cánh tả ở những nước này".(1)

Thứ ba: Công đoàn tại các nước tư bản chủ nghĩa cũng đang gặp nhiều khó khăn trước những biến đổi như sự cơ cấu lại nền kinh tế, sự phát triển của giai cấp công nhân; xuất hiện các hình thức mới trong quản lý sản xuất cùng với trào lưu tư nhân hóa, cổ phần hóa các xí nghiệp... Chẳng hạn, hiện nay nước Mỹ đang áp dụng "hệ thống quản lý linh hoạt" (FMS). Nguyên tắc là cộng đồng sáng tạo với sự tham dự của người công nhân vào quá trình sản xuất, quản lý, sở hữu và cả lợi nhuận. Trong tất cả các hãng hoạt động trong những ngành có hàm lượng khoa học cao đều không có công đoàn! ảnh hưởng của công đoàn tại các doanh nghiệp có áp dụng FMS đều yếu đi rất nhiều(2).

Một số biến đổi của quá trình sản xuất tư bản cũng đang "mê hoặc" công nhân và gây khó khăn cho việc tập hợp của công đoàn. Chẳng hạn khi cần vốn lớn, các doanh nghiệp tư bản có thể huy động bằng cổ phiếu, cổ phần, trong đó có nhiều cổ đông là người lao động. (Tại Nhật Bản, ở một số công ty, nguồn vốn này chiếm tới 80-90% đầu tư trong nước; tại Mỹ, quỹ hưu trí là quỹ lớn nhất chiếm 17% tín dụng xã hội). Tiết kiệm và bảo hiểm trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và, với người lao động, quả là "tiết kiệm cũng đang trở thành tư bản"(3) - có điều, đây là một thứ tư bản nhỏ nhoi, mong manh và là vật hy sinh đầu tiên khi nền kinh tế tư bản gặp những trục trặc. Cổ phần làm tăng sức mua của lao động và làm họ gắn bó hơn với chủ nghĩa tư bản và họ cũng không biết được rằng với quá trình này, họ trở thành người bóc lột chính bản thân giai cấp mình và vô tình cũng tự buộc chặt vào quá trình bóc lột của tư bản. Dường như cổ phần, bảo hiểm và tiết kiệm phát triển bao nhiêu thì ảnh hưởng của công đoàn - tổ chức mang trong mình sứ mệnh truyền thống là lo việc làm, "cơm áo" cho các thành viên - lại càng khó khăn bấy nhiêu.

Việc xã hội tư bản tạo ra cho người lao động nếp nghĩ theo pháp luật hiện hành và cách ứng xử theo những khuôn mẫu đã định của chính trị tư sản cần phải được xem là một thách đố - có thể là lớn nhất với hoạt động của công đoàn trong các nước tư bản chủ nghĩa. Còn khả năng tập hợp quần chúng, đổi mới phương thức và nâng hiệu quả xã hội của hoạt động công đoàn lại tỏ ra chưa ngang tầm với những biến đổi của thời cuộc và đòi hỏi của người lao động. Cũng có nhiều cơ hội để công đoàn và giai cấp công nhân tỏ rõ vị thế quan trọng của mình trong việc đấu tranh vì lợi ích của giai cấp công nhân và vì tiến bộ xã hội như những cuộc đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, dân sinh và tiến bộ xã hội, những lần tham gia bầu cử... Song không phải ở đâu và bất cứ công đoàn nào cũng nắm được thời cơ ấy.

Thứ tư: Công đoàn tại các nước đang phát triển, đặc biệt là khu vực Mỹ La-tinh, châu Á - Thái Bình Dương, châu Phi đang vận động trong những sắc thái đa dạng. Vai trò của công đoàn nổi lên khá rõ trong tiến trình dân chủ hóa xã hội và phát triển kinh tế. Nhưng tính đa dạng chính trị xã hội, sự phân tán về tổ chức, sự chia rẽ về chính kiến và hội tịch quốc tế, cuộc cạnh tranh giữa những người lao động để bán được sức lao động... lại đang là những nhân tố làm suy yếu tổ chức, suy giảm công đoàn viên, ngăn trở sự thống nhất hành động. Điều kiện chính trị, kinh tế phức tạp, tập quán, truyền thống và tôn giáo rất khác nhau đang ảnh hưởng lớn đến tổ chức và hoạt động của công đoàn nơi đây.

2. Hai vấn đề lớn đang đặt ra với hoạt động công đoàn thế giới

Thứ nhất: Làm thế nào để tạo ra sức mạnh của tình đoàn kết và sự thống nhất hành động của phong trào công đoàn trong một thế giới phức tạp và đầy mâu thuẫn hiện nay?

Thực tế đang cung cấp những cơ sở cho chính sự đoàn kết, thống nhất ấy:

Bóc lột vẫn là bản chất không thay đổi của chủ nghĩa tư bản. Có khác chăng chỉ là cùng với việc bóc lột lao động, tài nguyên của thời kỳ trước 1970, nay là sự mở rộng về đối tượng, phát triển về quy mô của bóc lột tư bản chủ nghĩa từ quốc tế thành toàn cầu (bóc lột chất xám, bóc lột thông qua độc quyền công nghệ, và cả cái gọi là "tư bản vô hình"...). Giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, dù ở nước nào, đều chịu tác động của thực tế này.

Mâu thuẫn giữa lao động và tư bản vẫn là một thực tế hiện hữu. Thực tế của sản xuất hiện đại đã chỉ ra năng suất lao động tăng lên không ngừng nhờ phát triển khoa học và công nghệ là hiện tượng mang tính quy luật của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Công suất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa có thể không đạt so với thiết kế nhưng năng suất lao động vẫn tăng. Tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư ngày càng tăng và đời sống của người lao động vẫn có thể có dấu hiệu của sự cải thiện. Năng suất lao động tăng là nguồn gốc để tạo nên sự giàu có, cũng là cơ sở kinh tế để chủ nghĩa tư bản làm dịu đi những mâu thuẫn xã hội, nhưng ở khía cạnh khác, nó đang làm sâu rộng thêm khoảng cách giàu nghèo giữa công nhân và tư bản. Trình độ bóc lột giá trị thặng dư không ngừng được nâng cao. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư (m’) đã tăng, tính tỷ suất trung bình từ m’= 20 (đầu thế kỷ XIX), hiện nay lên m’=300, thậm chí cá biệt, có những công ty như Mai-crô-xốp (Mỹ), m’ = 5000.

Hiện tượng đầy nghịch lý của xã hội tư bản là khoa học - công nghệ vừa tạo nên việc làm mới lại vừa tạo ra thất nghiệp cơ cấu. Lao động mặc dù đã từng qua đào tạo bài bản vẫn bị sa thải do không thích ứng với công nghệ mới. Số liệu sau đây phản ánh một hiện trạng: ở Mỹ, năm 1989 có 110.000, năm 1994 là 520.000, và năm 1999 là 685.000 công nhân bị sa thải(4). "Thất nghiệp cơ cấu đã trở thành bộ phận hợp thành của khủng hoảng cơ cấu trong chủ nghĩa tư bản phát triển cao"(5). Và, "Vấn đề loài người phải đối mặt nằm trong sự thật là lực lượng sản xuất - sự thịnh vượng được công nhân toàn thế giới tạo ra, đã bỏ qua các quan hệ xã hội dựa trên sở hữu tư nhân, lợi nhuận riêng và cái quốc gia dân tộc do chính họ tạo lập nên."(6).

Trình độ tri thức, văn hoá của công nhân được nâng lên. Đang hình thành những tầng lớp lao động mới trong xã hội: công nhân trí thức, trí thức công nhân mà đặc trưng lao động cơ bản là lao động sáng tạo với trình độ khoa học - công nghệ cao. Vị thế của người công nhân đang được nâng cao trong một dây chuyền công nghệ, không chỉ do chi phí đào tạo cao "lao động trở nên đắt đỏ", mà còn do trình độ tri thức - văn hoá của họ. Hơn nữa, khả năng sáng tạo của công nhân và tay nghề chuyên môn cũng đã thành một áp lực để đấu tranh với giới chủ. "Tri thức của công nhân trở thành sức mạnh để cải thiện địa vị bản thân"(7). Tri thức và văn hoá của người lao động được nâng cao cũng trở thành một năng lực để nhận thức và cải tạo xã hội. Họ phê phán xã hội tư bản và đến với chủ nghĩa xã hội như đến với cái đúng và do sự thôi thúc của lý trí chứ không chỉ do nghèo đói. Sản xuất hiện đại đang tạo ra một thế hệ mới của những người sẽ đảm nhận sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân hiện đại - công nhân tri thức. Công đoàn phải nắm lấy cơ hội này.

Còn một lô-gíc khác nữa đang dần hiện rõ trên thực tế của sản xuất hiện đại: trong cấu thành chi phí sản xuất của hàng hoá thì chi phí cho tư liệu sản xuất dạng vật chất dường như ngày càng giảm, còn chi phí cho sức lao động ngày càng tăng. Quyền uy của sở hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất đang bị "hao mòn vô hình" và giảm đi; trái lại do quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất, tri thức và kỹ năng lao động hiện đại đang làm vị trí của người lao động tăng mạnh. Hai xu hướng này sẽ tăng tiến trái chiều nhau tới một điểm nút để có một sự nhảy vọt, phá vỡ cách sở hữu, quản lý và phân phối hiện hành. Đường nét của xã hội mới đang rõ dần từ hiện thực.

Chính nền sản xuất hiện đại đã tạo cơ sở vật chất để xác minh khẩu hiệu mà C.Mác và Ph.Ăng-ghen nêu trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản: "Vô sản tất cả các nước hãy đoàn kết lại!". Sự phát triển của công nghệ thông tin và các phương tiện vận tải đã làm thay đổi cơ bản quá trình sản xuất theo hướng toàn cầu. Theo G. Moóc-gan - nhà nghiên cứu kinh tế Mỹ: "Hiện nay đã có căn cứ để nói về sự ra đời của một hệ thống sản xuất toàn cầu (global factory)"(8). Có thể thấy rõ kiểu sản xuất này trong hoạt động của các công ty xuyên quốc gia. Trong hệ thống đó, lao động công nghiệp là lực lượng quốc tế. Họ mang nhiều quốc tịch, lao động tại các công ty con ở nhiều quốc gia cho một công ty mẹ (tập đoàn GMC của Mỹ năm 1995 có tới 5,5 triệu công nhân với 43 quốc tịch, làm việc tại hơn 6.000 chi nhánh khắp thế giới). Điều đáng chú ý là đã xuất hiện những liên minh giữa các tổ chức công đoàn ở nhiều nước khác nhau để cùng đấu tranh với giới chủ của một công ty xuyên quốc gia: Công đoàn ngành thép Hoa kỳ (USU) đã liên kết với công đoàn ngành này tại Bra-xin, Mê-hi-cô; công đoàn ngành cao su Mỹ và một số công đoàn các nước khác cũng có những hành động tương tự... để bảo vệ quyền lợi công nhân.(9)

Thứ hai: Cần dũng cảm để tạo ra nhận thức mới và dũng khí mới nhằm khắc phục những thiếu sót hạn chế của hoạt động và tổ chức công đoàn.

Có một thực tế là giai cấp công nhân và thực tiễn sản xuất hiện đại không ngừng phát triển, song tổ chức và phương thức hoạt động của công đoàn lại không theo kịp, nên sức hấp dẫn của nó (nhất là những tổ chức thuộc phái tả hay đang chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội) đang suy giảm. Nổi cộm trong tình hình hiện nay là bệnh "xơ cứng" trong phương thức hoạt động và sự chia rẽ trong tổ chức. Chẳng hạn phần lớn thành viên của Liên hiệp công đoàn thế giới là công đoàn của các nước đang phát triển ở châu Á, Phi và Mỹ La-tinh; còn đại đa số thành viên của Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do là các công đoàn của châu Âu, Bắc Mỹ và các quốc gia công nghiệp phát triển khác. Tình trạng này là "di sản của thời chiến tranh lạnh" song cũng là một biểu hiện bất cập trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đang toàn cầu hoá kinh tế.

Vấn đề là ở chỗ: làm thế nào để phối hợp hành động nhằm hạn chế tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng công ăn việc làm, tiền lương giảm sút, tình trạng phân biệt đối xử với lao động... mà không dừng lại ở những mục tiêu tối thiểu? Những mục tiêu này tuy mang tính truyền thống nhưng vẫn rất cấp bách và có khả năng tạo nên sự tập hợp. Mặt khác, ở nhiều nước phát triển, nhu cầu cơm áo của đa số người lao động đã được giải quyết cơ bản (chỉ cần 20% thời gian lao động cho nhu cầu này) và họ đang vươn lên đòi thỏa mãn những nhu cầu thuộc chất lượng sống như dân chủ, tự do và môi trường xã hội lành mạnh, sinh thái bền vững. Vì vậy, nếu công đoàn tự tách rời những vấn đề mà nhân loại đang quan tâm như hòa bình, ổn định, phát triển... thì sẽ mang "tính biệt phái" và tự làm mất đi một nguồn sinh lực cho hoạt động. Cần thấy rằng, chính chủ nghĩa tư bản, cho dù có những điều chỉnh, thì, như ý kiến một nhà nghiên cứu phương Tây: "Điều cốt yếu không phải là kinh tế mà là văn hoá, không phải là mức sống mà là chất lượng sống. Kinh tế và mức sống rất có thể được săm soi đúng mức bằng một hệ thống tư bản chủ nghĩa với sự điều tiết chút ít thông qua việc kế hoạch hoá và các khoản đóng góp về phân phối lại. Song đối với nền văn hoá, và nói chung đối với chất lượng sống, thì hiện thời, một hệ thống như vậy chỉ có tác động duy nhất là phá phách đến tận cơ sở".(10)

Một chiến lược đúng đắn và linh hoạt vì cuộc sống tốt đẹp của người lao động ở thế kỷ XXI đang là nhu cầu hiện thực của phong trào công đoàn quốc tế.

3. Xu hướng phát triển và tác động của phong trào công đoàn thế giới

Gần đây, nhiều cuộc trao đổi ý kiến lớn của công đoàn quốc tế (Tuyên bố chung của ba tổ chức công đoàn lớn thế giới, tháng 3-1995 tại Cô-pen-ha-ghen, Đan Mạch; Đại hội Công đoàn thế giới lần thứ 14, tháng 3-2000, tại Niu Đê-li, Ấn Độ...) đã xác định lập trường chung và chiến lược cho thế kỷ XXI: Công đoàn cần kiên trì thực hiện mục tiêu truyền thống, kết hợp với mở rộng các hình thức tập hợp lực lượng đấu tranh tích cực vì những mục tiêu chung của cả nhân loại. Việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội là những mục tiêu ưu tiên, phải gắn liền với cuộc đấu tranh vì một chính sách tăng trưởng kinh tế đi đôi với cải thiện đời sống xã hội của người lao động, chống nghèo đói, bất công vì một trật tự kinh tế mới, vì môi trường xã hội và sinh thái lành mạnh.

Chiến lược ấy đang đặt lại công đoàn vào vị trí trung tâm đời sống chính trị hiện đại. Sắc thái đặc thù của hoạt động công đoàn thể hiện ở chỗ vừa là một phong trào phản ánh tính độc lập chính trị của giai cấp công nhân, lại vừa bằng phương thức đối thoại, hiệp thương tham gia vào đời sống chính trị của nhiều nước tư bản chủ nghĩa. Sự kết hợp với cánh tả của chủ nghĩa xã hội dân chủ, với phong trào "chủ nghĩa xã hội sinh thái" nhiều lần đã nâng vị thế chính trị và uy tín của phong trào công đoàn. Sắc thái này của hoạt động công đoàn có thể sẽ tạo ra những "diễn biến hòa bình" chính ngay trong sào huyệt của chủ nghĩa tư bản. Năm 2003, một lãnh tụ của công nhân và công đoàn Bra-xin - V. P. Đa Sin-va - đã trở thành tổng thống của đất nước này. Khi còn là lãnh tụ công đoàn, ông nói: "Chúng ta sai nếu giới hạn cuộc đấu tranh của chúng ta trong phạm vi mỗi nước... Chúng ta sai nếu tự trói mình trong tầm nhìn kinh tế. Chúng ta sai nếu để mất lập trường giai cấp"(11). Có thể đó lại chính là chương trình hành động giúp ông thắng cử và cũng là sự tự khẳng định về vai trò và ảnh hưởng của công đoàn trong đời sống chính trị hiện đại.

Tại những nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với lợi thế chính trị của thể chế, với sự khơi dậy tính tích cực chính trị của những người lao động và làm chủ chế độ, chắc chắn những khó khăn trong quá trình đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của công đoàn không phải là những thách thức không thể vượt qua. Thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa đang tạo ra cho công nhân và công đoàn một tiềm lực lớn: quyền làm chủ và tính tích cực chính trị - xã hội. Chính những năng lượng lớn của sự sáng tạo là ở đây. Các nhà nghiên cứu phương Tây cũng thừa nhận rằng: "Những người xã hội chủ nghĩa có thể nhấn mạnh vào các ngành công nghiệp quốc doanh... để sử dụng phương tiện cơ khí một cách nhân bản hơn và sử dụng các thành quả của tiềm năng và nỗ lực con người một cách thông minh hơn. Nếu họ làm được việc này, tương lai sẽ nằm trong tầm tay họ."(12)

Hiện nay, tuy chưa thể khắc phục được tình trạng phức tạp về tổ chức, sự thiếu thống nhất hành động và phương thức hoạt động trì trệ, bất cập nhưng phong trào công đoàn quốc tế cũng đang trong quá trình tìm tòi, chuyển biến để hướng tới một trình độ phát triển mới. Quyết tâm được thể hiện rõ ràng bằng khẩu hiệu "Hiện đại hóa hay là chết"(13). Với hơn 800 triệu thành viên, các tổ chức công đoàn quốc tế bằng những hoạt động của mình vẫn sẽ là một lực lượng chính trị to lớn trong đời sống chính trị quốc tế trong hai thập niên tới.


* TS, Giảng viên cao cấp, Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(1) Tổng liên đoàn lao độngViệt Nam: Các tổ chức công đoàn trên thế giới, Nxb Lao động, HN, 1999, tr 9-10
(2) Đỗ Lộc Diệp: Chủ nghĩa tư bản ngày nay, những nét mới từ thực tiễn Mỹ, Tây Âu, Nhật bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr 152 -156
(3) Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện thông tin khoa học xã hội: Chủ nghĩa tư bản những điều chỉnh mới (Nicolabaverez), Hà Nội, 2001, tr 11
(4) Hoàng Xuân Long: "Kinh tế dựa trên tri thức và cơ hội đối với Việt Nam", Thông tin những vấn đề lý luận, số 5 (3-2001)
(5) Lại Văn Sang: Chủ nghĩa tư bản hiện đại, tập 3: Sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 126
(6) Niks Beam - Bộ trưởng bộ Bình đẳng xã hội Ô-xtrây-li-a: "Cuộc suy thoái châu Á - một cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu", trong sách: Những biến đổi của chủ nghĩa tư bản hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2000, tr 124-125
(7) Lại Văn Sang: Chủ nghĩa tư bản hiện đại, tập 1: Khoa học - công nghệ và phát triển kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 76
(8) Đỗ Lộc Diệp: Chủ nghĩa tư bản ngày nay, những nét mới từ thực tiễn Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2002, tr 146
(9) Scott Marsall, Phó Chủ tịch Đảng cộng sản Mỹ, Trưởng ban công tác công nhân: "Phong trào công nhân và công đoàn trong kỷ nguyên toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa", Tạp chí Lao động và công đoàn, số 344 (11- 2005), tr 3-6
(10) E.F. Schumacher: Nhỏ là đẹp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr 381
(11) Ban đối ngoại, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam: Toàn cầu hóa và phong trào công đoàn quốc tế, Nxb Lao động, HN, 2000, tr 179
(12) E.F. Schumacher: Nhỏ là đẹp, Nxb Khoa học xã hội, HN, 1995, tr 381-382
(13) Fritz Verzenisth, Chủ tịch công đoàn Áo: từ sách Toàn cầu hóa và phong trào công đoàn quốc tế, Sđd, tr 148
BÀI VIẾT THỨ 28
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
TÁC GIẢ Nguyễn Tiến Nghĩa
NỘI DUNG

Vừa qua, một vài thành viên thiên hữu trong Ủy ban Chính trị thuộc Hội đồng Nghị viện Hội đồng châu Âu (PACE) đã trình PACE một Bị vong lục về cái gọi là "Sự cần thiết lên án quốc tế đối với các tội ác của chủ nghĩa cộng sản". Với mưu toan phát động một chiến dịch chống cộng trên quy mô toàn cầu, họ muốn góp phần đẩy cộng đồng quốc tế vào sâu thêm trong vòng xoáy mất ổn định mới.

Tuy PACE đã ra Nghị quyết số 1481 vào ngày 25-1-2006 vừa qua về cái gọi là "tội ác của các chế độ cộng sản độc tài", nhưng do không giành đủ 2/3 số phiếu cần thiết nên nó không thể thông qua những khuyến cáo cụ thể đối với các nước thành viên trong việc thực hiện nghị quyết này.

Bản Nghị quyết 1481 của PACE không có tính thực thi và cũng không thể được thực thi trên thực tế, bởi lẽ: Thứ nhất, PACE đâu phải là chỗ chỉ dành riêng cho những phần tử thiên hữu hoành hành. Trong Hội đồng Nghị viện này còn có sự hoạt động tích cực của nhóm "Liên minh cánh tả" bao gồm những người cộng sản và những nghị sĩ cánh tả của Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Thụy Điển, Pháp, Tây Ban Nha, Síp, Bồ Đào Nha, I-ta-li-a, Séc, Nga, U-crai-na và nhiều nước khác nữa. Họ đã lên tiếng phản đối việc thông qua nghị quyết này tại Đại hội đồng PACE. Thứ hai, toàn bộ tiến trình chuẩn bị cho ra đời Nghị quyết 1481 hoàn toàn nằm ngoài khuôn khổ pháp lý của PACE. Những thành viên thiên hữu trong PACE đã đi quá xa với tham vọng gán cho nó những chức năng hoàn toàn không thuộc về nó. Trang điện tử của Đảng cánh tả châu Âu số ra ngày 14-1-2006 đã thẳng thừng vạch trần "PACE âm mưu biến mình thành một diễn đàn tư tưởng và lợi dụng nó trong cuộc đấu tranh chính trị". Vậy nên, "danh không chính" thì ắt hẳn "ngôn không thuận" cũng là điều dễ hiểu. Thứ ba, Bị vong lục này đã vấp phải sự phản đối cực lực của dư luận quốc tế ngay cả khi nó còn đang là một bản dự thảo. Một tháng trước khi Nghị quyết 1481 được thông qua, Đảng cánh tả châu Âu đã ra tuyên bố tố cáo âm mưu của PACE đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa phát-xít. Ngày 19-1-2006, Chủ tịch Đảng Cộng sản Hy Lạp A. Pa-pa-ri-ga đánh giá: Dự thảo về cái gọi là "Sự cần thiết lên án quốc tế đối với chủ nghĩa cộng sản" là một dự án đế quốc, một tuyên bố chiến tranh chống lại giai cấp công nhân. Mười bảy Đảng cộng sản và Công nhân đến từ các nước đã nhóm họp ở Brúc-xen (Bỉ) vào ngày 21-1-2006 để phản đối dự thảo nghị quyết này và kịch liệt lên án nó như một sự tiến công bạo lực chống lại lịch sử, hiện tại và tương lai của chủ nghĩa cộng sản, hơn 20 đảng khác đã gửi điện đến cuộc họp để bày tỏ sự đoàn kết trong cuộc đấu tranh này. Ngày 25-1-2006, tờ Le Figaro (Pháp) đã dẫn nhiều ý kiến đánh giá của các nhà lãnh đạo các đảng cộng sản Pháp, Bồ Đào Nha... rằng nghị quyết chống cộng này thực chất là hoạt động "bóp nghẹt tự do"...

Từ việc dẫn ra một vài con số được xem là những "bằng chứng tội ác" của chủ nghĩa cộng sản đã được thực hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa trong mấy thập niên qua, từ những luận điệu xuyên tạc, bóp méo về đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản, từ việc đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa quốc xã, các tác giả của Bị vong lục đi đến kết luận về sự cần thiết phải lên án và chấm dứt hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa mà người ta đã nhân danh nó để thực hiện những tội ác (!)

Đọc Bị vong lục với những điều khoản chủ yếu của nó đã được PACE thông qua, người ta thấy bộc lộ rõ:

Một là, sự xuyên tạc những giá trị của chủ nghĩa cộng sản

Trong suốt nhiều thế kỷ, các nhà tư tưởng tiến bộ của loài người đã nhọc nhằn tìm kiếm những con đường nhằm thủ tiêu sự bất bình đẳng xã hội. Ngay từ thời cổ xưa đã có những học thuyết không tưởng mơ về một "thời đại hoàng kim", về sự bình đẳng giữa người với người trong xã hội. Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, những học thuyết của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng vĩ đại đã nêu những giả thuyết sâu sắc về chế độ xã hội tương lai và dũng cảm phê phán xã hội tư bản với tư cách là một chế độ xã hội tạm thời trên con đường phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, những học thuyết đó đã không phát hiện ra được những quy luật phát triển xã hội của loài người. Chỉ có C. Mác và Ph. Ăng-ghen, trên cơ sở tiếp thu một cách phê phán và phát triển hơn nữa những giá trị tư tưởng xã hội trước đó; từ việc khái quát một cách sâu sắc những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội đương thời; thông qua mối liên hệ hết sức chặt chẽ với thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và sự tham gia không mệt mỏi trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với những kẻ thù thâm độc đủ màu sắc, mới xây dựng được một lý luận khoa học thực sự về xã hội tương lai - chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong bài viết "Những người cộng sản và Các-lơ Gây-xten" Ph. Ăng-ghen đã viết rằng, chủ nghĩa cộng sản, với tư cách là một học thuyết, là sự biểu hiện về mặt lập trường lý luận của giai cấp vô sản trong đấu tranh và là sự khái quát về mặt lý luận những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản.

Xuất phát từ những chuyển biến lịch sử trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, trong giai đoạn mới của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản đế quốc, V.I. Lê-nin đã tiếp tục phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học lên một trình độ cao hơn về chất. Người đã vạch rõ những quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chỉ ra phương hướng và biện pháp cải tạo nó theo tinh thần cách mạng, đã luận chứng những quy luật của cuộc cách mạng của quần chúng bị áp bức bóc lột dưới sự lãnh đạo của chính đảng mác-xít cũng như những quy luật cơ bản của công cuộc xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân Liên Xô đã đạt được tốc độ phát triển cao về kinh tế và không có khủng hoảng về xã hội; đã đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, quân sự, giáo dục đạo đức cho mọi người dân xô-viết; đập tan mộng bá chủ thế giới của chủ nghĩa phát-xít. Hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô đã góp phần to lớn vào việc gìn giữ hòa bình thế giới, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, thúc đẩy phong trào đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn cầu trong nhiều thập niên. Đây là một thực tế lịch sử hào hùng không thể phủ nhận. Tuy nhiên, do những hạn chế, thiếu sót của mô hình cũ về chủ nghĩa xã hội, như tập trung quan liêu, chủ quan duy ý chí, chậm được phát hiện và khắc phục kịp thời, nên hệ thống xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo mô hình Liên Xô đã không tiếp tục phát huy được sức sống và ưu thế của mình. Song, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu không có nghĩa là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một học thuyết cách mạng và khoa học duy nhất đúng trong lịch sử tư tưởng nhân loại và càng không có nghĩa là sự sụp đổ của phong trào cộng sản trên thế giới như sự rêu rao của các học giả tư sản về "sự đại bại của chủ nghĩa cộng sản" (Brê-din-xki) hay "sự cáo chung của lịch sử" (Phu-cu-y-a-ma)... Chủ nghĩa xã hội vẫn đang tồn tại, đổi mới, tràn đầy sức sống và tiếp tục được khẳng định ở các nước xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu đạt được và những bài học kinh nghiệm rút ra sau 27 năm cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, sau 20 năm đổi mới ở Việt Nam, sau 18 năm ở Lào, 12 năm ở Cu Ba... càng khẳng định tính đúng đắn và sức sống vĩ đại của học thuyết Mác, càng cho phép chúng ta hiểu rõ hơn những dự báo của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội về những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội khi nó được hoàn thành. Những đặc trưng đó là: Chủ nghĩa xã hội phải là xã hội tạo ra được những điều kiện cho sự phát triển toàn diện của con người hay như sự khẳng định của C. Mác trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người; chủ nghĩa xã hội bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực chính trị; chủ nghĩa xã hội phải được xây dựng trên nền kinh tế phát triển cao dựa trên nền tảng sở hữu xã hội đối với các tư liệu sản xuất cơ bản; bảo đảm công bằng xã hội và bình đẳng giữa các dân tộc; nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là sự kết tinh các giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa của thời đại...

Rõ ràng, luận điệu của các tác giả Bị vong lục cho rằng "đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản là sự vi phạm quyền con người"(!) là sự xuyên tạc trắng trợn những giá trị của chủ nghĩa cộng sản, và mưu đồ đen tối của họ cần phải bị phê phán.

Hai là, đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa quốc xã

Trong Bị vong lục có viết "Mặc dù chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc xã là hai chế độ thù địch nhau, song chúng có những điểm chung" (!) "Chủ nghĩa quốc xã đã bị lên án ở cấp độ quốc tế", theo lô-gíc của những người đã nhào nặn nên Bị vong lục trên, hà cớ gì mà chủ nghĩa cộng sản lại không bị lên án ở cấp độ như vậy (!)

Bất kỳ một người có học vấn bình thường cũng đều hiểu rõ sự khác nhau về bản chất, nguồn gốc cũng như nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc xã - một biến thể đặc biệt của chủ nghĩa phát-xít.

Nếu chủ nghĩa cộng sản vạch đường cho sự giải phóng hoàn toàn và triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức và xây dựng một xã hội phồn vinh, công bằng, văn minh, bình đẳng thực sự - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, thì chủ nghĩa quốc xã nói riêng và chủ nghĩa phát-xít nói chung là trào lưu chính trị xuất hiện như một phản ứng trước cao trào cách mạng thế giới được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga. Khi nắm quyền, chủ nghĩa phát-xít trở thành nền chuyên chính khủng bố của giới tư bản độc quyền nhằm bảo vệ chế độ tư bản; thực hiện những hình thức bạo lực cực đoan, chủ nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc để đàn áp, chống lại giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại tiến bộ. Chính sách đối ngoại phản động được các thế lực phát-xít thực hiện ở một số nước Tây Âu như Đức, I-ta-li-a, Tây Ban Nha... đã dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc chiến đã gây biết bao tổn thất, đau thương và cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu con người. Như vậy, có gì là điểm chung ở đây giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát-xít?

Thực ra, luận điệu này của các tác giả Bị vong lục cũng chỉ lặp lại điều mà các thế lực thù địch, một số học giả tư sản đã lạm dụng trong thời kỳ "chiến tranh lạnh" trước đây, khi đó phương Tây đã sử dụng từ "chế độ độc tài" để ám chỉ chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa phát-xít. Những phần tử thiên hữu trong PACE một lần nữa sử dụng "chiêu gán ghép" đồng nhất chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa quốc xã phải chăng là để minh oan cho chủ nghĩa phát-xít, một chủ nghĩa tàn bạo khôn cùng hay để lờ đi một thực tế là ở nhiều nước tư bản hiện nay giai cấp tư sản cầm quyền vẫn đang tiếp tục duy trì những đường lối, nhất là đường lối đối ngoại hiếu chiến, tàn bạo chẳng kém cạnh gì về mức độ so với đường lối đối ngoại của chủ nghĩa phát-xít. Bình luận về "chiêu gán ghép" này, Báo Thế giới (Pháp) số ra ngày 23-1-2006 đã dẫn lời của một nhà soạn nhạc người Hy Lạp M. Tê-ô-đô-ra-kit rằng với việc đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa quốc xã, "Hội đồng châu Âu đã quyết định thay đổi lịch sử, xuyên tạc, bóp méo sự thật bằng cách đồng nhất các nạn nhân thành đao phủ, biến những người anh hùng thành tội phạm, những nhà giải phóng thành những kẻ xâm lược".

Ba là, xuyên tạc lịch sử để phủ nhận tương lai của nhân loại

Nếu sự xuyên tạc bản chất của chủ nghĩa cộng sản, đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa quốc xã là những mưu toan để một số phần tử thiên hữu trong PACE giở trò khiêu khích mang tính chống cộng thì chính sức sống, sức thu hút và sự gắn kết sâu sắc của chủ nghĩa cộng sản trong đời sống quốc tế hiện nay mới là điều cắt nghĩa vì sao họ ráo riết đẩy mạnh những hoạt động hòng đi ngược lại tiến trình lịch sử khách quan của nhân loại. Những kẻ khiêu khích ở PACE đã phải thừa nhận rằng hiện đang còn tồn tại các nước mà chính quyền vẫn dựa trên hệ tư tưởng cộng sản, rằng phần lớn các chính trị gia đang hoạt động trên chính trường vẫn tích cực ủng hộ các chế độ cộng sản, rằng ở nhiều nước châu Âu các đảng cộng sản vẫn đang hoạt động tích cực như trước đây... Ngụy trang bằng những giải thích vòng vo, thiếu mạch lạc rằng vấn đề chủ yếu là điều tra và xét xử quốc tế đối với những "tội ác" dường như đã được thực hiện vì hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, nhưng mưu toan chống cộng của họ tự nó đã bị phơi bày bởi chính các tác giả của Bị vong lục: "Vấn đề là về toàn bộ hệ tư tưởng, về các lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản mà người ta đã nhân danh nó để thực hiện các tội ác (!); rằng tất cả các đảng cộng sản, kể cả các đảng "hậu cộng sản" và các quốc gia thành viên PACE cần thiết phải xem xét lại lịch sử của chủ nghĩa cộng sản và quá khứ của mình để đoạn tuyệt hẳn với chủ nghĩa cộng sản và quá khứ đó"(!)

Thực tiễn sống động của phong trào cộng sản trên thế giới ngày nay cho thấy lời kêu gào của những kẻ khởi xướng Bị vong lục thật lạc lõng, vô hồn.

Một thực tế không thể phủ nhận là, về mặt pháp lý, hiện các đảng cộng sản trên toàn thế giới đang hoạt động một cách hợp pháp. Có thể nói rằng, tại châu Á, những người cộng sản đang giữ vai trò quyết định trong đời sống chính trị của châu lục. Tại các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Triều Tiên và Cu Ba ở Mỹ La-tinh, đảng cộng sản là đảng cầm quyền. Tại các nước khác ở châu Á, như Ấn Độ, Nhật Bản, Xi-ry, I-xra-en, Xri Lan-ca, Băng-la-đét, Nê-pan và một số nước ở châu Phi, Mỹ La-tinh như Nam Phi, Ma-rốc, U-ru-goay, Goa-tê-ma-la, Bra-xin, Vê-nê-xu-ê-la, Pa-na-ma... những người cộng sản cũng giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước, giành những cương vị cao, thậm chí cao nhất trong hệ thống các cơ quan lập pháp ở các nước này. Tại châu Âu, nơi phong trào cộng sản đã từng là một trong những lực lượng chính trị đông đảo và có truyền thống nhất, những người cộng sản vẫn đang tích cực tham gia các hoạt động trong đời sống chính trị châu lục. Tại hàng loạt các nước như Pháp, I-ta-li-a, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Bun-ga-ri, Séc, Tây Ban Nha, Nga, Xlô-va-ki-a, Síp... các đảng cộng sản đều có đại biểu của mình tại nghị viện, thậm chí ở một số nước, số đại biểu của đảng cộng sản chiếm một tỷ lệ lớn trong quốc hội, có đảng cộng sản là đảng cầm quyền (ở Môn-đô-va), có đảng tham gia liên minh chính phủ (ở Síp). Một số đảng cộng sản có đại biểu của mình ở cả Nghị viện châu Âu và đương nhiên, như đã nói ở trên, đại biểu của các đảng cộng sản còn là thành viên của PACE. Chỉ trong vòng một thập niên cuối của thế kỷ XX, tổng số cử tri ủng hộ các đảng cộng sản và cánh tả châu Âu đã tăng từ 6,7% (đầu những năm 90) lên 15% (cuối những năm 90). Các đảng cộng sản ở khắp các châu lục vẫn tiếp tục kiên trì lấy chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản làm mục tiêu phấn đấu; vẫn khẳng định chủ nghĩa Mác là lý luận và phương pháp luận khoa học để tiến hành cuộc cách mạng cải tạo xã hội.

Vạch trần mưu đồ xuyên tạc lịch sử hòng phủ nhận tương lai của nhân loại, xin trích dẫn lời ông B. Đec-ke, Tổng thư ký Đảng Lao động Bỉ trong cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại Pháp như sau: "Tương lai nhân loại sẽ là chủ nghĩa cộng sản và cho dù có đến 100 nghị quyết giống như nghị quyết của PACE thì cũng sẽ không thể ngăn cản được điều này. Nghị quyết 1481 chỉ khiến cho các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới tăng cường quyết tâm chung mà thôi" (*).

Những kẻ chống cộng dưới mọi màu sắc dù điên cuồng đến đâu cũng không thể nào ngăn chặn được tiến trình lịch sử khách quan. Lịch sử nhân loại không dừng lại ở chủ nghĩa tư bản mà sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.


(*) Xem vnanet.vn, 3-2-2006
BÀI VIẾT THỨ 29
CHUYÊN MỤC
TIÊU ĐỀ HỢP TÁC NGA - LIÊN MINH CHÂU ÂU
TRONG BỐI CẢNH EU MỞ RỘNG
TÁC GIẢ Đỗ Lan Phương*
NỘI DUNG

Quan hệ giữa Liên minh châu Âu (EU) và Liên bang Nga được thiết lập từ tháng 12-1991 sau khi Liên Xô tan rã. Ngày 1-12-1997, quan hệ hợp tác song phương chính thức phát triển trên cơ sở Hiệp ước về đối tác và hợp tác do hai bên ký kết ngày 24-6-1994 có hiệu lực. Hợp tác song phương chủ yếu tập trung vào 3 lĩnh vực chính: quan hệ chính trị, kinh tế - thương mại và văn hoá. Với việc EU mở rộng sang Trung và Đông Âu, Nga và EU có chung 22.000km chiều dài biên giới, cùng nằm trên lục địa châu Âu và trở thành láng giềng trực tiếp. Không những thế, bước sang thế kỷ XXI, khi Mỹ đẩy nhanh nhịp độ xây dựng thế giới đơn cực, Nga và EU đang trở thành những lực lượng quan trọng chống lại chủ nghĩa bá quyền, nhưng với lý do thực lực chưa đủ khả năng đối chọi với Mỹ cùng việc cải thiện về căn bản vị thế trong quan hệ quốc tế theo con đường tự chủ phát triển kinh tế - xã hội, Nga - EU liên kết với nhau là một trong những lựa chọn đúng đắn.

1- Hợp tác đối ngoại

Chính sách của Nga với EU: Tuy có những nỗ lực đáng kể, nhưng Nga vẫn chưa tìm được vị trí của mình trong trật tự thế giới mới được hình thành sau chiến tranh lạnh do sự yếu kém của hệ thống chính trị và nền kinh tế. Sau khi Liên Xô tan rã, Nga nhận thấy những viện trợ kinh tế tài chính từ phương Tây không chỉ giúp Nga củng cố, xây dựng đất nước mà luôn đi kèm các điều khoản hà khắc, dần dần tìm cách chèn ép và thu hẹp không gian chiến lược của Nga. Để duy trì và củng cố vị thế của mình trong không gian hậu Xô viết, Nga cần tập trung không chỉ vào việc bảo vệ không gian này khỏi sự "xâm phạm từ bên ngoài" mà còn quan tâm tới việc củng cố cải cách thị trường và dân chủ trong nước; hiện đại hóa hệ thống kinh tế, hội nhập kinh tế Nga vào nền kinh tế thế giới. Mục tiêu chính sách đối ngoại của Nga là bảo đảm lợi ích tối đa của quốc gia.

Ngoại giao Nga coi EU như một đối tác chiến lược của mình. Uy tín của EU đang tăng mạnh trên vũ đài chính trị, Nga hội nhập với các quá trình liên kết châu Âu là điều kiện cần thiết để đẩy nhanh các cuộc cải cách thị trường và sự tăng trưởng kinh tế có hiệu quả. Việc tham gia không đầy đủ các quá trình này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đáng kể tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước và cản trở việc tiếp cận các thị trường thế giới đầy tiềm năng.

Đường lối chính sách của Nga đối với EU đã được đúc kết trong "Chiến lược trung hạn về sự phát triển các mối quan hệ giữa Liên bang Nga và EU" (2000-2010). Chiến lược này cụ thể hóa quyền tự trị của Nga như một thế lực lớn, khác biệt với EU. Nội dung của chiến lược nêu rõ: là một nước lớn của thế giới, nằm giữa hai châu lục, Nga phải duy trì tính tự do của mình để quyết định và thực hiện các chính sách đối nội, đối ngoại. Chiến lược cũng đề ra những tiêu chuẩn cho các mối quan hệ giữa Nga với EU nhằm bảo đảm "các lợi ích quốc gia" của Nga và thực hiện quyền bảo vệ các lĩnh vực kinh tế của Nga, cho dù làm như vậy sẽ mâu thuẫn với các điều khoản trong Hiệp định hợp tác và đối tác. Nga chỉ có ý định làm cửa ngõ của châu Âu tới các nước thuộc Liên Xô cũ, nhưng từ chối tham gia EU, không muốn EU gây ảnh hưởng đến khuynh hướng cải cách và công việc nội bộ của Nga. Các mối quan hệ của Nga với EU được gói gọn trong chính sách đối ngoại chứ không phải chính sách đối nội. Các hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Nga bao gồm việc tăng cường củng cố quan hệ với các nước cận biên, trước hết là các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG); tiến hành chính sách đối ngoại độc lập và tự chủ hơn trong quan hệ với Mỹ; xích lại gần hơn với châu Âu; tiếp tục đẩy mạnh chiến lược cân bằng Đông - Tây nhằm phát triển hơn nữa quan hệ với các bạn bè truyền thống ở châu Á; phát huy tính chất đa dạng của chính sách đối ngoại với nhiều đối tượng và ở nhiều địa bàn với nhau.

Chính sách của EU với Nga: Sau chiến tranh lạnh, chính sách cơ bản của EU đối với Nga là "hợp tác cộng phòng ngừa", tức là vừa áp dụng các hình thức đối thoại chính trị, viện trợ kinh tế thúc đẩy Nga hợp tác với châu Âu và các nước phương Tây khác trong lĩnh vực an ninh, đồng thời chèn ép không gian chiến lược của Nga, bảo đảm thế chiến lược của châu Âu tiếp tục phát triển theo hướng có lợi cho châu Âu, lôi kéo Nga hòa nhập với "đại gia đình châu Âu", biến đại gia đình này thành "người chi phối, có sức nặng tới toàn thế giới" một cách hữu hiệu. EU lôi kéo Nga xuất phát từ những lý do sau:

Một là, về chính trị và an ninh, EU nhận thức được rằng trong khu vực châu Âu, dù các nước EU có muốn hay không thì Nga vẫn luôn là một lực lượng không thể né tránh. Nói cách khác, EU muốn làm chủ nội bộ châu Âu, bảo đảm nền hòa bình và ổn định thì phải có sự dàn xếp với Nga, tranh thủ sự ủng hộ và phối hợp của Nga. Quá trình toàn cầu hoá cùng sự xuất hiện các nguy cơ đe dọa đang buộc các bên phải có một chương trình nghị sự và việc mỗi quốc gia riêng rẽ thực hiện chương trình này một cách độc lập sẽ vượt quá sức mình. Do vậy, quan hệ đối tác với Nga là cần thiết để có được những nỗ lực trong một số vấn đề như việc kiểm soát sự vận chuyển ma tuý, buôn người, chuyên chở vũ khí bất hợp pháp vào EU; trong hợp tác về vấn đề an ninh Trung - Đông Âu, tái thiết vùng Ban-căng và phát triển khái niệm an ninh mới…

Hai là, lãnh thổ của Nga tương đương với toàn lãnh thổ của Mỹ và châu Âu; trữ lượng tài nguyên của Nga bằng tổng trữ lượng tài nguyên của Mỹ và châu Âu cộng lại. Đây là điều khiến Mỹ và châu Âu lo ngại. Đồng thời, EU cũng lợi dụng mâu thuẫn Nga - Mỹ để tăng ảnh hưởng của mình đối với Nga, tìm kiếm vai trò người hoà giải giữa Nga và Mỹ, nâng cao vai trò quốc tế của EU.

Ba là, một nước Nga phồn thịnh và hiện đại là điều mà EU luôn mong đợi. Điều này cho phép tăng cường kim ngạch thương mại, vốn đầu tư, số lượng công nghệ mới được đưa vào sử dụng và giảm bớt sự ô nhiễm môi trường sinh thái.

Khó khăn đặt ra trong quan hệ đối ngoại Nga và EU là không nhỏ. Việc EU kết nạp các nước thành viên mới từ khối Đông Âu cũ không chỉ là việc tăng đơn thuần số lượng thành viên mà còn làm thay đổi căn bản sự phân chia lực lượng trong nội bộ EU. Trong tương lai, EU có thể bị chia rẽ về định hướng chính sách đối ngoại với Nga bởi các nước thành viên cũ dường như đang tạo cho Nga nhiều cơ hội để tăng cường các mối quan hệ song phương. Hơn nữa, một phần EU "trẻ" - các thành viên hậu cộng sản đang đòi hỏi EU nhiều bảo đảm để không quay lại thời quá khứ. Đa số các nước thành viên mới đều mong muốn sau khi gia nhập NATO và EU, họ sẽ thoát khỏi sự bảo hộ của Nga như trước đây.

EU cho rằng thông qua việc áp dụng một loạt các biện pháp có thể làm Nga nhanh chóng chuyển đổi loại hình kinh tế sang quỹ đạo mới và trở thành đối tác có lợi cho EU. Tuy nhiên, Nga đã có những quyết sách riêng không theo ý tưởng của EU. Để thực hiện được mục tiêu "lôi kéo và kiềm chế" Nga, EU cần tiếp tục tiếp xúc với Nga, xây dựng quan hệ đối tác chiến lược thực sự; thiết lập quan hệ đối tác với Nga trên cơ sở quan niệm giá trị và lợi ích chung; tìm kiếm những nghị trình hợp tác cân bằng hơn với Nga để tăng thêm tính kết dính và phối hợp nhịp nhàng trong chính sách của các nước thành viên EU với Nga; thành lập hội đồng thường trực xử lý quan hệ đối tác EU-Nga để kịp thời xử lý những vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai bên.

2- Hợp tác phát triển kinh tế

EU là đối tác thương mại chính của Nga, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch ngoại thương. Hàng hoá nhập khẩu từ EU chủ yếu là nhu yếu phẩm, sản phẩm công nghiệp, hóa chất và máy móc thiết bị công nghệ cao. EU chiếm vị trí thứ nhất trong số các nhà đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế Nga (50% năm 2002). Tổng kim ngạch buôn bán hai chiều tăng liên tục trong nhiều năm. Các nước thành viên mới của EU chủ yếu là bạn hàng truyền thống của Nga. Hiện Nga đứng thứ 5 trong danh sách đối tác thương mại của EU (sau Mỹ, Thụy Sĩ, Trung Quốc và Nhật Bản). Sự kiện EU mở rộng đã tác động ít nhiều tới nền kinh tế Nga. Trước mắt, trong thời kỳ trung hạn, Nga tập trung chủ yếu vào việc giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về việc khắc phục những hậu quả kinh tế bất lợi đối với Nga sau khi EU mở rộng. Trước hết là những hạn chế về thương mại do những quy định về chứng nhận hàng hoá, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng với 10 nước EU mới khiến những nước này không thể nhập khẩu hàng hoá của Nga với số lượng như trước và ngược lại… Những thách thức này đã được đem ra thảo luận nhiều lần với Ủy ban châu Âu (EC) nhưng vẫn chưa có những quyết định cụ thể. EU đòi hỏi phải duy trì các mối quan hệ kinh tế song phương ổn định với các đối tác truyền thống, tiến hành đối thoại thường xuyên ở các cấp khác nhau về những phương hướng chủ yếu để phối hợp hoạt động vì lợi ích của hai bên. Nhằm hạn chế tác động xấu sau EU mở rộng, tháng 2-2004, Nga đã đệ trình lên EU danh sách gồm 14 yêu cầu của Nga với EU (1). Và cuối cùng EU và Nga cũng đã ký kết được hai văn kiện: Tuyên bố chung của các bên về việc mở rộng EU và mối quan hệ Nga-EU; Nghị định về việc phổ biến Hiệp định đối tác và hợp tác tới 10 nước thành viên mới của EU. Hai bên đã giải quyết được phần lớn vấn đề trung chuyển hàng hoá (kể cả vấn đề Nga yêu cầu áp dụng những biểu thuế trong nước của mình), EU đã tăng thêm hạn nghạch cho xuất khẩu thép của Nga sang EU với khối lượng tương đương với khối lượng bán sang các nước thành viên mới…

Thứ hai, về việc hình thành không gian kinh tế chung Nga-EU. Mục tiêu cơ bản của EU khi hình thành không gian kinh tế chung châu Âu là ổn định cục diện kinh tế và kiểm soát đường biên giới phía Đông, củng cố vị thế quốc tế cùng sự tham gia của Nga. Không gian kinh tế này sẽ có được quy mô chung toàn châu Âu với sự duy trì vai trò chủ chốt về kinh tế và chính trị của EU. Những mục tiêu ngắn hạn bao gồm việc khuyến khích buôn bán và đầu tư giữa Nga và EU; tạo những cơ hội mới cho các hoạt động kinh tế bằng việc đưa ra những nguyên tắc và hệ thống điều tiết chung…Việc thực hiện những mục tiêu này nhằm bảo đảm sự phát triển kinh tế bền vững, sự ổn định ở Nga và EU cùng việc xây dựng các nền kinh tế có khả năng cạnh tranh và phát triển năng động của cả hai bên. Mức độ xích lại gần nhau trong lĩnh vực pháp luật và các nguyên tắc điều chỉnh cũng như việc đơn giản hoá thương mại và đầu tư sẽ mang lại lợi ích to lớn cho Nga và EU, tạo điều kiện cho các doanh nhân có cơ hội hoạt động trong môi trường pháp lý tương đồng…

Thứ ba, về đối thoại năng lượng. Đây là lĩnh vực quan trọng nhất trong hợp tác kinh tế giữa Nga và EU do xuất phát từ lợi ích khách quan của các bên trong việc bảo đảm sự phát triển ổn định ngành năng lượng và an ninh năng lượng ở châu Âu, đặc biệt khi nhu cầu về năng lượng toàn cầu tới năm 2020 dự kiến sẽ tăng gấp đôi. Hơn thế nữa, trong thế kỷ XXI, sự đóng góp của Nga sẽ mang tính quyết định do sự có mặt của Nga ở phía Nam của trục sản xuất và vận chuyển dầu khí đến EU, châu Á; nhất là khi Nga là cầu nối của châu Âu đến khu vực Thái Bình Dương. Hiện nay, Nga đang vươn lên với tư cách một nhà sản xuất - xuất khẩu khí đốt thiên nhiên chủ đạo trên thế giới. Nga đứng đầu trong danh sách những nước cung cấp khí đốt thiên nhiên cho EU và đứng thứ 2 về cung cấp dầu mỏ. Giữa Nga và EU đã có thỏa thuận về việc các nước EU sẽ tăng cường đầu tư vốn và công nghệ vào ngành khai thác nhiên liệu của Nga, giúp Nga phát triển ngành này trong vòng 20 năm tới. EU đồng ý không hạn chế việc nhập khẩu dầu mỏ, khí đốt của Nga; quan tâm tới lợi ích của Nga trong việc bán nhiên liệu hạt nhân cho các nhà máy điện nguyên tử được xây dựng nhờ sự giúp đỡ của Nga tại các nước Trung và Đông Âu. Trong tương lai, châu Âu vẫn là hướng chính trong hoạt động xuất khẩu năng lượng của Nga, còn không gian năng lượng châu Âu được dự định là thành phần quan trọng nhất của không gian kinh tế chung châu Âu.

Thứ tư, về việc hoàn thiện cơ sở hợp đồng - pháp lý của mối quan hệ giữa Nga và EU. Hiện nay, mối quan hệ này dựa trên cơ sở Hiệp định đối tác và hợp tác, tuy nhiên, đến nay, nhiều điều khoản của Hiệp định đã không còn phù hợp với bối cảnh mới của thế giới, những thay đổi của cả hai bên, nhất là trong quá trình hình thành không gian kinh tế chung châu Âu và sau khi Nga gia nhập WTO. Việc xem xét lại Hiệp định dự kiến được tiến hành vào đầu năm 2007, khi thời hạn 10 năm đầu tiên Hiệp định có hiệu lực kết thúc (từ 1-12-1997). Hiệp ước đối tác chiến lược mới được ký giữa EU - Nga sẽ mở ra 4 lĩnh vực hợp tác quan trọng đó là: kinh tế; tự do, an ninh và tư pháp; an ninh đối ngoại; lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục và văn hoá.

3- Hợp tác quân sự

Hiện chưa có một cơ sở vững chắc cho việc hợp tác quân sự của Nga và EU, song đã có những tiền đề khách quan cho sự hợp tác này. Về phương diện quân sự, Nga và EU sẽ là những đối tác tiềm tàng bổ sung cho nhau. Giữa Nga và EU đã có sự trao đổi buôn bán quân sự nhưng chưa thật tương xứng với quy mô tiềm năng công nghiệp. Nguyên nhân là do tổ hợp công nghiệp quốc phòng của Nga với một số nước thành viên EU là đối thủ cạnh tranh chứ không phải là đối tác trong buôn bán vũ khí; hơn nữa, không quốc gia nào muốn kỹ thuật quân sự của nước khác xâm chiếm thị trường nội địa dù với lý do kinh doanh hay chính trị. Tuy nhiên, vẫn có những lý do thúc đẩy hợp tác hơn nữa giữa các bên. Các công ty Nga và Tây Âu đang phải cạnh tranh với Mỹ và những đối thủ mới nổi ở châu Á. Bên cạnh đó, các chương trình ngân sách quốc gia khó có thể chấp nhận được giá cả và tính phức tạp của những vũ khí hiện đại. Không những thế, điểm yếu trong các kế hoạch liên kết quân sự của EU là thiếu tính huy động chiến lược. Chính vì thế, nếu hợp tác với Nga, lực lượng triển khai nhanh của EU sẽ có cơ hội vươn tới không chỉ Ban-căng, châu Phi, Trung Cận Đông mà còn tới Trung - Nam Á, Đông - Nam Á và Viễn Đông. Mặt khác, tổ hợp quân sự vũ trụ của EU kém phát triển và lệ thuộc vào Mỹ trong khi Nga có tiềm năng dồi dào trong việc sản xuất tên lửa vũ trụ và những thiết bị tốt nhưng lại thiếu tài chính. Phòng thủ tên lửa cũng là hướng ưu tiên trong hợp tác quân sự. Chưa một nước châu Âu nào có khả năng chế tạo hệ thống phòng thủ tên lửa hiện đại trong khi cả Nga và EU đều có mối đe dọa từ phía tên lửa tầm trung và tầm ngắn ở Bắc Phi, Trung Đông và châu Á. Ngoài ra, một lĩnh vực hợp tác có nhiều triển vọng nữa là vũ khí hạt nhân. Trong điều kiện phổ biến tên lửa hạt nhân tại Mỹ, Bắc Triều Tiên, I-ran, Pa-ki-xtan, Trung Quốc, Nhật Bản, Li-bi… Nga và EU cần xem xét lại số lượng đầu đạn hạt nhân của mình đến mở rộng khuôn khổ hợp tác nhằm đảm bảo an ninh trong một thế giới hạt nhân đa cực. Cả EU và Nga đều mong muốn đi theo con đường hợp tác kỹ thuật quân sự để củng cố vị trí trên thị trường vũ khí quốc tế cũng như trang bị cho quân đội của mình.

Nói tóm lại, mối quan hệ giữa EU và Nga có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế của mỗi bên cũng như của khu vực và là nhân tố quan trọng của cấu trúc quan hệ quốc tế trong thế kỷ XXI. Để tăng cường hơn nữa quan hệ "đối tác chiến lược", ngày 10-5-2005, tại cuộc gặp thượng đỉnh Nga - EU, 4 hiệp định có ảnh hưởng sâu sắc đã được ký kết nhằm thúc đẩy sự hợp tác trong các vấn đề kinh tế, an ninh, ngoại giao và khoa học giữa hai bên. Nhìn chung, quan hệ giữa EU và Nga vừa hợp tác vừa cạnh tranh, vừa cần nhau vừa chống nhau, thỏa hiệp đan xen mâu thuẫn.


* Viện Nghiên cứu châu Âu
(1) Nga không muốn EU áp dụng biểu giá cao đối với một số mặt hàng; loại bỏ những hạn chế đối với việc xuất khẩu năng lượng; tăng hạn ngạch nhập khẩu ngũ cốc; nới lỏng điều kiện với các nhà sản xuất thép của Nga; những vấn đề về thị thực xuất nhập cảnh của Nga và tình trạng của cộng đồng những người nói tiếng Nga ở các nước cộng hoà Ban-tích...